1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn nghệ dân gian của người cơ tu ở tỉnh quảng nam

34 375 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 825,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình đươc giảng dạy học phần “Văn hóa các dân tộc thiểu sốViệt Nam” tôi được trang bị những kiến thức chuyên sâu để hiểu rõ về từngvấn đề của các dân tộc thiểu số như: Kinh tế

Trang 1

MỞ ĐẦU

Mục đích là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa, tôi luôn ý thứcđược sự cần thiết của kiến thức lý thuyết được trau dồi trên giảng đườngTrường Đại học Nội Vụ Hà Nội và việc vận dụng kiến thức này vào thựctiễn Trong quá trình đươc giảng dạy học phần “Văn hóa các dân tộc thiểu sốViệt Nam” tôi được trang bị những kiến thức chuyên sâu để hiểu rõ về từngvấn đề của các dân tộc thiểu số như: Kinh tế, trang phục, nhà cửa, ẩm thực,hôn nhân, ma chay, tín ngưỡng, văn nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội

Từ đó giúp tôi thấy được mỗi dân tộc mỗi vùng miền lại có một nét văn hóađặc trưng riêng để tôi hiểu được về đời sống vật chất cũng như văn hóa tinhthần của đồng bào các dân tộc thiểu số và đó cũng là vốn tri thức nền tảng đểtôi tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về giá trị văn hóa dân gian của dân tộc CơTu

Việt Nam với 54 thành phần dân tộc Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng cácdân tộc Việt Nam đã gắn bó, đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo

vệ bờ cõi, giành độc lập tự do và xây dựng đất nước Mỗi dân tộc đều có bảnsắc văn hóa riêng, tạo nên sự thống nhất và đa dạng của văn hóa Việt Nam Bản sắc văn hóa của các dân tộc được thể hiện rõ trong các hoạt độngkinh tế, văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng tộc người Văn hóa lànền tảng sinh hoạt tinh thần của con người trong xã hội, phản ánh trình độphát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc Dân tộc Cơ Tu là một trong 54cộng đồng các dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hóa đặc biệt mang đậmbản sắc riêng Theo điều tra dân số, tộc người Cơ Tu cho đến thời điểm năm

2009 có khoảng 61.588 người Riêng tỉnh Quảng Nam có tới 45.715 người,chiếm 74,2% tổng dân số Căn cứ vào số liệu trên để cho thấy tỉnh QuảngNam là trung tâm của tộc người Cơ Tu Được coi là trung tâm, đương nhiêncũng tập trung những nét đặc trưng tiêu biểu nhất trong các mối quan hệ nhìn

từ góc độ văn hóa

Trong bài tiểu luận này, tôi tập trung vào nghiên cứu văn nghệ dân gian của người Cơ Tu ở tỉnh Quảng Nam

Trang 2

ra nhiều người con ưu tú cho đất nước Với diện tích 10,438 km2 và dân

số trung bình hơn 1.480 triệu người (2015), Quảng Nam đứng thứ 6 vềdiện tích, thứ 19 về dân số trong số 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam Mật

độ dân số là 142 người/km2 (đứng thứ 45/63) so với 277 người/km2 của

cả nước Năm 2008, Quảng Nam là tỉnh đầu tiên của duyên hải NamTrung Bộ có 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Tam Kỳ, Hội An)

Quảng Nam nằm ở khu vực miền Trung Việt Nam, cách thủ đô HàNội 883 km về phía Nam, cách thành phố Đà Nẵng 68 km về phía Nam

và cách Thành phố Hồ Chí Minh 887 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ1A Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, phíaNam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía Tây giáp tỉnhSekong(Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), phía Đông giáp Biển Đông.Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị

xã và 15 huyện với 247 xã/phường/thị trấn Tỉnh lỵ của Quảng Nam đặttại thành phố Tam Kỳ

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 10.438 km2 Địa hình thấp dần

từ Tây sang Đông và chia làm 3 vùng: vùng núi phía Tây, trung du ở giữa

và đồng bằng ven biển phía Đông

1.1.2 Dân số.

Tính đến hết năm 2010, dân số Quảng Nam là 1.435.629 người, vớimật độ dân số trung bình là 139 người/km² Dân cư phân bố trù mật ở dảiđồng bằng ven biển, dọc quốc lộ 1, đồng bằng Vu Gia Thu Bồn và Tam

Trang 3

Kỳ Mật độ dân số của Tam Kỳ, Hội An và Điện Bàn vượt quá 1,000người/km2 trong khi rất thưa thớt ở các huyện miền núi phía Tây Mật độdân số trung bình của 6 huyện miền núi gồm Đông Giang, Tây Giang,Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My và Nam Trà My là dưới 20người/km2 Với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệdân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước Tuynhiên quá trình đô thị hóa của tỉnh đang diễn ra mạnh mẽ sẽ tác động lớnđến sự phân bố dân cư nông thôn-thành thị trong thời gian tới.

Theo cuộc tổng điều tra dân số ngày 01.04.2009, có 34 tộc người cùngsinh sống trên địa bàn Quảng Nam trong đó đông nhất là người Kinh(91,1%), người Cơ Tu (3,2%), người Xơ Đăng (2,7%), và người GiéTriêng (1,3%) 29 tộc người còn lại chỉ chiếm 0,9% dân số

1.1.3 Kinh tế-xã hội.

Tỉnh Quảng Nam phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp trước năm

2020 Năm 2015, Tỉnh có cơ cấu kinh tế: Công nghiệp và dịch vụ chiếm85%, Nông-Lâm-Nghư Nghiệp 15% Tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tếcao, bình quân giai đoạn 2010-2015 là 16,3% (Năm 2015 là 11,53%).Quảng nam có 13 khu công nghiệp, kinh tế mở (Khu kinh tế mở ChuLai) Do đó Quảng Nam hiện nay đang thiếu rất nhiều lao động-mộtnghịch lý khi tỷ lệ sinh viên không có việc làm trên cả nước rất lớn, Tổngsản phẩm nội địa 2010 khoảng hơn 23.000 tỷ đồng tăng lên hơn 69.900 tỷđồng năm 2016.Thu ngân sách nhà nước tăng cao, năm 2015 thu ngânsách ướt đạt xấp xỉ 15.000 tỷ đồng (đứng 12/63 tỉnh thành, đứng thứ 2các tỉnh miền trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận chỉ sau Quảng Ngãi vàtrên Tp Đà Nẵng Năm 2016 chứng kiến nền kinh tế phát triển mạnh mẽchỉ trong 9 tháng đầu năm thu ngân sách ướt đạt 14.300 tỷ đồng bằng103,5% dự toán năm 2016 Dự kiến 2016 thu ngân sách khoảng xấp xỉ20.000 tỷ đồng Tuy nhiên thu ngân sách chủ yếu dựa vào khu phức hợpsản xuất và lắp ráp ô tô Trường Hải Xuất khẩu 2015 ướt đạt trên 500triệu USD Tỉnh có cảng Kỳ Hà, Sân bay quốc tế Chu Lai Phấn đấu đếnnăm 2020 GDP bình quân đầu người từ 3.400-3.600 USD (75-80 triệuđồng) Năm 2016 tỉnh này đón gần 4,4 triệu lượt khách du lịch (xếp thứ 2miền trung sau Tp Đà Nẵng với gần 5,1 triệu lượt)

1.2 Khái quát v t c ng ề tộc người Cơ Tu và nguồn gốc lịch sử của ộc người Cơ Tu và nguồn gốc lịch sử của ười Cơ Tu và nguồn gốc lịch sử của i C Tu và ngu n g c l ch s c a ơ Tu và nguồn gốc lịch sử của ồn gốc lịch sử của ốc lịch sử của ịch sử của ử của ủa

ng ười Cơ Tu và nguồn gốc lịch sử của Cơ Tu ở Quảng Nam i

Trang 4

1.2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bố dân cư.

Tại Việt Nam, theo điều tra dân số 1999 thì dân tộc này có dân số50.458 người, cư trú chủ yếu trên dãy núi Trường Sơn, tại các huyệnĐông Giang, Tây Giang, (Quảng Nam), A Lưới, Phú Lộc (Thừa Thiên-Huế)

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cơ Tu ở Việt Nam

có dân số 61.588 người, cư trú tại 38 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.Người Cơ Tu cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Nam (45.715 người,chiếm 74,2% tổng số người Cơ Tu tại Việt Nam), Thừa Thiên-Huế(14.629 người, chiếm 23,8% tổng số người Cơ Tu tại Việt Nam), ĐàNẵng (950 người), thành phố Hồ Chí Minh (54 người)

Dân tộc Cơ Tu là cư dân sinh sống ở vùng bắc Trường Sơn – TâyNguyên Tộc danh Cơ Tu là tên do đồng bào tự gọi, ngoài ra có tên gọikhác là Ca Tu, Ca Tang, Hạ, Phương, Giao Tiếng nói của người Cơ Tuthuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khme ngữ hệ Nam Á, vì vậy bà con còn giữđược nhiều yếu tố ngôn ngữ truyền thống Chữ viết người Cơ Tu ra đờitrước năm 1975 theo mẫu hệ La Tinh, nhưng nay ít người sử dụng

1.2.2 Đặc điểm về đời sống văn hóa của người Cơ Tu.

 Văn hóa vật chất:

Người Cơ Tu ở nhà sàn, nay phổ biến là các ngôi nhà sàn ngắn cư trúmột gia đình nhỏ phụ quyền, nhưng nhiều nhà vẫn còn những ngôi nhàsàn dài, vài ba gia đình nhỏ anh em trai cư trú kề vách nhau Nhà sàn củaNgười Cơ Tu thường cách mặt đất khoảng 1,2 -1,4 mét, kết cấu bằngcách lấy cột cái chính giữa đỡ đòn nóc, mỗi bên 3 cột thấp dần tạo thành

độ dốc mái hai bên ở mỗi bộ vì lấy dui làm kèo,lấy đòn tay làm mè kéodài ngôi nhà tùy theo nhu cầu cần bao nhiêu gian Dù nhà sàn hay nhàngắn thì cũng tạo hai đầu mái chái hơi tròn ở giọt gianh, nên trông từ trênxuống mái nhà hình mai rùa.[A1]

Người Cơ Tu có cá tính riêng trong tạo hình và trang trí trang phục,khác các tộc người khác trong khu vực, nhất là trang phục nữ

Nam giới người Cơ Tu đóng khố, ở trần, đầu hoặc vấn khăn hoặc để tócngắn bình thường Khố có các loại bình thường (không trang trí hoa văn

và ít màu sắc), loại dùng trong lễ hội dài rộng về kích thước và trang tríđẹp với màu sắc và hoa văn trên nền chàm Mùa rét, họ khoác thêm tấmchoàng dài hai, ba sải tay Tấm choàng màu chàm và được trang trí hoa

Trang 5

văn theo nguyên tắc bố cục dải băng truyền thống với các màu trắng đỏ,xanh Người ta mang tấm choàng có nhiều cách: hoặc là quấn chéo quavai trái xuống hông và nách phải, thành vài vòng rồi buông thõng xuốngtrùm quá gối Lối khoác này tay và nách phải ở trên, tay và vai trái ở dướihoặc quấn thành vòng rộng từ cổ xuống bụng, hoặc theo kiểu dấu nhântrước ngực vòng ra thân sau.

Phụ nữ Cơ Tu để tóc dài búi ra sau gáy, hoặc thả buông Xưa họ

để trần chỉ buộc một miếng vải như chiếc yếm che ngực Họ mặc váyngắn đến đầu gối, màu lanh khoác thêm tấm chăn Họ thường mặc áochui đầu khoét cổ, thân ngắn tay cộc Về kỹ thuật đây có thể là một trongnhững loại áo giản đơn nhất (trừ loại áo choàng chỉ là tấm vải) Áo loạinày chỉ là hai miếng vải khổ hẹp gập đôi, khâu sườn và trừ chỗ tiếp giápphía trên làm cổ Khi mặc cổ xòe ra hai vai thoạt tưởng như áo cộc tayngắn Áo được trang trí ở vai, ngực, sườn, gấu, với các màu đỏ, trắng trênnền chàm Váy ngắn cũng được cấu tạo tương tự như vậy: theo lối ghéphai miếng vải khổ hẹp gập lại thành hình ống Họ ưa mang các đồ trangsức như vòng cổ, vòng tay đồng hồ (mỗi người có khi mang tới 5,6 cái),khuyên tai bằng gỗ, xương, hay đồng xu, vòng cổ bằng đồng, sắt cũngnhư các chuỗi hạt cườm, vỏ sò, mã não Nhiều người còn đội trên đầuvòng tre có kết nút hoặc những vòng dây rừng trắng (rơnơk) và cắm một

số loại lông chim Một vài vùng có trục cưa răng cho nam nữ đến tuổitrưởng thành khi đó làm tổ chức lễ đâm trâu Ngoài ra người Cơ Tu còn

có tục xăm mình, xăm mặt.[A2]

Đồ trang sức phổ biến là vòng tay, vòng cổ, khuyên tai Các phong tụcxăm mặt, xăm mình, cưa răng, đàn ông búi tóc sau gáy đã dần được loạibỏ

Người Cơ Tu thường ngày ăn cơm tẻ, ngày lễ có thêm cơm nếp.Cơm nấu trong ống tre ( cơm lam) hoặc trong nồi đất, ăn bốc là tập quán

cổ truyền Đồng bào thích ăn đồ nướng như ngô nướng, sắn nướng, khoainướng, thịt cá nướng Rượu được chế từ mía, cây tày vak – một loại câyrừng họ dừa, từ gạo, sắn người Cơ Tu thường hút thuốc lá bằng tẩu

 Văn hóa tinh thần:

Giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc Cơ tu in đậm và kết tụ trong lễhội Lễ hội ở đây thường diễn ra ở sân Vêêl và bên trong nhà Gươl Lễhội đâm trâu là một trong nhưng lễ hội lớn nhất của ngưòi Cơ tu Khi contrâu còn buộc ở cột thì người chủ lễ cùng dân làng tiến hành làm nghi lễ

và khi chuẩn bị đâm trâu thì phần hội mới được tiến hành, khi ấy, nhạc

Trang 6

cồng chiêng nổi lên, trai gái hoà quyện với nhau trong vũ điệu tung tung,

da dá

Người Cơ tu tính ngày trong tháng theo chu kì thay đổi của hình dạngmặt trăng Căn cứ vào đó để họ đặt tên cho tưng ngày Cho nên, có nhữngngày cùng một tên gọi Theo kinh nghiệm và quan niêm dân gian, cóngày trồng sắn, khoai sẽ nhiều củ; có ngày trồng cà, ớt sẽ sai quả: có ngàynên dựng nhà cưới hỏi

Trong đời sống cá nhân, gia đình và của làng, có rất nhiều lễ cúnggắn với sản xuất, sức khoẻ, Lễ cúng nhỏ chỉ cần tế bằng gà, thậm chídùng trứng gà; lớn hơn thì dùng lợn; cao hơn nữa là dùng trâu; xưa kiacao nhất dùng máu người Theo người Cơ Tu, đối với các siêu nhiên, máucon vật hiến sinh quan trọng đặc biệt Làng có thể có vật “ thiêng “( thường là hòn đá ) được cất giữ trong ngôi nhà chung, như một thứ bùa.Một số cá nhân cũng có loại bùa này

 Văn hóa xã hội:

Chế độ gia đình phụ quyền khá vững chắc trong đời sống xã hội củangười Cơ Tu Người cha, người chồng có quyền tuyệt đối trong phâncông lao động, quản lí tài sản trong gia đình, quyền thừa kế tài sản chỉthuộc về những người con trai Liên kết dòng họ được duy trì chặt chẽ gọi

là ca bu Mỗi một ca bu liên kết nhận nhau bởi những tập tục, kiêng kị vàhuyền thoại chung về ông tổ mang đậm tính chất Tô tem giáo Tổ chứcđời sống của người Cơ Tu mang tính chất hành chính cũng là làng gọi làvel, gồm một số dòng họ cư trú quây quần bên nhau, đứng đầu làng làchủ làng ( ta ko vel),là người có vốn sống được hội đồng già làng bầu ra.Làng của người Cơ Tu còn nặng tính dân chủ quân sự, bên cạnh chủ làng

là người chỉ huy quân sự (ta ki ta cop) hướng dẫn trai tráng luyện tậpquân sự, canh gác, bảo về làng

2 MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỚI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI CƠ TU 2.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian.

2.1.1 Múa dân gian.

Múa là một trong những nghệ thuật không thể thiếu được của dân tộc

Cơ Tu, có thể nói người Cơ Tu nam hay nữ khi biết chạy biết nhảy thì đã

Trang 7

biết múa Múa của dân tộc Cơ Tu bao gồm hai thể loại : múa tung tung( múa nam ) và múa da- dá ( múa nữ ) Khi múa tung tung người đàn ôngđóng khố hoặc choàng tấm tuốt từ vai xuống lưng, ở những lễ hiến tế thầnlinh, người múa tay trái cầm thêm khiên, tay phải cầm kiếm hoặc câygiáo lưỡi ngắn, động tác múa hùng dũng nhịp nhàng theo nhịp 2/4, lấytiếng trống làm nền cho sự chuyển nhịp Múa da – dá là vũ điệu của nữgiới Đó là vũ điệu lung linh, uyển chuyển như cây lau trước gió, nhưgiòng suối mượt mà uốn quanh, khi múa đôi chân đứng thẳng khoan thai,đôi tay vươn lên khỏi đầu, bàn tay đưa ngả theo hướng sau lưng nhưchống đỡ cả bầu trời, giống như đôi sừng trâu biểu tượng “đầu trâu mángnước” một sắc thái văn hoá nhiều dân tộc thiểu số, cũng như hình tượnghiến tế thần linh của người dân tộc Cơ Tu.

Múa ya yá được xem là tuyệt tác nghệ thuật, tâm hồn và là mộtbiểu tượng của văn hóa truyền thống Cơtu, được ngợi ca là “vũ điệu dângtrời”.[A3]

Điệu múa bắt nguồn từ những dộng tác dâng lễ vật từ thời xa xưa Lễ vậtđược mang trên tay là xôi, thịt, hoa, trái… để dâng mừng

Kết hợp hài hòa cùng những bước nhảy xiến, nhảy trượt ngang, xoay lậtnhún nghiêng, xoay lật nhấn nẩy, nhích quay lượn người thể hiện dáng

vẻ, đường nét tạo hình rất sinh động, tạo nên hình tượng nghệ thuật múaCơtu thật mượt mà, thanh cao và đầy sức sống Nó tựa như một côngtrình điêu khắc được gọt tỉa, chắt lọc công phu : vừa cổ kính, thiêng liênglại vừa hiện đại, sống động

Điều đặc biệt nữa là vũ điệu ya yá có kết cấu tổ hợp múa theo tính tiết tấutrên nền nhạc cồng chiêng với điệu đhưng dồn dập, lôi cuốn, tiếng trốngcha gơr rộn ràng và múa theo tuyến gấp khúc nên mang lại hiệu quả tốtđẹp cho tác phẩm múa Cùng với trang phục dân tộc độc đáo, đặc biệt bộváy nữ được quấn ngang ngực, để trần phần trên ngực cùng với đôi vai vàhai cánh tay thật mềm mại, trẻ khỏe, tôn thêm vẻ đẹp kỳ diệu của dángmúa Cơtu Chính vì thế, điệu múa ya yá đã cuốn hút tư duy sáng tác củanhiều nghệ sĩ

Đặc sắc múa tung tung hòa trộn “âm dương” của người Cơ Tu

Tung tung - da dá là điệu múa hòa trộn cho thấy sự hiệp lực của đàn ông,thanh niên với đàn bà và thiếu nữ Cơtu cũng là âm dương trong vũ trụ

Trang 8

bao la xảy ra trong cùng một thời gian và xoay vòng trong một vòng trònnhất định.

Theo tiếng Cơ tu thì, tung tung - da dá là điệu múa dân gian, dân vũtruyền thống lâu đời của đồng bào Cơtu Quảng Nam Tung tung là điệumúa dân vũ cho đàn ông, con trai Cơtu tái hiện cảnh đi săn thú và là điệumúa mừng chiến thắng, thể hiện tinh thần thượng võ của người Cơtu.Ngôn ngữ múa gởi gắm niềm hy vọng vào lớp thanh niên trai tráng Cơtuvươn lên tiếp bước truyền thống những người đi trước giữ gìn và bảo vệquê hương núi rừng, cho tồn tại của cộng đồng Xưa, khi múa đàn ôngCơtu mặc khố, áo bằng vỏ cây

Nay, trai tráng Cơtu mặc khố thổ cẩm trên vai tréo tấm choàng với dángchữ X hoặc choàng một áo dệt bằng thổ cẩm, chân đi trần lết đất, tay nắmchắc cây khiên, cây dáo, cây mác hay cây dụ Hoặc không thì nắm chắctay bạn bên cạnh chiếc ná tung đôi tay lên vừa bước vừa hú một cách tựtin, sôi động và hùng dũng, thể hiện sức mạnh của trai làng, không sợ khiđương đầu với khắc nghiệt của thiên nhiên hay kẻ thù đến phá hại, đồngthời còn thể hiện niềm động viên vững tin, yêu cuộc sống, yêu làng quê,yêu núi rừng

Cùng với nhiều di sản văn hóa các dân tộc anh em sinh sống trên vùngTrường Sơn-Tây Nguyên, "Múa tung tung - da dá" của tộc người CơtuQuảng Nam đã được Bộ Văn hóa công nhận Di sản văn hóa của quốc gia

Và hôm nay, điệu múa này vẫn còn hiện diện ở hầu hết các lễ hội truyềnthống của người Cơtu Quảng Nam

Cũng theo tiếng Cơtu thì, da dá là điệu múa của phụ nữ Cơtu được bắtnguồn từ những động tác dâng lễ vật từ thuở xa xưa Với ý nghĩa đó, múa

da dá dành cho những người phụ nữ và con gái Cơtu vốn tính thùy mỵ,thương chồng yêu con, yêu núi rừng, thầm lặng tất cả vì sự sinh tồn vàphát triển của cộng đồng

Để thể hiện điệu múa da dá, xưa phụ nữ Cơtu mặc váy, áo bằng vỏ cây.Nay, khi múa phụ nữ Cơtu mặc váy dài vai trần lộ, váy ngắn kèm áo adoót(áo cột tay) dệt bằng thổ cẩm nhiều hoa văn với những sắc màu sinhđộng, cổ đeo vòng cườm, mả não hai tay đưa lên ngang vai, cánh tayvuông góc song song với thân mình, bàn tay ngửa, thẳng ngón về phíasau thể hiện sự mừng rỡ đón đợi vật thiêng, mắt nhìn thẳng, miệng luôn

Trang 9

tủm tỉm cười, chân đi trần nhón gót lên lết tròn ngược kim đồng hồ Khimúa, đôi chân người phụ nữ đứng thẳng khoan thai, đôi tay vươn lên khởiđầu, bàn tay đưa ngả theo hướng sau lưng như chống cả bầu trời, giốngđôi sừng trâu biểu tượng "đầu trâu móng nước" một sắc thái văn hóanhiều dân tộc thiểu số, cũng như tượng hiến tế của người Cơtu.

Tung tung - da dá là điệu múa hòa trộn cho thấy sự hiệp lực của đàn ông,thanh niên với đàn bà và thiếu nữ Cơtu cũng là âm dương trong vũ trụbao la xảy ra trong cùng một thời gian và xoay vòng trong một vòng trònnhất định Do đó, khi tham gia vào vòng tròn trong điệu múa, bao giờ đàn

bà, con gái cũng bước ra múa trước nối tiếp hàng đàn ông, con trai tạothành vòng múa di chuyển từ trái sang phải, còn từng người tự quay vòngtròn quanh mình, chân nhún nhẹ nhàng luôn thực hiện động tác từ phảisang trái theo nhịp điệu cồng chiêng và tiếng trống thập thình nhịp nhàngtrên đôi chân và nhẹ nhàng quay thân mình theo chiều thuận kim đồnghồ

Tung tung da dá trở thành thần tố thúc đâỷlao động sản xuất phát triển.Tung tung da dá còn là nơi gởi gắm tình yêu đôi lứa, yêu làng bản, yêumảnh rừng của người Cơtu Tung tungda dá như gắn bó chặt chẽ conngười với con người, con người với cuộc sống thiên nhiên nhiều hơnNhằm tôn vinh các giá trị văn hóa vật thể phi vật thể của các dân tộc,trong phiên họp Hội đồng Di sản Quốc gia lần thứ VII tại Hà Nội vàongày 12.8.2014, đã công nhận loại hình múa tung tung da dá của ngườiCơtu là Quảng Nam là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia

Trang 10

trâu, Chàng lười, Kinhiar, Arưi Klúng và truyện cổ tích loài vật: VoóqArien, Thỏ và bà, Sự tích cây đao

Trong truyện cổ Cơtu nổi lên nhân vật người mồ côi, hay gặp làcác chàng mồ côi Các chàng mồ côi thường nghèo khổ, vì vậy mà khóthuyết phục được bố mẹ của những cô gái khi muốn cưới các nàng Bùvào đó, người mồ côi thường tốt bụng và có quyết tâm, nỗ lực lớn hơnngười khác; chưa nói các chàng thường được thần linh trợ giúp Đó làchìa khoá thành công của họ Xin nêu ra đây một vài nhân vật tiêu biểunhư Tơ Rứt, Kăn Tưi, Sut Kăn Mo, Tít Mang - Tang Lơ, ParturTơơm hoặc các vị thần

Hệ thống truyện cổ thần kỳ đã nhắc đến nhân vật Tầm Mò Zòitrong truyện Tầm Mò Zòi được xem là một vị thần khổng lồ ẩn thân trongmột tảng đá lớn Ông Zòi đã cứu giúp dân làng sống cạnh tảng đá thoátcảnh bị cướp bóc Ông cũng trừng trị những kẻ ác gây hại đến ngườikhác Sức tài của ông vượt quá mức của những kẻ trần tục, nên ông chẳngcần phải ra tay với ai, mà chỉ dùng đến “hắt xì hơi” là đã khiến đốiphương bị đẩy văng xa: “Tầm Mò Zòi chẳng nói năng gì ông hất chiếcmũi lên trời rồi cúi nhìn trưởng làng ăn cướp, hắt xì hơi một cái, vị trưởnglàng ăn cướp bay bổng lên không trung rồi rơi một cái thật mạnh xuốngngay trước sân nhà Gươl của làng mình gãy mất xương sườn”; hay “Tầm

Mò Zòi hất chiếc mũi lên trên trời rồi hắt xì hơi một cái, lão chủ đất đãbay tít về một phía làng Krông Tầm Mò Zòi lại hắt xì hơi thêm một cáinữa thì mọi vật quanh đó bay theo lão, đưa lão về cõi chết” Có thể nóiTầm Mò Zòi là truyện kể về những người anh hùng đứng ra bảo vệ làng,được làng kính trọng, cúng bái Truyện này có phần gần với thần thoại,

do Tầm Mò Zòi thuộc thế giới các thiên thần phân biệt với nhân thần.Đối với nhân vật Koài Tù Roáih biết làm ra những công cụ sản xuất bằng

đá như cuốc, rìu, biết cách giữ lửa để nấu nướng, biết làm cung tên để tự

vệ và bắn thú lấy thịt, biết đan lát các loại dụng cụ như kađư, gùi, càloòm, cà ria để phơi lúa và cất lúa Koài Tù Roáih cùng một chàng trailàng Canôn đi tìm nước sạch cho làng Họ gặp thần Rừng, được thầnđồng ý cho nước và bảo cho biết một trận lụt lớn sắp đến Chàng trai mờiKoài Tù Roáih cùng về làng Canôn

Dân làng được tin, lo chuẩn bị đối phó với lụt Nhờ đó, trận lụt đã khônggây thiệt hại đáng kể cho dân làng Còn nước thì tha hồ Từ đó, cây cỏ,

Trang 11

động vật sinh sôi nảy nở; con người cũng có cái ăn cái mặc Thấy vậy,Koài Tù Roáih xin ở lại hẳn luôn và được chủ làng đồng ý Và dưới đây

là đoạn kết của Koài Tù Roáih tìm nước cho làng: “Về sau nhờ biết làm

ăn, Koài Tù Roáih còn bày cho dân làng làm được nhiều thứ nên chủ đấtgiàu có trong làng gả con gái cho Koài Tù Roáih từ đó được vợ đẹp, conngoan và sống một cuộc sống sung túc”

Hệ thống truyện cổ tích sinh hoạt thì lại thể hiện những vấn đềtrong cuộc sống làng bản, quan hệ họ hàng, cộng đồng, gia tộc mỗitruyện có một sắc thái riêng nhằm thể hiện những ước muốn, tâm tư tìnhcảm của con người với nhau Họ biết lấy thiện để thắng ác, biết ở hiềngặp lành Truyện Ông Vỗ Tôn kể về người đàn ông cùng tên tốt bụng,được một bà lão tặng cho con gà mái choai Từ gà ông có lợn, từ lợn có

bò, từ bò có trâu, từ trâu có bạc thỏi, bạc nén, mã não…Từ bạc thỏi, bạcnén, mã não, ông có voi…Nhưng quan trọng hơn, ông có được cuộc sốnggiàu sang hạnh phúc nhờ cần cù công việc chăn nuôi và sống tốt với mọingười Phải chăng, chăm làm và lương thiện là bài học lớn, bài học vỡlòng mà việc giáo dục con người không thể không chú ý?

Truyện Chàng Kăn Tưi nhanh trí thì lại kể về một chàng Kăn Tưi mồ côi,sống với bà nội, lớn lên, chàng để ý đến một cô gái giàu có trong làng Bố

cô gái là một người tham lam, độc ác Để chứng tỏ với mọi người mình làngười thông thái và công tâm, ông nhà giàu này ra câu đố cho các trailàng lăm le muốn cưới con gái mình: “Cái đen được gọi là than, cái trắngđược gọi là chén, cái dài là mây trời có phải không?” Không chàng trainào trả lời đúng, trừ Kăn Tưi (được bà nội bày), ấy là “Cái đen là đêm,cái trắng là mặt trời sáng của ban ngày, cái dài là đường đi ngang dọc, điđâu cũng có đường để đi” Ông ta bội ước, không chịu gả con gái choKăn Tưi Nhân việc có con voi chết bị lũ chim moi thịt ăn rỗng ruột, chỉcòn lớp da dày, Kăn Tưi tìm cách bít chỗ hậu môn voi, nơi lũ chim chuivào, rồi đánh bên ngoài khiến lũ chim hốt hoảng bay lên, nâng cả con voi.Kăn Tưi cưỡi voi bay đến nhà lão nhà giàu Lão ta thích chí bằng lòng gảcon gái cho Kăn Tưi, và đổi hết gia tài để lấy con voi bay Kăn Tưi đồng

ý, dặn lúc bay đến suối nước nóng thì tháo cái sọt bít ở dưới đuôi voi racho voi xuống uống nước Lão nhà giàu độc ác cưỡi voi bay, thích chí vôcùng Đến chỗ suối nước nóng, lão nhà giàu mở cái sọt ở dưới đuôi voi ranhư Kăn Tưi dặn Lũ chim thấy có lối thoát, vội phóng cả ra ngoài Voi

Trang 12

rơi xuống đất, hất lão nhà giàu vào tảng đá to, chết tươi Kăn Tưi từ đóđược hưởng giàu sang và hạnh phúc

Hệ thống truyện cổ tích loài vật có mẩu truyện Voóq Ariên kể về

sự nhìn nhận của nhiều con vật về con người, qua một con vật thôngminh là Voóq Ariên (một loài ốc đá ở khe suối) Có một người bị mắcbẫy, Voóq Ariên cho mời các các con vật đến để nhận diện và giới thiệuvới chúng Lần lượt nhiều con vật trình bày khả năng của mình trongquan hệ với con người: chim, dúi, hổ, báo, cá, rùa, hươu, nai, bò tót, kiến,voi Cuối cùng, Voóq Ariên nhắc lại với các loài vật rằng: "Tà hừ Tà hà(người) có hàng ngàn cái khôn mà chúng ta chưa biết được, giờ đây họđang mắc bẫy của Cà Xau (một loài kiến đỏ, thường làm tổ ở cành câycao), để yên thân, chúng ta nên thả cho họ về" Qua truyện này, ngườiđọc có thể chiêm nghiệm lại mình vì con người có trí khôn siêu việt,người Cơtu đã sớm nhìn nhận về những gì mà tạo hóa đã ban cho conngười có khả năng chinh phục tự nhiên và xây dựng xã hội phát triển.Truyện Thỏ và bà kể về một con thỏ ranh ma Bà sai thỏ đi nhổ cỏ lúa, nónhổ sạch lúa Nó lấy tất cả nồi niêu chén bát trùm lại rồi bám ở dưới gầmgiường rên rỉ để bà tưởng nó mà đánh, khiến chúng tan hoang Nó lừa để

bà đốt chết hai đứa cháu của mình Thỏ bỏ người bà, đi vào rừng, hắn lừarắn hổ, lừa cả hổ, khiến hổ phải chết

2.1.3 Âm nhạc dân gian.

Dân tộc Cơ Tu cũng có bài dân ca giao duyên va mang tên là hát “cha chấp” Hát “ cha chấp “được trai gái độ tuổi yêu đương rất thích Nộidung của hai bài hát “ cha chấp “ là lời tỏ tình, là lời tâm tư, tình cảm củanhững người giàu lòng yêu thương, khao khát có một cuộc sống gia đình

no ấm, yên vui [A4]

“ Anh bắt được con nai, em muốn anh là con rể của mẹ

Anh săn được con gấu, em muốn anh là con rể của cha”

( Amo- mô kiêng a-cu –Dan ca Cơ Tu)

Trang 13

Nói lý - hát lý (p'rá pr'ma-têng bhanoóch) là một loại hình nghệthuật ứng khẩu, truyền khẩu rất độc đáo của người Cơtu Nghệ thuật nàyvẫn được các bậc cao niên gìn giữ ở hầu hết các làng bản (carơnoon)Cơtu Ngày nay, lớp trẻ chỉ được thưởng thức nghệ thuật p'rá pr'ma-têngbhanoóch qua các lần tổ chức đám cưới (têng bhiệc đam), ăn mừng lúamới (cha haroo tamee) hay lễ ăn thề kết nghĩa anh em (pr'ngoóch-gươngyên)

Nói lý - hát lý được dùng rộng rãi trong sinh hoạt văn hóa củangười Cơtu, được xem là nghệ thuật “so tài” giữa các cụ cao niên, tiềnbối làng này với các cụ cao niên tiền bối làng kia, giữa chủ nhà vớikhách ; thậm chí được dùng trong công việc giải quyết mâu thuẫn nội

bộ, xã hội trong cộng đồng tộc người Cơtu, có tác dụng hòa giải mangtính chất “giả định khẳng định” buộc người khác phải thừa nhận và nghetheo Nói lý - hát lý của người Cơtu thường nhiều lớp nghĩa, ý càng sâu,kín đáo, đối thủ không hiểu (không còn "đấu" lại được) thì càng chứng tỏtài nổi tiếng của người hát Cái khó của p'rá pr'ma-têng bhanoóch làkhông có bài mẫu chung để học hát, học nói mà nó phụ thuộc vào việcứng khẩu của người đưa ra, tức theo trình độ, khả năng kinh nghiệm củatừng nghệ nhân, người hát Chính vì thế mà nhiều thế hệ trẻ Cơtu hômnay rất ít ai nói lý - hát lý được một cách thông thạo, nhuần nhuyễn Đây

là vấn đề nan giải cần được khắc phục, không quan tâm đúng mức sẽ cónguy cơ bị mai một và dần mất đi.[A5]

Đám cưới là dịp người Cơtu thường sử dụng nghệ thuật nói lý - hát

lý Sau khi đón khách xong, chủ nhà (thường nhà trai) chuẩn bị mâm tiệcđón khách (ch'nao) hoặc đón chào các bậc cao niên (pay buốh tacoóh);đại diện chủ nhà thường là những người có uy tín, kinh nghiệm, có trình

độ ứng khẩu tốt khởi xướng đầu tiên (pay h'la, tức “tuyên bố lý do”).Thường thì chủ nhà nói rất khiêm tốn trong việc tiếp đãi tiệc tùng Hát

lý bao giờ cũng sau nói lý, hát lý là bước nâng cao giá trị của nói lý.Thường chủ tiệc chọn thời điểm thích hợp để cất lên tiếng hát mở đầu:

"Ô ô ô Azô achoọng/coonh vóc, coonh êên " (phần đệm của điệunhạc) sau đó mới đi vào nội dung chính, với những từ ẩn ý, sâu lắng trongtruyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Cái đặc sắc trong câu nói lý -hát lý là giữ được giá trị đạo lý của dân tộc, ví dụ muốn ví bề trên, người

có uy tín thì người nghệ nhân đưa ra các vật có giá trị tương xứng như

Trang 14

“con gấu đem mật cho người”, “con trâu kéo cày giúp đời”, “con voi xác

to, voi quý”

Câu nói lý - hát lý của người Cơtu rất đa dạng về ngôn từ, người ta

sử dụng nhiều hình ảnh lạ, sâu kín tạo một sự ẩn ý khá độc đáo, yêu cầungười nghe phải động não suy nghĩ Do sự kín đáo như vậy kết hợp vớinhững lý lẽ khó hiểu mà có rất nhiều người khi nghe không nắm bắt hết ýcủa người nói, người hát muốn đề cập, nên cũng thường gây sự hiểunhầm Nhưng trong hát lý người ta lại thường nói ngầm (nếu muốn tráchmóc người nào đó) một cách sắc bén, kín đáo, nhẹ nhàng Một cái haynữa trong nói lý - hát lý của người Cơtu là người Cơtu không bao giờ sửdụng câu nói, câu hát tục tĩu, thiếu văn hóa hay gây mâu thuẫn, mất đoànkết với nhau; mà ngược lại tăng thêm sự đoàn kết, hiểu nhau hơn

Với nói lý - hát lý, người Cơtu có quyền khẳng định nghệ thuậttruyền thống của mình và tự hào về nét văn hóa nghệ thuật có một khônghai này Ngoài nghệ thuật p'rá pr'ma-têng bhanoóch, người Cơtu còn cónhiều loại hình nghệ thuật ứng khẩu tương tự rất độc đáo nhưng theo vầnđiệu như chàchập-babóoch (hát giao duyên), hau c'lêng (khóc ngườichết) Mặc dầu vậy, những bậc cao niên Cơtu vẫn trăn trở mỗi khi nhắcđến truyền thống văn hóa của dân tộc Già làng Alăng Phát tâm sự: “Bọntrẻ ngày nay bảo xấu hổ khi mặc khố, múa hát cồng chiêng Chúng cũngkhông muốn nghe khi già nói lý - hát lý, vì cho rằng lạc hậu!” Vì vậy,

sẽ rất đáng lo ngại một khi những giá trị văn hóa của đồng bào Cơtukhông được trao truyền, tiếp nối

2.1.4 Nhạc cụ dân gian

Cây đàn hroa (hờ roa) của đồng bào dân tộc Cơ Tu gần giống với cây đàn

Cò của người Kinh Cây đàn cũng là một tác phẩm nghệ thuật hát không

há miện rất độc đáo của người Cơ Tu.[A6]

Chiều dài toàn bộ cây đàn khoảng 50 cm, được chia làm hia phần chinh :

Đế đàn làm bằng một mảnh gỗ mỏng gần 1 cm, dài trên 10 cm, có chạmtrỗ hoa văn hoạ tiết rất đẹp Khi chơi đàn có thể dùng hai ngón chân cái

và trỏ kẹp vào phần dưới củ đế đàn nhằm định vị cho cây đàn Thân đàngồm một ống nứa nhỏ, đường kính gần 30 cm, đầu dưới được gắn vào đếđàn, phần trên để trống và cũng là nơi chứa cần đàn (cần kéo)- khi khôn

sử dụng Gần đầu đàn có một cái chốt bằng tre xuyên qua thân đàn để lêndây đàn Dưới chốt, trên thân ống có gắn 3 cái núm nhỏ làm bằng chai

Trang 15

chò (cây chò), gọi là vú đàn và gắn theo chiều dọc của ống, có khoảngcách 1 cm giữa các vú Ngoài ra, có một sợi chỉ ( dài hơn thân đàn mộtchút ), nối từ nơi tiếp giáp giữa đế đàn và thân đàn, đến cuối sợi chỉ thìxuyên qua một mảnh vải con trút, cắt theo hình tròn.

Đàn đựoc chơi qua hai cách Cách thứ nhất : dùng cây cần bằng tre haynứa kéo qua lại chỗ tiếp giáp giữa cây đàn và thân đàn, đồng thời cácngón tay của bàn tay trái bấm dây đàn, âm thanh phát ra như những câyđàn bình thường khác Cách thứ hai : là người sử dụng dùng hai hàm răngcắn miếng vỏ trút và giữ cho sợi chỉ nằm trong tình trạng căng ra (không

bị trùng) đồng thời hát ( hát trong khi hai hàm răng vẫn cố định, không hámiệng ) Âm thanh lúc ấy phát ra lớn hơn và không còn nghe tiếng nhạcđơn thuần nữa mà là nghe hoà quyện lời ca lồng trong tiếng nhạc, ngherất não nùng, đượm màu hoang dã, lôi cuốn ngưòi nghe

Areeng là một loại sáo thổi dọc, được làm bằng một ống nứa dài khoảng34cm, có 2 lỗ bấm có lưỡi gà được tách ra từ vỏ ống nứa đặt bên mépống Khi thổi phải ngậm kín phần có lưỡi gà trong miệng Đây là loại sáothô sơ nhất, dễ kiếm dễ làm.[A7]

Mặc dù chỉ 2 lỗ bấm, nhưng các già làng thổi thành thạo có thể thực hiện

từ 4 đến 5 âm với những nét nhạc linh hoạt:

Tiếng Areeng đục hơn tiếng sáo trúc của người Kinh Do vật liệu thô sơ,chế tác đơn giản nên âm thanh chưa hẳn ở cái sáo nào cũng chuẩn CáiAreeng chúng tôi khảo sát là do già làng Quỳnh Hoàng (một nghệ nhâncủa người Tà Ôi, biết sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ) chế tác Ông làngười chế tác hầu hết các loại nhạc cụ cho người Cơ Tu ở A Lưới

Sáo Areeng thường được trai gái Cơtu dùng để tỏ tình trong những buổi

đi sim Có loại Areeng 2 lưỡi gà đặt ở 2 đầu ống dùng cho 2 người thổi,một nam và một nữ trong giai đoạn tìm hiểu hoặc mến thương nhau LoạiAreèng này dài hơn khoảng 5cm có 3 lỗ nhưng 2 người chỉ sử dụng 2 lỗ 2đầu còn lỗ giữa để thoát hơi

Talee là một loạ sáo cũng thổi dọc như sáo Areeng nhưng dài hơn –khoảng 50 – 55cm và có gắn núm trái bầu khô làm loa sáo, làm cho tiếngvang to và xa hơn.[A8] Talee có 4 lỗ bấm thực hiện được 5 âm không cóbán âm với nét nhạc sau đây:

Trang 16

Karyok ayol giống như một cái Tù và nhỏ vì được làm bằng sừng dê núi,chỉ dài khoảng 10 – 12cm, đường kính ở góc sừng khoảng 2,5cm Lưỡi

gà đồng đặt cách chóp sừng, phía trong hình vòng cung 3cm – đầu nhọncủa sừng được cắt thủng Khi thổi có thể bịt cả 2 đầu hoặc không bịt đểtạo ra âm khác Màu âm của Karyok ayol sáng và chói nhọn, đôi lúc thethé như tiếng của thú rừng

Thường hay được thổi trong lúc lên nương rẫy cho vui chân, đỡ buồn và

có tác dụng đuổi thú rừng phá hoại hoa màu Nó cũng là tín hiệu báo chonhau giữa rừng xanh núi thẳm Trong một số lời ca của điệu hát Baboih

và chachấp do nhạc sĩ Minh Phương sưu tầm, có bài có đề cập đến 2 nhạc

cụ này

Tarqơơi toók là một nhạc cụ đơn giản Họ hơi, chi thổi chỉ thấy ở người

Cơ Tu Tarqơơi toókđược làm từ một đoạn ống tre dài khoảng 25cm,đường kính khoảng 2cm Một đầu ống tre có mắt kín, có đục lỗ thổi ởmép ống, gần mắt, đầu kia rỗng được khoét, vạt vào thân ống bằng ½chiều dài có tác dụng để điều khiển âm thanh Người diễn tấu thổi trựctiếp vào lỗ thổi, tay trái nâng nhạc cụ, tay phải điều khiển âm thanh SáoTr’ơi toóc nghe rộn ràng, phấn chấn Cũng như Karyok ayol, Tarqơơitoók chỉ có một âm cố định phát ra trên một lỗ thổi, sự điều khiển âmthanh ở tay phải chủ yếu là tạo âm thanh bắt chước tiếng hót của một sốloại chim rừng Vì thế không phải là một nhạc cụ sở trường diễn tấu giaiđiệu

Các dân tộc anh em trên vùng Trường Sơn – Tây Nguyên như: Ba-na, GiẻTriêng, Xơđăng, Giarai… trong đó có người Cơtu, đều có vốn âm nhạctruyền thống đặc sắc Cồng chiêng là loại nhạc cụ phổ biến ở hầu hết cácdân tộc và nó trở thành một loại nhạc cụ không thể thiếu trong các lễ hộitruyền thống, trong ma chay, cưới hỏi… Mỗi dân tộc có cách sử dụngcồng chiêng riêng cho dân tộc mình

Cồng chiêng đã làm nên nét độc đáo và phong phú của văn hóa vật thể –phi vật thể trong đời sống cộng đồng người Cơtu Nó trở thành một thứnhạc cụ không thể thiếu trong các lễ hội truyền thống, là ngôn ngữ nốicon người với các đấng siêu nhiên như: Yàng, thần linh, ông bà, tổ tiên…

[A9]

Do đặc điểm cư trú, hiện người Cơtu vùng núi Quảng Nam sinh sốngthành 3 vùng: người Cơtu vùng cao, người Cơtu vùng trung, người Cơtu

Trang 17

vùng thấp, với số dân khoảng 42.266 người Họ đều xem cồng chiêng làloại hình văn hóa nghệ thuật mang đậm đà bản sắc và nó có mặt trongnhững lễ hội truyền thống tưng bừng của buôn làng như: Lễ ăn mừng lúamới (Cha ha roo tơmêê), lễ ăn mừng được mùa (Bhuối Aví), lễ bỏ mả(Têng-Ping), lễ ăn mừng nhà Gươl (Lang tơrí), trong những giờ phút chia

ly, đưa tiễn người thân, bạn bè, đón mừng ngày vui chiến thắng, lễ ăn thềkết nghĩa anh em giữa hai làng người Cơtu (Pơ-ngoót)… cồng chiêng lạivang lên hòa cùng cuộc sống của người Cơtu giữa Trường Sơn đạingàn…

Cồng chiêng là loại nhạc cụ đã được một số nhà nghiên cứu, một số nhạcsĩ… tìm hiểu về thể loại nhạc cụ này Tuy nhiên, việc nghiên cứu mới chỉnằm trong những giới hanạ, trong bài viết nhỏ này, chúng tôi muốn đềcầp về vai trò và chức năng của cồng chiêng trong đời sống hằng ngày,trong những dịp lễ hội truyền thống… của cộng đồng người Cơtu

Khi tìm hiểu về nhạc cụ truyền thống trong đó cồng chiêng của ngườiCơtu vùng núi Quảng Nam, các nhà nghiên cứu, một số nhạc sĩ… đềucho rằng: Người Cơtu vùng cao, người cơ tu vùng trung có tiết tấu cồngchiêng chậm và trầm, người Cơtu vùng thấp có tiết tấu cồng chiêngnhanh, rộn rã Được biết, dù người Cơtu phân bố trên 3 vùng nhưng ở họđều dùng hai loại chiêng: chiêng bằng và chiêng núm với 6 chiếc to, nhỏkhác nhau

Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, ở người Cơtu trong các lễ hội lớn củabuôn làng như: lễ ăn mừng lúa mới (Cha ha roo tơmêê), lễ ăn mừng đượcmùa (Bhuổi Aví), lễ ăn thề kết nghĩa anh em giữa hai làng người Cơtu(Pơ-ngoót), lễ ăn mừng nhà Gươl (Lang tơri)… người Cơtu thường tấunhạc điệu cồng chiêng bằng cách tác động vào núm cồng, vào điểm giữacủa chiêng, kết hợp với dùng tay trái chặn vào mặt sau ở vào thời điểmcần thiết (tức là ngắt tiếng) Đó là kỹ thuật, nghệ thuật trong cách đánhcồng chiêng của người Cơtu Phổ biến họ gõ cồng chiêng bằng dùi có bọcvải ở đầu, gõ cồng chiêng bằng dùi để trần, là một đoạn cây dát mỏng,mềm, lúc họ lại tấu cồng chiêng bằng phần mềm của nắm tay

2.2 Giá trị của văn nghệ dân gian của người Cơ Tu đối với kho tàng văn học các dân tộc Việt Nam

2.3.1 Giá trị lịch sử.

Ngày đăng: 11/04/2018, 01:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w