1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn nghệ dân gian của người cơ tu

43 409 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyền thống văn hóa CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI CƠ TU VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CƠ TU 2.1.. Vai trò của văn nghệ dân gian với đời sống người

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN TÂY GIANG TỈNH

QUẢNG NAM VÀ DÂN TỘC CƠ TU

1.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở huyện Tây

Giang tỉnh Quảng Nam

1.1.2 Vị trí địa lý1.1.3 Kinh tế - Xã hội

1.2 Khái quát về dân tộc Cơ Tu

1.2.1 Nguồn gốc lịch sử 1.2.2 Tộc danh, dân số 1.2.3 Truyền thống văn hóa

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI

CƠ TU VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CƠ TU

2.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian

2.1.1 Văn học dân gian2.1.2 Múa dân gian2.1.3 Âm nhạc dân gian2.1.4 Trò chơi dân gian

2.2 Vai trò của văn nghệ dân gian với đời sống người Cơ tu

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỔN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI CƠ TU

Trang 2

3.1 Nâng cao nhận thức

3.2 Cơ chế, chính sách

3.3 Khai thác, truyền dạy, tư liệu hóa

3.4 Vai trò cộng đồng trong việc bảo tồn, phát huy nền văn nghệ dân gian Cơ Tu đối với phát triển du lịch

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

Dân tộc Việt Nam là một cộng đồng bao gồm nhiều dân tộc Bên cạnh dântộc Việt là dân tộc chủ thể, còn có các dân tộc thiểu số khác sống rải rác trên mọimiền đất nước Thành phần các dân tộc có khác nhau, nhưng đều chung nguồn gốcBách Việt Từ buổi đầu dựng nước đến nay, các dân tộc thiểu số đã có sự tham giatích cực trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng những truyền thống lịch

sử, văn hóa của đại gia đình dân tộc Việt Nam

Văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số có những thành tựu độc đáo vớinhững sắc thái riêng biệt Ðặc biệt, căn cứ vào quy luật phát triển của sáng tác dângian và thực tiễn sự tồn tại những tác phẩm

Văn nghệ dân gian dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số có mối quan hệ gắn bó,mật thiết, có sự giao lưu và chuyển hóa lẫn nhau đến mức có những trường hợpkhông thể tách rời Việc nghiên cứu văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số là rấtcần thiết

Việc tìm hiểu văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số còn thể hiện đường lốidân tộc và đường lối văn hóa văn nghệ của Ðảng ta, đó là bình đẳng dân tộc, pháthuy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộcViệt Nam, nhằm góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa văn nghệ Việt Namthống nhất và mang tính chất dân tộc phong phú

Văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận cấu thành quantrọng của nền văn hóa Việt Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Hiện nay,nước ta đang chú trọng nhiều cho việc phục dựng, phát huy, bảo tồn các giá trị vănhóa của các dân tộc đã dần mai một theo chiều dài của thời gian Và Quảng Nam làvùng đất có bề dày lịch sử - văn hóa Hơn thế nữa, Quảng Nam là một trong nhữngtỉnh có hoạt động kinh tế khá sôi động và có nhiều nét văn hóa đặc sắc vốn có của

Trang 4

mình Trong đó, có một nền văn hóa khá nổi bật và riêng có ở đây là văn hóa dântộc Cơ Tu.

Đồng bào Cơ Tu cư trú tập trung ở miền núi, vùng cao, vùng biên giới Đây

là vùng đặc biệt khó khăn, kinh tế chậm phát triển, giao thông cách trở, cơ sở hạtầng còn quá nhiều thiếu thốn, tỉ lệ hộ nghèo còn cao, trình độ dân trí thấp, thôngtin liên lạc còn hạn chế Văn nghệ dân gian của dân tộc Cơ Tu hết sức đa dạng, đặcsắc, có từ lâu đời, hòa cùng với đó là văn hóa làng, văn hóa cộng đồng

Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và công nghệ truyền thông đạichúng như hiện nay đã ảnh hưởng trực tiếp đến thế hệ trẻ đối với văn hóa truyềnthống Thực tế hiện nay cho thấy hầu hết các giá trị văn hóa văn nghệ của tất cả cácdân tộc thiểu số ở Việt Nam không còn nguyên vẹn như truyền thống, mà có nhiềubiến đổi cho phù hợp với cuộc sống mới Đó là kết quả của sự giao lưu, hội nhậpvới văn hóa các dân tộc và sự hội nhập với nền kinh tế thị trường

Và văn hóa dân tộc Cơ Tu ngày nay cũng bị ảnh hưởng bởi quy luật đó Đặcbiệt là người Cơ Tu ở huyện Tây Giang thì điều này càng dễ xảy ra bởi dân tộc này

có số lượng dân số ít so với mặt bằng chung của tỉnh Quảng Nam

Với tư cách là một nhà quản lý văn hóa tương lai Tôi luôn ý thức mình cầnphải giữ gìn những di sản văn hóa mà ông cha ta đã để lại nhằm giữ gìn bản sắccủa người Cơ Tu ở Quảng Nam trong kho tàng văn hóa dân gian, dân tộc hiện nay

Với nhận thức bước đầu như trên, tôi chọn: “Tìm hiểu văn nghệ dân gian của dân tộc Cơ Tu tại huyện Tây Giang tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên

cứu của mình

Trang 5

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI CƠ TU TẠI HUYỆN TÂY GIANG

25 tháng 12 năm 2003 trên cơ sở tách huyện Hiên tỉnh Quảng Nam thành huyện Đông Giang và Tây Giang theo quyết định số 72/2003/NĐ-CP của thủ tướng chính phủ

Tây Giang có tổng diện tích tự nhiên là 902,97km2

Trang 6

Trong những năm gần đây, huyện Tây Giang đã phải đương đầu nhiềukhó khăn với tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, mưa nhiều, dịch bệnh giasúc gia cầm và dịch bệnh hại cây trồng thường xuyên xảy ra Với nhiều khó khăn thách thức nhưng dưới sự điều hành của Chính quyền các cấp, cán bộ

và nhân dân huyện Tây Giang đã cùng nhau ra sức thi đua lao động sản xuất

và đạt được nhiều thành tựu nổi bật

Lĩnh vực kinh tế mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng nhờ sự quan tâm của Trung ương, tỉnh, cùng với sự đoàn kết, nổ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân toàn huyện, đời sống từng bước được cải thiện Cùng với

sự phát triển về kinh tế các dịch vụ kinh doanh như ăn uống, nhà nghỉ, vận tải hành khách, hệ thống bán lẽ hàng hoá cũng đã phát triển nhanh ở trung tâm huyện và ở các xã với các loại hàng đa dạng, phong phú, cơ bản đáp ứngnhu cầu tiêu dùng của nhân dân

Kinh tế phát triển là động lực thúc đẩy phát triển đời sống văn hoá –

xã hội Hệ thống trường học được đầu tư từ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy

và học từng bước được hoàn thiện, chất lượng giáo dục có tiến bộ

Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được quan tâm đúng mức, điều kiện khám chữa bệnh của người dân được cải thiện đáng kể

Nhìn chung, tình hình kinh tế xã hội của huyện trong những năm qua

đã đạt được những thành tựu đáng kể Nhưng để đạt được kết quả cao hơn, huyện Tây Giang trong những năm tiếp theo, bằng tinh thần đoàn kết nội bộ,dân chủ, minh bạch, tiếp tục phấn đấu để đảm bảo cho sự phát triển ổn định, bền vững Tiếp tục triển khai các chương trình mục tiêu về phát triển kinh tế

xã hội, chú trọng đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh công tác khuyến nông khuyến lâm, tăng cường các biện pháp phòng chống

Trang 7

dịch bệnh gia súc gia cầm, quản lý tốt đất đai, bảo vệ và phát triển rừng, chuẩn bị các điều kiện để ứng phó với thiên tai, bão lũ có thể xảy ra, thực hiện tốt các nhiệm vụ trên tất cả lĩnh vực kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục,vệ sinh an toàn thực phẩm.

1.2 Khái quát về dân tộc Cơ Tu

1.2.1 Nguồn gốc lịch sử

Người Cơ Tu ở miền núi Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và

ở tỉnh Sê-Kông nước bạn Lào là chủ nhân của một vùng rừng núi rộng lớn

có nền văn hóa lâu đời và đặc trưng của tộc người mình Một trong nhữngđặc trưng đó là người Cơ Tu có các dòng họ, tộc họ (Ca bhu, Tô-theo cáchgọi của người Cơ Tu)

Không phải duy nhất chỉ người Cơ Tu có dòng họ mà một số tộcngười thiểu số khác ở vùng miền núi Trường Sơn - Tây Nguyên có dòng họnhưng số này không nhiều như Ba Na, Gia Rai… Ca bhu, Tô - của người Cơ

Tu đã cho thấy từ rất xa xưa, người Cơ Tu đã có một hệ thống thân tộc, thíchtộc rất rõ ràng, nghĩa là có dòng bên cha và dòng bên mẹ, dòng trai, dòng gáisau khi lập gia đình Ca bhu, Tô của người Cơ Tu là cội nguồn của tộc người

mà theo truyền thuyết thì một dòng họ, tộc họ đều có một sự tích, câuchuyện cổ hình thành nên tên gọi của dòng họ, tộc họ của mình

Sự tích, câu chuyện cổ, truyền thuyết ấy có thể là một sự kiện đặc biệttrong đời sống tâm linh, tín ngưỡng, đời sống xã hội từ thời xa xưa; là khởiđầu từ một hiện tượng đặc biệt của tự nhiên hay một sự kiện khác thường từsản xuất của con người Việc người Cơ Tu có sự tích, lý giải sự hình thànhnên các dòng họ, tộc họ của mình theo như các nhà nghiên cứu lịch sử, dân

Trang 8

tộc học, văn hóa dân gian… là sự phản ánh quy luật phát triển của lịch sửtộc người đó là có sự hình thành từ các tô-tem (vật tổ, sự tích tổ tiên).

Truyền thuyết người Cơ Tu huyện Đông Giang, Tây Giang ở nhữngngười mang họ Hiêng kể lại rằng tổ tiên họ vào thời xa xưa bị ong đốt trongmột mùa rẫy thất bát phải bỏ chạy vào phương Nam tìm đất mới sinh cơ lậpnghiệp (du canh du cư); nhớ chuyện xưa ấy dân làng tự đặt mình là Ca bhu,

tô Hiêng - nghĩa là dòng họ “con ong” Dòng họ Cơ Lâu lại bắt nguồn từ câuchuyện cổ vì con trâu của mình chết, quá thương tiếc con vật quý giá nênngười chủ con trâu đã khóc lóc thảm thiết; từ chuyện khóc con trâu chết nên

có dòng họ Cơ Lâu-dòng họ “khóc” Dòng họ Ria ra đời bởi từ một câuchuyện cổ tích một chàng trai trong cuộc thi tài đã đi qua dòng suối không bịướt vì chàng trai đã đào đường ngầm bên dưới dòng suối để đi qua và đãthắng cuộc thi, dân làng nói nó như “cái rễ cây” trong đất, nó là Ria - rễ cây;chàng trai đó lấy họ Ria truyền mãi cho đến sau này Người Cơ Tu có dòng

họ Zơrâm cho mình là dòng họ “con chó” bởi từ sự tích cội nguồn từ chuyện

xa xưa trời mưa, lũ lụt nước dâng ngập hết núi rừng, chỉ còn một ngọn núi

và trên ấy có một người đàn bà và một con chó sống sót, sau đó họ lấy nhau

và sinh ra con cháu như bây giờ; nhớ chuyện xa xưa ấy, họ đặt mình là dòng

họ Zơrâm Lại có cội nguồn một dòng họ từ câu chuyện tình yêu, chuyện vợchồng đó là dòng họ Pơloong - dòng họ “Trôi” Người già kể lại rằng, cómột chàng trai khi đi rẫy về, đến con suối ngoài làng rửa ráy, hái một tráiươi thả xuống dòng suối, trái ươi trôi xuống bám vào chân một cô gái trongnhiều cô gái cũng đang rửa ráy phía dưới dòng suối, cô gái ném đi nhưngtrái ươi cứ bám vào chân, tức mình cô gái ăn trái ươi Sau đó tự nhiên cô cómang và sinh ra một bé trai, dân làng bất bình vì không có chồng mà lại cócon, đem ra xử theo luật tục và khi ấy thì đứa con chạy đến chàng trai đã thả

Trang 9

trái ươi trôi trên dòng suối năm xưa và nói rằng đây là cha tôi, nhờ trái ươitrôi trên dòng suối nên mẹ đã sinh ra tôi; già làng gọi nó là Pơloong- là

số còn lại người Cơ Tu lấy theo họ người Kinh, từ các cuộc hôn nhân vớicác dân tộc khác và kể cả tên dòng họ tự đặt

Chuyện các dòng họ, tộc họ của người Cơ Tu còn nhiều điều để tìmhiểu như chuyện dòng họ con Kiến (Bhing), dòng họ con Cá (Abing), dòng

họ con Tắc kè (Arất), con Gấu (Arâl), con Vượn (Avô)… nhưng có một điềuthật đặc biệt là mỗi dòng họ, tộc họ đều có một sự tích hình thành tên gọi để

kế truyền từ đời này sang đời khác và là niềm tự hào của những người mang

họ đó Một tộc người có các sự tích về cội nguồn, về tên gọi của các dòng

họ, tộc họ của mình là không nhiều trong cộng đồng các dân tộc ở đất nước

ta Gìn giữ dòng họ, tộc họ là gìn giữ một phần hồn cốt văn hóa của dân tộcmình mà người Cơ Tu đã, đang và sẽ mãi mãi làm

1.2.2 Tộc danh, dân số

Trang 10

Dân tộc Cơ Tu là cư dân sinh sống ở vùng bắc Trường Sơn – Tây Nguyên Tộc danh Cơ Tu là tên do đồng bào tự gọi, ngoài ra có tên gọi khác

là Ca Tu, Ca Tang, Hạ, Phương, Giao Tiếng nói của người Cơ Tu thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khme ngữ hệ Nam Á, vì vậy bà con còn giữ được nhiều yếu tố ngôn ngữ truyền thống Chữ viết người Cơ Tu ra đời trước năm

1975 theo mẫu hệ La Tinh, nhưng nay ít người sử dụng Dân tộc Cơ Tu có 70.872 người cư trú chủ yếu tại miền Tây hai tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên Huế

Dân tộc Cơ Tu chưa hình thành các nhóm, nhánh dân tộc và chỉ phân chia dựa theo địa bàn cư trú Những người sống ở vùng núi cao gọi là Co Tudriu, sống ở vùng đệm gọi là Cơ Tu Cha Liu, sống ở vùng thấp gọi là Cơ Tu nal

Về ngôn ngữ nhóm Cha Lâu vẫn giữ được ngôn ngữ truyền thống ; nhóm Nal chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ Việt ; nhóm Đriu lại chịu ảnh hưởng ngôn ngữ của các dân tộc Môn- Khơ me khác ở Lào

Người Cơ- tu chưa có chữ viết riêng Trước cách mạng họ có học chữ phổ thông Đồng bào có sử dụng chữ phiên âm theo kiểu Êđê nhưng càng ngày càng ít được sử dụng

1.2.3 Truyền thống văn hóa

Làng của người Cơ Tu có nhiều nét tương đồng với làng buôn của cácdân tộc cư trú ở Trường Sơn – Tây Nguyên theo kiểu truyền thống Làng Cơ

Tu vừa là đơn vị dân cư mang tính cộng đồng cư trú ổn định, vừa là đơn vị

tự quản theo mô hình xã hội công truyền thống Các làng có vùng đất ở, đấtcanh tác trồng trọt, chăn nuôi, đất rừng để săn bắt hái lượm và khai thác lâmthổ sản hàng hóa trao đổi

Trang 11

Thường các làng cách nhau khoảng 1 ngày đường đi bộ để đảm bảođịa dư cho không gian sống trong xã hội truyền thống cố kết cộng đồng.người Cơ Tu dựng làng ở những nơi cao ráo nhưng mặt đất tương đối bằngphẳng và điều chủ yếu phải tiện nguồn nước.Đặc điểm làng truyền thống Cơ

Tu có dáng dấp phòng thủ rõ rệt, xunh quanh là hàng rào bảo vệ kiên cố cao

từ mét rưỡi tới hai mét dựng bằng cột gỗ chằng mây song Ngày nay nhữngbức rào làng đã đơn giản hơn, chủ yếu phân định địa bàn cư trú với rừng,rẫy Mỗi làng thường có hai mươi tới ba mươi nóc nhà, có nơi tới bốn mươi,năm mươi nóc nhà Các nhà được bố trí vòng tròn hoặc hình bầu dục xunhquanh ngôi nhà chung bà con gọi là nhà gươl Ở sân nhà gươl bao giờ cũngdựng cột thiêng làm lễ hiến sinh khi tổ chức các lễ hội tín ngưỡng Khi lậplàng mới, trong ba ngày đầu bà con cúng tế, kiêng cữ khách lạ, kiêng khôngphát rẫy ngả cây

Chế độ gia đình phụ quyền khá vững chắc trong đời sống xã hội củangười Cơ Tu Người cha, người chồng có quyền tuyệt đối trong phân cônglao động, quản lí tài sản trong gia đình, quyền thừa kế tài sản chỉ thuộc vềnhững người con trai Liên kết dòng họ được duy trì chặt chẽ gọi là ca bu.Mỗi một ca bu liên kết nhận nhau bởi những tập tục, kiêng kị và huyền thoạichung về ông tổ mang đậm tính chất Tô tem giáo

Người Cơ Tu thường ngày ăn cơm tẻ, ngày lễ có thêm cơm nếp Cơmnấu trong ống tre ( cơm lam) hoặc trong nồi đất, ăn bốc là tập quán cổtruyền Đồng bào thích ăn đồ nướng như ngô nướng, sắn nướng, khoainướng, thịt cá nướng Rượu được chế từ mía, cây tày vak – một loại câyrừng họ dừa, từ gạo, sắn người Cơ Tu thường hút thuốc lá bằng tẩu

Trang 12

Người Cơ Tu chủ yếu mặc những trang phục tự tạo ra Đàn ôngthường đóng khố, cởi trần, về mùa lạnh quấn thêm chiếc mền đắp Phụ nữmặc váy ống, nếu váy dài thì che từ ngực trở xuống, nếu váy ngắn thì thântrên mặc áo nắng luồn đầu, có ống tay hoặc không, về mùa lạnh nữ cũngkhoác thêm chiếc mền, ngày vui hay lễ hội phụ nữ thắt thêm chiếc thắt lưngmàu trắng người Cơ Tu cũng dệt được những tấm vải khổ rộng để choàng,quấn, đắp.

Người Cơ Tu ở nhà sàn, nay phổ biến là các ngôi nhà sàn ngắn cư trúmột gia đình nhỏ phụ quyền, nhưng nhiều nhà vẫn còn những ngôi nhà sàndài, vài ba gia đình nhỏ anh em trai cư trú kề vách nhau Nhà sàn của Người

Cơ Tu thường cách mặt đất khoảng 1,2 -1,4 mét, kết cấu bằng cách lấy cộtcái chính giữa đỡ đòn nóc, mỗi bên 3 cột thấp dần tạo thành độ dốc mái haibên ở mỗi bộ vì lấy dui làm kèo,lấy đòn tay làm mè kéo dài ngôi nhà tùytheo nhu cầu cần bao nhiêu gian Dù nhà sàn hay nhà ngắn thì cũng tạo haiđầu mái chái hơi tròn ở giọt gianh, nên trông từ trên xuống mái nhà hình mairùa

Người Cơ Tu tổ chức ăn tết theo lịch của đồng bào vào khoảng thángGiêng, thàng Hai dương lịch, sau mùa lúa tốt…Các gia đình cúng quải trongnhà, tổ chức ăn uống, đối với làng thì cúng lễ ở nhà gươl Dịp Tết là dịp ănuống, mời tiếp khách trong từng gia đình và khách chung của làng ở nhàgươl Tết ở gia đình còn diễn ra nghi lễ dồn mồ, tết chung của làng thì tổchức lễ hội đâm trâu

Đời sống văn hóa, nghệ thuật của Người Cơ Tu rất phong phú, thanhniên nào cũng biết nhảy, múa, ca hát, người già thì kể chuyện huyền thoại,

cổ tích về sự phát triển của trời đất, về con người… Nhạc cụ của dân tộc Cơ

Trang 13

Tu là bộ chiêng 3 chiếc, cồng 1 chiếc, hòa tấu trong những dịp lễ hội cùngvới trống, sáo, nhị.

Người Cơ Tu rất giỏi múa, điệu múa Da dạ rất được thanh niên ưathích, cùng với các điệu múa đâm trâu, múa săn thú Nam giới có tài trongviệc trang trí nhà mồ, nhà gươl, với những hàng đầu trâu, chim, rắn, thúrừng….Phụ nữ có tài dệt đan sợi màu thành những đồ án trang trí hoa văn ôvuông, hạt cườm, hoa lá trên vải

Dân tộc Cơ Tu là cư dân bản địa cư trú lâu đời có mối quan hệ qua lại

từ xa xưa với người Kinh, người Chăm và các dân tộc anh em khác trongvùng Do đặc điểm địa bàn cư trú và cố kết cộng đồng bà con giữ đượcnhiều đặc điểm văn hóa truyền thống mang bản sắc văn hóa tộc người

Trang 14

Chương 2 MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ

TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CƠ TU

2.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian

2.1.1 Văn học dân gian

Cũng như nhiều dân tộc anh em khác, người Cơ Tu ở Quảng Nam nóichung, ở Tây Giang nói riêng có dòng văn hóa dân gian rất độc đáo, thể hiệnđời sống tinh thần phong phú của đồng bào miền sơn cước Nếu như ngườiKinh có kho tàng truyện cổ dân gian, dân ca, hò vè, câu đố bằng tiếng phổthông thì người Cơ Tu cũng có một thế giới truyện cổ, câu hát lý, dân ca, câu

đố được thể hiện bằng tiếng Cơ Tu, gắn liền với đời sống và trí tưởng tượngcủa đồng bào

Truyện cổ

Trong truyện cổ Cơtu nổi lên nhân vật người mồ côi, hay gặp là cácchàng mồ côi Các chàng mồ côi thường nghèo khổ, vì vậy mà khó thuyếtphục được bố mẹ của những cô gái khi muốn cưới các nàng Bù vào đó,người mồ côi thường tốt bụng và có quyết tâm, nỗ lực lớn hơn người khác;chưa nói các chàng thường được thần linh trợ giúp Đó là chìa khoá thànhcông của họ Xin nêu ra đây một vài nhân vật tiêu biểu như Tơ Rứt, KănTưi, Sut Kăn Mo, Tít Mang - Tang Lơ, Partur Tơơm hoặc các vị thần

Hệ thống truyện cổ thần kỳ đã nhắc đến nhân vật Tầm Mò Zòi trongtruyện Tầm Mò Zòi được xem là một vị thần khổng lồ ẩn thân trong một

Trang 15

tảng đá lớn Ông Zòi đã cứu giúp dân làng sống cạnh tảng đá thoát cảnh bịcướp bóc Ông cũng trừng trị những kẻ ác gây hại đến người khác Sức tàicủa ông vượt quá mức của những kẻ trần tục, nên ông chẳng cần phải ra tayvới ai, mà chỉ dùng đến “hắt xì hơi” là đã khiến đối phương bị đẩy văng xa:

“Tầm Mò Zòi chẳng nói năng gì ông hất chiếc mũi lên trời rồi cúi nhìntrưởng làng ăn cướp, hắt xì hơi một cái, vị trưởng làng ăn cướp bay bổng lênkhông trung rồi rơi một cái thật mạnh xuống ngay trước sân nhà Gươl củalàng mình gãy mất xương sườn”; hay “Tầm Mò Zòi hất chiếc mũi lên trêntrời rồi hắt xì hơi một cái, lão chủ đất đã bay tít về một phía làng Krông.Tầm Mò Zòi lại hắt xì hơi thêm một cái nữa thì mọi vật quanh đó bay theolão, đưa lão về cõi chết” Có thể nói Tầm Mò Zòi là truyện kể về nhữngngười anh hùng đứng ra bảo vệ làng, được làng kính trọng, cúng bái Truyệnnày có phần gần với thần thoại, do Tầm Mò Zòi thuộc thế giới các thiên thầnphân biệt với nhân thần

Hệ thống truyện cổ tích sinh hoạt thì lại thể hiện những vấn đề trongcuộc sống làng bản, quan hệ họ hàng, cộng đồng, gia tộc mỗi truyện cómột sắc thái riêng nhằm thể hiện những ước muốn, tâm tư tình cảm của conngười với nhau Họ biết lấy thiện để thắng ác, biết ở hiền gặp lành TruyệnÔng Vỗ Tôn kể về người đàn ông cùng tên tốt bụng, được một bà lão tặngcho con gà mái choai Từ gà ông có lợn, từ lợn có bò, từ bò có trâu, từ trâu

có bạc thỏi, bạc nén, mã não… Từ bạc thỏi, bạc nén, mã não, ông có voi…Nhưng quan trọng hơn, ông có được cuộc sống giàu sang hạnh phúc nhờ cần

cù công việc chăn nuôi và sống tốt với mọi người Phải chăng, chăm làm vàlương thiện là bài học lớn, bài học vỡ lòng mà việc giáo dục con ngườikhông thể không chú ý

Trang 16

Hệ thống truyện cổ tích loài vật có mẩu truyện Voóq Ariên kể về sựnhìn nhận của nhiều con vật về con người, qua một con vật thông minh làVoóq Ariên (một loài ốc đá ở khe suối) Có một người bị mắc bẫy, VoóqAriên cho mời các các con vật đến để nhận diện và giới thiệu với chúng Lầnlượt nhiều con vật trình bày khả năng của mình trong quan hệ với con người:chim, dúi, hổ, báo, cá, rùa, hươu, nai, bò tót, kiến, voi Cuối cùng, VoóqAriên nhắc lại với các loài vật rằng: "Tà hừ Tà hà (người) có hàng ngàn cáikhôn mà chúng ta chưa biết được, giờ đây họ đang mắc bẫy của Cà Xau(một loài kiến đỏ, thường làm tổ ở cành cây cao), để yên thân, chúng ta nênthả cho họ về" Qua truyện này, người đọc có thể chiêm nghiệm lại mình vìcon người có trí khôn siêu việt, người Cơ Tu đã sớm nhìn nhận về những gì

mà tạo hóa đã ban cho con người có khả năng chinh phục tự nhiên và xâydựng xã hội phát triển

Bên cạnh đó, cũng có thể tìm thấy một vài mẩu truyện của dân tộc Cơ

Tu có nét gần gũi với truyện cổ tích người Kinh Chẳng hạn, Tơ Rứt làm vuacủa người Cơ Tu tương tự truyện Ai mua hành tôi của người Kinh; truyệnChàng Kinhiar và Arưi Klúng, của người Cơ Tu, tương tự nhóm truyện vềanh chồng khờ và cô vợ khôn ngoan của người Kinh,… Có điều, mức độquan hệ, giao lưu giữa cổ tích của người Cơ Tu với cổ tích người Kinhkhông mật thiết bằng giữa cổ tích của người Tà ôi và Cơ Tu với nhau vì do

sự cận cư, mối tương đồng văn hoá giữa các dân tộc

Câu đố

Câu đố của người Cơtu có hình thức ngắn, thường đố vui về thế giới

đồ vật, cây, con, quả ở núi rừng và các vật dụng của gia đình, cộng đồng.Người Cơ Tu gọi câu đố là Zôm alôm alam hoặc Padum alum alam Zôm

Trang 17

alôm alam thường được dùng khi vui, khi lao động sản xuất, khi trò chuyệnđông đúc tại cộng đồng Câu đố người Cơtu thường có ý nghĩa giáo dụchoặc đôi khi chỉ để tiếu lâm, giải trí, gợi tính hiếu kỳ, thông minh, tò mò, dídỏm, hóm hỉnh của mọi người Chẳng hạn câu: “Gioóng hơ ziâu tớt carơtatêng hâu?” (Đứng hay ngồi là vật gì?), đáp án là “Tapăl” (Cối giã gạo).Hoặc người Cơ Tu đố vui : “Bêl ca tơới ve đươi hơ đóoh mơ banh cắh giơđươi là hâu?” (Khi còn nhỏ có mặc quần áo, khi lớn lên không mặc nữa, làgì?), đáp án là “Hơbhoóc abăng” (Cây măng).

Trước kia, số người Cơ Tu biết chữ rất ít nên câu đố của đồng bàocũng chưa thấy “xen kẽ” nhiều với tiếng phổ thông Người đố và người giảiđáp hầu như hoàn toàn sử dụng tiếng địa phương của mình Chính vì vậy,Zôm alôm alam của người Cơ Tu chỉ gần gũi với trí tưởng tượng của họ.Nhiều người già hay nói tếu thì sử dụng rất sành sỏi loại câu đố này Các bạntrẻ bây giờ ít khi sử dụng câu đố để mà tạo thú vui giải trí như người lớntuổi

Như đã nói ở trên, đồng bào Cơ Tu thường đố về con vật mà họ đãbiết Chính vì vậy câu trả lời đối với một số người cũng không phải là khóđoán, khó giải Tuy nhiên với những ai không giải được câu đố tại các buổitiệc liên hoan thì phải uống rượu phạt (chủ yếu là rượu trđin, ba kích) chovui chứ không mang nặng tính chất thắng thua Trong quá trình đố nhau, nếu

ai đó đưa ra được đáp án chính xác thì sẽ được chỉ định người khác ra câu đốmới để cho mọi người trả lời Vì vậy những buổi gặp mặt tại gươl, nếu cótình huống đố vui thì buổi đó bao giờ cũng rất rôm rả, vui vẻ, thu hút nhiềungười tham gia Ví dụ như có những câu đố gần gũi, mọi người có thể giảiđược như: “Toong crđêê, plêê mắt mây là hâu?” (Cán làm bằng nứa, tráigiống khoai tây là gì?), đáp án là “Zớ buah” (Ché rượu cần) Hoặc “Căh ếp,

Trang 18

căh dal là hâu?” (Không thấp, không cao là cột gì?), đáp án là “Tanâl km”(Cột cây số)

Theo các vị cao niên, câu đố của người Cơ Tu trong dân gian có rấtnhiều, được truyền miệng từ người này sang người khác Đây chính là mộtloại hình nghệ thuật dân gian độc đáo, cần được sưu tầm, ghi chép, bảo lưugiữ gìn để làm nên sự phong phú trong đời sống văn hóa dân gian của đồngbào Hơn nữa, nghệ thuật đố vui của đồng bào Cơtu ở Tây Giang nếu đượcđánh giá đúng giá trị và sưu tầm, nghiên cứu đầy đủ sẽ trở thành một yếu tốđộc đáo trong dòng văn học dân gian của dân tộc Cơ Tu

Nói lý

Nói lý, hát lý là một trong những hình thức tự sự dân gian đặc sắc vàđộc đáo, không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Cơ Tu Nó gắnliền với lời ăn tiếng nói của đồng bào, thể hiện lối giao tiếp, ứng xử, biểu lộtâm tư, tình cảm của mỗi người và cả cộng đồng

Ví dụ trong trường hợp hai vợ chồng trẻ mới cưới muốn bỏ nhau,người Cơ Tu sẽ nói lý, hát lý với nội dung đề cập đến chuyện bố mẹ giàkhông làm được việc, nếu họ bỏ nhau, nương rẫy sẽ không ai chăm nom.Nếu vẫn không hiểu, vấn đề chưa được giải quyết, họ sẽ đi sang làng khácnhờ nghệ nhân, già làng giỏi về nói lý, hát lý là chuyện đổ vỡ trong gia đìnhđược hóa giải ổn thỏa Cái hay nhất của nói lý, hát lý chính là dùng một hìnhtượng để chỉ một sự việc, nhằm giải quyết mâu thuẫn, xích mích trong cácmối quan hệ giữa gia đình, bạn bè, xã hội, công việc hay vấn đề nào đó khódùng lời để nói thì người Cơ Tu nói lý, hát lý để thấu hiểu nhau hơn Khởiđầu nói lý, hát lý, thường là những câu nói về đạo lý, về truyền thống củangười Cơ Tu với những hình ảnh ví von độc đáo

Trang 19

Đồng thời, người nói lý, hát lý giỏi phải am hiểu bản chất vấn đề mìnhnêu ra và cả phong tục tập quán để có khả năng đối đáp nhanh Nói lý, hát lý

là loại hình ứng khẩu của người Cơ Tu Khi nói lý, hát lý, người Cơ Tu baogiờ cũng dùng những hình tượng ẩn dụ, nhân cách hóa giúp người nghe hiểusâu vấn đề một cách cặn kẽ, chí tình, đạt ý Khi khen người con gái đẹp, họthường nhắc đến hoa, nói đến con trâu mộng sẽ nói về hình ảnh cây cổ thụ tolớn Với người Cơ Tu, ở họ luôn có cách hình dung để mô tả về sự vật,hiện tượng nào đó theo cách của mình mà không theo bài có sẵn

Khi một bên nói lý đúng quá và đối phương không thể đối lại thì gọi

là “hết lý” hoặc “chết lý” Trong tập quán của người Cơ Tu, khi bị đốiphương bắt lý và hết lý, dù là kẻ thù đi chăng nữa họ cũng tâm phục, khẩuphục và giảng hòa theo ý của đối phương

Đặc biệt, trước đây trong chiến tranh, người cán bộ nằm vùng làmcông tác vận động, tuyên truyền dân bản, ngoài việc nói được tiếng Cơ Tu

và am hiểu về phong tục tập quán của người Cơ Tu, còn phải biết nói lý, hát

lý Cơ Tu Họ phải nói, giải thích như thế nào đấy để người dân “hết lý” vàhoàn toàn tuân phục thì khi đó những chủ trương chính sách của Đảng vàNhà nước mới đi vào đời sống đồng bào

2.1.2 Múa dân gian

Người Cơ Tu tự hào về nghệ thuật múa đặc sắc của dân tộc mình Vũđiệu múa không chỉ là sản phẩm tinh thần trong đời sống văn hóa của đồngbào dân tộc mà còn tích tụ nhiều đặc trưng văn hoá độc đáo của cộng đồngngười Cơ Tu

Người Cơ Tu chủ yếu múa hai điệu tơntúng và dadăq, nên người dânnơi đây khi nhắc đến hai điệu múa này là người ta nghĩ ngay đến múa Cơ

Trang 20

Tu Tơntúng là điệu múa của đàn ông; dadăq là điệu múa của phụ nữ Đây làhai điệu múa tập thể được thể hiện ở tất cả các lễ hội của người Cơ Tu vàđược múa cùng lúc với nhau Điệu múa này không có bất kỳ sự phân biệtnào, là người già trẻ, trai gái, người lớn, người nhỏ đều được tham gia.Thậm chí những người khách từ nơi khác đến chơi cũng có thể tham gia.Trang phục, trang sức múa cũng chính là trang phục, trang sức của ngườitham dự lễ hội – đó là những trang phục đầy hoa văn sặc sỡ và những trangsức đẹp đẽ và quý giá nhất của mình Vậy nên, bất kỳ ai đi tham dự lễ hộiđều có thể múa nếu thích Điều đó cho chúng ta thấy tính cộng đồng, sựđoàn kết, chan hòa của tộc người Cơ Tu rất cao.

Động tác của hai điệu múa tơntúng và dadăq có đặc điểm riêng và ấntượng, “có thể ví như một điệu dân vũ mà cả hình tượng lẫn nhịp điệu làbám đất, dâng trời” Tức là cả hai điệu múa đôi chân dù di chuyển nhưngđều bám sát đất, hai tay của nữ giơ lên cao như đang dâng lễ vật cho trời.Động tác múa về cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau ở giai điệu, nhịp điệuchậm rãi, tha thiết hay rộn rã, dồn dập mà thôi Vì vậy, khi mới nhìn thoángqua, múa Cơ Tu có vẻ khá đơn điệu, trùng lặp, nhưng thật sự, đó chính là sựkết tinh một nghệ thuật múa với nhiều nét đặc trưng văn hóa riêng và đặcthù

Nhìn tổng thể, múa Cơ Tu tạo thành vòng tròn di chuyển chậm vàngược chiều kim đồng hồ Nếu là lễ hội ở sân nhà gươl thì lấy cột đâm trâulàm tâm điểm, nếu là lễ hội ở bên trong nhà gươl thì cột chính ở giữa nhàlàm tâm điểm Điệu múa Cơ Tu cũng gắn liền với âm nhạc cồng chiêng vàtrống Sau khi chiêng, trống nổi lên sẽ tạo nhịp điệu, giai điệu để múa Hàngcon gái thường múa trước rồi mới tới hàng con trai nối tiếp theo sau tạo

Trang 21

thành vòng tròn Nếu đông người, một vòng chật thì họ sẽ tách thành haivòng tròn cùng nhảy múa, nữ múa vòng trong, nam múa vòng ngoài.

Động tác múa tơntúng hùng dũng, dịch chuyển nhịp nhàng theo tiếngtrống chiêng nhịp 2/4 với các đạo cụ của người trai làng giữ đất, giữ rừng, đisăn bắn… Đây là điệu múa của những chàng trai tay cầm kiếm, giáo, khiênvới dáng dấp khỏe khoắn, dứt khoát Đàn ông đóng khố không cầu kì, rườm

rà, mà đơn giản, lộ thân hình cường tráng của người con trai núi rừng Điều

đó thể hiện tinh thần thượng võ, sức mạnh của trai làng Cơ Tu, không sợđương đầu với kẻ thù, với thú dữ hay khó khăn nguy hiểm; và còn thể hiệnniềm tin yêu cuộc sống, yêu buôn làng

Điệu múa dadăq của thiếu nữ Cơ Tu rất uyển chuyển, nhịp nhàng vàđộc đáo Toàn vòng tròn di chuyển chậm, từ trái sang phải, còn từng ngườithì chân nhún nhẹ nhàng tự quay vòng tròn quanh mình từ phải sang trái.Múa dadăq “thể hiện nét đẹp của người con gái miền sơn cước, yêu thiênnhiên và yêu cuộc sống”

Vũ điệu của phụ nữ Cơ Tu làm cho chúng ta liên tưởng đến hìnhtượng người phụ nữ đang dâng hiến lễ vật cho Giàng, đang cầu xin Giàng.Chính vì vậy, có nhiều ý kiến cho đây là điệu múa thiêng, là “hương đấtdâng trời”, hay như hình tượng đôi sừng trên đầu trâu - biểu tượng hiến tếcủa người Cơ Tu… Người ta cũng đã tìm được nhiều hình vẽ tương tự độngtác múa dadăq trên vách đá các hang động của người tiền sử ở Thái Lan,Trung Quốc Vì vậy, theo các nhà nghiên cứu, điệu múa dadăq “bắt nguồn

từ những động tác dâng lễ vật từ thời xa xưa Lễ vật được nâng trên tay làxôi, thịt, hoa, trái… Với nét đặc trưng của vũ điệu là hai tay đưa lên trên trờinên các nhà nghiên cứu gọi là vũ điệu dâng trời”

Ngày đăng: 11/04/2018, 11:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Ngọc Canh (2002), Đại cương nghệ thuật múa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương nghệ thuật múa
Tác giả: Lê Ngọc Canh
Nhà XB: Nxb Văn hóathông tin
Năm: 2002
2. Phạm Thị Xuân Bốn (2005), “Tín ngưỡng đa thần của người Cơ Tu ở huyện Hiên”, Văn hóa Nghệ thuật, (số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng đa thần của người Cơ Tuở huyện Hiên”, "Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Phạm Thị Xuân Bốn
Năm: 2005
3. Tạ Đức (2002), Tìm hiểu văn hóa Cơ Tu, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa Cơ Tu
Tác giả: Tạ Đức
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2002
4. Đinh Hồng Hải (2003), “Linh hồn các tác phẩm nghệ thuật người Cơ Tu”, Văn hóa Nghệ thuật, (số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linh hồn các tác phẩm nghệ thuật ngườiCơ Tu”, "Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Đinh Hồng Hải
Năm: 2003
5. Lưu Hùng (2005), Xã hội truyền thống người Cơ Tu, Ban dân tộc Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội truyền thống người Cơ Tu
Tác giả: Lưu Hùng
Năm: 2005
6. Lưu Hùng (2006), Góp phần tìm hiểu văn hóa Cơ Tu, Nxb Khoa học – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu văn hóa Cơ Tu
Tác giả: Lưu Hùng
Nhà XB: Nxb Khoahọc – Xã hội
Năm: 2006
7. Dương Ngọc Lai (2014), Múa Cơ Tu trong lễ hội hiện đại, Luận văn Thạc sĩ, Trường Sân khấu Điện ảnh Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Múa Cơ Tu trong lễ hội hiện đại
Tác giả: Dương Ngọc Lai
Năm: 2014
8. Bh’riu Liếc (2009), Văn hóa người Cơ Tu, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa người Cơ Tu
Tác giả: Bh’riu Liếc
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2009
9. Trần Tấn Vịnh (2009), Người Cơ Tu ở Việt Nam, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Cơ Tu ở Việt Nam
Tác giả: Trần Tấn Vịnh
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2009
10. Một số trang web:- https://www.google.com Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w