1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn nghệ dân gian của dân tộc pu péo, hà giang

33 358 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 109,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa, trong quá trình học tập và tìm hiểu, tôi đã được trang bị những kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ từng vấn đề của các dân tộc thiểu số: về ki

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nguồn gốc lịch sử của người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 2

1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 2

1.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý 2

1.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 2

1.2 Khái quát về tộc danh và nguồn gốc lịch sử của người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 3

1.2.1 Về tộc danh và ngôn ngữ 3

1.1.2 Nguồn gốc lịch sử 3

1.3 Đặc điểm về đời sống văn hóa của người Pu Péo ở Đồng Văn, Hà Giang 4

1.3.1 Văn hóa vật chất 4

1.3.2 Văn hóa tinh thần 5

2 Một số loại hình văn nghệ dân gian của dân tộc Pu Péo 7

2.1 Dân ca Pu Péo 7

2.1.1 Hát nghi lễ - phong tục 11

2.1.2 Hát tình yêu 15

2.1.3 Hát sinh hoạt 17

2.2 Truyện cổ dân gian 19

2.2.1 Truyện thần thoại 19

2.2.2 Truyện cổ tích 20

2.3 Các trò chơi dân gian 23

3 Đánh giá và đề xuất biện pháp để quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị văn nghệ dân gian của tộc người Pu Péo 24

3.1 Đánh giá thực trạng 24

3.1.1 Ưu điểm 24

Trang 2

3.1.2 Nhược điểm 25

3.2 Đề xuất biện phát quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị văn nghệ dân gian của tộc người Pu Péo 26

3.2.1 Về công tác chỉ đạo 26

3.2.2 Về chính sách 26

3.2.3 Về phát triển kinh tế gắn với bảo tồn, phát triển văn hóa 26

3.2.4 Về phát triển nguồn nhân lực 27

KẾT LUẬN 28

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

PHỤ LỤC 30

Trang 3

MỞ ĐẦU

Bước vào thời kỳ hội nhập đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệgiữa dân tộc và quốc tế, tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước phấnđấu vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, vấn

đề xây dựng nền văn hóa mới đáp ứng yêu cầu phát triển chung của đất nước,hòa nhập với khu vực chung và quốc tế lại càng có ý nghĩa quan trọng Qúa trìnhhội nhập tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng đặt ra những tháchthức không nhỏ đối với một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam

Trước sự tác động của cơ chế thị trường mở rộng hội nhập quốc tế vàgiao lưu văn hóa hiện nay, nhiều giá trị văn hóa dân tộc đang bị mai một, phatrộn, không còn giữ được bản sắc Do vậy, khẳng định hệ giá trị văn hóa cẩ cácdân tộc đang là vấn đề cấp thiết vừa có tính thời sự, vừa lâu dài đảm bảo cho quátrình hội nhập mà không bị hòa tan Do đó, phải tiếp tục cụ thể bằng hệ thốngchính sách mạnh, tạo điều kiện cần thiết để giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu

số phát triển trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam

Là một sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa, trong quá trình học tập

và tìm hiểu, tôi đã được trang bị những kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ từng vấn

đề của các dân tộc thiểu số: về kinh tế, nhà cửa, trang phục, ẩm thực, hôn nhân,

ma chay, tín ngưỡng, văn nghệ dan gian, lễ hội, thiết chế xã hội Từ đó, cho thấymỗi dân tộc mỗi vùng miền đều có một nét văn hóa đặc trưng riêng

Trong 54 dân tộc thì dân tộc Pu Péo là một trong số những dân tộc ítngười nhất ở Việt Nam Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người PuPéo ở Việt Nam có số dân 687 người, có mặt 20 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.Dân tộc Pu Péo còn có tên gọi khác là Ka Beo, Pen ti lô lô, La quả Người PuPéo tập trung ở vùng biên giới Việt- Trung thuộc các huyện Đồng Văn, YênMinh và Bắc Mê tỉnh Hà Giang Cũng như các dân tộc khác, dân tộc Pu Péo cónhững nét văn hóa truyền thống độc đáo góp phần không nhỏ vào kho tàng vănhóa vật thể, phi vật thể của cộng đồng 22 dân tộc ở Hà Giang

Trong bài tiểu luận của tôi tập trung nghiên cứu vào văn nghệ dân giancủa người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang

Trang 4

cờ Lũng Cú là biểu tượng cho chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc

Phía tây bắc, bắc và đông bắc giáp Trung Quốc, phía nam giáp các huyệnYên Minh và Mèo Vạc cùng tỉnh Huyện có đường biên giới giáp với nướcCHND Trung Hoa dài trên 52km

1.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội

Tộc người Pu Péo sinh sống ở các xã Phố Là, Phố Cáo, Má Lé, thị trấnPhố Bảng và thị trấn Đồng Văn Địa hình ở các xã này rất khó khăn Hầu hết các

xã có tỉ lệ núi đá rất cao, thiếu đất canh tác nông nghiệp, thiếu nước sinh hoạt vànước tưới nông nghiệp Cuộc sống nơi đây còn nhiều thiếu thốn, giao thôngnhiều chỗ khó đi Cuộc sống của người Pu Péo nơi đây rất đơn giản Họ sốngchủ yếu phụ thuộc vào rừng, cuộc sống tự cung tự cấp là chính, vẫn còn những

hộ bị thiếu đói trầm trọng

Nhìn chung, kinh tế của tộc người nói chung , của người Pu Péo nói riêngvẫn còn rất khó khăn, toàn huyện có 17 xã và 2 thị trấn thì có tới 15 xã nằmtrong diện nghèo Vì vậy đã có nhiều dự án được triển khai để tạo điều hiện cho

sự phát triển kinh tế của đồng bào, trong các dự án đó phải kể đến dự án 135, dự

án 30a, dự án dành riêng cho người Pu Péo trị giá 10 tỷ đồng giai đoạn

2005-2010 Đây là những dự án nhằm hỗ trợ cho đồng bào dây dựng hệ thống điện,đường, trường, trạm và một phần hỗ trợ đời sống Bên cạnh đó dự án còn dànhmột phần kinh phí để khôi phục, bảo tồn những giá trị văn hóa đặc sắc của người

Pu Péo

Trang 5

Hiện nay tất cả các xã của người Pu Péo sinh sống đều có trường mầmnon, trường tiểu học, điểm văn hóa bưu điện xã, trạm y tế, nước sạch, nhà sinhhoạt cộng đồng, thủy lợi,điện sinh hoạt Từ khi có các chính sách quan tâm, ưutiên , tạo điều kiện phát triển của Đảng và chính quyền địa phương, cuộc sốngcủa người Pu Péo ở Đồng Văn đang dần có những chuyển biến Đời sống vậtchất của đồng bào đã dần có những biến chuyển.

1.2 Khái quát về tộc danh và nguồn gốc lịch sử của người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang.

1.2.1 Về tộc danh và ngôn ngữ

Người Pu Péo được xếp vào nhóm ngôn ngữ Ka- Đai Tộc danh chínhthức Pu Péo xuất phát từ cách đồng bào tự gọi mình là Ka Béo, QaBéo hay HanPéo Trong các tài liệu dân tộc họ trước đây còn có nhiều cách ghi tên gọi khácnhau như Pen ti, Pen ti Lô Lô, Ka Béo hay Pu Péo

1.1.2 Nguồn gốc lịch sử

Người Pu Péo sống lâu đời ở vùng cực Bắc lãnh thổ Việt Nam Tộcngười Pu Péo sống ở huyện Đồng Văn ngày nay có nguồn gốc là người Pu Péo ởhuyện Ma Ly Pho tỉnh Vân Nam Trung Quốc, vì giữa huyện Đồng Văn và huyện

Ma Ly Pho có đường biên giới dài 52,5 km nên người Pu Péo di cư sang nước talàm nhiều đợt từ thế kit XVII đến cuối thế kỉ XIX Tuy nhiên, theo nhiều nghiêncứu cho đến tận ngày nay cũng chưa chứng minh được từng đợt cụ thể

Với hơn 300 năm định cư ở nước ta, người Pu Péo đã tự khai sơn pháthạch dựng lên làng bản và trở thành trong đại gia đình dân tộc Việt Nam Đồngbào đã sát cánh cùng các dân tộc, người láng giềng đổ mồ hôi và xương máu để

để giữ gìn, bảo vệ chủ quyền đất nước Việt Nam, và dải đất cao nguyên ĐồngVăn - nơi có người Pu Péo tập trung đông nhất còn lưu giữ được những nét vănhóa cổ truyền nhất xứng đáng được coi là trung tâm văn hóa truyền thống củangười Pu Péo ở Việt Nam

Trang 6

1.3 Đặc điểm về đời sống văn hóa của người Pu Péo ở Đồng Văn, Hà Giang

1.3.1 Văn hóa vật chất

- Nhà ở: nhà thường làm 5 gian, những hộ khó khăn thì làm 3 gian Cácngôi nhà được làm bề thế và trổ 2 cửa, 1 cửa ở chính gian giữa, một cửa ở gianbên phải Trên gác xép được trổ từ 3 đến 5 cửa sổ nhỏ để lấy ánh sáng trời Kếtcấu khung nhà dựa trên các vì kèo gỗ 3 đến 5 hàng chân Phần tường thường dày

từ 40 đến 50cm, được trình bằng đất cứng, có pha lẫn sỏi cuội hoặc đá dăm nên

co sức chịu lực lớn và độ bền cao Dưới chân tường thường được xếp một lớp đácao khoảng 40 đến 50cm để tránh lúm tường do mưa gây ra Mái nhà thườngđược lợp bằng cỏ gianh, nhà nào khá giả lợp bằng ngói (ngói âm dương)

- Trang phục

Trang phục nam: Hằng ngày họ mặc áo cánh ngắn loại xẻ ngực, màuchàm Quần là loại lá tọa cùng màu Trong dịp lễ, nam giới thường đội khănchàm quấn theo lối chữ nhân, mặc áo dài xẻ nách phải, màu chàm hoặc trắng

Trang phục nữ: Phụ nữ Pu Péo thường để tóc dài quấn quanh đầu, càibằng lược gỗ, hoặc bên ngoài thường đội khăn vuông phủ lên tóc buộc thắt rasau gáy Trong ngày cưới cô dâu còn đội mũ xung quanh được trang trí hoa văntheo bố cục dải băng và đính các bông vải Phụ nữ thường mặc hai áo: áo trong

là chiếc áo ngắn cài cúc nách phải, màu chàm không trang trí hoa văn, có đườngviền điểm xuyết ở cổ áo, áo ngoài là loại xẻ ngực, cổ và nẹp trước liền nhau,không cài cúc, ống tay áo, nẹp áo và gấu áo được trang trí hoa văn nhiều màu.Váy là loại dài đen, quanh gấu được trang trí hoa văn, hoặc có loại trang trí cả ởgiữa thân váy Phía ngoài váy còn có yếm váy Đắng lưu ý là chiếc thắt lưng dàimàu trắng, hai đầu được trang trí hoa văn màu sặc sỡ trong bố cục hình thoiđậm Khi mặc váy, hai đầu thắt lưng buông dài xuống hết thân váy Phụ nữ ưamang đồ trang sức vòng cổ, vòng tay, đi giày vải

- Ẩm thực: Người Pu Péo ăn cơm nấu từ gạo tẻ - piê và mèn mén làm từnếp Từ gạo tẻ và ngô, người Pu Péo còn chế biến thành nhiều loại bánh khácnhau Nấu bữa cơm nào ăn bữa cơm ấy, còn mèn mén thì đồ một lần vào buổi

Trang 7

sáng rồi để dành ăn cả ngày Người Pu Péo chủ yếu ăn cơm nấu từ gạo tẻ Tuynhiên, những ngày đói kém nhiều gia đình thường ăn ngô nấu độn với khoai sắn.Người Pu Péo có tục gói hai loại bánh Rhirng: bánh chưng đen với bánh trưngtrắng trong dịp Tết Trong bữa ăn người Pu Péo rất quan tâm dành phần ngoncho người già và kiêng không cho trẻ con ăn chân gà và đầu gà Ăn chân gà sẽviết chữ xấu, ăn đầu gà ma sẽ bám theo Đầu gà thường dàng cho chủ gia đình

ăn

1.3.2 Văn hóa tinh thần

- Tập quán cưới xin: Lễ cưới của người Pu Péo được tiến hành qua nhiềubước như thăm dâu, dạm hỏi, xin dâu, đón dâu và lễ lại mặt, ngày cưới của côdâu chú rể được mặc trang phục truyền thống, trong ngày cưới đoàn đón dâu củanhà trai đi theo số chẵn từ 14-16 người, lễ vật mang theo gồm 5 sọt xôi (1 sọt để

ăn đường) 1 tấm vải đỏ khoảng 2m, chuỗi hạt cườm, 1 đôi bát và một con gàtrống Khi đến nhà gái, nhà gái kê một chiếc bàn con (trên bày rượu và nướcchè) ngay cửa chính, lúc này hai họ cử đại diện hát đối đáp và mời rượu, mờinước Sau đó nhà trai làm các thủ tục cúng tổ tiên họ nhà gái, trao lễ vật,

Lễ cưới được diễn ra ở nhà gái là một ngày Sáng hôm sau một người bạncủa cô dâu cõng cô dâu ra khỏi cổng để về nhà chồng (kể từ đó cô dâu được đối

xử như khách và cũng không được làm những công việc tại nhà của bố mẹmình) không còn là người của bố mẹ đẻ mình nữa Khi về đến nhà trai cô dâu,chú rể khấn vái tổ tiên để được nhận chính thức cô dâu là người nhà mình Mộtđiều đáng chú ý trong bữa tiệc cưới ở họ nhà trai, tất cả các thức ăn được bày lênmột nong lớn, mọi người cùng vui vẻ chúc tụng cùng ăn uống Sau khi cưới 3ngày, cô dâu, chú rể mang theo xôi, thịt trở về bên ngoại làm lễ “lại mặt” Lễ lạimặt còn diễn ra sau đó vào các dịp 7 ngày, 13 ngày và 1 tháng sau khi cưới

- Tục ma chay: Khi trong nhà có người chết người ta thường đặt nghiêngcác hũ thờ trên bàn, tắt lửa bếp lò và kê đá làm bếp nấu ở nửa trước gian giữa.Quan tài được đặt nửa sau gian giữa Trước khi đi mai táng, thầy cúng bái đưangười chết về quê cũ, người ta cầm một ngôi sao năm cánh bằng tre ở cửa chínhsau khi đưa người chết đi để ngăn không cho ma trở lại nhà, phần mộ thường đặt

Trang 8

trên rừng, huyệt đào nông và chỉ được đào khi quan tài đã mang tới cửa rừng.Trước khi nấp đất các con trai phải lần lượt từ người anh cả bước lên nắp quantài quỳ lạy Sau đó cuốc tượng trưng ở hai beeb thành huyệt rồi dùng cuốc gõlên nắp quan tài, mỗi người phải đi ba bước và phải thực hiện nghi thức đó balần, họ hàng cũng lần lượt làm tương tự Mộ được đáp cao và xếp ba hòn đá ởđầu, giữa và đuôi mộ Sau cùng thầy cúng có bài cúng gọi hồn những người điđưa đám ma về nhà Trẻ em phải mang ngôi sao năm cánh bằng tre để hồnkhông đi theo người chết, cuốc xẻng đào huyệt phải để ngoài chuồng trâu 3 ngàysau mới được đem vào dựng ở gần nhà Người Pu Péo để tang cha mẹ 3 năm,trong tang không được cưới hỏi, ngoài đám tang người Pu Péo còn làm ma khô.

Lễ ma khô được làm trong 3 ngày 2 đêm, tùy từng điều kiện có thể làm ma khôngay sau đám tang

- Các ngày lễ Tết của người Pu Péo cũng là các ngày lễ Tết của các dântộc trong vùng Riêng tết Nguyên đán có tục gói bánh trưng đen vào ăn tối 29

để tiễn năm cũ và ăn bánh trưng trắng ăn vào tối 30 để đón mừng năm mới.Mùng một tết trai gái nô nức cùng nhau đi gánh “nước vàng, nước bạc” để cầumay, người Pu Péo còn có một lễ rất quan trọng là Lễ cúng thần rừng vào ngày 6tháng 6 (âm lịch) các lễ vật được bày ra ở cạnh một gốc cây to thuộc khu rừngcấm (rừng thiêng) lễ cúng nhằm để cám ơn thần rừng đã phù hộ che chở cho họ

- Thờ cúng: Họ tin mỗi người có 8 hồn, chín vía Đêm 30 tết Nguyên đáncác gia đình đều làm lễ gọi hồn cho từng thành viên trong nhà Thờ tổ tiên 3 đời.Trên bàn thờ có những hũ sành nhỏ tượng trưng cho đối tượng thờ, ít nhất 3 hũcho 3 đời Mỗi khi thành viên nào đó trong gia đình ốm đau thầy bói sẽ bói vàcho biết cần phải thờ ai để có thêm một hũ thờ nữa đặt lên bàn thờ

- Lịch: Sử dụng lịch 12 con vật, khớp với âm lịch

- Văn học, nghệ thuật dân gian: Tộc người Pu Péo có nền văn học dângianphong phú, đa dạng bao gồm nhiều loại hình, về truyện có thần thoại, truyện

cổ tích Về thơ ca có nhiều thể loại Dân tộc Pu Péo có quyền tự hào chính đáng

về di sản văn học dân gian truyền thống của mình, trong điều kiện mà một cộn gđồng chỉ có vài trăm người nhưng họ đã lưu truyền lại một kho tàng truyện cổ và

Trang 9

dân ca mà không phải bất cứ cộng đồng nào, dù có số thành viên đông gấp nhiềulần cũng khó có thể lưu giữ được.

2 Một số loại hình văn nghệ dân gian của dân tộc Pu Péo

Dân tộc Pu Péo chỉ có khoảng 687 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).Tuy người Pu Péo còn rất ít nhưng họ rất tự hào về văn hóa truyền thống củamình về một kho tàng truyện cổ và dân ca đang được lưu giữ Mặc dù cho đếnnay số người có thể hát hoặc kể truyện cũng thưa dần nhưng may mắn thay đãđược nhà nhiện cứu Lê Trung Vũ sưu tầm biên soạn in thành hai tập dân ca PuPéo- NXB Văn học Dân tộc 1993 và truyện cổ Pu Péo- NXB Văn học Dân tộc

1998 Kho tàng truyện cổ với những truyền thuyết, cổ tích giàu tính nhân vănsâu sắc, kho tàng dân ca là một hệ thống làn điệu được thể hiện phản ánh trongcác sinh hoạt khác nhau như hát phong tục, hát sinh hoạt, hát giao duyên người

Pu Péo coi dân ca như mạch sống của giống nòi, người trẻ “nối tài người già”thường truyền dạy hát vào giờ thiêng giờ giao điểm của năm cũ và năm mới

2.1 Dân ca Pu Péo

Thanh niên Pu Péo có tập quán sinh hoạt nghệ thuật rất hay là vào đêmcuối năm, 30 tháng chạp âm lịch hẹn nhau đến tụ họp tại một nhà nghệ nhân đểhọc hát, và cũng nhân đấy tiễn năm cũ đón mừng năm mới

Nghệ nhân là cụ ông hay cụ bà đều được, miễn là các cụ có 1 thời gianthanh xuân nổi tiếng là người say mê ca hát, hát hay, hát giỏi, tính tình đôn hậu

Việc lo liệu tết nhất của mọi nhà đã xong Giowf này họ quây quần bênbếp, chất thêm củi lửa cho bừng sáng nhà, ấm người và quên đi cái rét buốt lạnhlẽo của núi rừng bao quanh đêm trừ tịch Một người đại diện cho trai gái làng cóvài lời xin gia chủ cất tiếng hát cho con trẻ “nối tài người già” và để “giữ cáihay, cái thơm cho dân tộc mình”

Người già hút xong điếu thuốc, uống ngụm trà nóng, vui vẻ lên tiếng,chìm đắm trong giọng dân ca đầm ấm, quen thuộc Lớp trẻ chăm trú học, nhắclại từng câu, từng câu, kiên nhẫn và đầy hứng thú

Gần giao thừa, cuộc hát ngừng nghỉ chốc lát để “Đón giọng gà” “Đóngiọng gà” là một tục lệ của người học hát Trời sắp sang canh, gà sẽ cất tiếng

Trang 10

gáy, làm sao phải đốt quả pháo kịp ném vào chuồng gà đúng lúc để buộc nó phảicất tiếng gáy Ai làm được thì sẽ gặp may, năm mới sẽ sáng trí, thuộc nhiều lời

ca, hát giỏi Người ta nghĩ, tiếng gà gáy đã hay lại thiêng vì nó gọi được mặt trờidậy mà tiếng gà gáy đầu năm cũng quý, vì đó là tín hiệu chào mừng năm mới,đem tới biết bao điều may mắn cho con người Vì vậy con người phải át tiếng gàthay tiếng mình vào thì cả năm ấy sẽ hát hay, sẽ hạnh phúc

Niềm say mê nghệ thuật và lòng trân trọng nguồn dân ca của người PuPéo thật độc đáo Người ta coi dân ca như mạch sống của giống nòi và phải nuôidưỡng nó người trẻ phải “nối tài người già” luyện dạy và truyền nghề vào giờthiêng - giao điểm của năm cũ- năm mới - là hành động được coi như 1 mỹ tụcđịnh kỳ

Người ta ca hát trong nhiều tình huống, bằng nhiều cách diễn cảm, theonhững yêu cầu riêng song tựu chung vào có thể quy vào 2 thể loại chính: là hátnghi lễ - phong tục và hát sinh hoạt - vui chơi

Nhóm các bài hát nghi lễ - phong tục gồm nghi lễ trong đời sống và nghi

lễ nông nghiệp

Trong đời sống, năm mới là cơ hội đặc biệt để thực hiện các nghi thứctrang trọng Làm sao phải tiễn năm cũ cho trọn tình và đón năm mới cho chuđáo thì mỗi người mới khỏe mạnh, mỗi gia đình mới bình yên, vẹn toàn Cứ mỗilần Tết đến, nhà nào cũng cử hàng 3 nghi lễ tuần tự theo thời gian: Lễ chiêu hồn(chiều 20 tháng chạp); Hát đón giao thừa (đêm 30 tháng chạp) và hát mừng nămmới (rạng sáng mùng 1)

Những nghi lễ này dùng điệu lay khing, một điệu nhạc chậm rãi Lay

khing (lay biệt) dùng trong lễ Chiêu hồn và đám tang Còn hát đón giao thừa và

mừng năm mới thì dùng xỉnh khinh, tiết tấu có thay đổi chút ít, vui hơn lay

khing.

Lễ cưới là giai đoạn hát nhiều nhất của tiến trình hôn lễ Làn điệu

“Hnải” được dùng trong tiệc vui, chẳng hạn khi nhà trai hát cảm ơn nhà gái dọn

rượu đón tiếp mình (Hnải chúng pần chúng nỉ) hoặc khi nhà gái mở gói đồ dẫn

cưới

Trang 11

Trong nông nghiệp, Lay khing là điệu nhảy duy nhất được dùng vào các

nghi lễ cầu mùa, đón đòng, lễ mừng lúa mới

Nhóm các bài hát sinh hoạt vui chơi có các làn điệu ca nhạc sinh động, nétgiai điệu trữ tình hơn đôi khi vẫn dùng làn điệu của nhóm trên Chẳng hạn như

chủ khách hát đối đáp trong tiệc rượu đầu xuân bằng điệu “Hnải” và “Hnải

ching - Hnải chiêng”.

Pưn tuống là một loại hát nói, tiết tấu chậm rãi các câu hát dài ngắn cũng

khác nhau, thường thấy trong các đề tài kể truyện, kể chuyện đời xưa

Xỉnh cuối xỉnh cáp là làn điệu dùng trong các bài ca mừng nhà mới hoặc

hát vui như “Dùa anh chân ngựa”

Đặc biệt hát đối nam nữ trong “Đêm hát giao duyên” người ta dùng Xỉnh

lón Nhạc điệu có màu sác dân tộc, song phải biến hóa và phục vụ cho thể thơ tứ

tuyệt, là loại kỹ thuật xa lạ với nguồn thơ ca dân tộc Đây là hiện tượng giao lưuvăn hóa Pu Péo - Hán tộc Điều này có thể giải thích bằng ý kiến sau đây của giàlàng (vào những năm 1965- 1968) Cách nay khoảng 5 đời (khoảng giữa thế kỷXIX) người Pu Péo cư trú biệt lập, lúc ấy dùng xỉnh cuối và xỉnh cáp để hát vàtrao đổi tình cảm yêu đương hoặc giao tiếp, chào hỏi nhau trong xã hội Sau đóngười Pu Péo ở gần rồi ở xen kẽ với người Hán, buôn bán troa đổi sản phẩmvới họ hát tình yêu nam nữ và lấy nhau giữa hai dân tộc Như vậy là hiện tượng

về biến động cư trú kéo theo sự phát triển các mối quan hệ xã hội, tộc người vàgiao lưu văn hóa

Dân ca là nguồn tâm sự sâu lắng, cô đọng của mỗi dân tộc Vì vậy dân ca

có giá trị tự thân to lớn chứa đự ng lượng thông tin đáng kể

Dân ca ghi lại đời sống thông qua mối quan hệ nhiều chiều của conngười Người với môi trường (thiên nhiên, thần thánh, ma quỷ); động vật (thúrừng, gia súc, ), cây trồng; người với người; từng thành viên với gia đình,dònghọ; giữa các thế hệ (con cháu - tổ tiên, bố mẹ - chàng rể); bạn với bạn; nam - nữ;

cá thể và cộng đồng những mối quan hệ này thường bộc lộ thông qua các tôngiáo, hoạt động tôn giáo và phong cách tư duy cổ (tín ngưỡng thờ tổ tiên, tínngưỡng đa thần, tục thờ mặt trời, ) Dân ca phản ánh một xa hội có tổ chức,

Trang 12

sống theo kỷ cương, truyền thống đạo đức (kính già - yêu trẻ, tình nhân ái, tinhthần lao động bền bỉ và sáng tạo, ).

Nhiều đề tài được mở ra, khai thác dãi bày tâm tư con người, thế ứng xử,tinh thần lạc quan và trí thông minh, phản ánh cuộc sống nột tâm phong phú củamột dân tộc trong quá trình đấu tranh sinh thành để tự khẳng định giữa bối cảnhlịch sử và không gian ít thuận lợi

Quả vậy, giá trị dân ca Pu Péo được biểu hiện ở sức sống nột tại và bảnsác dân tộc Dân ca được sáng tạo và lưu truyền bằng phương pháp truyềnmiệng, trên cơ sở chất liệu nghệ thuật lời ca cổ truyền và phần nào đó bằng chấtliệu ngoại lai (đan xen văn hóa)

Tất cả các loại bài hát nghi lễ - phong tục và sinh hoạt - vui chơi đượcsáng tạo hoàn toàn bằng chất liệu dân tộc (âm nhạc - lời ca, nghi thức trình diễn)phục vụ cho các lễ tiết sinh hoạt tín ngưỡng của nội bộ cộng đồng Ý nghĩa sâu

xa của nó là bản sắc và bản lĩnh dân tộc là gốc, là bền vững không thể pha tạpkhông thể ,mất mát

Hát giao duyên nam nữ đối đáp, dài như một bản tình ca nồng nàn, đượcsáng tạo trên cơ sở giao lưu văn hóa, dựa vào một thể thơ Hán tộc để thể hiệntâm hồn dân tộc Ở đây sự đấu tranh cho một tình yêu trong sáng, nhằm đạthạnh phúc lứa đôi chân chính được lần lượt diễn tả qua các chặng tình cảm thăm

dò, tâm tình, thề thốt, chia tay

Những ai đã từng một lần tới vùng cao tỉnh Hà Giang đi qua các xã Phố

Là, Sùng Chéng (huyện Đồng Văn) đều có thể thấy hiện lên khung cảnh núirừng quê hương người Pu Péo với những địa danh địa hình rất cụ thể thân quen.Tính trân thực bộc lộ rõ trong lời văn cầu thần thánh, cúng tổ tiên, vừa khẩnthiết vừa cổ sơ, rất mực chân tình (“đón mừng năm mới”, “Lếc chiêu hồn”, “đóngiao thừa” ) Còn khi đọc “Tết, bạn cũ gặp nhau”, “Hát ru” chúng ta nhưđược giao tiếp với những lời nói, tấm lòng nhân hậu, vui tươi và rất mực yêuđời Hát đó là những bài ca đối đáp ngắn, sắc bén, hóm hỉnh và thông minh

Trang 13

2.1.1 Hát nghi lễ - phong tục

- Bài “Đón lúa về” Mùa lúa chín, bao ngày chờ đợi niềm vui thực sự đãtới Người ta làm lễ đón lúa về Cắt một bó lúa tốt nhất ở nương, trân trọngmang về nhà Bàn thờ là một cái bàn kê ở giữa nhà, trên bàn đặt một mẹt, mộtsàng, một chõ đồ, một nồi Đặt bó lúa vào giữa mẹt Thắp hương trên bó lúa, chẻđôi 15 đoạn ống bương dài 1 gang, mấu đặt ở giữa, đặt ở sàng Cưa một đoạnống bương ngắn có mấu thay chén rồi cúng Người già trong nhà đứng nhìn racửa, đọc bài “Đón lúa về”

Bài này thuộc loại hát lay khinh thường hát vào lúc đón giao thừa để nhớ

ơn người đã cho mình lúa, ngô làm bánh, đồ xôi trong dịp lễ tết Bài này cũngđược dùng để gọi vía lúa cầu lúa tốt vào tết mùng 5 tháng 5, lúc lúa đang làmđòng Nay, trong từng vụ từng mùa trồng trọt, mỗi khi lúa xấu, người Pu Péothường cúng khấn bằng cơm gạo hoặc bánh làm bằng bột ngô, bột gạo

“ Hôm nay ngày lành tháng tốt

Chúng tôi có mặt đủ đầy

Vợ chồng,con cái, cháu chắt

Tôi mừng mùa lúa mới

Bó lúa to đem cúng

Bó lúa mới dâng mừng

Từng lốt chân ở lại

Mới được lúa trắng lúa cẩm mang về

Nam giới cầm liềm cắt bông lúa tẻ

Nữ giới cầm hái cắt bông lúa nếp ”

Người Pu Péo quan niệm: ai cũng vất vả bận rộn quanh năm, chỉ đến Tếtmới có dịp nghỉ ngơi đôi chút, nên Tết được coi là những ngày lễ lớn, trangtrọng nhất, phải tổ chức đón mừng

Tết là đầu mối của nhiều ý nghĩ rằng: người ta đã qua được một chặngđường làm ăn, may có, rủi có, buồn vui xen lẫn, rằng đây là cơ hội hợp lý nhất

và bắt buộc mọt thành viên trong gia đình tập trung đầy đủ để trò chuyện, thămhỏi, an ủi, chúc mừng nhau đầy ân tình mà có hiệu quả nhất

Trang 14

Con người sống được do có hai phần: xác và hồn suốt năm, người (xác)

đi lại nhiều nơi nên hồn cũng đi nhiều Hồn có thể bị lạc hoặc bị giữ ở một nơinào đó cho nên phải tổ chức Lễ Chiêu hồn để hồn nào nhập vào xác ấy, conngười lại toàn vẹn (hai phần), gia đình được đầy đủ rồi nhân đó cầu một nămmới cho mọi người trong nhà đều may mắn và hạnh phúc

Ba nghi lễ tuần tự theo thời gian không thể thiếu được đó là: Lễ Chiêuhồn (chiều 29 tháng chạp), Đón giao thừa (đêm 30 tháng chạp), Đón năm mới( sớm mùng 1 Tết)

- Lễ Chiêu hồn:

Nhà nào cũng phải làm “Kang Nguôn” cho toàn bộ số người trong hộ, kể

cả người vắng mặt Người đọc bài lễ cúng không phải người chuyên nghề, có thểnhờ người làm giúp khoảng 2 giờ là xong một hộ 6-7 người Không làm lễ vàolúc quá sáng hoặc lúc quá tối Tốt nhất là vào khoảng hoàng hôn, lúc ấy vừa cuốingày, mọi người cũng sau một ngày làm lụng vất vả tất bật trở về, hồn đang langthang cần tập trung về về cả

Lễ được tiến hành trước cửa chính nhà Phía trước nhà làm một đàn nhỏ,trước đàn nhỏ đặt một cái nong Vật phẩm dâng cúng còn có các gói cơm nhỏdành cho hồn từng người tronhg nhà Người ta xúc 2 thìa cơm và một mẩu thịtnhỏ chín hoặc một miếng trứng gà luộc gói bằng lá chuối hoặc lá dong buộc lại.Xong lấy khăn hay áo (nếu đương sự là nữ); áo hay mũ (nếu đương sự là nam)cuốn ngoài từng gói cơm dành cho đương sự đó để nhận biết và kiểm cho dễ.Mọi việc bày biện xong cũng vừa lúc hoàng hôn xuống Thầy cúng ngồi trướcnong, mặt thầy nhìn nong, giọng cúng như lối khấn đều đều, không mang tính

âm nhạc

Bài cúng gồm hai phần:

Phần một: mời các thần về hưởng lộc Nhờ các thần gọi giúp hồn các

thành viên của gia đình nhưng chủ yếu là cậy các thần bảo vệ hạnh phúc, sứckhỏe và mùa màng của gia đình

“ Tết đầu năm mới ăn to nhất

Mời hồn về dự bữa cơm tối

Trang 15

Lễ tiễn năm cũ, lễ to, ăn nhiều.

Về ăn bánh gio to, bánh chưng lớn

Mời hồn! Mời hồn!

Năm mới, phát tài mới

Năm mới, phát lộc mới.”

Phần hai: Mời các hồn gia tiên về hưởng lộc Không khí linh thiêng,

người trong nhà bất cứ ai không được nói to, đi lại phải thận trọng Bây giờ đếnlượt gọi hồn từng thành viên trong gia đình về nhập đúng xác để từng ngườihoàn thiện, gia đình đông đủ, bình thường, yên tâm hưởng tết

Thầy cúng đứng dậy, người nhà đưa thầy một con gà (người được gọihồn là nam thì cúng gà mái và ngược lại), thầy cầm tới dàn cúng cúi xuống lấytrong túi treo ở cột thứ nhất của dàn cúng và gói cơm của đương sự Gà và góicơm vẫn trong tay, thầy vái 3 vái trước dàn rồi thắp hương, cắm 3 nến ở chân cộtthứ nhất, 3 nến ở chân cột thứ 2 của dàn cúng Thầy chuyển gói cơm và gà sangtay trái Tay phải cầm roi cúng khua đi khua lại trước mặt, thầy cúng dừng trướcnong chiêu hồn cho người ít tuổi trước Xong đưa gà cho người nhà thịt, lấy đùi

gà bóc hết thịt xem lỗ ở xương sẽ biết hồn về hay chưa Gói cơm của người nàothì người đấy ăn, nếu là người vắng nhà thì cúng xong gói cơm sẽ đặt vào chốngười ấy thường ngủ (để vài ngày rồi bỏ đi)

“ Về nhà thì ngoan ngoãn ở nhà

Vui chơi với cha, với mẹ

Cơm bên ma là cơm củ nâu

Rượu bên ma là rượu máu

gà luộc đã xong, thịt lợn làm rồi đâu vào đấy

Trang 16

Trên bàn thờ, mâm cúng đã bày biện chu tất: bánh chưng, bánh gio, gàluộc cả con, thịt lợn luộc 1 đĩa, tiền vàng mã một xếp, đèn thắp sáng, hươngngan ngát khắp nhà.

Người già ngồi trước bàn thờ đọc bài cúng Người lớn trẻ con ngồi xungquanh chăm chú nghe

“ Năm mới phát lộc mới,

Năm mới, phát tài mới

Năm mới, đón sức khỏe mới

Năm mới hồn ngô, lúa về nhà

Năm mới, nguồn may mắn vào cửa ”

- Lễ cưới:

Lễ cưới là sự kiện quan trọng của cả đời người, là ngày vui của cô dâuchú rể nhưng cũng là ngày vui mang tính chất ngày hội của cộng đồng dòng họ,xóm làng Vì vậy dân ca đám cưới đóng vai trò không thể thiếu trong đám cướicủa người Pu Péo

Các bài lễ mừng cưới chúc tụng cô dâu chú rể, chúc tụng nhà trai cướiđược dâu thảo hiền; bày tỏ niềm vui và khuyên nhủ cô dâu chú rể hai vợ chồngtrẻ chung thủy thuận hòa, xây dựng thành gia đình đầm ấm hạnh phúc

Dưới đây là một vài đoạn đối đáp giữa đại diện của nhà cô dâu với ông

bà nội của nhà chú rể trong nghi thức đón dâu về nhà chồng

Đại diện cho nhà gái hát: “Piềng pạc lìn piềng pai, piềng pai lìn hxờ sờ,vần ươi vần dấm hồ tung chiên bang, uốn éng dắm hồ tương chín mướng, bànkhu du nhạc du đỉ, pế xae khuổi mở lắng dú xê, chắng mứng vấn ẻng dấm ngỏtùng táng lao du sử”

Đại ý là đón dâu, hai bên vợ chồng làm ăn phát đại hạnh phúc mãi mãi.Không thể tan tình chia sẻ hai vợ chồng, phải phiền phức ông bà mối giới thiệuthành đôi lứa

Ông bà mối đáp: “Ca khu táng ngứn, ca khu táng ngứn, khạc di pác lao,thì nại dạc du sà, thì thì nại giác chín ban, tạc lao tạc tem, tạc lao giác tạc lạc,giữ ươi”

Ngày đăng: 11/04/2018, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w