1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn nghệ dân gian của người sila ở lai châu

37 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 718,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa , trong quátrình học và được trang bị những kiến thức chuyên sâu vàhiểu rõ về từng vấn đề của dân tộc thiểu số như : kinh tế,trang phục, nhà

Trang 1

MỞ ĐẦU

Việt Nam dải đất hình chữ S Là nơi sinh sống của 54 dântộc anh em Theo đó chúng ta có một nền văn hóa đa sắcmàu Mỗi dân tộc với một màu sắc một nét đẹp riêng hòa lạitạo lên cái chung cái tuyệt vời của văn hóa Việt Nam Đểkhông hòa lẫn vào đâu được

Tôi là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa , trong quátrình học và được trang bị những kiến thức chuyên sâu vàhiểu rõ về từng vấn đề của dân tộc thiểu số như : kinh tế,trang phục, nhà ở, ẩm thực, hôm nhân, ma chay, tínngưỡng,văn nghệ dân gian, lễ hỏi, thiết chế xã hội Từ đó chothấy mỗi dân tộc có một đặc chưng riêng giúp tôi hiểu được

về đời sống vật chất Cũng như văn hóa tinh thần của đồngbào các dân tộc thiểu số và đó cũng là nền tảng kiến thức đểtôi tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về giá trị văn hóa dân giancủa người Si la

Dân tộc Si la là một trong những dân tộc ít người nhất ViệtNam Dân tộc này có nguồn gốc xa xưa từ Vân Nam ( TrungQuốc ) sau đó di cư sang Lào và sau đó là sang Việt Nam cáchđây khoảng hơn 200 năm Họ tập trung sinh sống chủ yếu ởLai Châu

Trong bài tiểu luận này tôi tập chung chủ yếu nghiên cứu vềvăn nghệ dân gian của người Sila ở Lai Châu

Trang 2

Người Sila chủ yếu sống ở tỉnh Lai Châu.

Lai Châu là một tỉnh biên giới thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam,phía bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phía tây

và phía tây nam giáp tỉnh Điện Biên, phía đông giáp tỉnh LàoCai, phía đông nam giáp tỉnh Yên Bái, và phía nam giáp tỉnhSơn La Đây là tỉnh có diện tích lớn thứ 10/63 Tỉnh thành ViệtNam

Cách thủ đô Hà Nội hơn 400km với diện tích 9.068,78 km2diện tích tự nhiên, phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vân Namcủa Trung Quốc, phía Tây giáp tỉnh Điện Biên, phía Đông vàphía Đông Nam tiếp giáp với hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, phíaNam tiếp giáp với tỉnh Sơn La.Nơi đây cũng là địa bàn cư trúcủa 20 dân tộc anh em Dân số toàn tỉnh có hơn 403,20 ngìnngười, trong đó dân tộc Thái có 131,822 người chiếm 34,00%;dân tộc Mông có 86,467 người chiếm 22,30%; dân tộc Kinh có54,027 người chiếm 13,94%; dân tộc Dao 51,995 người chiếm

Trang 3

13,41%; dân tộc Hà Nhì có 14,658 người chiếm 3,78%; dântộc Giáy 12,443 người chiếm 3,21%; dân tộc Khơ Mú có 7,464người chiếm 1,93%, dân tộc La Hủ có 10,141 người chiếm2,62%; dân tộc Lự có 6,074 người chiếm 1,57%; dân tộc Lào

có 6020 người chiếm 0,32% và 10 dân tộc có số dân dưới

1000 người như Hoa, Si La, Kháng, Tày, Mường, Nùng,PhúLá Văn hóa tộc người được thể hiện rõ nét ở cả văn hóa vậtthể và văn hóa phi vật thể

Trang phục của người dân Lai Châu có nhiều kiểu dáng, loạihình, màu sắc, hoa văn , nhiều dân tộc mặc quần áo Nhiềudân tộc mặc váy và tấm choàng.Đến nơi đây, du khách cònđược đắm mình trong không khí của những lễ hội truyềnthống của đồng bào dân tộc như lễ hội nàng Han của ngườiThái, lễ hội Gàu Tào Cha của dân tộc Mông, lễ hội cúng cơmmới và những trò chơi độc đáo ở các phiên chợ phiên xen lẫnvới những điệu múa,những bài hát hát về người yêu haynhững âm thanh vang vòng núi rừng của những chiếc khèndân tộc

Là nơi sinh sống thuận hòa của 20 dân tộc anh em, chính điềunày đã mang lại cho Lai Châu sự phong phú đa dạng về vănhoá

1.1.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội

Sau khi tách tỉnh, Lai Châu là một trong những tỉnh khó khăn.Tuy nhiên, nền kinh tế Lai Châu đã phát triển và đạt đượcnhững kết quả quan trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơcấu kinh tế chuyển biến tích cực, cơ sở hạ tầng kinh tế - xãhội phát triển khá Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân

Trang 4

13%/ năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 8triệu đồng, tăng 2,4 lần so với năm 2005 Cơ cấu kinh tếchuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông, lâm nghiệpđạt 34% (giảm 11,3%); công nghiệp – xây dựng 35% (tăng9,6%); dịch vụ 31% (tăng 1,7%) Các ngành, lĩnh vực kinh tếđều có sự phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Đã hìnhthành một số vùng sản xuất nông, lâm nghiệp tập trung, cótriển vọng về hiệu quả kinh tế và xã hội; Sản xuất lương thựctăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng, tổng sản lượnglương thực có hạt đạt 157 nghìn tấn, lương thực bình quânđầu người đạt 400 kg/ người/ năm Cây cao su được đầu tưtrồng mới gần 7000 ha, tiếp tục thâm canh vùng chè và đưathêm giống mới vào sản xuất Kinh tế rừng phát triển với việc

đã thu hút được một số doanh nghiệp đến đầu tư, phát triểnrừng kinh tế Trong 5 năm đã khoán bảo vệ 141 nghìn ha,khoanh nuôi tái sinh 117 nghìn ha, trồng mới trên 19 nghìn

ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 41%, tăng 9,3% so với năm 2005;Văn hóa - xã hội tiếp tục có bước chuyển biến rõ nét, dân tríđược nâng lên, công tác xóa đói giảm nghèo đạt kết quả tíchcực; Quốc phòng - An ninh được đảm bảo, quan hệ đối ngoạiđược mở rộng; Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộđược nâng lên…

Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thuỷ sản: Xây dựng các vùng sảnxuất hàng hóa tập trung, có những vùng đạt 30–50 triệuđồng/ha/năm tại các cánh đồng Mường So, Bình Lư, MườngThan Duy trì và cải tạo, thâm canh và phát triển cây chè vàcây thảo quả, đây là hai loại cây có thế mạnh trong việc xuất

Trang 5

khẩu hàng hoá của tỉnh Xã hội hoá nghề rừng, chuyển cơ bản

từ lâm nghiệp truyền thống sang phát triển lâm nghiệp xã hộimang tính cộng đồng, phát triển rừng kinh tế để phục vụ chongành công nghiệp chế biến Tổ chức sản xuất nông thôntheo hướng phát triển kinh tế trang trại, lấy kinh tế hộ làmđơn vị tự chủ, các DN, hợp tác xã nông lâm nghiệp là đơn vịdịch vụ hai đầu cho kinh tế hộ phát triển

Công nghiệp: Đối với Lai Châu có thể coi đây là một ngànhkinh tế mũi nhọn, kết hợp phục vụ sản xuất nông – lâmnghiệp Tỉnh đã thông qua quy hoạch chi tiết các điểm có thểxây dựng nhà máy thuỷ điện, đặc biệt là công trình thủy điệnLai Châu Công nghiệp chế biến nông lâm sản cũng cần đượcquan tâm đúng mức Công nghiệp khai thác và sản xuất vậtliệu xây dựng tránh làm theo phương thức vụn vặt để dễ quản

lý và khai thác có hiệu quả Tiểu thủ công nghiệp với cácngành nghề truyền thống của địa phương như: mây tre đan,dệt thổ cẩm, lương thực thực phẩm…

1.2 Khái quát về tộc danh và nguồn gốc lịch sử của người Sila ở huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu

1.2.1 Khái quát về tộc danh và ngôn ngữ

Người Si La, còn gọi là Cú Dé Xử, Khà Pé, là một dân tộc trong

số 54 dân tộc tại Việt Nam

Người Si La nói tiếng Si La, là một ngôn ngữ của thuộc ngữ tộcTạng-Miến Sắc tộc Si La hiện có khoảng 840 người sống chủyếu tại tỉnh Lai Châu (khoảng 65%), thuộc miền bắc ViệtNam Đa số những người này sống tại ba bản Seo Hay, Sì

Trang 6

Thâu Chải, Nậm Xin thuộc huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.Ngoài ra, có khoảng 1.800 người Si La sống tại Lào.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Si La ởViệt Nam có dân số 709 người, có mặt tại 17 trên tổng số 63tỉnh, thành phố Người Si La cư trú tập trung tại các tỉnh: LaiChâu (530 người, chiếm 74,75% tổng số người Si La tại ViệtNam), Điện Biên (148 người, chiếm 20,87% tổng số người Si

La tại Việt Nam), các tỉnh khác mỗi tỉnh có không quá 10người

1.2.2 Khái quát về nguồn gốc lịch sử

Người Si La có nguồn gốc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Hơn

200 năm trước đây do điều kiện thiên nhiên và chiến trangsảy ra giữa các dân tộc ở vùng biên giới Trung Quốc , đểtránh các cuộc chiến trang và bảo tồn dân tộc , người Sila đã

di cư xuống phía Nam, đến các nước : Lào , Thái Lan ,Myanma , Phi líp Pin Theo các người già kể lại cách đây 130năm có những gia đình Sila di cư từ Lào sang Việt Nam ở lạiMường Tùng ( Lai Châu ) sau về ở Mường Lay song lại đếnMường Tè

1.3 Khái quát về đặc điểm văn hóa của người Sila ở huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu

1.3.1.Văn hóa vật chất

-Nhà ở

Người Si La ở nhà đất, hai gian và hai chái nhỏ, có hiên phíatrước và chỉ có một cửa ra vào Không bao giờ cửa ra vào vàbàn thờ chung một gian Thường thì góc trái trong cùng là nơi

Trang 7

để thờ cúng tổ tiên, trên có một chén rượu nhỏ và một quảbầu Nhà có hai bếp, bếp chính ở giữa nhà, kê ba ông đầu raubằng đá Ông đầu rau quan trọng nhất quay lưng về hướngbàn thờ, người Si La cho rằng tổ tiên thường ở đấy trông coibếp lửa của gia đình.

- Trang phục

Trang phục của phụ nữ có nhiều nét độc đáo, đặc biệt làmảng ngực áo bằng vải khác màu, áo cài khuy bên nách phải,nổi bật trên áo là vạt ngực gắn đầy những đồng xu bạc, xunhôm không theo hàng lối nhất định Cổ và tay áo được trangtrí bằng cách đắp thêm những đường vải màu khác nhau Váymàu đen hay chàm không thêu, khi mặc giắt ra phía sau lưng.Ngày nay các em gái và thiếu nữ Si La mặc váy cũng giắt phíatrước như người Thái Khăn đội đầu phân biệt theo lứa tuổi vàtình trạng hôn nhân (thiếu nữ đội khăn trắng, phụ nữ đã cóchồng đội khăn đen) và họ thường đeo túi đan bằng dây gairừng, được trang trí bằng nhiều tua chỉ đỏ Ngoài ra tụcnhuộm răng cũng phổ biến nam nhuộm răng đỏ , nữ nhuộmrăng đen

- Ẩm thực

Xưa kia người Si la quen dùng cơm nếp , gần đây cơm tẻnhiều hơn , thực phẩm chủ yếu từ săn bắn hái lượm

1.3.2 Văn hóa tinh thần

Phương tiện vận chuyển: Người Si La phổ biến dùng gùi.Ngoài ra họ còn biết dùng thuyền, mảng đi lại trên sông

Trang 8

Cưới xin: Trai gái yêu nhau được quan hệ với nhau, người contrai được ngủ qua đêm tại nhà người yêu của mình Có tụccưới hai lần Lần đầu đón cô dâu về nhà chồng Lần thứ haisau một năm, nhà trai trao tiền cưới cho nhà gái.

Sinh đẻ: Phụ nữ sinh con ở trong nhà, đẻ ngồi Nhau đẻ đựngtrong ống nứa, phủ một lớp tro bếp lên trên dựng ở góc bếpcho đến ngày đặt tên cho đến ngày đặt tên cho đứa trẻ Họthường mời bà già trong bản tới đặt tên cho con để mong consống lâu Sau khi đặt tên, bà già này bịt ống đựng nhau bằng

lá chuối, nếu con trai buộc chín lạt, con gái buộc bảy lạt, rồiđem treo hoặc chôn Lễ cúng hồn cho trẻ sơ sinh được tiếnhành 3 ngày sau khi đặt tên

Ma chay: Nghĩa địa thường để dưới bản, mộ của những ngườicùng họ thường ở gần nhau Kiêng đặt mộ xa giữa nhữngngười khác họ Chọn được đất ưng ý để đặt mộ thì cuốc mộtnhát, đặt cục than vào nhát cuốc đó, coi như đất đã có chủ.Sáng hôm sau mới làm nhà táng và đào huyệt Quan tài bằngkhúc gỗ bổ đôi khoét rỗng Cúng đưa hồn người chết về quêhương cũ ở Mồ U Sau khi chôn, gia đình tang chủ dội nước tắtbếp, mang hết than củi cũ ra ngoài nhà rồi mới đốt bếp.Không có tục cải táng và tảo mộ Ðể tang bằng cách: con traibuộc túm ít tóc trên đỉnh đầu, con gái tháo vòng tay, vòng cổ.Ðặc biệt, khi có người chết, đồng bào tổ chức vui chơi, ca hát,không có tiếng khóc Tuy không tảo mộ, cải táng nhưng người

Si La có tục con cái để tang cha mẹ 3 năm

Trang 9

Thờ cúng: Con cái thờ bố mẹ đã mất Mỗi bàn thờ phải cóchén thờ lấy từ chén cúng cơm bố mẹ trong ngày làm ma.Nhà có bao nhiêu con trai thì có bấy nhiêu chén và tất cả đểlên bàn thờ Ðến khi chia nhà thì mang chén đó ra lập bàn thờriêng Thờ tổ tiên từ đời ông trở lên do người trưởng họ đảmnhận Lễ cúng bàn là lễ cúng quan trọng nhất cầu mong cảbản không ốm đau, bệnh tật, lợn gà không bị thú rừng bắttrong năm Cứ 7 năm lại làm lễ cúng hồn lúa, dùng vợt bắt cá,gạo đưa đường để đưa hồn lúa từ nương về bản, tới nhà rồicất kỹ trên bồ thóc.

Tín ngưỡng: Người Si La thờ cúng theo các dòng họ Mỗi giađình lập bàn thờ cúng tổ tiên Họ kiêng ăn thịt mèo

1.3.3.Văn hóa xã hội

Quan hệ xã hội: Làng bản Si La xưa kia chịu sự cai quản của

hệ thống chức dịch người Thái, chưa có sự phân hoá giai cấp.Tính cộng đồng trong công xã cao

Quan hệ dòng họ khá chặt chẽ Có nhiều tên họ khác nhaunhưng họ Hù và họ Pờ đông hơn cả Do quan niệm cùng tên

họ là cùng chung tổ tiên xa xưa do điều kiện cư trú xa cách,người ở chi họ này dễ dàng xin nhập sang chi họ khác, cùngthờ tổ tiên với nhau Mỗi chi họ đều có người già nhất, khôngphân biệt dòng trưởng hay thứ, đứng đầu Hàng năm vào hai

kì, tết năm mới và cơm mới, có lễ cúng tổ tiên chung ở nhàngười trưởng họ với các lễ vật rất đặc trưng như thịt sóc, cua,

cá bống, ống rượu cần tượng trưng, vài bông lúa, khoai sọ, bó

lá hạt cườm Trên mâm cúng không dùng hương mà đốt nến

Trang 10

bằng sáp ong Những đồ thờ gia bảo của dòng họ bày ở bànthờ là trống, nhạc ngựa, quả bầu, chén đựng rượu Khi ngườitrưởng họ mất, chỉ sau 3 năm người lên thay mới được quyềnchuyển những đồ thờ này sang bàn thờ nhà mình Ngườitrưởng họ có vai trò lớn trong việc điều chỉnh các quan hệgiữa các thành viên trong họ, cưới xin, ma chay, cho người rakhỏi họ hoặc kết nạp thành viên mới vào họ Những ngườicùng họ không được lấy nhau.

Người Si La có nhiều dòng họ Các dòng họ đều kiêng ăn thịtmèo Quan hệ trong họ khăng khít, chặt chẽ Trưởng họ làngười đàn ông cao tuổi nhất, có vai trò quan trọng đối với cácthành viên và có trách nhiệm tổ chức sinh hoạt chung của họmình, đặc biệt là việc thờ cúng Trong xã hội, ngoài trưởng

họ, người Si La rất coi trọng các thầy mo

Người Si La sống bằng nghề trồng lúa nương, ngô Từ mấychục năm nay đồng bào làm thêm ruộng nước Tuy sản xuấtđóng vai trò chính nhưng săn bắn và hái lượm vẫn có ý nghĩađối với đời sống của đồng bào

Đời sống của người Si La hiện còn thấp kém Giao thông cáchtrở, cái ăn, cái mặc đều chưa đủ, nạn hữu sinh vô dưỡng, tậptục lạc hậu, bệnh tật (phổ biến là bướu cổ, sốt rét )

Nhìn chung, dòng họ của người Si La là một hình thức tôn tộckhép kín, tính theo dòng họ cha Hàng năm, mỗi dòng họ đều

có ít nhất hai lần họp mặt sinh hoạt cộng đồng vào dịp ăncơm mới và ăn tết đầu năm mới Các gia đình trong họ phảimang lễ vật đến nhà trưởng họ cúng tổ tiên để tạ ơn và cầuphúc Mối quan hệ trong dòng tộc là quan hệ huyết thống, do

Trang 11

trưởng họ đứng đầu Trưởng họ có quyền quyết định mọi côngviệc của dòng họ và của mỗi gia đình thành viên Gia đìnhnào có công việc hệ trọng như cưới xin, ma chay, vào nhà, ănmừng lúa mới đều phải đem lễ vật đến nhà trưởng họxinpheps tổ tiên, trời đất và ông trưởng họ để tổ chức Tronggia đình có mắc mớ hoặc xích mích với bên ngoài thì trưởng

họ là người đến can thiệp và xử lý Những ngày tết, lễ cũngđược các gia đình cùng dòng họ đem lễ vật đến biếu trưởng

họ Lễ vật bao gồm: tim, gan, thận lợn và một vò rượu cần vớimột ít sáp ong để thắp lên bàn thờ tổ tiên

Tổ chức theo tông tộc là hình thức chặt chẽ, có quy ước,hương ước riêng, xử phạt nghiêm minh đối với những ai viphạm hặc làm tổn hại đến danh dự của dòng họ Các hìnhthức xử phạt được áp dụng từ thấp đến cao tuỳ theo mức độ

vi phạm: từ khuyên răn đến đuổi ra khỏi tông tộc Hình thức

tổ chức theo dòng họ do trưởng họ đứng đầu cũng là biểuhiện của tính chất phụ quyền, nhằm cố kết khối cộng đồngtrong họ Đồng bào dân tộc Si La có tính cố kết cộng đồng,dòng tộc cao

Người Si La hát giao duyên giữa nam nữ thanh niên, hát sử

ca Ngày tết năm mới vào đầu tháng 12 âm lịch Ngoài ra họcòn ăn tết cơm mới Các em nhỏ Si La thường chơi các đồ chơi

tự chế từ tre gỗ hay đất sét Đồng thời, chúng cũng có các tròchơi tập thể rất vui nhộn

2 Một số loại hình văn nghệ dân gian và ý nghĩa của

nó trong đời sống văn hóa của người Sila

Trang 12

2.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian

2.1.1 Truyền thuyết

Truyền thuyết của dòng họ Hù của người Sila

Đồng bào dân tộc Si La tỉnh Điện Biên sinh sống tập trung ởbản ở Nậm Sin, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé Mặc dù vớidân số chỉ có hơn 100 người nhưng có tới 05 dòng họ chính là

Hù, Lỳ, Lý, Pờ và Giàng, trong đó họ Hù chiếm số đông hơn

cả Các dòng họ cùng thống nhất cách đặt tên đệm là Chàcho nam giới và Cố cho phụ nữ Mỗi dòng họ có truyền thuyếtkhác nhau về tên gọi dòng họ của mình; riêng họ Hù liênquan đến một số truyền thuyết tuy hoang đường nhưng mangđậm chất nhân văn

Theo tiếng Si La hè có nghĩa là hổ, lâu ngày gọi chệch là hù

Hổ được coi như người đỡ đầu dòng họ Hù với truyền thuyết

về hổ cứu người Người Si La mang họ Hù có niềm tin rằng hổ

sẽ không ăn thịt những người trong họ mình

Chuyện kể rằng, ngày xưa có một đôi trai gái yêu nhau sayđắm nhưng bố mẹ cô gái không đồng ý cho họ lấy nhau.Chàng trai buồn bã đi lang thang trong rừng và bất chợt gặpmột con hổ nằm bên gốc cây cổ thụ Ngày đó người và hổcùng các loại muông thú đều hiểu được tiếng nói của nhaunên chàng đã tâm sự chuyện riêng tư bất hạnh của mình với

hổ Hổ vô cùng cảm thông liền kết nghĩa tình anh em, hứa sẽmột lòng giúp đỡ giúp đỡ vun đắp hạnh phúc trăm năm chochàng trai và cô gái

Trang 13

Chỉ vài hôm sau, hổ đến nhà cô gái và bắt cô gái về chochàng trai Từ đó đôi trai gái không trở về nhà và chung sốngvới nhau trong trong rừng Hàng ngày hổ đi bắt hươu nai vềlàm thức ăn và cùng ăn với đôi trai gái Một hôm hổ dặnchàng trai có việc phải đi xa, nếu bố mẹ cô gái vào rừng bắt

về cứ để họ trói, chàng cứ dậm chân xuống đất ba lần, gọi hổ

ba lần hổ sẽ về cứu Hổ đi khỏi, quả nhiên bố mẹ cô gái đến,chàng trai làm theo đúng lời hổ dặn, đột nhiên tất cả hổ trongrừng chạy đến cứu nên bố mẹ cô gái hoảng hồn bỏ chạy mộtmạch về nhà và không bao giờ dám trở lại khu rừng đó nữa

Từ đó đôi trai gái sống yên vui, hạnh phúc bên nhau, sinh con

đẻ cái, làm nương rẫy bên bầy hổ anh em trong rừng Nhớ ơn

hổ, những người con của họ sau này đều mang họ Hù (nghĩaHán, lao Hu là hổ)

Trong thực tế, người Si La thuở xưa sống trong mối ràng buộckhắt khe của gia đình, xã hội Vì những mối rang buộc ấy màtrong chuyện tình yêu, hôn nhân đôi khi họ gặp phải trắc trởkhông có cách nào vượt qua Họ đành mượn câu chuyện tìnhtrong truyền truyết để nói lên khát vọng tình yêu, hạnh phúclứa đôi để an ủi mình cố vượt qua hoàn cảnh trái ngang với hyvọng vào ngày mai tươi sáng Truyền truyết đó cũng là mộtcách lý giải về nguồn gốc họ Hù của dòng tộc mình Cũng cóthể loài chúa sơn lâm quá hung dữ nên từ thuở hoang sơngười Si La sống giữa thiên nhiên hoang dã đã tưởng tượng vàsáng tác ra truyền thuyết dân gian này để trấn an lòng ngườirằng, rằng hổ là bạn, là anh em, đừng quá kinh hãi loài vậtnày Trong thực tế trước đây muông thú còn phong phú, đadạng giống loài, người Si La ở nhà đất nên nhà họ đều phải có

Trang 14

rào cao bao quanh để tránh thú dữ nên đồng bào dân tộc Si

La từ xưa đã có truyền thuyết trên cũng là điều dễ lý giải

2.1.2 Truyện cổ tích

Có câu chuyện kể rằng, ngày xưa người và hổ gặp nhau trongrừng, người kể cho hổ nghe cảnh khổ cực, mồ côi bố mẹ từnhỏ của mình, bữa cơm chẳng có gì ăn, quần áo không đủ chethân Hổ cũng kể về cảnh sống mồ côi cơ cực của mình từnhỏ, nhưng cuộc sống lại không thiếu thịt ăn hàng ngày Saunhưng phút tâm giao, hổ và người cùng cắt máu ăn thề, kếtnghĩa anh em Về sau hổ chết trước, người anh em làm tangcho hổ với các lễ vật gồm: một sải vải trắng làm khăn tang,một con gà, một con lợn đến cúng ma và chôn cất hổ Saunày con cháu người anh em kết nghĩa đã lấy hổ làm họ chodòng tộc mình Từ đó đến nay dòng họ Hù kiêng ăn thịt hổ vàkhông bao giờ săn bắn hổ Trước đây rừng còn nhiều hổ, mỗikhi thấy hổ chết, người ta phải lấy vải trắng, phên đan phủlên mình hổ rồi đem chôn

Các dòng họ của người Si La hiện nay đã nhiều hơn do có hiệntượng chia tách Cùng mang danh họ Hù, nhưng có họ Hù to

và họ Hù nhỏ Đối với họ Pờ và họ Lỳ cũng xảy ra hiện tượngtương tự Các dòng họ của người Si La đều kiêng thịt mèo vì

họ cho rằng mèo có quan hệ dòng tộc với Hổ, mỗi khi thấymèo chết họ phải chôn cất cẩn thận và đặt một tấm phên đanmắt cáo (plạ) ở bên cạnh để những người khác biết

Người Si la hát giao duyên giữa nam và nữ hát sử ca

Người Si La thường hay che dấu gốc gác của mình và ít giaotiếp với các dân tộc khác Do vậy những bản sắc văn hoá của

Trang 15

dân tộc này ít được người khác biết đến và giờ đây văn hoácủa dân tộc Si La chỉ còn trong tiềm thức của những già làng.Đối với đời sống văn hóa tinh thần thì cây sáo là nhạc cụ đặctrưng không thể thiếu trong các hoạt động văn hóa, văn nghệcủa người Si La Tiếng sáo gọi bạn, tiếng sáo bay bổng trênsuối, trên nương động viên tinh thần mọi người tích cực laođộng sản xuất để đời sống ấm no hơn.

2.1.3 Dân ca

Người Si La xưa thổi sáo, đánh đàn giỏi, có nhiều làn điệu dân

ca riêng, họ có các nhạc cụ và nhiều làn điệu dân ca riêngcủa dân tộc mình, nhưng nay số người biết chỉ đếm trên đầungón tay Ngày xưa đi làm nương, làm rẫy mỗi người làm ởmột núi khác nhau, thường đi cùng một lúc và cùng chờ nhau

về, người nào về trước thì chờ nhau ở ngã rẽ và thổi sáo đểgọi những người khác Cây sáo nhỏ hơn có tên là Là Bí, đây lànhạc cụ dùng để gọi bạn tình Ngày con trai dân tộc Si Lathường tỏ tình với bạn gái bằng tiếng sáo Khi nghe tiếng sáotâm sự của bạn tình, các cô gái sẽ cảm nhận tình cảm từtiếng sáo của ai đó rồi đến, làm quen và yêu nhau

Nhiều làn điệu dân ca của dân tộc Sila như: Điệu Y La Thế(hát yêu, hát vui), ở làn điệu hát này lại có các làn điệu connhư Ồ Xi Chê Y Là Thế (hát ăn Tết), Dề Mế Ỳ Thìa (hát ru con),điệu Lỳ Bồ Khe (hát lúc có tang, lúc buồn), Nhăm Nhăm Bơ (rủnhau đi nương)

Cũng như nhiều dân tộc khác, người Si La có một kho tàngvăn học dân gian rất đáng trân trọng với nhiều thể loại khácnhư truyện cổ tích, thần thoại, sử ca, dân ca, tục ngữ… Cùng

Trang 16

những điệu hát du, hát mừng năm mới, hát mừng nhà mới,hát mừng thọ, hát đối đáp nam nữ… với lời ca mộc mạc, lối vívon giản dị và dễ hiểu nhưng giàu sự biểu cảm, dễ dung độnglòng người Các điệu múa của người Si La thường được biểudiễn vào các ngày hội, lễ, tết, thường kèm theo các nhạc cụnhư: Đàn bầu, đàn môi, nhị 2 dây, nổi bật là chiếc sáo “Là pí”-sáo ngắn và sáo “Pờ tư thế lế”- sáo dài Các nhạc cụ tuy chếtác thủ công từ tre, nứa đơn giản nhưng khi tiếng nhạc cụ cấtlên cùng giai điệu dân ca sẽ có âm hưởng riêng, tạo ấn tượng

lạ cho người nghe

2.1.4 Câu đố

Tuy dân tộc Si La không có chữ viết riêng, nhưng trong cuộcsống hàng ngày họ đã sáng tạo ra một nền văn học, nghệthuật dân gian phong phú về ca dao, tục ngữ, lời khấn, truyện

cổ lưu truyền còn tồn tại một số ít không đáng kể Mặc dùtheo kết quả nghiên cứu trước đây dân tộc Si La có rất nhiềutruyền cổ Si La như: Chàng mồ côi nghè (Bu si me si ê dè),Chín dốt một khôn (Kỳ le Zhồ thừ le quẹ), Bà goá gọi củ mài

từ trên ngọn cây xuống đất (Mì shì mừ khú ha), Đổi cánh lấylửa (à tố nẹ, mì dú phạ), Đười ươi và người đánh cá (ế hê ne

xu dè), Vì sao người Si La không có chữ (Pha bjọ mà xừ) Đi tìmnước (uchò hoi)

2.2 Giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Sila đối với kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam

2.2.1 Giá trị lịch sử

Văn nghệ dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dân tộc, lànguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc Nói

Trang 17

văn nghệ dân gian là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ” còn là vìvăn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại dưới dạng nguyên hợp, các

bộ phận còn gắn bó chặt chẽ với nhau

2.2.2 Giá trị nhân văn

Những câu truyện cổ tích , truyền thuyết của dân tộc Sila luônmang tình yêu thương con người sâu sắc rộng lớn và thái độtôn trọng đề cao con người đề cao giá trị tốt đẹp của conngười Dân tộc Sila là một dân tộc luôn coi trọng đạo đứcnhân phẩm và các giá trị người Trong thời đại hiện nay dântộc Sila luôn tiếp thu nhiều giá trị nhân văn quý báu, phù hợpvới truyền thống dân tộc và xu hướng phát triển khách quancủa thời đại như tự do, bình đẳng, bác ái…

Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hoá về nhiều mặt, trong đó

có văn hoá, chúng ta cần thiết phải giữ gìn những giá trị nhânvăn tốt đẹp mà tổ tiên đã để lại Bởi lẽ, ngoài mặt tích cực,quá trình toàn cầu hoá chứa đựng rất nhiều mâu thuẫn phứctạp, trong đó ẩn chứa những nguy cơ có thể làm phát triểnphiến diện con người

Tìm về quá khứ, nhưng đích đến của cuộc hành trình nàykhông phải ở quá khứ mà là hướng đến tương lai Nói cáchkhác việc khảo cứu những giá trị nhân văn trong văn hoátruyền thống chính là quá trình nhận chân những giá trị củadân tộc nhằm giúp chúng ta tự tin hơn về những gì mình đã

có, đang có và tiếp tục phát huy nó trong cuộc sống hiện tại

2.2.3 Giá trị nghệ thuật

Trang 18

Văn nghệ Si la có một nét riêng một màu sắc riêng không lẫnvào đâu được Mỗi một tiếng hát một tiếng sáo đều nói lênđược cái hồn nghệ thuật Và nét chấm phá riêng biệt ấy gópphần vào mảng màu đa sắc của kho tàng văn hóa dân gianViệt Nam.

2.2.4 Giá trị gắn kết cộng đồng

Văn nghệ dân gian dân tộc đưa con người đến gần nhau hơn,giúp gắn kết cộng đồng Lời ca, tiếng hát, tiếng sáo tiếng kèn,những câu truyện, giúp người với người lại gần nhau hơn.Tiếng hát giúp ta giao lưu với nhau lại gần nhau hơn Xua tan

đi sự xa cách Văn nghệ bắc cầu cho con người đến với conngười, bắc cầu cho tình người để tạo thành một cộng đồngđoàn kết

3 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của văn nghệ dân gian của người Sila

3.1 Ưu nhược điểm

3.1.1 Ưu điểm

Trong những năm qua, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các sở,ban, ngành cấp tỉnh đã quan tâm đối với công tác bảo tồn vàphát huy giá trị của văn nghệ dân gian dân tộc Si la trên địabàn thông qua việc ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kếhoạch và nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo quan trọng khácliên quan Các văn bản đã cụ thể hóa được nhiều chỉ tiêu,nhiệm vụ, giải pháp cũng như việc phân công, phân nhiệmcho các sở, ban, ngành, các địa phương phối hợp thực hiện.Trên cơ sở các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên, các

Ngày đăng: 11/04/2018, 01:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Mường Tè (2004), “Lịch sử Đảng bộ huyện Mường Tè (1945-1975)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sửĐảng bộ huyện Mường Tè (1945-1975)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Mường Tè
Năm: 2004
2. Ban chỉ đạo: Tổng điều tra dân số nhà ở Trung Ương (2009), “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 Kết quả toàn bộ”, NXB Thống kê. 3. Bùi Xuân Đính (2012),“Các tộc người ở Việt Nam”, NXB Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009Kết quả toàn bộ”, NXB Thống kê. 3. Bùi Xuân Đính (2012),“Các tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Ban chỉ đạo: Tổng điều tra dân số nhà ở Trung Ương (2009), “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 Kết quả toàn bộ”, NXB Thống kê. 3. Bùi Xuân Đính
Nhà XB: NXB Thống kê. 3. Bùi Xuân Đính (2012)
Năm: 2012
4. Khổng Diễn (2001), “Dân tộc Si La ở Việt Nam”, NXB Văn hoá Dân tộc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Si La ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: NXB Vănhoá Dân tộc Hà Nội
Năm: 2001
5. Lê Đình Cúc (chủ biên) (1994), “Lai Châu và các dân tộc Lai Châu”, NXB Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lai Châu và các dân tộcLai Châu
Tác giả: Lê Đình Cúc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 1994
6. Lê Như Hoa (2002), “Văn hoá ứng xử các dân tộc Việt Nam”, NXB Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ứng xử các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2002
8. Mai Thanh Sơn, Chu Thái Sơn (2005), “Người Si La” (Việt Nam các dân tộc anh em), NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Si La
Tác giả: Mai Thanh Sơn, Chu Thái Sơn
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2005
9. Nguyễn Đăng Duy (2004), “Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam”, NXB Văn hoá Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: NXB Văn hoá Dân tộc
Năm: 2004
10. Nguyễn Trọng Hiến (2009), “Báo cáo tổng điều tra di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc Si La tỉnh Lai Châu”, bản đánh máy, lưu trữ tại bảo tàng tỉnh Lai Châu và UBND xã Kan Hồ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng điều tra di sảnvăn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc Si La tỉnh LaiChâu
Tác giả: Nguyễn Trọng Hiến
Năm: 2009
11. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Bảo tàng dân tộc học Việt Nam (2002), “Các công trình nghiên cứu của bảo tàng dân tộc học Việt Nam III”, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình nghiên cứucủa bảo tàng dân tộc học Việt Nam III
Tác giả: Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Bảo tàng dân tộc học Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
16. www.laichau.gov.vn bài viết “Lễ cúng bản của người Si La” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ cúng bản của người SiLa
17. www.Laichau.dcs.vn bài viết “Đặc điểm chung về tỉnh Lai Châu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm chung về tỉnh LaiChâu
7. Ma Ngọc Dung (2000), Văn hoá Si La, NXB văn hoá dân tộc Khác
15. www.laichau.gov.vn Tổng quan về tỉnh Lai Châu Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w