1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu, mô tả, đánh giá và đề xuất bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của người churu

39 424 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 712,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay họ đã có một nền văn hóa đặc biệt là văn nghệ dân gian rất đặc sắc vànổi bật với những điệu múa, điệu hát, nhạc cụ dân tộc, truyện cổ…vô cùng đồ sộ.Tuy nhiên hiện nay những nghiê

Trang 1

Hiện nay, bên cạnh dân tộc Kinh chiếm hơn 86% dân số còn rất nhiều dântộc thiểu số ít người chủ yếu sống ở miền núi,vùng sâu vùng xa Mỗi một tỉnh miềnnúi đều có nhiều dân tộc cư trú khác nhau, có bản sắc văn hóa khác nhau tạo nênnhững nét đặc thù trong việc tiếp nhận chính sách mới phát triển kinh tế – xã hội.

Vì vậy việc nghiên cứu văn hoá các dân tộc thiểu số là một vấn đề cấp thiết để bảo

vệ giữ gìn di sản văn hoá các dân tộc và đáp ứng sự đòi hỏi cần thiết trong việcthực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc và xây dựng "nền văn hoá Việt Nam tiêntiến đậm đà bản sắc dân tộc" của Đảng và Nhà nước ta trong thời đại ngày nay

Churu là một trong những dân tộc thiểu số tại Việt Nam thuộc nhóm ngữ hệNam Đảo, với hơn 20.000 nhân khẩu Họ có tiếng nói riêng, sống chủ yếu bằng lốisống canh tác của cư dân nông nghiệp lâu đời Các thế hệ người Churu định cư chủyếu ở tỉnh Lâm Đồng đã gìn giữ và xây dựng được một nền văn hóa tín ngưỡng lâuđời Đến nay họ đã có một nền văn hóa đặc biệt là văn nghệ dân gian rất đặc sắc vànổi bật với những điệu múa, điệu hát, nhạc cụ dân tộc, truyện cổ…vô cùng đồ sộ.Tuy nhiên hiện nay những nghiên cứu về văn hóa của tộc người này chưa nhiều

Là một nhà quản lý văn hóa trong tương lai, tôi hiểu việc nghiên cứu về vănhóa các dân tộc thiểu số thuộc chuyên ngành của mình Bộ môn Văn hóa các dântộc thiểu số đã trang bị cho tôi vốn hiểu biết chung về văn hóa của các tộc ngườithiểu số ở Việt Nam Nó đã trở thành nền tảng giúp tôi nghiên cứu sâu hơn về vănnghệ dân tộc Churu Với những lí do trên cùng với sự yêu thích nền văn hóa các

dân tộc từ lâu nên tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu, mô tả, đánh giá và đề xuất bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của người Churu” làm đề tài thi hết môn

của mình

Trang 2

đã vuơn lên mạnh mẽ.

Ngay từ tháng 4 năm 2015 người dân xã Tu Tra đã hoàn thành 19/19 tiêu chí

về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Đến nay,cộng đồng dân cư của xã đãđóng góp trên 14 tỷ đồng cùng hàng nghìn ngày công lao động để làm các côngtrình dân sinh như đường giao thông, nhà văn hóa, lắp đặt hệ thống chiếu sángcông cộng Số hộ nghèo của xã đã giảm nhanh, hiện chỉ còn trên 3%, trong đó số

hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số chỉ còn 3.72% Thu nhập bình quân đầu ngườicũng tăng lên theo từng năm như năm 2014 khoảng 25 triệu đồng/người/năm đếnnay đã đạt được mức thu nhập khoảng 40 triệu đồng/người/năm Giá trị sản xuấtcũng tăng cao, thu nhập trên cùng một diện tích đạt trung bình 170 triệu đồng/ha

Người Churu ở xã Tu Tra hiện nay vẫn mặc trang phục truyền thống và tổchức các lễ hội đặc sắc cổ truyền Nhiều hoạt động sinh hoạt văn hóa, các điệumúa, điệu hát vẫn còn được người dân lưu giữ và phổ biến trong đời sống sinh hoạthàng ngày

1.1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

Trang 3

Phú Hội là một xã thuộc huyện Đức Trong, tỉnh Lâm Đồng, có diện tích 108ki-lô-mét vuông Xã cách Đà Lạt khoảng 35 km về hướng Đông Bắc và cách thị xãBảo Lộc 80km về hướng Tây – Tây Nam Xã Phú Hội có độ cao từ 600 – 1000 m

so với mực nước biển Địa hình chủ yếu là bình sơn nguyên, một số nơi có núi cao

và dốc Hiện nay có hơn 1.300 người đồng bào dân tộc Churu sinh sống tại xã PhúHội

Xã Phú Hội trong tiến trình xây dựng nông thôn mới đã đầu tư xây dựngđược khu chợ LIFSAP với 2 tỷ đồng để buôn bán các thực phẩm tươi sống và đưavào sử dụng từ năm 2014 Khi mới khánh thành, chợ có 32 quầy nhưng có đến 40

hộ đăng kí Tại xã có khu công nghiệp Phú Hội có tổng diện tích quy hoạch 147 ha

và tổng vốn đầu tư vào khoảng 425 tỷ đồng đã đáp ứng được nhu cầu việc làm chohàng nghìn người dân Người dân ở xã Phú Hội sinh sống bằng nghề chăn nuôi,trồng trọt và buôn bán là chu yếu

1.1.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Đà Loan, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

Xã Đà Loan có tổng số diện tích 54.9 km², dân số trên 1000 người,mật độdân số là182 người/km²

Cuối tháng 10/2014, sau 37 năm hình thành, Đà Loan đã được công nhận xãđạt chuẩn văn hóa nông thôn mới Với dân số trên 10.000 nhân khẩu trong gần2.500 hộ, phần lớn là dân Đà Lạt đi xây dựng vùng kinh tế mới từ những ngày đầucùng với 3 thôn đồng bào dân tộc tại chỗ và một số hộ dân từ các nơi khác hội tụ

về vùng đất lành này Hiện nay, ngoài 80% dân làm nông nghiệp mà chủ yếu là câycông nghiệp dài ngày, toàn xã có 20% hộ dân sống bằng nghề tiểu thủ công nghiệp

và dịch vụ Có 9 doanh nghiệp trên địa bàn bao gồm cả doanh nghiệp kinh doanhxăng dầu, vàng bạc, chế biến gỗ, xây dựng, vận tải, kinh doanh hàng hóa côngnghiệp và hàng nông sản Thu nhập bình quân của người dân trong năm 2014 là

35 triệu đồng/người Nhiều hộ có thu nhập từ 300 triệu đến 500 triệu đồng/năm,đời sống cư dân ổn định, không có hộ đói, tỉ lệ hộ nghèo chỉ ở mức 2,03% Xã có 4trường học ở 4 cấp học từ mẫu giáo đến cấp III, đáp ứng nhu cầu học tập của con

em địa phương; một trung tâm văn hóa thể thao, một nhà văn hóa xã, một trungtâm học tập cộng đồng đã thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động học tập, vui chơi,rèn luyện và thi đấu khá sôi nổi…

Trang 4

1.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa của người Churu ở tỉnh Lâm Đồng

1.2.1 Vài nét về người Churu tại Việt Nam

 Nguồn gốc lịch sử

Từ thời rất xa xưa, người Churu và người Chăm rất có thể chung một nguồngốc Bởi, thứ nhất, nếu xét về mặt ngôn ngữ: tiếng Churu và tiếng Chăm đềuthuộc ngữ hệ Mã Lai - Đa Đảo, giữa ngữ âm và những từ vựng cơ bản của haingôn ngữ đó cũng có một mối quan hệ hết sức gần gũi Thứ hai, về mặt nhânchủng, người Churu và người Chăm cùng có những đặc điểm nhân chủng giốngnhau Thứ ba, về mặt tín ngưỡng cổ truyền và văn học dân gian, chúng ta càngthấy được nhiều mối quan hệ thân thuộc

Theo số đông các cụ già làng (tha plơi) người Churu ở Lâm Đồng, thì trướcđây người Churu vốn là một nhóm con cháu thân thuộc của người Chăm đã từngsinh sống ở vùng duyên hải Trung Bộ nước ta hiện nay Nhưng khi các vua chúaChăm gây chiến tranh với người Khơme và người Việt, để phục vụ cho các cuộcchiến tranh với người Khơme và người Việt để phục vụ cho các cuộc chiến tranhliên miên đó, tầng lớp quý tộc Chăm đã tiến hành bóc lột những người nông dânlao động đồng tộc của mình hết sức thậm tệ Chúng buộc họ phải vào rừng sâutìm ngà voi (bla), sừng tê giác (b'san) và các lâm sản quý nộp cho chúng - hoặcbắt họ xuống sông đãi cát tìm vàng Lại thêm nạn bắt phu, bắt lính liên miên làmcho đời sống của người nông dân lao động Chăm hết sức cực khổ Để có thể tránhđược sự áp bức bóc lột nặng nề đó, một số người buộc lòng phải rời bỏ quêhương để tìm nơi đất mới Và chính những người di dân đầu tiên đó đã tự đặt chomình tên gọi Churu như ngày nay Họ là những người đã mang theo nghề làmruộng và nghề làm đồ gốm của người Chăm Tại những địa bàn cư trú chính củangười Churu hiện nay thuộc huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng vẫn còn lưu tồnnhiều địa danh chứng tỏ điều đó Ví dụ như những làng cổ truyền của ngườiChuru: Krang gõ , Krang chớ , B'Kăn là những làng Churu biết làm ruộng vàlàm đồ gốm Như vậy, người Churu có nguồn gốc từ người Chăm

 Dân số và phân bố dân cư

Theo số liệu năm1979, toàn Quốc có 8.000 người Churru

Trang 5

Đến cuộc Tổng điều tra dân số ngày 01 tháng 4 năm 1999 của Việt Nam,người dân tộc Chu Ru có 14.978 nhân khẩu với tỷ lệ nam giới là 48,5% và nữ giới

là 51,5% Người dân tộc Chu Ru có mặt tại một số địa phương thuộc tỉnh LâmĐồng và một số ít ở tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Gia Lai

Trong cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009,người Chu Ru ở ViệtNam đã tăng lên 19.314 người, cư trú tại 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố NgườiChu Ru cư trú tập trung mở rộng tại các tỉnh Lâm Đồng 18.631 người, chiếm tỷ lệ96,5% tổng số người Chu Ru tại Việt Nam, tỉnh Ninh Thuận 521 người, Thành phố

Người Chu Ru định canh định cư làm ruộng lúa từ rất sớm Trồng trọt chiếm

vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế, lúa là cây lương thực chủ yếu nhất Có hailoại ruộng để đồng bào sớm biết làm thủy lợi nhỏ như mương, phai, đê, đập để đảonước từ sông suối vào đồng ruộng Để phụ trợ cho vụ lúa nước, đồng bào còn làmthêm nương rẫy, vườn tược với các cây trồng ngô, khoai, lạc, bí, rau màu Đồngbào Chu Ru chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, ngựa,…Trâu bò là gia súc chủ yếu làm sứckéo trong nông nghiệp và làm vật hiến sinh trong các dịp lễ tế tín ngưỡng truyềnthống, làm vật mua bán trao đổi ngang giá trị thay cho tiền tệ khi cần thiết

Săn bắn hái lượm là hoạt động thường xuyên đóng vai trò phụ trợ sau canhtác nông nghiệp Săn bắn thường kết hợp chặt chẽ với khâu sản xuất để chốngchim thú phá hoại mùa màng đồng thời cũng bổ sung thêm nguồn thực phẩm Hầuhết đàn ông Chu Ru đến tuổi trưởng thành đều biết săn bắn, vui thú việc săn bắn,gia đình nào cũng có lao, có nỏ, có bẫy Đánh cá là nghề phụ khi đồng bào cư trúven sông suối Hái lượm bổ sung thêm rawu, măng, nấm tươi và một số hoa quảrừng có giá trị thực phẩm, dược liệu

Sản phẩm thủ công chủ yếu của người Chu Ru là đồ gia dụng và công cụ sảnxuất mặc dù còn khá đơn giản và thô sơ nhưng làm gốm vẫn là một nghề thủ côngnổi tiếng của người Chu Ru, sự khéo tay hơn hết vẫn là ở người phụ nữ Nghề rèn

Trang 6

của người Chu Ru đã cung cấp được những công cụ lao động giản đơn như liềmcuốn, nạo cỏ, dao, rựa Nghề mây tre đan làm được đồ gia dụng,tự tức được dụng

cụ sinh hoạt Nghệ dệt không mấy phát triển, sản phẩm văn hóa mặc chủ yếu nhờtrao đồi vật phẩm với các dân tộc láng giềng trong vùng Nền kinh tế cổ truyền củangười Chu Ru là lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên mang nặng tính chất tự cung

tự cấp,bó hẹp trong khuôn khổ làng xã, dòng họ và gia đình

 Đặc điểm xã hội

Xã hội cổ truyền Chu ru dựa trên cơ sở làng (plei) Phạm vi của làng là mộtkhoảng đất rộng ba, bốn kilômét vuông, gồm: thổ cư, đất trồng trọt, các côngtrình thủy lợi cùng với rừng núi, sông suối , có ranh giới tự nhiên như con sông,dòng suối hoặc quả đồi, do các chủ làng (pô plei nay pô plơi) quy ước với nhau

và được lưu truyền qua nhiều thế hệ Một làng người Churu bao gồm nhiềudòng họ hoặc gồm cả những người khác tộc cùng cư trú

Về mặt xã hội, làng Churu thường là một đơn vị cư trú, gồm nhiều dòng họ.Chủ làng do tất cả thành viên lựa chọn trong số những đàn ông cao tuổi nhất củalàng ( tha plơi) Chủ làng là người có uy tín tuyệt đối và làm chủ việc cúng tế củalàng Chủ làng thường là trưởng tộc dòng họ lớn nhất trong làng Người có uy tíntinh thần sau chủ làng là thầy cúng (yuh, pơ đô hoặc gru) Các làng Churu đều có1-3 người trông nom việc tưới tiêu cho các khu ruộng( trưởng thủy), 1-3 bà ( mọboai, mọ luạy) lo việc hỗ trợ cho phụ nữ khi sinh đẻ Cho đến trước 1975, cáclàng Churu đã có sự phân hóa giàu (mdagơnơp)/nghèo (rơiah) khá sâu sâc Nhữngngười giàu có nhiều chè (sơtôk), ngà voi (bla), trống (sơgơn), chiêng (sar), sừng

tê (bơ san)…[5;312]

1.2.2 Khái quát đặc điểm văn hóa của dân tộc Churu ở Lâm Đồng

 Văn hóa vật chất

Ăn: Lương thực chính là gạo tẻ được nấu trong những nồi đất nung tự tạo.Lương thực phụ có ngô, khoai, sắn Thức ăn có măng rừng, rau đậu, cá suối, chimthú săn bắn được Thức uống có rượu cần và rượu cất Nam nữ đều thích hút thuốc

lá sợi bằng tẩu

Trang 7

Mặc: Nghề dệt không phát triển nên những sản phẩm của y phục như: váy,

áo, khố, mền, địu có được đều do trao đổi với các tộc láng giềng như: Chăm, Cơ

Ho, Raglai, Mạ Cả đàn ông lẫn phụ nữ đều mặc khăn choàng Trang phục truyềnthống dành cho nam giới trong các sự kiện quan trọng là chiếc áo choàng vai vàquần đeo sau vai trắng

Mặc hàng ngày của họ là quần trắng và áo sơ mi dài trắng Phụ nữ mặc áocánh và váy hải quân, được bao phủ bởi một chiếc áo choàng trắng trong các lễ hội

và một chiếc áo choàng đen trong suốt phần còn lại của năm

Ở: Hiện tại, họ sống ở hai xã Ðơn và Loan thuộc huyện Ðơn Dương, một sốkhác ở huyện Ðức Trọng và Di Linh tỉnh Lâm Ðồng Người Chu Ru ở Lâm Đồng

ở nhà sàn làm bằng tre, gỗ, bương, mai, lợp bằng cỏ tranh Họ cư trú theo đơn vịlàng (plei) và những gia đình thân thuộc thường xây cất nhà cửa gần gũi nhau

Phương tiện vận chuyển: Chiếc gùi nan cõng trên lưng vẫn là phương tiệnvận chuyển được sử dụng thường xuyên cho mọi người

Như vậy, có thể thấy:

Lương thực chính của người Churu là gạo tẻ, nấu bằng nồi đất nung NgườiChuru thích uống rượu cần, hút thuốc lá bằng tẩu

Phụ nữ mặc váy, đàn ông đóng khố Phương tiện vận chuyển chủ yếu bằnggùi trên lưng Người Churu theo chế độ mẫu hệ Người kế thừa gia đình thuộcdòng họ mẹ

Đứng đầu trong làng là Pô Plây ( trưởng làng) do dân bầu, là người điều

khiển mọi việc, nhưng ông ta hành động theo ý của người vợ [4;90-91].

 Văn hóa tinh thần

Phong tục: Đồng bào Chu ru còn bảo lưu nhiều phong tục tập quán như việcthờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng đa thần Lễ cúng tổ tiên (pơ- khi- mô- cay) ở đâykhác hẳn với lễ cúng tổ tiên của người Kinh Việc hành lễ không có ngày thángnào nhất định Có thể hai, ba năm hay hai, ba mươi năm mới cúng một lần, tùytheo hoàn cảnh kinh tế của mỗi gia đình, mỗi dòng họ Trong nhà người Chu rucũng không có bàn thờ hay bài vị Họ chỉ lập bàn thờ và tiến hành nghi lễ vào mộtdịp nào đó ngoài nghĩa địa (kốt - a- tâu)

Trang 8

Trong các lễ của người Churu bao giờ cũng có một quả trứng sống và mộtquả trứng chín, đồng bào quan niệm trứng sống là để cúng thần cọp vì xưa kiathầy đi cúng đêm thường được thần cọp bảo vệ, trứng chín là dâng cho thần đình[1;236].

Tín ngưỡng: Việc tiến hành các nghi lễ nông nghiệp cổ truyền, như cúng thầnđập nước (Bơ mung), thần mương nước (Rơ bông), thần lúa khi gieo hạt (Mơnhum tô ốt đoồng hay khâu doông), ăn mừng lúa mới (ngay- yang- boong- ko-pa- tay), cúng sau mùa gặt (p'leiđâyru) Đáng chú ý nhất, là lễ cúng thần Bơmung Trong mỗi vùng cư trú của người Chu ru, có một nơi dành riêng để thờcúng vị thần này Hàng năm, khoảng tháng hai âm lịch, tất cả mọi người tronglàng đều đến đấy làm lễ cúng Dân làng thường cúng bằng dê, còn chủ làngthường phải cúng bằng ngựa Tục truyền là vị thần này ưa cưỡi ngựa Con ngựacúng thần cũng phải thắng yên cương và phủ lễ phục

Cũng vào tháng hai hàng năm, người Chu ru còn cúng Yang Wer Đó là mộtcây cổ thụ gần làng và được coi là một nơi ngự trị của một vị thần

có nhiều quyền phép Họ thường làm những hình nộm như đầu voi, đầu cọp, đầu

dê, đầu trâu bằng gỗ hoặc bằng củ chuối, với đồ ăn, thức uống mang tới gốccây Yang Wer để cúng Cúng xong, họ đặt một phần đồ cúng lên võng, rồi theođường chính khiêng đến một nơi cách gốc cây Yang Wer chừng l00m, rồi từ từ

hạ võng xuống, bày đồ ăn ra vệ đường với ngụ ý tiễn Yang Wer đi chơi Sau đó,tất cả mọi người tham gia hành lễ trở lại gốc cây cùng ăn uống vui vẻ Trước khi

ra về, mỗi gia đình hái một nhánh cây cắm trước cửa nhà Tiếp đó là cả làngkiêng cữ trong 15 ngày, không được ai ra vào làng.Ngoài tín ngưỡng truyềnthống kể trên, hiện nay, Thiên chúa giáo và đạo Tin lành đang phát triển sâurộng trong vùng người Chu ru ở địa phương

Chế độ hôn nhân của người Churu: Là chế độ hôn nhân một vợ một chồng

và cư trú bên vợ Người phụ nữ đóng vai trò chủ động trong hôn nhân mà họthường gọi là tục"bắt chồng" Hôn nhân con cô con cậu vân còn phổ biến ở ngườiChuru Tiếng nói của ông cậu (anh em mẹ) có ý nghĩa quyết định trong hôn nhâncủa cả bên nhà trai và nhà gái Người Churu vẫn giữ tục tảo hôn: Trai gái 15,16tuổi đã có thể tiến tới hôn nhân [2;423]

Đến tuổi trưởng thành (15-16 tuổi) khi chọn được người vừa ý, người con gái

về thưa với bố mẹ, nhờ người mai mối cùng với ông cậu hoặc người chị cả đem lễ

Trang 9

vật đến nhà trai làm lễ xem mắt Nếu nhà trai bằng lòng thì hai bên sẽ quy địnhngày ăn hỏi Đến ngày đã định, gia đình bên gái mang lễ vật đến nhà trai làm lễ

ăn hỏi Sau một tiệc rượu giữa những người đại diện cho hai bên gia đình, haidòng họ, người mai mối nhà gái đeo nhẫn và vòng cườm cho chàng rể tương lai

để thực hiện việc đính hôn Phái đoàn của hai họ nhà trai, nhà gái tiếp tục bàn bạc

về những nghi thức và ngày làm lễ thành hôn của đôi trai gái Tiệc cưới thườngđược tổ chức thật linh đình, kéo dài từ 3 đến 4 ngày, tuỳ theo mức độ giầu có củagia đình người con gái Sau lễ cưới, người con gái phải ở lại làm dâu độ mười lămngày trong khi chờ đợi lễ rước rể về cư trú vĩnh viễn bên gia đình mình Gần đâynhững gia đình hiếm muộn (chỉ có một con trai) hoặc những gia đình giầu cócũng đã có một ít trường hợp người con trai đi hỏi vợ và cư trú bên chồng Nhưngcon cháu và mồ mả của họ sau này vẫn thuộc về dòng họ mẹ

Trong xã hội Churu hiện tượng quan hệ nam nữ tiền hôn nhân không đượcxem là hệ trọng và trinh tiết của người con gái không hề có ảnh hưởng gì tới cuộchôn nhân Nhưng, ngoại tình được xem như là một trọng tội và bị luật tục trừngphạt nặng nề Những trường hợp ly hôn ít khi xảy ra, nhưng nếu có thì phải được

sự ưng thuận của chủ làng

Tuy rằng chế độ một vợ một chồng đã được xác lập, song hiện tượng đa thêvẫn có thể xảy ra, thông thường là ở những gia đình giầu có Trước khi muốncưới thêm vợ thứ hai, người chồng phải được sự chấp thuận của người vợ cả.Trường hợp chồng chết, người góa phụ có thể lấy em trai của chồng mình nếuđược hai bên cùng thỏa thuận Nếu không, thì người phụ nữ đó phải để tangchồng một năm sau mới được tái giá Nhiều trường hợp để bảo vệ của cải của đạigia đình, dòng họ, con cô, con cậu cả hai chiều có thể kết hôn với nhau nhữngcuộc hôn nhân như vậy được phong tục tập quán cổ truyền của người Churu chấpnhận

Đám tang: Trước kia người Chu Ru có hủ tục khâm liệm người chết vào quantài khiêng ra nhà mồ trong rừng để thi thể tự thối rữa Ngày nay,tang lễ chuyểnsang hình thức thổ táng, địa táng tại nghĩa địa chung của làng như các dân tộc kháctrong vùng

Trang 10

2 CÁC LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN CHURU VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ

2.1 Các loại hình văn nghệ dân gian của dân tộc Churu

2.1.1 Múa dân gian (Tamga)

Người Churu có nhiều điệu múa truyền thống thường được múa trong các lễhội, các nghi lễ…Người Churu gọi những điệu múa là Tamga [A1; Tr 36] Vũ điệucủa người Chu Ru đều mang một sắc thái riêng Đó là sự giao thoa giữa thế giớihiện tại và thế giới siêu nhiên, giữa con người và thần linh Là phương tiện giaotiếp, là niềm khát vọng sống mãnh liệt, lạc quan yêu đời của tộc người Chu Ru…

nó vừa mang đậm bản sắc dân tộc, vừa thể hiện tính nghệ thuật trong từng bước đi,điệu nhảy Chính vì lẽ đó, những vũ điệu Tamya luôn tạo cho người xem một ấntượng độc đáo

 Vũ điệu T’rumpô (Vũ điệu lễ thức trong các lễ hội)

Trong các vũ điệu của người Chu Ru, T’rumpô được coi là vũ điệu thiêng(múa tín ngưỡng), trong các lễ cúng thần: thần Mương nước (Rơ Bông), thần Lúa(Mơ Nhum), thần Đập nước (Bơ Mung), thần cây cổ thụ (YangWer) hoặc lễ cúng

tổ tiên (Pơ khi mô cay) và lễ xây mộ (Pơthiatơu)… thường sau những nghi thứcmang nội dung tín ngưỡng là vũ điệu T’rumpô, nó như một nghi thức mời gọi thầnlinh về chứng giám và nhận lễ vật mà buôn làng hay dòng tộc đã dâng cúng Ngườimúa phải dưới sự hướng dẫn của các thầy cúng Các bài chiêng gọi thần linh lànhịp đệm cho điệu múa được sắp xếp theo một trình tự nhất định với tiết tấu rấtchậm, dứt khoát từng tiếng một… Hòa cùng âm thanh và không gian linh thiêng

đó, các thiếu nữ sẽ hóa thân vào vũ điệu mang đầy màu sắc kỳ ảo, với những độngtác uyển chuyển và rất “thần”, biểu hiện thế giới tâm linh của họ (cầu mong sự chechở, phù hộ của các đấng thần linh)

 Vũ điệu Arya (Vũ điệu mời khách)

Arya theo tiếng Chu Ru nghĩa là nhịp chiêng, đồng thời là tên gọi của một

vũ điệu dân gian của người Chu Ru Các cô gái giải thích Arya có nghĩa là múacho vui, các chàng trai lại gọi đó là điệu múa mời uống rượu Còn già làng bảorằng Arya có nghĩa là múa cung đình

Trang 11

Vũ điệu Arya [A2; Tr36], xuất hiện từ các lễ hội cúng bái trong đền, về sau

nó trở thành điệu múa dân gian mở đầu cho hội thi múa, lễ cắm nêu, lễ xây mộ, lễcầu mưa…

Vũ điệu dành cho các cuộc vui của hầu hết các lễ hội và những sự kiện trọngđại của đời người từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh cho đến lễ bỏ mả Arya là điệu múa

cơ bản, thể hiện tình đoàn kết dân tộc và thường được sử dụng trong các lễ hội, gặpmặt cộng đồng bởi nó đơn giản, dễ thực hiện Tamya Arya không mạnh mẽ, nóngbỏng mà nhẹ nhàng, uyển chuyển, quyến rũ đến nao lòng

Vũ điệu với ý nghĩa mời khách uống rượu cần và cùng nhảy múa Khi phần

lễ kết thúc, âm thanh của chiêng ba (sar), của trống Păh gơnăng, trống Sơng gơr vàkèn bầu (Rơ kel) vang lên thì cũng là lúc mọi người bắt đầu hòa nhịp cùng điệuTamya Arya Âm thanh của đồng la và trống làm nền cho vũ điệu này tiết tấuchậm, dứt ra từng tiếng một… dưới ánh trăng các cô gái hóa thân vào vũ điệu và

âm thanh tạo cho người xem một niềm tôn kính thiêng liêng với quá khứ, hiện tại,tương lai… Vũ điệu có động tác nhẹ nhàng, uyển chuyển, duyên dáng với nhữngbước di chuyển ngắn, nhịp nhàng Đây là vũ điệu mang tính cộng đồng, động tác

có vẻ đơn giản nên ai cũng đều có thể hòa nhịp Tuy nhiên, đôi tay của người múaphải đưa lên đúng nhịp chiêng, đôi chân bước theo đúng nhịp trống Vũ điệu mởđầu và kết thúc không theo một khuôn định, có thể kéo dài và kết thúc tùy thuộcvào không khí của lễ hội

Tuy là điệu múa truyền thống nhưng suốt một thời gian dài, Arya đã bị lãngquên Vài năm trở lại đây, điệu dân vũ này được hồi sinh và trở thành điệu múakhông thể thiếu trong các dịp lễ hội, tết đến của người Chu Ru trong vùng

 Vũ điệu Đăm Tơ – ra (Vũ điệu giao duyên)

Vũ điệu Đămtơra cũng khá phổ biến dành riêng cho nam nữ thanh niên trongbuôn làng Đăm có nghĩa là nam thanh niên, Tơra là thanh nữ Người Chu Ru cứlớn lên là biết múa Đăm Tơ-ra Trong những cuộc tụ họp đông vui hay ngay trongnhững nếp nhà sàn, bên bếp lửa bập bùng, cũng có thể múa điệu Đămtơra Vũ điệu

có tiết tấu nhạc đệm thôi thúc, rộn ràng, vui tươi và nhịp nhàng Động tác múagiống như vũ điệu Arya, nhưng nam đi nhanh hơn, nữ đi chậm hơn Khi bắt đầuvào điệu múa, chủ lễ dành hai ché rượu quý, một ché choàng sợi dây cườm, ché kia

để chiếc nhẫn bạc Sau điệu múa dân làng bình chọn một chàng trai múa giỏi nhất

Trang 12

và một cô gái múa đẹp nhất, cặp đôi trong điệu múa Đăm Tơ-ra dị bản Họ cóquyền được “chế” thêm những động tác trong một nhịp của tiết tấu và vũ điệu cổtruyền Ché rượu quý được thưởng cho thiếu nữ múa đẹp cùng với sợi dây cườm.Sau điệu múa Đăm Tơ-ra, các chàng trai múa giỏi phải thi đấu vật, đấu sĩ nào giỏinhất, thông minh nhất sẽ được tặng ché rượu và chiếc nhẫn bạc từ tay chủ lê Đặcbiệt, cuộc vui càng về khuya, trong hương rượu nồng nàn, động tác múa của cácsơn nữ càng quyến rũ và gợi cảm Và đây cũng là dịp để các chàng trai, cô gái Chu

Ru tìm người bạn đời của mình

 Vũ điệu Pahgơnăng (Vũ điệu chúc tụng và tiễn đưa khách)

Păhgơnăng là vũ điệu mang ý nghĩa chúc tụng và tiễn đưa những ngườikhách đã đến dự lễ cầu mưa, lễ cắm cây nêu, lễ xây mộ, hội đấu vật… Nếu vũđiệu T’rumpô và Arya người múa luôn dịch chuyển thành hình tròn ngược chiềuvới kim đồng hồ, thì ở vũ điệu Păhgơnăng lại dàn thành hàng ngang, nhún chân,đưa hai tay về phía trước,tiến và lùi rất đều đặn, trịnh trọng Nhạc điệu đệm của vũđiệu này lúc đầu sôi nổi, vui nhộn Nhưng càng về sau, nhạc điệu có phần chậmhơn Lúc này, tiếng chiêng, trống trở về nốt trầm làm đệm cho bè của tiếng khènbầu nổi lên dìu dặt, quyến rũ, đầy ma lực, ý nhạc thể hiện sự bịn rịn để tiễn đưakhách ra về

2.1.2 Những điệu hát phổ biến

 Điệu hát Hari

Ha Ri là điệu hát phổ biến nhất mà người Chu Ru nào cũng biết Điệu hátnày dùng để hát đối giữa hai người Nếu trong đám cưới, nhà chồng muốn gửi gắmchàng trai về bên vợ, mẹ chồng sẽ hát điệu Ha Ri - Lời ca kể về những ngày xưa,khi chàng trai còn là một cậu bé, kể về những ưu điểm, khuyết điểm của con mình

và nhờ nhà gái giúp đỡ con rể những lúc đau ốm, khó khăn… Mẹ vợ hoặc bà ngoại

sẽ đối đáp lại những điều mà nhà trai gửi gắm cũng bằng điệu Ha Ri Người Chu

Ru cũng dùng điệu Ha Ri để khuyên bảo nhau trong trường hợp: Người chồng(hoặc vợ) có ý nghi vợ (hoặc chồng) đi ngoại tình Trong tình huống này, ngườiđàn ông (hoặc người đàn bà) sẽ dùng điệu Ha Ri để hát như một hình thức để báocho vợ hoặc chồng hãy nhớ về gia đình, để nếu người vợ hoặc chồng không từ bỏngoại tình thì sẽ báo cho dòng họ, già làng Dòng họ có trách nhiệm theo dõi đểphân tích và quyết định xem hai người sẽ ở với nhau hay bỏ nhau Lời hát này như

Trang 13

sau: “Ngủ đêm nay, nằm mơ thấy con trăn nhỏ bằng bắp tay nằm ngang trên đầugiường - Ngủ đêm nay, nằm mơ thấy con trăn bằng cối giã gạo trên đầu giường”.

Ha Ri là điệu hát không nhất thiết phải hát đối, vì thế già làng Chu Ru thường dùngđiệu Ha Ri để kể lại chuyện xưa

 Điệu hát Ơ Đó

Ơ Đó là một điệu hát có tiết tấu nhanh, vui vẻ; không kéo dài giọng như Ha

Ri Lời ca của điệu Ơ Đó thường hát về tình yêu giữa con người, tình yêu sôngsuối, núi rừng, cây cối và chim thú… Với tiết tấu nhanh, người Chu Ru thường vừa

đi vừa hát theo điệu Ơ Đó

 Điệu hát Arya

Arya là một giai điệu dân ca của người Churu Những bài hát Arya thườngđược những người già Churu hát trong những bữa tiệc : đám cưới, đám tang, cúngvái (thường phải có vài tô rượu, mới có cảm hứng để hát) để dạy con cháu nhữngđiều tốt lành, hay để kể một câu truyện [A5 ; Tr38]

Theo các "già làng" : Lối hát Arya của người Churu là một lối hát của ngườiChăm Vì thế, cách hát và những câu hát trong bài, ảnh hưởng người Chăm rấtnhiều

Cách hát

Dựa theo âm nhạc Tây phương, ta có thể nói rằng : Lối hát Arya của ngườiChuru là một lối hát ngẫu hứng, tùy theo "bụng" người hát Nhưng dựa trên 4 nốtchính :

Nốt thứ nhất là nốt cơ bản

Nốt thứ hai cách nốt cơ bản quãng hai trưởng đi lên

Nốt thứ ba cách nốt cơ bản quãng bốn thứ đi lên

Nốt thứ tư cách nốt cơ bản quãng bốn thứ đi xuống

Thường nốt cơ bản được sử dụng nhiều nhất

Như vậy : Nếu lấy nốt MI làm nốt cơ bản thì nốt thứ hai là FA thăng, nốt thứ

ba là LA, nốt thứ tư nốt SI Thường thì nốt MI được sử dụng nhiều nhất

Khi hát : mỗi chữ tương đương với một nốt đen ; thường ngắt ở cuối chữ,cuối câu; thỉnh thoảng thêm chữ "ơ" cuối câu, để ngân nga, nhưng cuối chữ "ơ"cũng ngắt

Trang 14

Những bài hát Arya thường được kết thúc một cách nhẹ nhàng, cứ như chưa muốnkết thúc, cứ lơ lửng, hay hay !

Câu hát

Những câu hát trong bài hát Aria là những câu tục ngữ (pơnuăi pơđik), cócùng một chủ đề : Anh em sống yêu thương, hiệp nhất với nhau Con cái hiếu thảokính trọng cha mẹ Những câu hát trong bài hát Arya, cũng có thể là một câutruyện dân gian

Những câu hát này "quyện" lại với nhau một cách nhịp nhàng, bởi nhữngcâu hát được lập lại, nhưng thay đổi chút ít : cũ mà mới, mới mà cũ như cách triểnkhai dòng nhạc của âm nhạc Tây phương Hoặc về hình thức (thay đổi từ) hoặc vềnội dung (thay đổi ý tưởng)

Chẳng hạn :

Bài hát "Arya" dạy dỗ con cháu :

Bài hát có chủ đề : Anh em sống chung với nhau Người già Churu hát bàihát "Arya" này, để dạy con cháu : sống yêu thương hiệp nhất với nhau

Câu 1 Adêi sơng sơ-ai bơyiai sa lơtă

Em và anh suy nghĩ một hướng

Câu 2 Akàn juôi mă, ia juôi sơkơl

Cá đừng bắt, nước khỏi đục

(đừng ham lợi lộc mất tình anh em)

Câu 3 Adêi sơng sơ-ai bơyiai sa h’tiàn

Em và anh suy nghĩ một bụng

Câu 4 Nau tơ jơlàn, juôi juă rơ-ia

Đi trên đường, chớ đạp cành khô

(trong cuộc sống, chớ làm thiệt hại đến anh em)

Câu 5 Bù sa kơtun le, ba

Một sợi tóc rơi xuống, hãy nhặt

(anh em có gì sai trái, hãy giúp nhau sửa sai)

Câu 6 Nau rim athua, sì jiơng kơjàng,

Đi khắp nơi, khâu cho đẹp

(đi đâu, cũng hãy đoàn kết yêu thương nhau)

Trang 15

Câu 7 Bù sa kơtun le, brêi,

Một sợi tóc rơi xuống, hãy cho

(anh em có gì sai trái, hãy tha thứ)

Câu 8 Nau rim pơlêi, sì jiơng kơjàng

Đi khắp làng, khâu cho đẹp

(đi đâu, cũng hãy đoàn kết yêu thương nhau)

Câu 9 Klà aràng, rơnăm gơu drêi,

Bỏ người ta, thương anh em mình

Câu 10 Aràng sêi brơlêi, gơu drêi akhàn

Ai chê cười, anh em mình sẽ nói lại

Câu 11 Kla gơu drêi, rơnăm aràng,

Bỏ anh em mình, thương người ta

Câu 12 Tơbiă mưng sàng, aràng klau brơlêi

Ra khỏi nhà, người ta cười chê [7]

Trong bài hát Arya này : câu 1 quyện với câu 3 Câu 2 quyện với câu 4 Câu 5quyện với câu 7 Câu 6 quyện với câu 8 Câu 9 quyện với câu 11 Câu 10 quyệnvới

câu 12

 Điệu hát Ka Tha

Ka Tha là điệu hát về mùa màng, người Chu Ru không dùng điệu Ka Tha đểhát đối Lời ca của điệu Ka Tha như đúc kết kinh nghiệm trong sản xuất Các giàlàng thường truyền miệng theo điệu Ka Tha để cho con cháu dễ ghi nhớ lịch củamùa vụ: Tháng nào /gieo lúa, trồng cà, tra bắp…

Trang 16

la đi chung quanh người chết Âm thanh điệu hát như vọng về từ cõi âm làm nhiềungười trong buôn rợn tóc gáy.

2.1.3 Nhạc cụ dân tộc

Người Churu có rất nhiều nhạc cụ độc đáo và nổi tiếng như trống (sơ gơn),kèn bầu (rơkel), đồng la (sar),chiêng, r'tông, kwao, terlia…Song, độc đáo nhất làkèn bầu (rơkel) và cồng chiêng Trong những ngày vui, họ thường tấu nhạc vớiđiệu Tam-ga, một điệu vũ mang tính cộng đồng rất điêu luyện, mà hầu như ngườinào cũng biết và ưa thích

da lên mầu nâu đỏ và săn, rồi lại phơi sương vài đêm nữa Sau đó, khoét lỗ ở bênhông, kiểm tra âm để lắp sáu ống nứa vào thành hai hàng: trên bốn ống, dưới haiống

Bốn ống trên là nốt Ðộ, Rê, Mi, Fa; hai ống dưới là Son Ống nứa phải thongióng, mỏng vừa độ Ống ngắn cho lượng âm cao, ống dài cho lượng âm thấp Sáuống dùi sáu lỗ phía bên ngoài hộp âm (quả bầu); ngoài ra, mỗi ống nứa lại gắnthêm một cái lưỡi gà bằng i-nốc dài khoảng 2 cm ở phía trong hộp âm để tạo độrung Khâu này rất quan trọng và cũng là khâu khó nhất Bởi nó quyết định âm sắc.Cuối cùng mới gắn đường âm (sáu ống nứa) vào hộp âm (quả bầu), và dùng sápcủa con ong muỗi hàn kín lại Chiếc rơkel hình thành Tất nhiên, để âm chuẩn, cóhồn, còn phải tháo lắp, chỉnh sửa nhiều lần

Cách thức sử dụng kèn bầu sáu ống là thổi (hít) hơi vào cuống bầu Cácngón cái, trỏ, giữa và áp bàn tay trái giữ lỗ thoát hơi của bốn ống nứa hàng trên.Ngón cái và ngón trỏ bàn tay phải giữ lỗ thoát hơi của hai ống nứa hàng dưới

Trang 17

Rơkel có thể dùng độc tấu, hoặc hợp tấu với các loại nhạc cụ khác như chiêng(chinh sàrr), trống (sơgơk) và các điệu dân vũ Tamya Ariya, T’rum-pô, Dam dra…huyền ảo Trong giàn nhạc hợp tấu, rơkel đóng vai trò giữ nhịp, tâm sự dọc chiều

lễ nghi Rơkel tấu trước, cồng chiêng theo sau tạo nên bản hòa âm uyên bác, đanghĩa

Tín niệm người Chu Ru cho rằng, sự thông nối giữa kèn bầu và cồng chiêng

là sự thông nối giữa âm và dương, giữa vợ và chồng, giữa đực và cái Không biếtcái nào vợ cái nào chồng, nhưng âm dương (vợ – chồng, đực – cái) thì phải ‘ăn’nhau Nhưng kèn bầu khác cồng chiêng ở chỗ: Nếu cồng chiêng chịu sự ràng buộcnghiêm ngặt của tín ngưỡng đa thần, chỉ được sử dụng vào các dịp lễ hội đặc biệt;

và trước khi sử dụng, bao giờ chủ làng (pô plei) cũng phải tiến hành nghi lễ để xinphép thần linh; thì ngược lại, rơkel đã được thế tục hóa, mặc dù vẫn nằm trongquan niệm vạn vật hữu linh

Do vậy, đồng bào Chu Ru sử dụng rơkel ở mọi lúc mọi nơi, với mọi trạngthái tình cảm Bài vui thì có cúng thần đập nước, mừng lúa mới, mừng nhà mới,cưới hỏi,… tiết tấu nhanh, rộn ràng, linh thiêng Với bài Lấy lửa (Mặ ơpui – lấylửa bằng cách cà vỏ cây nứa vào nhau) thì rơkel thủ thỉ tâm tình: “Con đói rồi vợ

ơi, chàng đang làm mỏi tay mới ra lửa, về thổi cơm cho con ăn…” Bài Tập trung(Tơri gùm) kêu gọi đoàn kết, rơkel lại nói: “Cùng nhau về bên ché rượu cần, aicũng ở nhà xa là chia rẽ, hãy tập trung một chỗ, cùng sống với nhau nhằm tránhhoang mang, sợ hãi trước hiểm họa thiên nhiên, thú dữ”, rơkel ngân, cuốn, dudương, gọi mời Bài Giao duyên lại tha thiết, quấn quyện, ngọt ngào: “Tôi yêuđằng ấy, đằng ấy có yêu tôi không? Tôi thương đằng ấy, đằng ấy thương tôi chứ?”.Nam thanh nữ tú Chu Ru thích những điệu rơkel nhanh, mạnh, kiêu hãnh, vui tươi.Còn những người già yêu các điệu trầm, man mác, nhuốm màu hoài niệm [6]

Mỗi thông điệp gắn liền với một điệu thức, một bài bản riêng, không hề lẫnlộn Người thổi rơkel hay là người biết phân biệt ở chỗ rơkel có đủ điệu thức haykhông, âm sắc có chuẩn, đầy đủ hồn vía không

 Chiêng

Người Churu cho rằng muốn thẩm được cái hồn của chiêng Churu [A4; Tr37]] phải lên núi thiêng K’ Lơl, ra dòng suối khóc Đa Nhim huyền thoại hoặc đến

Trang 18

thác nước kêu ở bản K’Băm Bởi khi dòng Đa Nhim chảy đến buôn làng của ngườiChuru thì êm đềm, nỉ non như tiếng khóc chứ không tuôn đổ dữ dội như những nơikhác Còn thác nước kêu ở bản K’Băm thì dòng nước lớn dội xuống ghềnh đá tungbọt trắng xóa nhưng chỉ phát ra âm thanh rì rào êm tai mà không thác nước nào cóđược Khi ấy, tiếng chiêng mới thức sự có hồn và Giàng mới nghe thấy những ýnguyện của họ.

Ở cộng đồng người Churu cồng chiêng được chia thành 3 loại chủ yếu: sạrrngăm (chiêng sáu) sạr atâu (chiêng ba) và sạr dâu (chiêng hai) Bộ chiêng ba – sạratâu (chiêng dành cho người chết), bộ chiêng sáu (sạr rngăm) sáu chiếc của ngườiChuru vẫn chỉ dùng để diễn tấu những bài bản gần gũi với giàn chiêng arạp –chiêng gốc của người Chăm tộc người gốc của người Churu Đây là các nhạc cụkhông thể thiếu trong giai điệu cuả các bài múa, hát truyền thống

Chiêng thường được treo lên dàn, chỉ có một người đánh và đánh bằng dùi.Khi đánh, chiêng phát ra tiếng kêu “bing beng” Điệu chiêng khi tấu lên với trống

và các nhạc cụ khác nghe rất chặt chẽ,trong khúc thức, thẳm sâu, huyền bí NgườiChuru tin rằng cồng chiêng được trao sứ mạng tạo nên mối giao cảm giữa conngười với thần linh nên bất cứ lễ hội nào của người Churu cũng bắt đầu bằng điệuchiêng này Họ cũng cho rằng tiếng nói của dân làng nhiều khi không vọng tới taiGiàng ( trời) nhưng qua tiếng chiêng thì Giàng nghe thấy hết Cả nam và nữ dântộc Churu đều có thể đánh chiêng trong các dịp lễ, Cách cầm chiêng, gõ nhịp củacác sơn nữ vô cùng duyên dáng, uyển chuyển Những cánh tay mềm mại đưa lên,nhịp xuống, những động tác lắc hông gợi cảm truyền lửa đam mê đến cộngđồng.Đường chiêng của nữ rõ ràng không mạnh mẽ bằng nam giới nhưng quantrọng hơn là tiếng chiêng phải hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và tiếng lòng củadân làng Xứ sở của thác kêu, suối khóc, ruộng nương bát ngát, đồng cỏ mênhmông thì tiếng chiêng phải trầm lắng, ngân xa mới đồng điệu Ngày xưa, vì sự caitrị hà khắc của nhiều quan lại vùng ven biển, một bộ phận người Chăm đã trốn lênnúi sinh sống cùng các tộc người Mạ, K’Ho ở nam Tây Nguyên và lấy tên là Chu

ru, nghĩa là chiếm đất Tiếng chiêng của người Chu ru nghe thăm thẳm như hoàinhớ, bày tỏ nỗi niềm là vì thế Ngoài ra, người Chu Ru quan niệm, người chết điđược một năm thì linh hồn sẽ được lên thiên đàng Khi đó, người dân trong làng sẽmang chiêng ra đánh để giao lưu với các thần linh và làm cho hồn người chết siêuthoát, cầu cho dòng tộc khỏe mạnh, nương rẫy được mùa, không bị ma làm hại.Các đôi trai gái nắm tay nhau say sưa nhảy múa theo tiếng chiêng xung quanh ngôi

Trang 19

mộ Các cụ già thi nhau vừa khóc vừa nói theo vần theo điệu, lên bổng xuống trầm

để kể lể nhớ thương, tâm sự với hồn người chết”

2.1.4 Truyện cổ

Người Churu có kho tàng truyện cổ hết sức phong phú thường được lưutruyền qua hình thức truyền miệng Đêm đêm bên ánh lửa bập bùng già làngthường kể cho mọi người nghe

Truyện cổ thường phản ánh cuộc đấu tranh bất khuất của người dân lao độngđối với thiên nhiên, đối với xã hội để dành lại cuộc sống trong lành và hạnh phúc.Cốt truyện của người Churu thường có mô típ ngắn gọn, có nhiều câu truyện xoayquanh những điển tích, những kì quan của họ Họ cũng ca ngợi sức mạnh conngười Nội dung thường phản ánh và đề cao sức mạnh con người, vẻ đẹp nội tâm

và tình yêu quê hương

Ví dụ như câu chuyện về một em bé mồ côi cha mẹ, lúc đầu cuộc đời sốngtrong nghèo khó, nhưng sau đó được thần giúp đỡ trở nên giầu sang và có cuộcsống an lành Có những truyện cổ tích thật là ví von, có nhiều thiên trường ca

mà các cụ già làng thường ngồi bên bếp lửa của nhà sàn kể lại cho con cháu họnghe một cách rất say sưa, suốt đêm này qua đêm khác

Nếu gạt bỏ những yếu tố hoang đường, kho tàng văn học và nghệ thuật dângian của đồng bào Churu không những chỉ có giá trị về văn học nghệ thuật màcòn là một nguồn tư liệu dân tộc học có giá trị

Một số câu truyện tiêu biểu đã được dịch ra tiếng Việt:

 Truyện kể ngôi đền Maxara

Tục truyền rằng, ngày xưa, người Churu luôn bị người Col (một dân tộc nào

đó chưa rõ) sang cướp bóc, quấy nhiễu nên cuộc sống hết sức khổ cực Ông Pa KaRăh đã dùng tài năng, sức mạnh của mình lãnh đaọ người Churu đánh đuổi giặcngoại xâm, giành lại đất đai núi rừng của tổ tiên Sau khi đuổi xong giặc, ông đãdạy bà con Churu cách làm thủy lợi, làm ruộng nước để có nhiều lúa gạo Là người

có tài tiên tri và nghe hiểu được tiếng thú vật, ông đã dùng phép màu bắt trâu, bòrừng về đóng lên lưng chúng những khuôn gỗ lớn để chở đồ đạc, thóc gạo và bảochúng kéo cày cho người Churu Ông hái lá cây rừng hóa phép cho biến thành tiền

Ngày đăng: 11/04/2018, 11:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Đức Thịnh (2004), Thông báo văn hóa dân gian 2003, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo văn hóa dân gian
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: NXB Khoa họcxã hội
Năm: 2004
2. Nguyễn Duy Đăng (2004), Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Duy Đăng
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
3. Phan Xuân Viện (2006), Truyện cổ Churu, NXB Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Churu
Tác giả: Phan Xuân Viện
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 2006
4. Trần Mạnh Thường,Việt Nam văn hóa và du lịch, NXB Thông Tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa và du lịch
Nhà XB: NXB Thông Tấn
5. Trần Bình (2014),Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, NXB Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w