Đánh giá và đề xuất biện pháp để quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị về văn nghệ dân gian của người Sán Dìu ở Tuyên Quang.. sâu hơn nữa về những giá trị văn hóa daab gian của người Sá
Trang 1PHẦN NỘI DUNG
1 Khái quát về địa bàn tỉnh Tuyên Quang và tộc người Sán Dìu.
1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế , xã hội tỉnh Tuyên Quang.
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang
1.1.2 Dân số , kinh tế , xã hội.
1.2 Khái quát về tộc người Sán Dìu
1.2.1 Tên gọi và nguồn gốc tộc người
1.2.2 Dân số ,địa bàn cư trú.
1.2.3 Ngôn ngữ , chữ viết, trang phục.
1.2.4.Phong tục tập quán, tín ngưỡng.
1.2.5.Đặc điểm kinh tế- văn hóa:
2.Truyền thuyết, truyện thơ, hát Soọng cô và ý nghĩ văn nghệ dân giancủa người Sán Dìu
2.1.Truyền thuyết và truyện thơ của người Sán Dìu.
Trang 22.2 Hát Soọng cô nét văn hóa nghệ thuật đặc trưng nhất của người Sán Dìu.
2.2.1 Những nét chung về hát Soọng cô của người Sán Dìu.
2.2.2 Đặc trưng về nội dung.
2.2.3 Đặc trưng về nghệ thuật.
2.3 Ý nghĩa văn nghệ dân gian của người Sán Dìu.
2.3.1 Giá trị lịch sử.
2.3.2 Giá trị văn hóa, nghệ thuật và ảnh hưởng tới cộng đồng.
3 Đánh giá và đề xuất biện pháp để quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị về văn nghệ dân gian của người Sán Dìu ở Tuyên Quang.
3.1 Ưu nhược điểm.
3.1.1 Ưu điểm.
3.1.2 Nhược điểm
3.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn nghệ dân gian truyền thông của người Sán Dìu.
3.2.1 Nâng cao công tác tổ chức và quan lý.
3.2.2 Tuyên truyền vận động nâng cao ý thức của người dân.
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt
1 VH-TT-DL Văn hóa-Thể thao-Du lịch
2 BVHTTDL Bộ Văn hóa-Thể thao-Du lịch
1.Lý do tìm hiểu đề tài giá trị văn nghệ của người Sán Dìu ở Tuyên Quang.
Tôi là sinh viên chuyên ngành Quản lý Văn hóa , thuộc khoa Văn hóa – Thông tin
và Xã hội của trường đại học Nội Vụ Hà Nội, trong quá trình học tập môn Văn hóacác dân tộc thiểu số ở Việt Nam tôi đã được tìm hiểu và trang bị vốn kiến thức về các tộc người ở trên đất nước Việt Nam thân yêu này Với sự đam mê tìm tòi học hỏi của mình thông qua kiến thưc của môn hoc càng thúc đẩy tôi muốn tìm hiểu
Trang 4sâu hơn nữa về những giá trị văn hóa daab gian của người Sán Dìu trên cả nước nóichung và người Sán dìu tại tỉnh Tuyên Quang nói riêng.
Trong bài tiểu luận này tôi se tập trung nghiên cứu về các giá trị văn nghệ dân giancủa người Sán Dìu ở tỉnh Tuyên Quang
2.Cảm nhận khi học và nghiên cứu học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam tôi đã đươc trang bi thêm rất nhiều kiến thức cũng như hiểu biết thêm vềphong tục, tập quán, nhưng nét văn hóa riêng biệt của từng đồng bào dân tộc ít nười trên mảnh đất hình chữ S thân thương Dải rác trên mảnh đất Việt Nam ngoàidân tộc Kinh với nhưng nét văn hóa nổi trội còn 53 dân tộc khác với nhưng nhét đăc trưng trong văn hóa tất cả tạo nên một đất nước Việt Nam đa dạng về văn hóa Môn học này thôi thúc đam mê tìm hiểu văn hóa của các dân tộc trong con người tôi
PHẦN NỘI DUNG
1 Khái quát về địa bàn tỉnh Tuyên Quang và tộc người Sán Dìu.
1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế , xã hội tỉnh Tuyên Quang.
Trang 51.1.1 Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là một tỉnh thuộc vùng trung du - miền núi phía Bắc, diện tích tự nhiên là 5.867 km2 , bằng 1,8% diện tích cả nước Địa hình của Tuyên Quang khá phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao và sông suối, đặc biệt ở khu vực phía Bắc tỉnh Phía Nam tỉnh địa hình thấp dần, ít bị chia cắt, có nhiều đồi núi thấp và thung lũng chạy dọc theo các con sông
1.1.2 Dân số , kinh tế , xã hội.
Tổng dân số là :746.700 người
Tuyên Quang là tỉnh miền núi, nền kinh tế nông-lâm nghiệp chiếm ưu thế, mô hìnhkinh tế trang trại kết hợp nông lâm Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Tuyên Quang xếp ở vị trí thứ 56/63 tỉnh thành
Nông nghiệp: lúa là cây lương thực chính, sau đó là các cây ngô, sắn, khoai
lang Cây công nghiệp gồm có: chè (nhà máy chè Tuyên Quang, Tháng Mười, Tân Trào), cây sả làm tinh dầu sả, lạc, đậu, tương Cây ăn
quảcó: cam, quýt, nhãn, vải, chanh Chăn nuôi có trâu, bò, lợn, dê, gia cầm
Công nghiệp: có quặng kẽm, quặng mangan, quặng thiếc, bột kẽm, khai thác
ăntimoan Sản xuất giấy, bột giấy, xi măng, vôi
Có nhà máy thủy điện Tuyên Quang được đưa vào sử dụng chính thức ngày 30 tháng 1 năm 2008, công suất thiết kế đạt 342 MW
Tuyên Quang là tỉnh có 22 dân tộc cư trú, ở mỗi cộng đồng các dân tộc sinh sống trên mảnh đất này đều có những nét văn hoá, phong tục tập quán từ lâu đời, đã được hình thành và phát triển qua hàng trăm năm vỡ đất lập bản, lập làng Chính những nét đặc trưng của văn hoá đã cấu kết trong cộng đồng dân cư, tạo nên những
Trang 6sắc thái riêng biệt và trở thành những di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, đóng gópcho kho tàng văn hóa của cả nước Trong quá trình tồn tại và phát triển, mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống trên mảnh đất Tuyên Quang đều đóng góp những
di sản văn hóa vật thể, phi vật thể thực sự tiêu biểu Trên cơ sở những di sản này, trong những năm qua ngành Văn hóa của tỉnh đã có nhiều nỗ lực cố gắng để vừa khơi dậy việc bảo tồn ngay chính trong cộng đồng dân tộc, vừa khảo cứu để hoàn thiện việc lập hồ sơ khoa học của các di sản này
Tuyên Quang được ví là hình ảnh thu nhỏ của vùng văn hoá Việt Bắc Những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ở tỉnh thể hiện trong đời sống tinhthần khá rõ nét Đó là những quan niệm và cách giải thích về vũ trụ, các nghi lễ như: Thờ cúng tổ tiên, cúng chữa bệnh, cưới hỏi Đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh đã tạo dựng được một kho tàng dân ca, dân vũ hết sức phong phú, đặc sắc như làn điệu Then, Cọi, Quan làng (dân tộc Tày), Páo dung (dân tộc Dao), Sình
ca (dân tộc Cao Lan), Soọng cô (dân tộc Sán Dìu)… Về lễ hội, có nhiều sắc thái văn hoá rất đặc trưng và đa dạng, tiêu biểu là những lễ hội dân gian thường được tổchức sau tết Nguyên Đán với phần “lễ” diễn ra hết sức trang trọng và phần “hội” đậm đà truyền thống, như lễ hội Lồng tông, lễ hội Nhảy lửa
1.2 Khái quát về tộc người Sán Dìu
1.2.1 Tên gọi và nguồn gốc tộc người
Người Sán Dìu ở Việt Nam trước đây vẫn tự gọi dân tộc mình là San Dáo Nhín,
có nghĩa là Sơn Dao Nhân (tức người Dao ở trên núi) Các dân tộc lân cận dựa trên
Trang 7đặc điểm cư trú, phương thức canh tác hoặc y phục truyền thống của người Sán Dìu mà gọi họ bằng các tên khác như: Trại đất (người Trại ở nhà đất) để phân biệt với Trại cao (người Cao Lan ở nhà sàn), Trại ruộng (người Trại làm ruộng), Trại cộc, Mán cộc, Mán quần cộc (trang phục quần cộc), Mán váy xẻ (phụ nữ mặc váy xẻ), Slán Dao.
Căn cứ vào ngôn ngữ và một số phong tục tập quán, người Sán Dìu được xếp vào
hệ ngôn ngữ Hán - Tạng ở Việt Nam Từ đây, tên Sán Dìu là tên gọi chính thức trong các văn bản của Nhà nước
Người Sán Dìu di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm nay
1.2.2 Dân số ,địa bàn cư trú.
Dân số trên cả nước: 146.821 (Tổng cục Thống kê năm 2009)
Dân số người Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang: Cộng đồng người Sán Dìu
có hơn 10.000 người, chiếm khoảng 1,4% dân số toàn tỉnh
Người Sán Dìu sống ở miền Trung du các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên và Tuyên Quang
1.2.3 Ngôn ngữ , chữ viết, trang phục.
Người Sán Dìu nói thổ ngữ Hán Quảng Ðông (ngữ hệ Hán - Tạng) Người Sán Dìuchưa có chữ viết, nhưng nhiều người biết chữ Hán
Trang phục: Phụ nữ mặc áo dài, quần chàm đen, đội khăn đen, thắt dây lưng màu trắng, đeo tạp dề trước bụng quấn xà cạp trắng đeo vòng ở cổ, ở tay và đeo xà tíchbạc bên hông Nam giới mặc quần áo màu chàm
1.2.4 Phong tục tập quán, tín ngưỡng.
Trang 8Ăn: Họ ăn cơm tẻ là chính, có độn thêm khoai sắn Sau bữa ăn, họ thường húp thêm bát cháo loãng như người Nùng.
Ở: Họ ở nhà đất lợp rạ hay tranh Các nhà thường quần tụ thành bản nhỏ, kín đáo
và cũng có lũy tre xanh bao bọc
Phương tiện vận chuyển: Phương tiện vận chuyển của đồng bào là gánh, đặc biệt
có chiếc xe quệt bằng gỗ, tre trâu kéo, rất thích hợp với nơi có độ dốc thoai thoải.Hôn nhân: Người Sán Dìu có tục xem lá số, xem tuổi cho cuộc tìm hiểu cưới xin của đôi trai gái Trong đám cưới, lễ cưới diễn ra ở nhà gái là quan trọng nhất
Tang ma: Khi lấp huyệt xong, con cái đi vòng quanh mộ nhúm một nắm đất đặt lên mộ Có tục cải táng
Tín ngưỡng: Người Sán Dìu thờ tổ tiên, có miếu thờ thổ thần
1.2.5 Đặc điểm kinh tế- văn hóa.
Người Sán Dìu có làm ruộng nước nhưng không nhiều, canh tác ruộng khô là chính Ngoài các loại cây trồng thường thấy ở nhiều vùng như lúa, ngô, khoai, sắn Thêm vào đó còn có chăn nuôi, khai thác lâm sản, đánh bắt nuôi thả cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát v.v Từ lâu đời, người Sán Dìu đã sáng tạo ra chiếc xe quệt (không cần bánh lăn) dùng trâu kéo để làm phương tiện vận chuyển Hình thức gánh trên vai hầu như chỉ dùng cho việc đi chợ Hàng ngày, người Sán Dìu dùng cảcơm lẫn cháo, đồ giải khát thông thường là nước cháo loãng Ngoài ra họ còn hay uống rượu trong sinh hoạt vui chơi, lễ tết
Đời sống văn hóa: Người Sán Dìu cũng có hát giao duyên nam nữ mà họ gọi là soọng cô, thường được hát về đêm Truyện kể - chủ yếu truyện thơ khá đặc sắc Các điệu nhảy múa thường xuất hiện trong đám ma Nhạc cụ có tù và, kèn, trống,
Trang 9sáo, thanh la, não bạt cũng để phục vụ nghi lễ tôn giáo Nhiều trò chơi dân tộc được họ ưa thích là: đi cà kheo, đánh khăng, kéo co.
2.Truyền thuyết, truyện thơ , hát Soọng cô và ý nghĩ văn nghệ dân giancủa người Sán Dìu
2.1.Truyền thuyết và truyện thơ của người Sán Dìu.
Người Sán Dìu từ xa xưa đến ngày nay vẫn dùng chữ Hán phiên âm theo tiếng dân tộc của mình Sau này người Sán Dìu dùng các ký tự La tinh để làm ra thứ ngôn ngữ của riêng mình trong các cuốn sổ tay bài hát, bài thuốc cổ truyền Trong đó có các tác phẩm như : Cạo chấy loang kênh (Kinh sách dạy con), Phòn Cú Vòng (VuaBàn Cổ), Hoi then dip thi (Mở trời dựng đất), Hoẹn Gạy Mòn (Văn khuyên đời).Cạo chấy loang kênh (Kinh sách dạy con) là thể thơ bảy chữ, một trăm chín mươi hai câu Tuy ngắn về câu chữ nhưng dài về ý tưởng, hàm chứa trong đó bao ý nghĩa sâu xa,đúc rút những triết lý xác đáng, cách cư xử giữa cha mẹ và con cái, con cái với cha mẹ, anh em họ hàng, người với người trong xã hội Nó đánh thức cái chân, thiện, mỹ về lễ nghĩa làm người, giúp con cái học và hành theo đường hiếu nghĩa… có hiếu với cha mẹ là điều không bao giờ lỗi thời Cuốn sách chú trọng dạy cái gốc của đạo làm người
Ngoài những cuốn truyện thơ ra thì người Sán Dìu còn có những câu truyện truyền thuyết lý giải các hiện tượng tự nhiên cung như nguồn gốc , phong tục tập quán cũng như các dòng họ của người Sán Dìu Trong đó nổi bật lên là Truyền thuyết
về “ Vua Cóc” ( Khảm suy vong) Truyền thuyết này được chép bằng truyện thơ dài hơn 800 câu, mỗi câu 7 chữ, lưu truyền rộng rãi trong tộc người Sán Dìu Cốt chuyện nhiều lần nhắc tới địa danh Tân Châu, Linh Sơn, Hà Nam Ngoài các địa danh “ Mãn Khê Quốc” qua lời kể của các cụ già và gia phả của các dòng họ, người Sán Dìu vốn là tộc người nhỏ bé, sinh sống ở miền Nam Trung Quốc Vào
Trang 10những năm cuối thời nhà Minh đầu nhà Thanh( thế kỷ XVII), vì không chịu được
sự đàn áp bóc lột tàn bạo của bọn phong kiến thống trị, người Sán Dìu một lần nữa phải lưu tán, một bộ phận nhỏ đã vượt biên giới Việt - Trung để vào Việt Nam Truyền thuyết, "Truyện quả bầu" nói về nguồn gốc dân tộc Sán Dìu kể rằng: Thuở
xa xưa trời đất còn gần nhau, có một làng quê đông đúc trù phú soi bóng xuống dòng sông thơ mộng Bỗng một hôm ông trời nổi giận, cho nước sông dâng cao làm chết muôn loài Trong làng có hai chị em họ nhanh chân chui vào quả bầu khô,nổi lên theo dòng nước nên sống sót Khi nước rút, vì trong vùng không còn ai, họ bèn lấy nhau, sinh nhiều con cháu làm cho người Sán Dìu hồi sinh trở lại Tuy làngđông người nhưng toàn con cháu cùng huyết thống, không thể lấy nhau được nên phải sang làng khác tìm hiểu
2.2 Hát Soọng cô nét văn hóa nghệ thuật đặc trưng nhất của người Sán Dìu.
2.2.1 Những nét chung về hát Soọng cô của người Sán Dìu.
Soọng cô là loại hình ca hát dân gian độc đáo, thể hiện sinh động đời sống của người Sán Dìu ở Tuyên Quang Nó luôn là phương tiện truyền tải mọi tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của người dân Trước sự phát triển của nhiều loại hình giải trí hiện đại, việc tìm hiểu đặc trưng, vai trò, ý nghĩa của làn điệu dân ca này là việc làm cần thiết, góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc.Người Sán Dìu có vốn thơ ca dân gian phong phú, trong đó, hát soọng cô (đối đáp nam nữ) là hình thức phổ biến trong dịp lễ hội, ngày xuân, đêm trăng đẹp, thể hiện tình yêu trong lao động và giữa con người với con người
Theo tiếng Sán Dìu, soọng nghĩa là hát, còn cô nghĩa là ca Soọng cô được hát theosách, có bài bản sẵn Ngày nay, người Sán Dìu đã sáng tác thêm những bài hát mới
ca ngợi quê hương đất nước dựa vào lời ca, giai điệu của những câu hát cổ
Trang 11Soọng cô là một thể loại hát ví đối đáp gắn liền với sinh hoạt văn hóa dân gian của người Sán Dìu Họ hát về tình yêu lứa đôi, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, ca ngợi tình nghĩa thủychung vợ chồng, công lao ông bà, cha mẹ, răn dạy con người sống có đức, có nhân, có hiếu… Tiếng hát cất lên thật dặt dìu, réo rắt, lúc ngân cao, lúc trầm ấm làm say mê lòng người Những lời ca bình dị ấy đã trở thành món ăn tinh thần có sức sống mãnh liệt và lắng đọng trong tâm hồn của người Sán Dìu.
Soọng cô là lối hát dân gian hòa quyện vào nếp sống của người Sán Dìu Đó là hình thức sinh hoạt cộng đồng giữa hai bên: chủ và khách, nam và nữ, giữa làng nọvới làng kia Môi trường diễn xướng soọng cô tương đối phong phú, không bị giới hạn bởi không gian, thời gian, hoàn cảnh Người ta có thể hát một hoặc nhiều đêm,
có thể hát trong nhà, bên bờ suối, trên nương, trong đám cưới, khi ru con và hát chúc xuân trong các lễ hội Môi trường diễn xướng hát soọng cô bao gồm:
Hát soọng cô ngoài trời, là những bài hát được thể hiện trong hội xuân, bên giếng làng, thác nước, bờ suối, nương chè khi nam nữ của hai hay nhiều làng gặp gỡ nhau, hát đối đáp với nhau, thể hiện tình cảm qua lời hát
Hát soọng cô trong nhà, là những bài hát giao duyên của các chàng trai, cô gái Sán Dìu khi đến thăm nhà, thăm làng của nhau
Hát soọng cô trong đám cưới, là những bài hát thể hiện sự vui mừng, phấn khởi trong ngày cưới Khúc hát tâm tình, giàu nhạc điệu được thay cho những câu đối thoại phổ thông giữa hai họ
Hát soọng cô trong lao động sản xuất, gồm những bài hát được thể hiện trong quá trình lao động sản xuất, ở nương rẫy, đồng ruộng, đồi chè…
Trang 12Có thể nói, soọng cô không đơn thuần là lời ca tiếng hát dân giã, thấm đượm hồn người, mà còn là một nét văn hóa riêng với không gian, thời gian diễn xướng cùng những tục lệ riêng của người Sán Dìu.
2.2.2 Đặc trưng về nội dung.
Nội dung của soọng cô rất phong phú, đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội của dân tộc Sán Dìu như tình yêu đôi lứa, tình yêu thiên nhiên, quêhương xứ sở, đề cao lao động, phê phán cái xấu Tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà soọng cô truyền tải những thông điệp văn hóa khác nhau Căn cứ vào kết quả điền
dã tại địa phương, có thể chia nội dung của soọng cô thành ba dạng chính: hát giao duyên, hát trong đám cưới và hát trong lao động sản xuất
Hát giao duyên
Ở người Sán Dìu, tiếng hát giao duyên gần như là phương tiện chủ yếu để bày tỏ tình cảm, trò chuyện, tìm hiểu, thể hiện tình yêu đôi lứa Vậy nên, nội dung bao trùm trong các bài hát soọng cô là tình yêu đôi lứa Thanh niên nam, nữ thường mượn cảnh đẹp của quê hương, đất nước, những cảnh sinh hoạt hàng ngày, câu chuyện cổ tích, thần thoại, thông qua đó để nói lên tình yêu và ước vọng xây dựng một cuộc sống vui tươi, ấm êm, hạnh phúc Hát giao duyên có hai loại: hát giao duyên ban ngày, hát giao duyên ban đêm
Đồng bào Sán Dìu ở Tuyên Quang thường tổ chức hội hát trong tết Nguyên đán (từmùng 4 đến 6 tết) Các cô gái, chàng trai ở nhiều làng gặp nhau trong đám hội hoặcgặp nhau trên đường, muốn làm quen họ sẽ cất lời ngỏ ý Thông thường bên nam
sẽ cất lời trước:
“Khíu nên có léo shin nên lói
Thào va vát lẻo lý va hoi
Trang 13Thào va vát léo hông sui hị
Thào va vát bó tánh nhòng loi”
(Xuân cũ qua đi xuân mới đến
Hoa mận đã tàn hoa đào nở
Hoa mận đã tàn gió thổi bay
Hoa đào đã nở chờ em tới)
Mùa xuân, khi đến làng khác để hát soọng cô, trong không gian ấm áp quây quần bên bếp lửa, lời hát đầu tiên bao giờ cũng là chào hỏi, chúc sức khỏe người lớn tuổi, bà con làng xóm để tỏ lòng kính trọng, lễ phép đồng thời ngỏ ý mời các cụ giàvui hát cùng con cháu Từ những lời ca mở đầu còn ngại ngùng, e lệ, đêm hát đã đưa nam nữ đến gần nhau hơn, họ hát ca ngợi quê hương, rồi bày tỏ tình yêu đôi lứa, có câu hát rằng:
"Nhóng lý on xim mạo sóc xòi
Nón tách lống nhòng không ết son
Nón tách lống nhòng không ết ốc
Không già không nạ không thai mòn"
(Nàng ơi đừng nghĩ lo nhiều
Để chàng cùng liệu việc mình với ta
Ước gì chung mẹ chung cha
Chung nhà, chung cổng cùng vào một sân)
Trang 14Đến lúc phải chia tay, họ lưu luyến hẹn ngày gặp lại bằng những câu hát tiễn gắn với sông núi, xóm làng Câu hát giữa người ở, người về ngân dài hơn, lời hát lúc ngập ngừng, khi da diết như muốn níu chân người lại Người về như muốn nói, muốn hát thêm mội chút, sợ những lời đã nói, đã hát chưa đủ làm bạn hiểu lòng mình, người ở lại thì như muốn mượn câu hát để giữ chân bạn thêm chút nữa để tỏ bày nỗi nhớ:
“Then cong bo
Hoi lống vọng choóc dịp xan thó
Choóc chấy lý xan lý noi kẹo
Lóng kim lý nỉ bác bôn xói”
(Trời sắp sáng
Mở lồng thả chim bay vào núi
Chim xa núi đêm ngày chim hót
Anh xa nàng anh nhớ không quên)
Nam, nữ có thể hát với nhau trong một đêm, cũng có thể kéo dài đến ba bốn đêm nhưng lời ca của đêm hát sau không được trùng lặp với đêm trước Điều này thể hiện tài ứng tác thơ ca của người Sán Dìu, làm cho vốn soọng cô ngày càng phong phú
Những đêm hát giao duyên của các chàng trai cô gái Sán Dìu thường diễn ra ở trong nhà, bên bờ suối, hoặc khu đất trống trước làng Nếu hát trong nhà, đầu tiên khách phải xin phép gia chủ để được hát giao duyên Khi đã được chủ nhà đồng ý, các đôi trai gái sẽ được thỏa sức trổ tài ca hát, từ lúc đó bắt đầu cho một đêm hát giao duyên
Trang 15Khi bạn hát đến nhà, chủ nhà thường đặt ra những lời hát đố để thử thách bạn hát, nếu như không giải được câu đố thì buổi hát dừng lại, mời bạn về để hôm khác có
sự chuẩn bị tốt hơn Cuộc hát đối đáp diễn ra với những lời thách đố của hai bên, tuần trà lần lượt rót ra mời bạn, các câu hát vẫn nhẹ nhàng trầm lắng, làm cho con người quên đi thời gian
Hát giao duyên không chỉ là phương tiện thể hiện tài năng của các đôi nam nữ mà còn là nơi gửi gắm và thể hiện ước mơ, quan niệm về người bạn tình cũng như tìnhcảm của những người đang tìm hiểu nhau Từ những đêm hát này mà có biết bao đôi trai gái đã bén duyên và yêu nhau
Hát trong đám cưới
Khi đã thành đôi lứa, những câu hát soọng cô vang lên trong lễ cưới Người Sán Dìu quan niệm, việc hát soọng cô trong lễ cưới như một thủ tục quan trọng, ảnh hưởng đến hạnh phúc của cô dâu, chú rể Vì vậy, trong các nghi thức tiêu biểu như
lễ chắn cửa, lễ khai hoa tửu đều diễn ra hát đối đáp soọng cô Đặc biệt, trong lễ cưới người Sán Dìu, hát soọng cô còn thay cho lời chúc mừng đám cưới, có hàng trăm bài hát được đại diện hai họ hát đối đáp trong suốt đêm Trong đám cưới, hát soọng cô gồm hai làn điệu không thể thiếu đó là hát nghênh tiếp và hát khai hoa tửu
Hát nghênh tiếp, trong quan niệm của người Sán Dìu, lễ chắn cửa mang ý nghĩa biểu trưng, phải vượt qua những thử thách mới đến được với người bạn đời và vượtqua những khó khăn trong cuộc sống sau này của đôi vợ chồng trẻ Khi nhà trai đến vào tầm xế chiều, nhà gái mang ghế để ở cửa ra vào cùng một ấm trà pha sẵn, một vài miếng trầu đã têm, ngụ ý nhà trai phải hát đúng những câu hát của nhà gái đưa ra thì mới được vào nhà, nó như một thử thách cuối cùng đối với chú rể và họ hàng nhà trai