1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn nghệ dân gian và các giá trị của dân tộc sán chay

72 501 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với dân sốkhoảng 170.000 người, dân tộc Sán Chay đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự đa dạng phong phú của nền văn hóa Việt.. Người phụ nữ Sán Chaythường mặc váy chàm dài ngang cổ chân

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

I Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, nguồn gốc lịch sử của người Sán Chay ở Sơn Dương, Tuyên Quang 2

1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 2

1.1 Đặc điểm vị trí địa lý và dân cư 2

1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 3

1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội 3

1.4 Khái quát về tộc người Sán Chay ở Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 5

2 Đặc điểm về đời sống của người Sán Chay ở huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang 6

2.1 Đặc điểm đời sống kinh tế 6

2.2 Đặc điểm xã hội truyền thống 7

2.3 Văn hóa tinh thần 10

II Một số loại hình văn nghệ dân gian và các giá trị của dân tộc Sán Chay 27

1 Một số loại hình văn nghệ dân gian của dân tộc Sán Chay 27

1.1 Dân ca 28

1.2 Văn học dân gian Sán Chay 34

1.3 Các điệu múa dân gian của người Sán Chay 39

1.4 Một số loại nhạc cụ phổ biến của người Sán Chay 47

1.5 Mội số trò chơi dân gian 50

2 Những giá trị văn nghệ dân gian của người Sán Chay đối với kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam 52

2.1 Giá trị lịch sử 52

2.2 Giá trị nhân văn 52

2.3 Giá trị nghệ thuật 53

2.4 Giá trị gắn kết cộng đồng 54

III Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn nghệ dân gian của người Sán Chay 55

1 Đánh giá 55

1.1 Ưu điểm 55

Trang 2

1.2 Nhược điểm 56

2 Giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của người Sán Chay 57

TỔNG KẾT 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC 64

Trang 3

54 dân tộc anh em trong nước Sự gắn kết chặt chẽ ấy đã tạo nên một bầu trờivăn hóa Việt Nam muôn màu muôn vẻ nhưng vẫn mang trên mình bản sắc riêng.

Trong suốt chiều dài lịch sử, văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu sốluôn là di sản quý giá, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng và thống nhấtcủa nền văn hóa Việt Nam Trong bối cảnh cuộc sống hiện đại, việc giữ gìn,phát huy bản sắc văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ cấp thiết đểphát triển bền vững đất nước

Theo dấu chân tìm hiểu về con đường văn hóa, tôi đã được biết thêm rấtnhiều nhưng phong tục tập quán, nét ăn, ở, văn nghệ dân gian, trang phục chođến lễ lạt của mỗi tộc người Tôi nhận thấy rằng mỗi tộc người đều có nét vănhóa riêng và sâu sắc Trong đó chứa đựng nhiều giá trị quý báu của con người.Chính vì thế tôi muốn tìm hiểu sâu hơn nữa về văn hóa của mỗi dân tộc, qua đó

có thể bổ xung kiến thức cho mình và còn có thể tóm tắt lại những kiến thức đócho người đọc Qua những kiến thức đã học được, tôi có cho mình một số hiểubiết về các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội của các dân tộc thiểu số như:kinh tế, xã hội, trang phục, thiết chế, tập tục tín ngưỡng, văn hóa dân gian,… Từ

đó, tôi đã thấy được từng nét đặc trưng có trong văn hóa của mỗi dân tộc vùngmiền

Sán Chay là một trong số các dân tộc thiểu số tại Việt Nam Với dân sốkhoảng 170.000 người, dân tộc Sán Chay đã đóng góp một phần không nhỏ vào

sự đa dạng phong phú của nền văn hóa Việt Ở đây, tôi tập chung nghiên cứu vềvăn nghệ dân gian của người dân tộc Sán Chay ở huyện Sơn Dương, Tuyên

Trang 4

Quang Đây là một lĩnh vực khá ít người biết đến cho nên, để bảo tồn và pháthuy giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc này, tôi đã nghiên cứu sâu và tìm hiểunhững kiến thức cơ bản, từ đó đưa ra một số giải pháp và đánh giá của bản thângóp phần vào công cuộc lưu giữ và phát triển nền văn hóa dân tộc Việt Nam.

I Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, nguồn gốc lịch sử của người Sán Chay ở Sơn Dương, Tuyên Quang.

1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

1.1 Đặc điểm vị trí địa lý và dân cư

* Vị trí địa lý

Sơn Dương là một huyện miền núi thuộc tỉnh Tuyên Quang, Việt Nam.Sơn Dương cách thành phố Tuyên Quang 30 km, cách thành phố TháiNguyên 54 km Có thể đến Sơn Dương bằng ba đường, đi từ Hà Nội theo quốc

lộ 3 qua Thái Nguyên đến huyện Đại Từ (Thái Nguyên) đi theo quốc lộ 37 làđến thị trấn Sơn Dương; hoặc có thể đi bằng đường quốc lộ 3 đến Thành phốThái Nguyên rồi đi theo đường lẻ đến thị trấn Sơn Dương Ngoài ra, từ Hà Nội

đi theo quốc lộ 2 đến thành phố Vĩnh Yên, tới ngã ba Tam Dương rẽ phải, đithẳng theo quốc lộ 2C là tới thị trấn Sơn Dương, cách này đường dễ đi và gầnnhất

Sơn Dương có 33 đơn vị hành chính cấp xã gồm 1 thị trấn Sơn Dương và

32 xã: Bình Yên, Cấp Tiến, Chi Thiết, Đại Phú, Đông Lợi, Đồng Quý, ĐôngThọ, Hào Phú, Hồng Lạc, Hợp Hòa, Hợp Thành, Kháng Nhật, LâmXuyên, Lương Thiện, Minh Thanh, Ninh Lai, Phú Lương, Phúc Ứng, QuyếtThắng, Sầm Dương, Sơn Nam, Tam Đa, Tân Trào, Thanh Phát, Thiện

Kế, Thương Ấm, Trung Yên, Tú Thịnh, Tuân Lộ, Văn Phú, Vân Sơn, Vĩnh Lợi,diện tích 788 km2,dân số 179.846 người

* Dân số

Theo tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, dân số ở dây cókhoảng 171.694 người Huyên Sơn Dương gồm có các dân tộc như: Kinh, Tày,Nùng, dao, H'Mông Trong đó, số người dân tộc Sán Chay vào khoảng 66.805,

Trang 5

chiếm gần 20% tổng số người dân Sán Chay tại Việt Nam Họ sống chủ yếu dựavào nông nghiệp như trồng cam, lúa, nuôi cá và các loại gia súc như trâu bò,dê, Cây công nghiệp có chè, cây lâm nghiệp có keo.

1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.

* Đặc điểm địa hình

Địa hình Sơn Dương có đặc thù của vùng chuyển tiếp giữa trung du vàmiền núi, rừng núi chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên Địa hình chia thành 2 vùng,vùng phía Bắc huyện có địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, xen lẫn núi đá vôi;vùng phía Nam có địa hình đồi núi bát úp, có độ dốc thấp, thoải dần

* Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Ở Sơn Dương đã phát hiện 12 điểm có quặng thiếc, tổng trữ lượng cảquặng gốc và quặng sa khoáng đạt xấp xỉ 28.239 tấn SnO2; quặng Barit có cácđiểm thăm dò gồm: Ao Sen, Hang Lương, Thiện Kế, Ngòi Thia, Đùng Bùng;cao lanh – fenspat có rải rác ở Hào Phú (trữ lượng dự báo 1,411 triệu tấn) vàVân Sơn; ngoài ra còn có mỏ chì - kẽm …

1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội

*Tiềm năng kinh tế

Toàn huyện hiện có 47.172,6 ha đất lâm nghiệp, chiếm 59,86 % tổng diệntích tự nhiên, diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 37.311 ha Trong đó diện tíchrừng trồng: 20.320 ha chiếm 54,5 % diện tích; diện tích rừng tự nhiên 16.991 ha,chiếm 45,5 % diện tích Độ che phủ của rừng đạt 52 %

Đất đai ở Sơn Dương thích hợp cho việc trồng các loại cây như chè, mía,cây nguyên liệu giấy, các loại cây ăn quả như nhãn, vải…và chăn nuôi bò thịt

Trang 6

Sơn Dương cũng là nơi tập trung các cơ sở chế biến khoáng sản, sản xuấtvật liệu xây dựng như: quặng thiếc, quặng Volfam, fenspat, Barit; khai thác đá,sỏi, cát, sản xuất gạch đất sét nung, sản xuất vôi bột… Ngoài ra còn có các cơ sởchế biến chè, đường, phân vi sinh và các ngành tiểu thủ công nghiệp như maymặc, gò hàn, sản xuất đồ mộc gia dụng.

Sơn Dương có 2 tuyến đường bộ quan trọng là quốc lộ 37 từ Thái Nguyên

đi qua huyện Sơn Dương và quốc lộ 2C từ thị xã Vĩnh Yên lên Sơn Dương

Dân tộc Tày, Dao, ở Sơn Dương thường làm nhà bằng thân cây mai, câyvầu, cây tre Mái nhà khá dốc, kéo dài từ đỉnh nóc xoè gần kín thân nhà chính,

bà con thường làm nhà sàn hay nhà đất hoặc nửa sàn nửa đất nhưng điểm chung

là có rất nhiều sàn gác ở trên cao để đồ đạc hoặc làm kho chứa đồ

Nếu là nhà sàn, tường thường được làm bằng ván gỗ, phên vách nứa hoặccây mai, vầu ken dày Nếu là nhà đất, tường được làm bằng vách nứa đập dậptrộn hỗn hợp rơm, bùn, trấu rồi trát lên cốt tre

Người Sán Chay ở Sơn Dương thường làm nhà gỗ truyền thống 5 gian,trong nhà lúc nào cũng có nồi cháo quanh bếp lửa, người Sán Dìu có lối hátsoọng cô rất độc đáo

Hiện tại, Sơn Dương đang xây dựng làng văn hoá du lịch của người SánDìu kết hợp với du lịch sinh thái mạo hiểm của vùng đệm Vườn Quốc gia TamĐảo

*Tiềm năng du lịch

Huyện Sơn Dương có nhiều khu di tích lịch sử nổi tiếng như: khu di tíchlịch sử Tân Trào – ATK; cụm di tích Bác Tôn; Ban thường trực Quốc Hội; mặttrận liên Việt ở xã Trung Yên; đình Hồng Thái; lán Nà Lừa; làng Sảo; cụm 43điểm di tích tại xã Tân Trào; cụm di tích phủ Chủ tịch, Thủ tướng Chính phủ tạithôn Lập Binh, xã Bình Yên; cụm di tích Nha Công an và các bộ ngành ở xãMinh Thanh

Ngoài những di tích lịch sử, Sơn Dương còn có những thắng cảnh đẹp nhưthác Đát (suối Tiên) xã Hợp Hoà, thác Cao Ngỗi xã Đông Lợi Khi đến thác Đát,

du khách có cơ hội thưởng thức những món đặc sản như cá phèo, cá quy, ếch

Trang 7

1.2.2 Về tộc danh và ngôn ngữ.

Người Sán Chay, tên gọi khác là Cao Lan, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, HờnBận, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam Có nhóm địa phương làCao Lan và Sán Chỉ

Tiếng Sán Chay là ngôn ngữ thuộc ngữ chi Thái trong Hệ ngôn ngữ Kadai Người Sán Chay chia làm hai nhóm, phân biệt bằng ngôn ngữ Nhóm nóitiếng Cao Lan gần gũi với tiếng Tày, Nùng và nhóm nói tiếng Sán Chỉ thuộcnhóm ngôn ngữ Hán

Tai-1.2.3 Về dân số.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Sán Chay ở ViệtNam có dân số 169.410 người, có mặt tại 58 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.Người Sán Chay cư trú tập trung tại các tỉnh:

 Tuyên Quang (61.343 người, chiếm 36,2% tổng số người Sán Chay tạiViệt Nam),

Trang 8

 Thái Nguyên (32.483 người, chiếm 19,2% tổng số người Sán Chay tạiViệt Nam),

 Bắc Giang (25.821 người),

 Quảng Ninh (13.786 người),

 Yên Bái (8.461 người),

2.1 Đặc điểm đời sống kinh tế.

Là cư dân nông nghiệp, làm ruộng nước thành thạo nhưng nương rẫy vẫn

có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế của người Sán Chay và phương thứccanh tác theo lối chọc lỗ, tra hạt vẫn tồn tại đến ngày nay Sớm tiếp thu nền vănminh cây lúa nước, người Sán Chay thường chọn những nơi có địa thế thấp, cóthung lũng bằng để khai khẩn đất hoang thành ruộng bậc thang gieo trồng câylúa Ðánh cá có vị trí quan trọng Với chiếc vợt ôm và chiếc giỏ có hom việcđánh cá đã cung cấp thêm nguồn thực phẩm giàu đạm, góp phần cải thiện bữa

ăn Bên cạnh cánh đồng là đồi núi thấp để phát nương làm rẫy trồng ngô, lúacạn, rau quả, bông dệt vải kết hợp với săn bắt thú rừng, hái rau lượm quả Hiệnnay vẫn còn những bản làng Sán Chay vừa có những cánh đồng nhỏ vừa cónương rẫy trên đồi Trước đây chỉ làm ruộng nương một vụ mùa, sau làm hai vụlúa ruộng nhưng một số nơi hiện nay đã thâm canh tới 3 vụ lương thực Với haihình thức định canh và du canh nên đồng bào có các loại nông cụ thích hợp

Người Sán Chay ở Sơn Dương vốn là cư dân nông nghiệp làm ruộng nướcthành thạo Nhưng nương rẫy vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống Vớikinh nghiệm phong phú và sự cần cù, sáng tạo trong lao động, được sự quantâm, đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, đồng bào Sán Chay tích cực tăng gia sản xuất,

Trang 9

nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi Mấy năm gần đây, một số hộ đã pháttriển làm trang trại theo mô hình VACR (vườn, ao, chuồng, rừng) Bên cạnhnguồn lương thực chính là cây lúa, đồng bào còn chăn nuôi bò, lợn, gà, thảcá giúp cho công việc đồng áng và cải thiện đời sống Phát triển mạnh trồngrừng, trồng các loại cây công nghiệp như quế, chè, sắn

2.2 Đặc điểm xã hội truyền thống.

*Tổ chức xã hội truyền thống.

Người Sán Chay ở nhà sàn bốn mái có sàn trong nhà và sàn phơi Nhà bahoặc năm gian, được phân định chức năng sinh hoạt của từng gian Gian giữađặt bàn thờ tổ tiên, hai gian cạnh là nơi nghỉ ngủ phân biệt giữa các thành viênnam nữ trong gia đình Gian chái đầu nhà là nơi đặt bàn thờ hương hỏa (thầnBảo gia trong dòng họ) Gian chái cuối nhà là nơi bếp núc, buồng con dâu hoặccon gái Cầu thang được bắc lên ở gian này

Cấu trúc nhà thường thêm một ngôi nhà phụ bố trí theo kiểu thước thợ gắnliền với nhà chính Dưới sàn là nơi nhốt súc vật trâu, bò, lợn, gà, trên là nơi đểlương thực và những đồ vật khác Quanh nhà thường có mảnh vườn nhỏ trồngrau Nơi thuận lợi có ao cá và trồng các loại cây ăn quả Trong nhà của ngườiSán Chay có rất nhiều bàn thờ: Bàn thờ tổ tiên, bàn thờ thần bà mụ, bàn thờ thổcông thổ địa, bàn thờ Ngọc Hoàng, bàn thờ Phật Nam Hoa, bàn thờ thần nông,thờ thần chăn nuôi Mục bàn Các bàn thờ được thiết kế đơn giản, chỉ có mộtmiếng giấy đỏ dán lên vách, một ống tre cắm hương, khay đặt vài tờ sớ, vài cáichén đựng rượu Thường khi có việc, lễ lạt gì hoặc ngày Tết thì cúng cả các bànthờ Thôn bản của người Sán Chay thường ở sườn đồi trông xuống trước mặthoặc ở những bãi cao gần sông, suối, làng xóm thường tập trung một vài chụcgia đình, họ sống gắn bó bên nhau, xưa kia hầu hết dân tộc Sán Chay sống ở sànnhà

Người Sán Chay quan niệm ngôi nhà cũng như con trâu, bốn cột chínhtượng trưng cho bốn chân, dui mè là xương sườn, nóc nhà được coi là sống lưng.Ngày nay, phần lớn họ ở nhà nền đất, nhà trên, nhà ngang, nhà bếp bao quanhsân phơi, chuồng gia súc tách riêng khỏi nhà Quanh nhà trồng nhiều cây lâu

Trang 10

năm như cam, quýt, bưởi…

Về nơi ăn ở, người Sán Chay ưa sạch sẽ, ăn chín uống sôi, ở nơi cao ráothoáng mát Về mặc, người Sán Chay có kỹ thuật trồng bông dệt vải từ rất sớm.Vào tháng 4, tháng 5, đồng bào trồng bông trên nương, tháng 9, tháng 10 thubông về kéo sợi dệt vải, nhuộm các màu chàm, nâu, đỏ, vàng để may váy áo.Trang phục của người Sán Chay không thêu thùa nhiều mầu sắc như một số dântộc khác Phụ nữ mặc váy tràm dài ngang bọng chân, mặc áo chàm dài ngangváy, về sau nối thành hai phần khác màu Từ ngang ngực thường là mầu đỏ hoặcnâu, phần dưới xanh chàm hoặc đen Eo lưng thắt con dao nhỏ có vỏ bao ốpkhoét bằng cây thừng mực, dây dao dệt bằng chỉ các màu với những nét hoa vănmềm mại, thể hiện hình sông núi, cỏ cây, thú rừng Sau lưng đeo thêm cái túitrầu cau nho nhỏ Cổ và tay đeo vòng bạc, đầu búi tóc sau gáy đội khăn chàmcuốn lật hai dải khăn về phía sau Khăn áo có thêu họa tiết hoa văn đơn giảntrang trí Ngày lễ hội hoặc ngày đi làm dâu họ thường thắt ngang lưng bằngnhững dải vải xanh, đỏ, tím vàng như cầu vồng bảy sắc buông xuống dài ngangváy Chân cuốn xà cạp màu trắng Nhìn chung kiểu mặc của phụ nữ Sán Chayđơn giản, hài hòa đủ màu sắc thiên nhiên, không giống một dân tộc nào Namgiới ngày xưa búi tóc đội khăn xếp màu chám có thêu hoa văn, mặc áo chàm dàihoặc ngắn, quần thung màu nâu hoặc trắng Người Sán Chay theo chế độ phụ hệtrong gia đình người đàn ông giữ vai trò chính chủ, người đàn bà phụ chủ Khilập gia đình không có tục ở rể Trường hợp nhà gái không có con trai thì họ yêucầu ở rể suốt đời Do có sự giao lưu giữa trung du và đồng bằng đã làm chongười Sán Chay ăn mặc như người Kinh hoặc người Tày Trang phục cổ xưacủa người phụ nữ Sán Chay với chân váy cạp rút màu chàm đen Cổ và nẹp áomay táp thêm vải hoa văn hình thập xen lẫn màu đỏ, đen, trắng Bên ngoài thắtvải yếm bằng màu lục, xanh, đỏ, buông thõng hai bên đầu thừa rất dài trướcbụng Trên đầu đội khăn vuông màu chàm đen Người Sán Chay hầu như khôngđeo đồ trang sức

Trang phục thể hiện sự khéo léo, tinh tế và thế giới quan của người phụ

nữ Sán Chay thông qua mỗi đường kim, mũi chỉ, mỗi hoa văn, họa tiết trên áo

Trang 11

Trong lúc nông nhàn, trên mỗi ngôi nhà sàn truyền thống, những người bà,người mẹ lại truyền dạy cho con cách dệt vải, đan áo Người phụ nữ Sán Chaythường mặc váy chàm dài ngang cổ chân; áo đi theo cặp; áo trong thường do sởthích của từng người chọn kiểu và màu sắc, nhưng thường là áo sáng màu, áongoài là áo chàm có hai mảnh được khâu chéo sang bên phải, các mép áo đượcviền một dải màu đỏ, chiều dài áo ngang cùng với váy.

Trang phục truyền thống trước hết là sản phẩm vật chất của lao động,đồng thời nó cũng là sản phẩm văn hóa, là biểu hiện sinh động của kỹ thuật thủcông gắn liền với khả năng thẩm mỹ và nó luôn mang những sắc thái văn hóađộc đáo của các dân tộc Mỗi dân tộc trong cộng đồng cư dân Sán Chay có cáchtạo hình trang trí và sử dụng trang phục theo những đặc điểm văn hóa riêng củamình Đó là sự thể hiện một trình độ thẩm mỹ cao, một đời sống tâm hồn giàuchất mỹ cảm nguyên sơ mà phong phú, hòa quyện, chan hòa với cảnh sắc thiênnhiên Trang phục và những giá trị thẩm mỹ của nó đã góp phần đáng kể làmrạng rỡ thêm sắc thái văn hóa của các dân tộc ở đây Trang phục có thể đượcxem là tiềm năng du lịch chính là ở sự độc đáo và tính chất thủ công của nó Đócũng là nét quyến rũ của du lịch các vùng, miền Để bảo tồn các giá trị cũng nhưtính độc đáo của trang phục, cần có những dự án đầu tư,hỗ trợ cho sản xuất cácsản phẩm trang phục truyền thống

* Dòng họ

Gia đình người Sán Chay là một gia đình nhỏ phụ quyền Quyền đượcthừa kế tài sản chỉ phụ thuộc vào những người con trai Người đàn ông là ngườichỉ đạo công việc làm ăn, với sự tham gia góp ý kiến của các thành viên tronggia đình đã trưởng thành Đàn ông bao giờ cũng gánh vác công việc khó khănnặng nhọc, phụ nữ thì làm việc nhẹ, đảm nhiệm việc nuôi con, nấu ăn, nội trợ…Dân tộc Sán Chay có nhiều họ, mỗi họ chia ra các chi Từng họ có thể có mộtđiểm riêng biệt về tập tục Mỗi họ thờ "hương hỏa" một thần linh nhất định.Trong gia đình người Sán Chay, người cha là chủ nhà Tuy nhà trai tổ chức cưới

vợ cho con nhưng sau cưới, cô dâu lại về ở với cha mẹ đẻ, thỉnh thoảng mới vềnhà chồng, cho đến khi mang thai mới về hẳn với chồng

Trang 12

Người Sán Chay rất quý trọng khách khứa tới thăm nhà, nên với kiểu nhànửa sàn, nửa đất hoặc nhà chính, nhà phụ bà con vẫn dành gian đầu hồi bên phải

là không gian tiếp khách riêng Bước vào cửa là bàn ghế để tiếp đón, đãi kháchđến nhà Lùi về phía sau giáp vách nhà là giường dành cho khách Gian giữa lànơi chốn của chủ nhà Phía trước có bộ phản gỗ bóng loáng, giáp đố hậu đặt tủchè, trên đó có bát hương thờ cúng tổ tiên của gia chủ Gian nhà bên trái dànhcho con trai, chỉ kê một cái giường Đàn bà con gái trong nhà thường ở nhà phụ,nhà trâu đực, nơi để cót thóc Có nơi chỗ ở của phụ nữ và trẻ em, cót thóc để ởnhà chính, nhà trâu cái nằm ở phía sau giường chủ nhà, giường con trai Trongtrường hợp này, nhà phụ dành cho không gian bếp núc chứa đồ ăn thức uống

Đó chính là những nét cư trú mang yếu tố cổ xưa của người Sán Chay mà ngàynay nhiều vùng vẫn còn tồn tại không dễ gì pha trộn

Trước Cách mạng tháng Tám, ruộng đất dần dần trở thành tư hữu hoá và

phân hoá giai cấp ngày càng rõ rệt Trong xã hội đã xuất hiện địa chủ và phúnông Tuỳ theo từng địa phương, chính quyền thực dân phong kiến đặt ra một sốchức dịch như quản mán, tài chạ, quan lãnh Bên cạnh đó có tổ chức tự quản ởcác bản do dân bầu ra gọi là khán thủ Có nhiều dòng họ, trong đó có nhữngdòng họ lớn, đông dân như Hoàng, Trần, La, Ninh Các chi họ và nhóm hươnghoả giữ vị trí quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng

2.3 Văn hóa tinh thần.

Văn hóa tinh thần của người Sán Chay khá phong phú Tục ngữ có câu:

“Mời ăn au đáy, mấy căm đáy” nghĩa là: Có cái lấy được, không cầm được, đó

là chỉ văn hóa phi vật thể Người Sán Chay có văn hóa riêng, không hòa lẫn vớivăn hóa dân tộc khác Song đồng bào vận tiếp thu những nét văn hóa của cácdân tộc anh em khác Đó là sự ảnh hưởng qua lại tất yếu khi họ cùng chung sốngtrong một cộng đồng

Trang 13

Hoàng thờ Nam Hoa, họ Lâm thờ Quan âm Bồ tát, họ lý thờ Huyền Đế vv cộngvới việc thờ thần nước một số họ còn thờ thần Nông, thần Bếp lửa và thần bà

Mụ bảo mệnh cho con trẻ Họ quan niệm: Thiện nhân nhân phù, ác giả, ác báo,thật thà là cha kẻ gian tà Trong thờ cúng gia tiên người Sán Chay quan niệm:

“Âm dương nhị lộ” nghĩa là hai đường âm dương song hành Khi cha mẹ giàchết, họ phân chia của cải, tiền bạc mang theo, các loại nông cụ sản xuất, vũ khí

hộ thân như súng, nỏ, đao, kiếm và rất chú trọng việc làm nhà cho người chết(làn thai) – nhà của người chết làm bằng nứa non, mái dán bằng giấy màu xanh

đỏ, tím vàng hai tầng giống như nhà sàn rồi đem ra mộ đốt Tục làm nhà chongười chết này rất quan trọng, người Sán Chay quan niệm rằng nếu con cháukhông làm nhà cho cha mẹ là thất hiếu Cha mẹ nơi chín suối không có nhà ở,phải đi lang thang ở nhờ Do vậy dù giàu hay nghèo họ vẫn cố gắng làm bằngđược nhà cho người chết Khi người chết được đem đi chôn cất thường làm nhàngay Tuy nhiên, nếu nhà không có điều kiện kinh tế có thể để về sau, hoặc chờkhi người chồng hoặc vợ chết thì làm nhà một thể cho 2 người

* Tục cưới xin

Lễ cưới của người Sán Chay thường được tổ chức từ tiết Sương Giáng(tức là khoảng tháng 9 cho đến tháng 2 dương lịch hàng năm) Sau khi mọi thủtục thách cưới, ăn hỏi đã xong, hai họ quyết định chọn ngày lành, tháng tốt để tổchức đám cưới Nhà trai cử một ông mối, một đôi nam nữ phù rể cùng chú rểsang nhà gái đón dâu

Nét văn hóa độc đáo trong lễ cưới của người Sán Chay là phong tục giấu

cô dâu Khi nhà trai đến, ông mối, chú rể, phù rể vào báo với họ hàng ra đón dâuvào trong nhà làm lễ Sau đó, họ nhà trai sẽ cử người ra mời trầu để tìm cô dâu.Khi đó, các cô phù dâu của đoàn nhà gái phải tìm cách che giấu cô dâu Khi nhàtrai đi tìm dâu, những ai không phải là cô dâu sẽ không nhận trầu Người nàonhận trầu mới là cô dâu Khi cô dâu đã nhận trầu thì tất cả mọi người trong đoànphù dâu mới nhận trầu Khi đã tìm được cô dâu, ông mối phải lấy mũ hoặc ô cheđầu cho cô dâu rồi đưa vào trong nhà làm lễ

Lễ cưới (sênh ca chíu) diễn ra trong 5 ngày với rất nhiều nghi thức khác

Trang 14

Ngày thứ nhất

Vào giờ "xuất giá", cô dâu bước qua ngưỡng cửa, anh trai ruột hoặc anhtrai họ cõng cô dâu trên lưng đi ba bước ra khỏi giọt gianh mái nhà thì đặtxuống, cùng lúc đó quan lang trưởng xòe ô che đầu cô dâu qua giọt gianh rồicụp lại với ý thu linh hồn cô dâu mang về

Theo phong tục thì đoàn đưa dâu thường không có chú rể, chỉ có đại diệnnhà gái và nhà trai Sang đến nhà trai, nếu trời chưa tối phải đợi tối hẳn mớiđược vào, vì dân tộc này quan niệm vào nhà chồng lúc mặt trời lặn sẽ tránh đượcrủi ro trong cuộc sống Cô dâu vào nhà, được dẫn thẳng đến buồng cưới, chú rểnhanh tay cướp chiếc khăn trên đầu luồn qua háng rồi cất đi với ý từ đây vợ phảinghe chồng Chiều tối hôm đó, nhà trai mời đoàn đưa dâu ăn tiệc cưới, sau đóthanh niên nam nữ bạn bè chú rể, cô dâu hát sọng ca đến sáng hôm sau

Khi trời chưa sáng hẳn cô dâu dậy đun nước, pha trà vào bộ ấm chén mới

để mời ông bà, cha mẹ, anh chồng và bưng chậu nước kèm theo chiếc khănmới để người thân bên chồng rửa mặt Người được nhận nước rửa mặt, sau khirửa xong thả vào chậu một ít tiền để chúc phúc

Buổi sáng hôm đó, nhà trai đồng thời tổ chức cho cô dâu lễ lại mặt tại nhàgái Đoàn đi lễ lại mặt gồm mẹ chồng, cô dì, chị gái chồng cùng cô dâu mang gàsống thiến, chân giò, bánh chưng đến nhà gái Nhà gái sắp lễ cúng gia tiên, mời

họ hàng thân thiết đến ăn cơm Cô dâu được bố mẹ đẻ dặn dò thêm một số tục lệkhi mới về nhà chồng, hai bên thông gia rút kinh nghiệm trong việc tổ chức cướixin, đồng thời nhà gái giao trách nhiệm cho nhà trai dạy bảo thêm con gái mình

Trang 15

Xưa kia, trong xã hội phong kiến, với những lễ giáo ngặt nghèo, nam nữSán Chay không được tự do lựa chọn người bạn trăm năm của mình mà phảituân theo sự sắp đặt của cha mẹ Tuy nhiên, họ cũng có thể tự tìm người bạn đờicủa mình thông qua các cuộc hát Theo tập quán của dân tộc, vào những dịp đầuxuân, người Sán Chay ở bản này thường đến bản kia để du xuân và ca hát Họ cóthể đi như thế hàng tuần mà không bị gia đình ngăn cản Qua những cuộc hát ấy,nhiều đôi nam nữ đã quen nhau, yêu nhau rồi dẫn đến hôn nhân.

Đám cưới của dân tộc Sán Chay mới thấy sự thú vị trong bản sắc văn hóadân tộc của đồng bào, không chỉ là những câu hát đối đáp đầy ý nhị của quanviên hai họ mà còn cả những phong tục độc đáo như tục sàng rượu lên đầu khi

họ nhà trai (hoặc họ nhà gái) không hát đối đáp được giống như những giọt mưa,giọt tinh hoa của đất trời chúc phúc cho cô dâu chú rể Đồng bào Sán Chay luôn

có ý thức gìn giữ phong tục cổ truyền độc đáo, giàu bản sắc dân tộc Điều nàyđược thể hiện rất rõ trong nghi thức cưới hỏi của người Sán Chay

* Tục tang ma

Cúng ma trông nhà

Trong đời sống tinh thần, người Sán Chay rất chú ý đến phần tâm linh.Trong không gian của mỗi ngôi nhà, đều có một góc linh thiêng, chính là nơi đặtbàn thờ hai vị Ngọc Hoàng và Bồ Tát, hay còn gọi là thờ ma trông coi cửa nhà,thường gọi là ma ham

Nghi lễ đối với ma ham cũng rất đơn giản, nhưng lại rất cầu kỳ ở chỗ,hằng năm cứ vào chiều 30 Tết Nguyên đán, chủ nhà mới được phép vào quétdọn khu vực có đặt ma ham, rửa sạch chén, bày hương hoa đăng, mâm cỗ gồm

gà trống luộc cả con cùng với cơm, rượu, mời thầy đến cúng bẩm báo các vị maham về ăn Tết Sau đó, gia chủ phải tự tay cắt 2 bông hoa bằng giấy màu, kẹpvào que nứa, hoa có chiều cao khoảng 35cm, giống như chiếc nón Hoa màu đỏcắm vào bát gạo nếp để dâng báo Ngọc Hoàng, hoa màu tím cắm vào bát gạo tẻ

để dâng Bồ Tát

Bước sang thời khắc của năm mới, gia chủ phải nhanh chóng lấy cả 2 báthoa ra ngoài sân (nơi không có mái che) mới được đốt hóa tiền, vàng, hoa Hoa

Trang 16

màu đỏ kính dâng Ngọc Hoàng thì hóa trước, sau đó mới hóa hoa màu tím cho

Bồ Tát Cả 2 bát gạo đó được chia cho người và gia súc cùng hưởng lộc của trờiđất với một hy vọng sang năm mới nhiều sức khỏe và làm ăn tấn tới

Không giống các bàn cúng khác của người Sán Chay, ma ham chỉ ăn mỗinăm một bữa mặn vào chiều 30 Tết Còn từ ngày mùng 1 đến hết 15 thánggiêng, chủ nhà chỉ để 12 chiếc bánh nếp không nhân thịt (tiếng Cao Lan gọi là ẹtphặt), đại diện cho tất cả 12 tháng trong năm mới, cùng 5 chén nước, hương,đăng dâng lễ

Cúng ma ngoài rừng

Trong quan niệm của người Sán Chay, những con ma đem lại rủi ro, hoạnnạn cho con người được gọi là ma rừng Ma rừng cũng như xã hội loài người, cócon quái ác, có con chỉ nhắc nhẹ nhàng hoặc cho biếu một tý tiền quà là chúngnghe ngay Cũng có con ma quá dữ, thầy cúng phải dùng đến phép thuật, kèmtheo “binh hùng tướng mạnh” mới có thể thắng được, đó là ma pạt sằn (ma gà)

Mỗi khi nhà có người bị ốm đau, điên loạn thần kinh mà chữa các loạithuốc không khỏi, người Sán Chay thường đem gạo, muối đến nhà thầy cúng bóiquẻ Nếu thầy mở quẻ nói đúng bệnh tình người thân và thầy khẳng định bị mapạt sằn quấy quả, thì gia chủ phải mời thầy đến nhà làm lễ đuổi ma

Đối với ma pạt sằn là loài quái ác, những thầy cúng thông thường cầm

120 âm binh sẽ không dám nhận lời, mà phải mời thầy có cao nhất là 360 âmbinh, phối hợp với âm lực của các thầy khác, biến thành “liên quân” mới tổ chứccúng đuổi

Cúng ma trên trời

Theo quan niệm của người Sán Chay, ma cũng có loại tốt, xấu như xã hộiloài người Chính vì thế, ma xấu quấy quả đòi ăn, còn ma tốt đã mời ăn thì sẽphù hộ độ trì cho thân chủ

Chính vì thế, người Sán Chay khi đến tuổi 49, bắt đầu thực hiện nghi thứccủa dân tộc là cúng sinh nhật Cúng sinh nhật chính là cúng giải hạn, dâng sao,thêm lương, tăng thọ cho người còn sống (đến khi qua đời, họ không bao giờđược cúng giỗ như dân tộc Kinh nữa)

Trang 17

Lễ cúng gồm 3 con gà đực luộc cả con có đủ lòng mề tiết, cơm trắng,hương, đăng, tiền vàng mã, rượu, trứng gà, riêng hình nhân thế mạng được bệnbằng cỏ tranh hoặc rơm nếp, cao từ 20cm đến 50cm và phải bôi tiết vịt vào hìnhnhân này Bàn lễ bày vào mâm hoặc nong, nia rồi đặt dưới đất ở gian giữa trongnhà (cũng có nơi đặt luôn trên gường ngủ của người được cúng sinh nhật).

Sắp lễ xong, phải 2 thầy cúng mời gọi các cụ ma tốt trên trời như nhâm la,thiên đình, đại miếu, tiểu miếu, ngũ phương, bát phương, nam phương, tâyphương… Việc cúng giải hạn này thường kéo dài tới 4 tiếng liên tục mới xong.Các lời cúng có dụ ý với những con ma tốt bụng rằng, gia chủ đã bước vào tuổigià, sức yếu nên trong tuổi mới này, nếu gia chủ có vận hạn gì, hay có các saoxấu chiếu mạng thì cầu các ngài cửa trên che chắn và mở lòng đại xá tha mạng,

vì gia chủ cũng chẳng tiếc gì các ngài khi đã chuẩn bị đủ lễ mặn và tiền vàng lolót, miễn sao cho gia chủ được sức khỏe, may mắn trong cả năm

CÁC NGHI LỄ KHÁC.

*Lễ cầu mùa của người Sán Chay

Là một trong những lễ hội được tổ chức lớn nhất trong năm của người SánChay, lễ hội cầu mùa là hoạt động sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng đặc sắc với

những nét riêng, độc đáo Thường vào dịp tổ chức lễ hội cầu mùa, các gia đình

người Sán Chay cùng chuẩn bị, góp chung lễ vật để chuẩn bị mâm cỗ cúng gồm

có thịt lợn, xôi, gà, trứng, các loại bánh truyền thống, hoa quả Một trongnhững vật quan trọng không thể thiếu trong lễ cúng là những tờ tranh với cáchọa tiết, hình vẽ cổ dựng quanh mâm lễ vật Theo truyền thống người Sán Chay

có khoảng gần 30 bức tranh với hình vẽ khác nhau được dùng trong các buổi lễ

Vào giờ tốt, sau một hồi trống đất, thầy mo của bản trong trang phục tế

lễ bắt đầu lễ cúng cầu mùa Ông đọc lời khấn từ một cuốn sách, chép lại lời khấn

cổ xin trời đất cho mưa thuận gió hòa, muôn loài được sinh sôi nảy nở, làng xómbình yên nhà nhà mạnh khỏe, mọi người có cuộc sống no đủ Trong khi ông làm

lễ, người gõ trống đất liên tục gõ những nhịp đều nhỏ Khi tiếng trống đất đượcđánh dồn dập, thầy mo sẽ xin âm dương, được chấp thuận cũng là lúc trống dứt,phần lễ cầu mùa kết thúc

Trang 18

Phần hội được bắt đầu với điệu nhảy Tắc xình Đây là điệu múa do cácthanh niên nam nữ trong trang phục truyền thống cùng tham gia biểu diễn Làđiệu múa dành riêng cho lễ cầu mùa, Tắc xình có các động tác múa mô phỏngnhững hoạt động trong lao động sản xuất Vũ điệu tuy đơn giản nhưng dưới sựdẫn dắt, giữ nhịp của tiếng nhạc phát ra từ giàn nhạc cụ thô sơ, dân dã lại trở nên

vô cũng hấp dẫn với người xem

Nhạc cụ người Sán Chay dùng trong điệu múa Tắc xình là trống đất vànhững ống gõ được làm từ tre nứa to nhỏ, dài ngắn khác nhau Đặc biệt ấn tượng

là tiếng của chiếc trống đất có đường kính miệng trống khoảng 20cm Để làmtrống họ đào sâu xuống đất khoảng 50cm với đường kính đáy rộng gấp đôimiệng trống Tiếp đến dùng vỏ cây bịt miệng hố, rồi căng một đoạn dây rừngtrên mặt đất Sau đó chống một nhánh cây nhỏ từ miệng trống nối với dây trống.Khi làm lễ hay giữ nhịp cho điệu nhảy, người chơi gõ vào dây là tạo ra những

âm thanh vọng từ đất nghe rất khác lạ

Sau điệu múa, người Sán Chay cùng nhau hát những bài ca dân gian, diễuhành vòng quanh để thể hiện cho sự gắn bó của bà con trong bản bản Lễ cầumùa khép lại khi những người dân Sán Chay mời khách cùng dự bữa cơm đoànkết, ấm áp cùng với những lời chúc cho một mùa vụ mới thật no ấm

* Lễ Thủm Cuổn của người Sán Chay

Lễ Thủm Cuổn của người Sán Chay ngoài yếu tố tâm linh còn mang giátrị giáo dục thiết thực, góp phần gìn giữ các sinh hoạt văn hóa truyền thống củadân tộc Nghi lễ Thủm Cuổn là một trong những nét sinh hoạt văn hóa truyềnthống có giá trị về nhiều mặt cần được lưu giữ, bảo tồn và phát huy

Mục đích của nghi lễ là cất bỏ bàn thờ bà Chấu Nhàng và đặt tên âm chotrẻ từ nay trẻ sẽ là thành viên trong gia đình, dòng tộc Lễ Thủm Cuổn là cuộcchuyển giao mang tính giáo dục về mặt tinh thần để bé trai ý thức được làmngười đàn ông trưởng thành cần có: đức, tài, trí, dũng, lo cho cuộc sống giađình, chăm lo dòng tộc mai sau

Mở đầu nghi lễ Thủm Cuổn là tiết mục múa của vị thần mặt Trời và vịthần mặt Trăng Một người đàn ông cầm Thanh La đánh và một người đàn bà

Trang 19

cầm trống múa vờn quấn quýt bên nhau, mô phỏng cuộc hội ngộ của cuộc tìnhgiữa hai vị mặt Trời và mặt Trăng Các động tác uyển chuyển, nhịp nhàng bộ gõđược hòa tấu tưng bừng, thể hiện niềm hân hoan của vạn vật trong cuộc lễ.

Trong lễ Thủm Cuổn sau khi đã tẩy uế ở trong nhà, người thụ lễ được đưalên Ngũ Đài dựng bên ngoài nhà Ngũ Đài tượng trưng là lưng con rồng (concủa Thánh Mẫu cưỡi rồng từ trên trời về trái đất) Từ trên Ngũ Đài, người ta làmcác thủ tục và dặn người thụ lễ khi thực hiện mục rơi từ trên Ngũ Đài xuốngdưới đất vẫn giữ nguyên được tư thế của người nằm co, hai tay ôm gối, mườingón tay đan vào nhau, hai ngón tay cái đặt chạm vào hai ngón chân cái, mắtnhắm nghiền Ở dưới Ngũ Đài, các trẻ em cùng trang lứa túm lại chăng tấm lướiđan bằng dây rừng, trong lưới có rải tấm chăn để khi người thụ lễ rơi xuống tấmchăn và lưới sẽ được che đậy lại tượng trưng là bọc bào thai, trên bọc đặt mộtbát nước dùng để tẩy uế Động tác rơi từ trên Ngũ Đài xuống thể hiện sự giángsinh của người thụ lễ (được sinh ra ở bên cõi âm)

Các thầy thực hiện nghi lễ đón người giáng sinh đi vòng quanh Ngũ Đài

và người thụ lễ, sau đó thầy Slay nhậy kiểm tra xem tư thế nằm của người thụ lễ

có đúng như cũ không rồi tẩy uế Một đoàn khác từ nhà lên Ngũ Đài, có bà ChấuNhàng, cùng Tua Ròng và một em nhỏ lưng cõng em bé giả, tay cầm ô che(tượng trưng cõng bé từ Ngũ Đài về nhà), Tua Ròng - vị thần xua tà quỷ làm cácđộng tác bắn cung lên Ngũ Đài (mở cửa trời) chặt võng (phá bọc thai) BàChấu Nhàng cùng đoàn đi vòng quanh Ngũ Đài rồi dùng dao chặt vào chân cộtNgũ Đài (phá Ngũ Đài, con trẻ về trần gian) Các thầy cho người thụ lễ uốngnước và ăn cơm thịt (trẻ sinh ra được ăn uống)

Sau các nghi lễ, người thụ lễ được đưa về nhà tiến hành nghi lễ đặt tên âm

và Thủm Cuổn Tên âm của người thụ lễ viết vào giấy hai bản, một bản hóa lửacho tổ sư và thánh thần, một bản lưu để đến khi già mãn sẽ hóa lửa về với tổtiên, có bản giấy này tổ tiên mới nhận biết con cháu dòng tộc Đây là vấn đề cốtlõi của nghi lễ Thủm Cuổn Người Sán Chay quan niệm người Thủm Cuổn mớiđược tổ tiên bên cõi âm công nhận là người trưởng thành và thực hiện việc thờcúng tổ tiên, dòng tộc, đến khi chết mới được về với tổ tiên

Trang 20

Lễ Thủm Cuổn của người Sán Chay có nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa vàgiá trị giáo dục, đây là vấn đề trọng yếu giáo dục cho trẻ trở thành người chủtrong tương lai.

* Lễ cầu an của người Sán Chay

Cầu an là một trong những nghi lễ quan trọng của người Sán Chay Đó làhình thức sinh hoạt tâm linh, gửi gắm những ước mong để cầu mong cho mưathuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, vạn vật sinh sôi, mọi nhà ấm no hạnh phúc…

Người Sán Chay có những phong tục, tập quán riêng mang đậm bản sắcvăn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa dân gian, thông qua việc tổ chức các lễhội Nghi lễ Cầu an là một trong những nghi lễ quan trọng của dân tộc SánChay, nằm trong lễ hội hàng năm Nghi lễ mang đậm dấu ấn văn hóa tín ngưỡng

và giàu giá trị nhân văn

Nghi lễ này thường được tổ chức vào tháng 6 Âm lịch hàng năm tại đìnhlàng, nơi thờ tự Thành hoàng làng, cũng là nơi sinh hoạt tín ngưỡng chung củangười dân trong làng Nghi lễ gồm hai phần: phần lễ và phần hội

Phần lễ là phần cúng với nghi thức lễ trang trọng, thể hiện lòng biết ơncủa dân làng đối với Thành hoàng làng, cầu cho dân làng được ấm no, bình yên,hạnh phúc, mùa màng bội thu Thầy mo chịu trách nhiệm thực hiện lễ cúng Lễvật cúng gồm: xôi, thủ lợn, gà, hương, đèn nến, hoa quả, rượu, gạo, trầu cau,bánh kẹo, khom lúa và các biểu tượng được cắt bằng giấy màu xanh và đỏ tượngtrưng cho các đuôi lúa còn xanh và khi lúa đã chín đỏ cùng một vài vật dụngkhác

Tất cả đều được dân làng chuẩn bị từ hôm trước, riêng lợn và gà được mổ

từ sớm hôm sau để được tươi ngon Mâm lễ được chuẩn bị tươm tất gồm thủ lợn

đã luộc chín, hai con gà luộc buộc cánh tiên, xôi ngũ sắc gói bằng lá chuối,rượu, trầu cau, bánh kẹo… 3 cụm lúa được cắt ở dưới ruộng từ hôm trước, các lávàng giấy được gấp thành hình chiếc thuyền, tượng trưng cho chứa đựng mùamàng bội thu

Khi giờ tốt đã đến, thầy cúng bắt đầu ngồi vào làm lễ Nội dung bài lễcúng nêu thời gian, địa điểm, tên người làm lễ cúng thay mặt dân làng có lễ vật,

Trang 21

phẩm vật… với lòng thành kính, kính mời 4 vị thần: núi, sông, Thành hoànglàng và tổ tiên, tổ tông 3 đời về uống rượu xơi trầu, ăn xôi, ăn thịt, phù hộ chodân làng, cầu cho dân làng được ấm no, bình yên, hạnh phúc, mùa màng bộithu… Sau đó, thầy mo mời 3 cụ cao niên trong thôn lên rót rượu kính 3 vái thầnnúi, thần sông, Thành hoàng làng và tổ tiên Sau khi đã làm xong phần lễ, thầycúng xin âm dương và làm thủ tục hóa vàng Tất cả vật phẩm bằng giấy như tiềnvàng, biểu tượng con vật và bông lúa được thầy cúng hóa trong một chiếc chậu

và khấn gửi thần núi, thần sông, Thành hoàng làng và tổ tiên chứng giám

Phần hội trong nghi lễ Cầu an của dân tộc Sán Chay thu hút đông đảongười dân tham gia với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn như: đu quay, kéo co,đẩy gậy… đặc biệt là phần hát đối đáp, gọi là hát Xình ca Các điệu múa trongngày này cũng được các nghệ nhân, nam, nữ thanh niên mang ra trình diễn như:múa chim gâu, múa xúc tép, múa phát đường, múa chày, múa cơm mới… Cácđộng tác múa mô phỏng động tác lao động, sản xuất trong sinh hoạt hàng ngàycủa đồng bào, mong muốn một cuộc sống bình yên, no đủ… Phần hội có thể kéodài một hoặc hai ngày là do quy mô tổ chức của địa phương

Nghi lễ Cầu an của dân tộc Sán Chay là nét sinh hoạt văn hóa cộng đồngmang đậm yếu tố phản ánh về cội nguồn, diện mạo văn hóa tinh thần của ngườiSán Chay, là môi trường lưu giữ một cách sống động các giá trị văn hóa dân tộc,nhằm góp phần bảo tồn và phát huy vốn văn hóa phi vật thể trong cộng đồng cácdân tộc Việt Nam

* Lễ xuống đồng của dân tộc Sán Chay

Văn hóa lễ hội là phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cácdân tộc ở nước ta từ xa xưa đến nay, cứ mỗi dịp tết đến xuân về là các dân tộc,các vùng miền lại nô nức với các loại hình lễ hội của địa phương mình Hòachung với không khí đó từ ngày 10 đến 16 tháng giêng (âm lịch) người dân tộc

Sán Chay thuộc xã Quang Yên, huyện Sông Lô tưng bừng tổ chức lễ hôi XuốngĐồng (hay lễ hội Lồng Tồng) Đây là dịp bà con dân tộc Sán Chay sinh hoạt vănhoá cộng đồng, đồng thời cũng gửi gắm ước mong của dân làng cầu cho mưathuận gió hòa, vạn vật sinh sôi nảy nở, ấm no và hạnh phúc

Trang 22

Lễ hội Xuống đồng đã có từ bao đời nay và đã trở thành nét sinh hoạtcộng đồng đặc sắc của người Sán Chay nơi đây Sau những ngày vui xuân đóntết, người Sán Chay lại tất bật chuẩn bị một mùa sản xuất mới, các thôn bản lạinhộn nhịp chuẩn bị tổ chức lễ hội Xuống đồng Từ vài ngày trước lễ hội, các cụcao niên trong xã đã tổ chức họp bàn, phân công những công việc chính chuẩn

bị cho ngày hội Các thanh niên trai trẻ thì chuẩn bị trang phục, giầy dép, cácthiếu nữ thì ríu rít rủ nhau ngồi khâu còn, đan yến (để đá cầu) và làm bánh, thức

ăn phục vụ lễ hội, không khí lễ hội thật vui tươi, phấn khởi

Mở đầu là phần lễ gồm có lễ dâng hương và trình lễ vật trước đền làng vàcúng cầu mùa để cầu cho năm mới mưa thuận, gió hòa, cây cối tốt tươi, no ấmđến mọi nhà Khi bài cúng chấm dứt, thầy cúng dẫn đầu đoàn người xuốngđồng, giúp một thanh niên khỏe mạnh cày những đường cày đầu tiên mở đầucho mùa sản xuất mới trước sự chứng kiến của dân làng và đông đảo người dân

ở địa bàn lân cận, với sự hò reo tưng bừng của người dân xung quanh lễ hội

Sau phần Lễ là phần Hội, người dân Sán Chay trình diễn các bài múatruyền thống của dân tộc mình để cầu mưa thuận gió hòa mùa màng tốt tươi, sau

đó là những trò chơi quen thuộc của người dân như Xuống cấy, ném còn, kéo

co, đu quay, bắn nỏ, đánh Yến

Lễ hội xuống đồng là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian mang ýnghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện khát vọng của người dân trong sự hoà hợp trờiđất, âm dương, cầu mong cho cuộc sống khoẻ mạnh, no đủ, vạn vật sinh sôi…Những trò chơi trong lễ hội thể hiện nét đẹp tâm hồn phong phú, gắn với thiênnhiên, gắn với những tập tục văn hoá lâu đời của cư dân lúa nước Việc phụcdựng lễ hội xuống đồng không chỉ góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa màqua đó còn nâng cao ý thức của người dân trong việc tự gìn giữ, bảo vệ những disản văn hóa của dân tộc mình

* Lễ cấp sắc của người Sán Chay

Lễ cấp sắc của người Sán Chay là một loại hình sinh hoạt tôn giáo tínngưỡng độc đáo, đánh dấu sự trưởng thành của một người đàn ông

Theo quan niệm của người Sán Chay, người con trai từ 12 tuổi trở lên đều

Trang 23

phải trải qua lễ cấp sắc hay còn được gọi là lễ Thuổm Cuổn, để chúng trưởngthành biết giúp cha mẹ lo chuyện làm ăn, đồng thời có tên âm khi về “thế giớibên kia.”

Trong thời gian tiến hành lễ cấp sắc, tất cả các thầy mo, thầy tào, gia chủ,mọi người đến dự lễ đều phải ăn chay, không sát sinh, không ăn mỡ động vật.Đặc biệt, người được cấp sắc phải cách ly ở riêng trên gác một mình, khi nàothầy mo thầy tào cho ăn mới được ăn, cho xuống làm lễ mới được xuống

Lễ cấp sắc được tiến hành thâu đêm suốt sáng, cả ban ngày, qua hơn nhiềunghi thức lớn nhỏ khác nhau như: lễ dựng đàn Ngũ Đài, Đàn thờ trong nhà, lễcúng Đàn Thìn Đành, lễ lên thăm Thiên Đình, lễ xin Thánh lấy pháp lực, lễGiáng sinh, dâng lễ vật cho tổ sư, lễ khao làng… Lễ vật cho lễ cấp sắc gồm200kg gạo, 3 con lợn, mỗi con nặng từ 60kg trở lên, 100 lít rượu và 4 con gàluộc chín để cúng

Lễ cấp sắc thường diễn ra trong 3 ngày:

Mở đầu lễ cấp sắc là tiếng Thanh la, tượng trưng cho mặt trời và tiếngTrống hiện thân của mặt trăng Sau khi đã làm xong các nghi thức trong nhà, cácthầy cầm hương trình lên đàn lễ xin cho người thụ lễ ra ngoài đàn Ngũ Đài đểthực hiện lễ giáng sinh

Đàn Ngũ Đài được lập ngoài trời, trên một khu đất rộng, làm bằng gỗ, caohơn hai mét Ngũ Đài tượng trưng cho lưng con rồng, người thụ lễ ngồi trên Đànnghĩa là ngồi trên lưng rồng để giáng sinh xuống trần gian

Người thụ lễ sau khi lên Ngũ Đài cần ngẩng đầu nhìn trời lần lượt xoaymình về các phía, sau đó ngồi xuống Ngũ Đài mặt quay về hướng Tây, lưng vềhướng Đông Ở bên dưới, người ta dùng dây rừng đan thành võng căng rộng ranhư chiếc vó, đặt chiếu và tấm chăn mềm vào đó để khi trẻ rơi từ trên xuống tấmchăn là vật nâng đỡ và gói đứa trẻ lại thành bọc

Sau khi thầy Tào và thầy Mo làm lễ xong, người thụ lễ đứng thẳng lên rồingồi co chụm lại cúi đầu, các ngón tay đan vào nhau, ngón tay cái giữ ngón châncái, ngón tay phải giữ ngón chân phải, ngón tay trái giữ ngón chân trái

Sau ba lần hô, người thụ lễ theo đó mà chụm chân lại và xoay người dần

Trang 24

ra mép phía đông Trong lúc đó, mọi người ở dưới cùng nhau trải võng và căng

ra Trên mặt võng trải tấm chăn Chăn xếp phải để làm sao cho lúc người đượcthụ lễ rơi xuống thì chăn phải chụm lại phủ kín toàn bộ người rơi xuống trongvõng

Người thụ lễ rơi xuống võng liền được gói kín, tấm lưới bao bọc xungquanh như bào thai Trống chiêng nổi liên hồi mừng người thụ lễ từ trên trờigiáng sinh về với trần gian Bát nước đặt trên gói võng được Thầy làm phép đổ

đi rồi mở võng, mở bọc chăn ra

Thầy sẽ xem các ngón tay, ngón chân xem có còn chụm sát vào nhau haykhông Sau đó, thầy cầm dấu đóng vào lưng hai bàn tay còn đan kết của ngườithụ lễ rồi gỡ mười ngón tay đan vào nhau ra

Người thụ lễ được ngồi dậy, các thầy cầm mỗi thầy một bát cơm lần lượtbón cho người thụ lễ ăn Điều này tượng trưng cho việc trẻ sinh ra được các thầychăm sóc, tiếp đó các thầy lần lượt dùng kiếm chặt các mắt lưới của tấm võng

Người thụ lễ sau khi giáng sinh được đưa về nhà để làm các nghi lễ khácnhư đội mũ áo cho người thụ lễ, lễ cấp quyền, lễ giao âm binh, lễ hướng dẫnngười thụ lễ hành nghề, dâng lễ vật cho tổ sư, tạ ơn tổ tiên và các nghi thức hạđàn

Kết thúc lễ cấp sắc là lễ khao làng – đây cũng là một nghi thức rất độc đáothể hiện cuộc sống cộng đồng đoàn kết của người Sán Chay Các mâm cơm thịtđược sắp ra, toàn thể nam giới từ nhỏ đến già ngồi quây quần xếp bằng trên sàn.Mọi người mời nhau ăn uống vui vẻ

Trong lễ cấp sắc, bữa tối thứ nhất hành lễ và tối thứ hai là lễ khao làng,đối tượng của hai bữa này chủ yếu dành cho nam giới Đến bữa trưa ngày thứ 3sau khi kết thúc lễ, từ sáng nữ chủ nhà sẽ đến từng hộ trong làng mời phụ nữ đến

ăn bữa trưa Khi đi ăn cơm, các chị em mặc trang phục truyền thống với đầy đủ

nữ trang… Bữa rượu kết thúc lễ được tổ chức vào tối hôm thứ ba

Điều đặc biệt, trong nghi lễ cấp quyền, khi người thụ lễ đã trưởng thành

có chức sắc các thầy bắt đầu đọc cho người thụ lễ mười điều nguyện, mười lờithề và mười điều cấm như không được sống gian lận, khinh người, không được

Trang 25

chửi mắng bố mẹ.Tất cả đều hướng cho người được cấp sắc sống đẹp, sống cóích cho xã hội.

1.3.4 Văn hóa vật chất.

* Nhà ở

Ngôi nhà ở đặc trưng của dân tộc Sán Chay khá lạ về tổ chức không giancũng như hình thức mặt bằng Được coi là nhà điển hình của dân tộc Sán Chay,ngôi nhà sàn của người Sán Chay có mái lợp gianh hoặc lá tre, tường chắn xungquanh bằng tre, luồng đan với nhau Người Sán Chay cho rằng ngôi nhà sàn nơi

họ ở mang biểu tượng "trâu thần" Theo sự phân loại của người Sán Chay (mộttrong những nhóm Sán Chay) có hai kiểu nhà sàn là “nhà trâu đực” và “nhà trâucái” Tiêu chí để phân biệt hai kiểu nhà này chủ yếu dựa vào kết cấu của vì kèo.Nhà trâu đực là nhà phụ Vì kèo nhà trâu đực thường chỉ có ba cột: một cột cáichống vào chỏm kèo và hai bên là hai cột con Các cột trong vì kèo chỉ được liênkết với nhau bằng đôi kèo và dầm sàn Tuy nhiên, để mở rộng lòng nhà, người tacòn thêm cột phụ thành vì kèo bốn hoặc năm cột Còn hàng cột dọc cũng đượcliên kết giống như ở hàng cột dọc vì kèo nhà trâu cái Nhà bốn mái có diện tíchgần bằng nhau, lợp bằng cỏ tranh

Với nhà trâu cái, vì kèo có bốn cột Các cột được liên kết với nhau bằng

bộ kèo và dầm sàn không có xà ngang và câu đầu Còn các vì kèo được liên kếtvới nhau nhờ các dầm dọc nhà Bộ khung nhà của người Sán Chay đơn giản,nhưng vững chắc Cách bố trí mặt bằng nhà của người Sán Chay khá độc đáo,cách bố trí của nhà trâu đực và trâu cái giống nhau Trước khi vào nhà phải quamột sàn thấp Vào cửa chính nhìn thấy ngay một khu vực thuộc về phần nhà saudành cho công việc nấu bếp Gần bếp, ngay bên cạnh cột cái có một thúng cám

để cắm hương thờ thần gia trạch Hình thức này chỉ thấy ở người Sán Chay

Qua khu vực dành cho bếp, về phía trước nhà là các phòng nhỏ được ngăncách nhau bằng các tấm liếp đan thưa hoặc các tấm gỗ ghép lại, cao hơn đầungười một chút Một phòng ở góc trái, sàn được nâng cao hơn mặt sàn chínhkhoảng 40cm thay giường dành cho khách hoặc cho chủ nhà khi nhà không cókhách Còn các phòng khác dành cho vợ chủ nhà, các con và mẹ chủ nhà, kho

Trang 26

chứa lương thực Trong nhà có các chỗ làm sàn cao để lương thực, thực phẩmnhư ngô, lạc Mặt trước nhà có sàn lộ thiên Sạp tre dưới nhà là nơi phơi thóc,gạo hay quần áo và cũng là nơi rửa chân tay trước khi vào nhà Trên cửa chính

có các lỗ nhỏ để có thể cắm các chắn song bằng gỗ Mục đích của việc làm này

là để ngăn ngừa thú dữ hoặc người xấu không thể vào trong ngôi nhà

Gầm sàn là nơi nuôi nhốt trâu, bò, lợn, gà… Riêng lợn được nhốt trongcác ô nhỏ tuỳ theo từng loại (lợn thịt, lợn nái, lợn con) để tiện việc cho ăn theocác khẩu phần riêng

* Trang phục

Không sặc sỡ và thêu thùa cầu kỳ nhiều hoa văn, màu sắc như một số dântộc khác, trang phục nữ giới của người Sán Chay khá đơn giản mà vẫn đẹp mắt,gọn gàng và tình tứ Bộ nữ phục truyền thống gồm có khăn đội đầu, áo dàingang đầu gối mặc bên ngoài, áo ngắn mặc bên trong và ngực đeo yếm trắng.Váy xẻ gồm nhiều miếng, dài đến đầu gối, được may bằng nhiều lớp vải chồnglên nhau ở phần trên, rồi khâu lại, có dây dải buộc vào eo lưng, bắp chân đượccuốn xà cạp trắng Váy áo đều có màu chàm, thắt lưng bằng những dải lụa xanh,

đỏ Áo dài có 4 thân, cổ bẻ có nẹp trơn Nhìn vào cách mặc áo người ta có thểphân biệt được người phụ nữ đã có chồng hay chưa Đối với phụ nữ đã có chồng

và người già thì mặc áo vạt trái vắt sang bên phải, còn phụ nữ chưa chồng thì vắtngược lại Cũng giống như nhiều dân tộc khác, trong bộ trang phục truyền thốngcủa người Sán Chay không thể thiếu những món đồ trang sức gồm có vòng cổ,vòng tay, xà tích, nhẫn bạc, túi đựng trầu Trang phục nam giới đơn giản hơn và

đã có sự thay đổi khá nhiều so với trước, hiện nay mặc gần giống với ngườiKinh, ngày thường mặc quần áo nâu hoặc chàm, áo thường có 5 thân, ngày hộithì có vấn khăn hoặc đội khăn xếp Trước đây, để làm được một bộ trang phụcnhư này phải mất khá nhiều công đoạn từ việc trồng bông, dệt vải, nhuộm tràmsau đó mới cắt và may thành bộ trang phục

Trong xu thế hội nhập giao thoa văn hoá, sự ảnh hưởng lẫn nhau của cáccộng đồng dân tộc là một điều tất yếu, tuy nhiên mặt trái của nó là sự mai mộtbản sắc dân tộc, hầu như các thế hệ trẻ đều ít hiểu biết về vốn văn hoá truyền

Trang 27

thống của dân tộc mình Đặc biệt, trang phục của nhiều dân tộc đã bị mai một vìgiới trẻ tiếp thu văn hoá của người Kinh Vì vậy, để giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hoá của dân tộc cũng như trang phục truyền thống, cộng đồng người SánChay đã thành lập câu lạc bộ hát Soọng cô, tổ chức truyền dạy cho thế hệ trẻ vềphong tục tập quán, ngôn ngữ, những làn điệu dân ca, cũng như trang phụctruyền thống của dân tộc, giúp các thế hệ con cháu được tìm hiểu, từ đó bồi đắptình yêu, niềm tự hào dân tộc và có ý thức gìn giữ, phát huy.

Trang phục là một trong những yếu tố quan trọng chứa đựng linh hồn vàbản sắc văn hoá của mỗi dân tộc Vì vậy, để có thể bảo tồn và phát huy, cần phải

có sự ý thức và nỗ lực của chính những người dân trong cộng đồng dân tộc ấy

mà trước tiên là ý thức của những thành viên trong gia đình với việc giáo dụcthế hệ con cháu biết trân trọng, gìn giữ và phát triển vốn văn hoá độc đáo củathế hệ cha ông mình để lại

Ngoài cơm ăn hàng ngày, đồng bào còn dùng các món ăn như luộc hoặcnướng ngô, khoai, sắn hoặc từ gạo tẻ, gạo nếp chế biến làm các loại bánh, xôi,bỏng, bún nhất là vào các dịp tết, cưới xin, ma chay

Tết Nguyên đán thường làm bánh chưng, bánh khảo, bánh gio, bánh rán,bỏng Tết tháng ba (3/3 âm lịch) thường làm xôi đỏ, đen bằng lá cẩm, lá cây sausau; làm bánh rợm nhân trứng kiến hấp với lá vả Tết tháng 5 (5/5) làm xôi, bún,xôi lá gừng thơm Tết tháng 7 (14/7) làm bánh chưng nhân đỗ, xôi trám đen,bánh rợm hoà với tinh bột lá cây mơ lông hoặc lá gai Tháng chín đồng bàothường làm cốm và bánh cốm

Thu hoạch vụ mùa xong đồng bào còn làm bánh dầy, bún để mừng vụ lúamùa kết thúc Đồng bào còn dùng đỗ tương để làm giá, làm đậu phụ, làm tương

Trang 28

Các loại rau quả theo mùa vụ, ngoài vườn rau tự túc, đồng bào thườngkiếm rau rừng như hoa chuối, rau ngót rừng, bồ khai, măng, nấm.

Các loại gia vị đồng bào thường dùng là ớt, hành, hẹ, các loại rau thơm,rau mùi góp phần tạo nên sự khoái khẩu trong các bữa ăn

Đồ uống hàng ngày là nước đun sôi để nguội, nước chè Mùa hè có thêmnồi cháo loãng Các dịp gặp mặt, cưới xin, làm nhà, tết, … họ thường vui vẻuống với nhau chén rượu được cất từ cơm gạo hoặc ngô lên men Phụ nữ thườngdùng rượu ngọt, rượu chưa cất

* Phương tiện vận chuyển.

Trước yêu cầu đi lại giữa thôn này đến bản kia, ra đồng, lên nương đều đi

bộ, còn việc thu hoạch sản phẩm, chuyên chở hàng hoá thì phải gánh, vác làchính (người Sán Chay ít dùng ngựa thồ và gùi hàng hoá), trong hoàn cảnh đó,

họ đã thiết kế ra một phương tiện vận chuyển truyền thống của dân tộc mình đểchuyên chở, sản phẩm nông nghiệp như Thóc lúa, ngô khoai, chuyên chở phân

ra ruộng, nương, chuyên chở gỗ, củi từ rừng về đó là chiếc xe quệt

Khi chở phân ra đồng, họ cũng đan sọt (không đan dày mà thưa như rổxảo) cho phân vào sọt, đặt lên xe kéo ra đồng, lên nương Những khi đi vào rừnglấy củi thì bỏ sọt, củi được bó thành từng bó đặt trực tiếp lên xe kéo về Như vậy

từ xưa người Sán Chay biết thiết kế ra xe quệt Đó là một phương tiện chuyênchở, vận tải hàng hoá rất công dụng và tiện lợi, giúp cho người dân đỡ vất vảtrong công việc vận chuyển hàng hoá Tuy vậy chiếc xe quệt ngày nay khôngđược sử dụng nữa và đã trở thành huyền thoại đối với lớp trẻ, mặc dù qua điềutra ở xã Đạo Trù, Yên Dương, Đại Đình huyện Tam Đảo ta thấy đồng bào sửdụng xe quệt trong một thời gian khá dài, từ xa xưa cho đến những năm 80 củathế kỷ XX

Ngoài xe quệt, người Sán Chay còn chế tạo ra một loại phương tiện vậntải nữa là chiếc xe trâu để chuyên trở hàng hoá Xe trâu được làm bằng gỗ tấu,cấu tạo gồm hai càng xe, thùng xe (có sàn và hai thành xe), có ván tiền, ván hậu.Toàn bộ thùng xe được ghép bằng ván dài khoảng 2m Hai bánh xe có thể làmbằng gỗ tấu, những vòng ngoài vành xe có bọc sắt (mà đồng bào quen gọi là xe

Trang 29

trâu bánh sắt) hoặc dùng bánh lốp cao su mua ở ngoài chợ.

Hiện nay xe trâu (hoặc xe bánh sắt) vẫn được đồng bào sử dụng rộng rãilàm phương tiện vận tải chuyên chở hàng hoá Những phương tiện vận tải truyềnthống đã góp phần quan trọng trong việc lưu thông hàng hoá, phát triển kinh tế

xã hội cho đồng bào dân tộc Sán Chay

Ngày nay nhiều phương tiện giao thông cơ giới đã xuất hiện và dần dầntừng bước thay thế phương tiện vận chuyển thô sơ như xe ô tô, công nông, xemáy, xe đạp làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hoá nhanh và nhiều, đáp ứng kịpthời sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, xây dựng đời sốngkinh tế văn hoá phát triển ở vùng người Sán Chay

II Một số loại hình văn nghệ dân gian và các giá trị của dân tộc Sán Chay

1 Một số loại hình văn nghệ dân gian của dân tộc Sán Chay.

Về kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian cũng rất phong phú và đa dạng

Chỉ riêng phần hát ví dân gian gọi là “Sình ca” hay “Sướng cọ” đã có tới hàng

chục tập sách hát được ghi chép lại bằng chữ Nôm Cao Lan Mỗi tập sách là một

chương trình riêng gọi là “Đêm hát thứ nhất cho đến đêm hát thứ mười mấy”.

Họ còn truyền lại là “Slam sớp lộc di xinh mù cồng” ba mươi sáu đêm hát không

hết Những đêm hát này là chương trình hát đối giao duyên nam nữ bắt buộc.Bên nam phải hát dẫn và đọc cho bên nữ hát đối theo Mỗi đêm hát như vậy thâuđêm đến sáng Họ thường xen vào những bài hát ướm hỏi giao duyên tùy theomức độ tình cảm của đôi trai gái Nếu gặp đôi trai tài, gái giỏi có thể hát ví vớinhau vài đêm và hát với nhau nhiều lần đến khi tình yêu chín muồi sau đó báocáo với cha mẹ xin được làm lễ ăn hỏi và tiến tới tới hôn nhân Trong thực tế sốđôi yêu nhau trong hát ví ít khi được thành vợ chồng, song vẫn đem lòng yêu

nhau suốt đời… nên dân tộc này tôn thờ một nữ thánh thơ ca gọi là “Sệch ca làu Slam” Mỗi cuộc hát ví ngày xuân đều có chương hát “Slệch làu Slam” – thỉnh

mời nữ thánh thần nghệ thuật này về chứng giám và nhập hồn vào người sống

để có trí thông minh trong đối đáp lời ca

Tộc Sán Chay có nhiều truyện cổ, thơ ca, hò, vè, tục ngữ, ngạn ngữ Đặc

Trang 30

biệt là hình thức sinh hoạt văn nghệ phong phú hấp dẫn nhất của người SánChay.

1.1 Dân ca

* Hát Sình ca

Sình ca của người Sán Chay thường được hát nhiều nhất khi mùa xuân về.Bởi đấy là lúc hoa cỏ khoe sắc, đất trời giao hòa, chim muông kết đôi xây tổấm… khiến tâm tư các nam thanh nữ tú ở tuổi trưởng thành cũng không khỏixao động Họ tìm đến với nhau thông qua làn điệu sình ca mượt mà và tha thiết.Những ca từ của sình ca được sáng tác từ các thế hệ cha ông, đồng thời cũngđược bổ sung liên tục bởi các thế hệ trẻ Cho nên, lời ca hết sức phong phú, đadạng Từ đó giúp các nam thanh nữ tú người Sán Chay có thể dùng lời ca, tiếnghát tỏ bày những cung bậc tình cảm trong tim mình, phù hợp với từng giai đoạn

từ tìm hiểu cho đến lúc yêu đương

Hầu hết những lời ca đều được người Sán Chay các thế hệ trước thuộclòng Và hiện nay, những người lớn tuổi luôn ý thức được nhiệm vụ gìn giữ, lưutruyền như một “báu vật” cho con cháu Trong đời sống sinh hoạt của đồng bào

Sán Chay hát ví - Sình ca vẫn tồn tại nguyên vẹn tính thực hành xã hội của nó,

ngoài mục đích giao lưu giải trí, nó còn thoả mãn nhu cầu nghệ thuật của đồngbào Và trong những dịp lễ tết, hội hè các chàng trai, cô gái Sán Chay lại mượn

những lời ca, câu hát để đi tìm bạn tình Hát ví sình ca thường kéo dài trong

nhiều đêm, họ chia làm tốp hát đối đáp với nhau theo nhiều chủ đề phong phú.Bên nam và bên nữ cử ra mỗi bên một người có tài ăn nói, giọng hát hay, đốiđáp giỏi làm nhóm trưởng Một điều đặc biệt, những người tham gia hát sình

ca phải là những nam thanh, nữ tú chưa vợ chưa chồng, không cùng huyết

thống, bởi họ cho rằng; hát sình ca là lối hát trao tình trai gái, nên những người

có gia đình không được tham gia, muốn tham gia có chăng chỉ hát vui trongngày hội xuân, chúc tết hay trong đám cưới mà thôi

Người Sán Chay có thể hát sình ca ở bất cứ nơi đâu như hát trong nhà, hát

ngoài đường, hát ở ven rừng, vừa đi vừa hát, hát ngoài đồng hay hát ở

chợ… Sình ca là hình thức hát giao duyên nam nữ song nó là cuộc hát tự do, tức

Trang 31

hứng khi họ gặp nhau Nội dung của câu hát thường để thăm dò, mời chào vàgiới thiệu về quê hương, làng bản Có thể nói hát giao duyên là môi trường tìmhiểu bạn tình lý tưởng của các chàng trai, cô gái đến tuổi cập kê, cũng từ nhữngđêm hát giao duyên ấy mà đã nhiều đôi nên vợ nên chồng Với người Sán Chay

ở Thái Nguyên sinh hoạt dân ca đã theo họ suốt cả cuộc đời Họ dùng Sình ca

để, thăm hỏi, sẻ chia, chúc mừng, giãi bày tâm sự Không biết tự bao đời truyềnthống ca hát ấy đã đi vào tâm tư tình cảm của người Sán Chay từ thế hệ nàysang thế hệ khác và đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể trong đời sốngthường nhật của họ

Nói đến Sình ca là nói đến một thể loại dân ca trữ tình với lời hát đối đápgiao duyên, lời hát có từng chương, trai gái hát đối nhau hết chương này nốisang chương khác, lời hát đối đáp mộc mạc của các chàng trai cô gái Sán Chay

cứ say sưa kéo dài hết đoạn này đến đoạn khác Trong các buổi hát giao duyên,trong các lần gặp gỡ đầu tiên nơi hội hè, tuy còn nhiều ngại ngùng bỡ ngỡ, songngười con trai Sán Chay luôn biết chủ động làm quen các bạn gái vốn còn rụt rèhơn Họ hát rằng:

Anh thì ở xa

Hôm nay đến đây

Gặp em, không biết em đã có người tình hay chưa

Nếu có người tình rồi thì chúc cho em đẹp duyên đôi lứa

Nếu chưa có người tình thì đừng có trách anh

Người con gái trong các buổi gặp gỡ, hội hè này dĩ nhiên là những cô gáichưa có gia đình Họ khôn khéo dùng những ngôn từ, những hình ảnh chứa đựngnhững chân lý mộc mạc như chính tâm hồn và trái tim chân thành của mình đểđưa vào câu hát đối da diết lòng kẻ muốn nghe:

Người yêu chưa có anh ơi

Quẳng dao xuống nước cho đời chứng minh

Dao nổi thì em bạc tình

Dao chìm dưới đáy tình này trắng trong

Dao ném xuống nước có bao giờ nổi đâu? Câu hát ấy dĩ nhiên thể hiện ý

Trang 32

cô gái muốn nói rằng anh hãy tin chứ đừng nghi ngờ sự trắng trong của ngườicon gái Họ bắt đầu tin tưởng lẫn nhau từ sau đêm hát giao duyên ấy Và saunhiều đêm hội hát đối giao duyên, họ bắt đầu yêu nhau Tất cả tình cảm đôi lứađều được giãi bày thông qua những lời hát của làn điệu sình ca ngọt ngào.Thường, tình yêu đôi lứa của dân tộc Sán Chay giản dị mà sâu lắng như chínhnhững lời ca chân chất mà đượm tình cảm Họ sẽ sống chung thuỷ với nhau suốtcuộc đời.

Bên cạnh những lời hát ca ngợi tình yêu trai gái, thì những lời hát ca ngợitình yêu quê hương, tình yêu con người cũng được người Sán Chay chú trọnglưu giữ Chúng như những mạch nước ngầm chảy mãi, góp phần làm dịu máttâm hồn bao nông dân lao động khổ cực một nắng hai sương qua nhiều thế hệ:

Trăng sáng núi ngàn mùi hương rừng

Toả khắp bản làng vùng sâu xa

Bản làng đổi mới vui ca hát

Điện thắp sáng trưng soi bóng đêm

Xoá tan nghèo đói thêm cái chữ

Nâng cao kiến thức lòng sáng ngời.

*Sịnh ca Thsăn lèn (mừng năm mới)

Là những bài hát để mừng năm mới, chúc tụng nhau đủ đầy, hạnh phúc,nhà nhà vui vẻ

"Năm cũ đã qua năm mới đến

Các gia đình đều dán giấy ở cửa

Các cửa đều được dán giấy hết

Gió thổi đua tờ giấy bay bay"

Hay:

"Tháng giêng mồng một năm mới đến

Bày mâm cỗ mời gia tiên

Mời gia tiên về để uống rượu

Phù hộ cho con cháu vạn niên"

Hiện có tới hàng chục tập sách hát Sình ca được ghi chép lại bằng chữ

Trang 33

Nôm Sán Chay Mỗi tập sách là một chương trình riêng gọi là “Đêm hát thứnhất cho đến đêm hát thứ mười mấy” Họ còn truyền lại là “Slam sớp lộc di xinh

mù cồng” ba mươi sáu đêm hát không hết Những đêm hát này là chương trìnhhát đối giao duyên nam nữ bắt buộc Bên nam phải hát dẫn và đọc cho bên nữhát đối theo Mỗi đêm hát như vậy thâu đêm đến sáng Họ thường xen vàonhững bài hát ướm hỏi giao duyên tùy theo mức độ tình cảm của đôi trai gái.Nếu gặp đôi trai tài, gái giỏi có thể hát ví với nhau vài đêm và hát với nhaunhiều lần đến khi tình yêu chín muồi sau đó báo cáo với cha mẹ xin được làm lễ

ăn hỏi và tiến tới tới hôn nhân Trong thực tế số đôi yêu nhau trong hát ví ít khiđược thành vợ chồng, song vẫn đem lòng yêu nhau suốt đời… nên dân tộc nàytôn thờ một nữ thánh thơ ca gọi là “Sệch ca làu Slam” Mỗi cuộc hát ví ngàyxuân đều có chương hát “Slệch làu Slam” – thỉnh mời nữ thánh thần nghệ thuậtnày về chứng giám và nhập hồn vào người sống để có trí thông minh trong đốiđáp lời ca

Ngày nay, trai gái Sán Chay đến với nhau để thổ lộ tâm tình không chỉqua những đêm hát mà họ còn hát với nhau ở trên đồi núi, ruộng đồng, góp phần

xua đi những mệt mỏi vất vả sau mỗi vụ mùa Khi hát Sình ca, đồng bào sử

dụng ngôn ngữ của dân tộc mình kết hợp cùng trang phục truyền thống Chính

sự kết hợp hài hòa này đã tạo nên nét văn hóa riêng của người Sán Chay

Không biết đã có bao nhiêu chàng trai, cô gái Sán Chay yêu nhau, đến vớinhau, thành vợ, thành chồng qua đêm hát giao duyên thơ mộng, giản dị mà sâulắng đầy ắp trữ tình ấy

Sình ca là lời trò chuyện tâm tình, là tiếng lòng, tiếng hát giao duyên củadân tộc Sán Chay, là sự lắng đọng tâm hồn qua nhiều thế hệ Những âm sắc dạtdào, độc đáo, tinh tuý của sình ca còn được thăng hoa qua sự biểu diễn của mỗinghệ sỹ, nghệ nhân

Sình ca trường tồn theo năm tháng, không chỉ bởi các tiết tấu sâu lắng,những lời ca dịu ngọt, đằm thắm, mà thấm đậm trong đó là tình yêu quê hương,đất nước và da diết tình yêu đôi lứa Nhưng khác với hát then, hát cọi của dântộc Tày, hát Páo dung của dân tộc Dao, hát sình ca không có nhạc phụ họa mà

Trang 34

chỉ hát xướng, nhưng với âm điệu thiết tha, sâu lắng, mê hoặc lòng người, sình

ca đã cuốn hút bao thế hệ người Sán Chay Hơn nữa, với lối hát đối đáp trựctiếp, bên cạnh việc trao gửi tâm tình, sình ca còn thể hiện sự thông minh, dídỏm, sự nhanh trí của người hát

*Sịnh ca Thsao bạo (đối giao duyên)

Là những bài hát phổ biến nhất và được nhiều người Sán Chay ưa thích.Hát đối đáp, giao duyên có từ xa xưa và được sáng tác theo thể thơ thất ngôn tứtuyệt, ghi chép bằng chữ Hán Có thể coi đây là một trong những thể loại vănhọc dân gian cần được bảo tồn và gìn giữ Các điệu hát đối đáp, giao duyên nàyphần lớn được các thanh niên nam nữ hát với nhau và được truyền lại qua nhiềuthế hệ Nội dung những bài ca này thường là mượn cảnh thiên nhiên để trao đổi,tâm tình với nhau, hỏi thăm gia cảnh của nhau Họ mượn lời hát để gửi gắm yêuthương, nhớ nhung hay trách móc, giận hờn để sau cuộc hát lại gần nhau hơn.Những cuộc hát giao duyên giữa thanh niên nam nữ có thể kéo dài nhiều đêmvới đề tài tình yêu đôi lứa và ước vọng xây dựng một cuộc sống chung hạnhphúc

“Mặt trời còn ở trên cao

Em đây muốn hát anh sao vội về

Em đang muốn hát chàng lại vội đi

Mặt trời lặn hẳn hãy về được không?”

Hay:

“Cưỡi ngựa đường xa bao đèo suối

Nhìn ngựa quay về ngựa cùng buồn

Chặn ngựa ven đường em phải khóc

Nhớ chàng đường xa bao giờ gặp"

*Sịnh ca Kên láu (hát đám cưới)

Là thể loại hát vui nhộn và phong phú về số lượng bài Người Sán Chayhát Sịnh ca Kên láu trong suốt những ngày diễn ra lễ cưới Thường khi đến nhàgái, đoàn đón dâu của nhà trai phải hát thì nhà gái mới cho vào nhà Từ khi đi

Trang 35

đón dâu đến lúc đưa dâu về nhà chồng, phải trải qua ít nhất hai đêm hát.

*Sịnh ca Tò tan (hát đố)

Gồm những bài hát được truyền lại và một số bài mới do người Sán Chaysáng tạo ra hàng ngày để đố nhau rồi tự giải nghĩa Đây cũng thuộc loại hát vui,đầy tính sáng tạo ngẫu hứng, đòi hỏi người hát phải thuộc những bài cổ để trên

cơ sở đó sáng tạo những bài mới

*Hát vèo ca

Được tổ chức hát vào ban ngày, ở ngoài trời sau khi hát ban đêm (hát sình

ca đã xong) Các chàng trai, cô gái đã hát qua đêm, quen nhau, gặp nhau, rủnhau từng đôi một đến một địa điểm phù hợp, tùy từng hoàn cảnh cụ thể (ngoạicảnh và nội tình) để có thể cảm hứng ứng tác những bài hát phù hợp, thể hiện rõtâm hồn và tình yêu cuộc sống, khao khát hạnh phúc lứa đôi

Dân ca Sán Chay được hát ở hầu khắp mọi nơi, như trong nhà, ngoàiđường, ở chợ, trên đồi, trong rừng hay trên nương rẫy… Nếu như có bạn hát làngười làng khác đến chơi thì bao giờ chủ cũng hát trước, khách hát sau Đó lànhững bài hát hỏi thăm gia cảnh, gia đình, quê hương…

Đối với hát làm quen, giao duyên, địa điểm hát thường là một nhà nào đótrong làng Cả chủ và khách, họ bắt đầu từ những bài hát hỏi, chào mừng lẫnnhau; khi quen hơn, họ hát đối đáp; khi đã hiểu về nhau, họ mượn những bài tảcảnh để nói với nhau về tình Những cuộc hát như vậy thường từ chiều hômtrước tới lúc gà gáy hôm sau Sáng hôm sau, họ tiếp tục ra đường hát và từ lúcnày, người ta có thể sáng tạo thêm các bài để hát chơi, trêu ghẹo nhau, gọi làSịnh ca ý Khi cuộc hát đã tàn, một bên nửa muốn về, nửa muốn ở lại; một bênlại muốn níu giữ nên cứ dùng dằng kẻ ở người về, lưu luyến, nhớ nhung…

Dân ca Sán Chay là sinh hoạt văn hóa đặc sắc được các thế hệ người SánChay kế thừa và lưu truyền từ nhiều đời nay Trong tiềm thức của mỗi ngườidân Sán Chay đều có ý thức tự hào về lịch sử và văn hoá dân tộc mình, nên họcùng nhau đoàn kết để gìn giữ và bảo vệ Dân ca Sán Chay được lưu truyền hếtsức tự nhiên và giản dị, bởi nó không bị lệ, luật ràng buộc chặt chẽ, cũng không

bị lệ thuộc vào không gian hay thời gian thể hiện Đơn giản, đó chỉ là những

Trang 36

cuộc hát trong gia đình khi năm mới đến, hát chúc mừng khách đến chơi, hátgiao duyên trong đám cưới, hát kể về công lao cha mẹ sinh thành nuôi dưỡng,hát đối đáp khi lao động, hát giao duyên, hay ngày nay là ca ngợi Đảng và Báctrong các không gian rộng mở…, thể hiện muôn mặt đời sống văn hóa, tinh thần,các phong tục tập quán của người Sán Chay.

Dân ca Sán Chay còn là sinh hoạt tinh thần giúp gắn kết cộng đồng Khihát, người ta quên hết khó khăn, vất vả của cuộc sống thường ngày, quên đi mọihiềm khích mà chỉ còn ở đó tiếng hát với tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương,động viên nhau lao động và vui sống…, vì thế mà con người trở nên gần gũi,yêu thương nhau hơn

Trước xu thế hội nhập, phát triển trong cuộc sống hiện đại, đời sống vănhoá, xã hội và tinh thần của người Sán Chay cũng có nhiều biến đổi Dân ca SánChay đang bị mai một do thế hệ trẻ không còn say mê như trước Hơn nữa, đa sốnhững bài Sịnh ca được ghi chép bằng chữ Hán, nên chỉ có những người biếtchữ Hán mới đọc được Lớp người trung niên và mới lớn không biết chữ Hán thìkhông hiểu về nội dung của những câu hát, mặc dù họ vẫn hát kiểu “thuộclòng” Đây là những trở ngại đối với việc truyền dạy và lưu giữ di sản đặc sắcnày của người Sán Chay

1.2 Văn học dân gian Sán Chay

Ngày đăng: 11/04/2018, 11:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w