Một số loại hình văn nghệ dân gian và ý nghĩa của nó trong đời sống văn hóa của người Pu Péo .... MỞ ĐẦU Mục đích là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa, được học tập, trang bị và tra
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 Khái quát chung về người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 2
1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 2
1.1.1 Vị trí địa lý 2
1.1.2 Kinh tế xã hội 3
1.2 Khái quát về tộc danh và nguồn gốc lịch sử của người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 3
1.2.1 Về dân số, tộc danh và ngôn ngữ 3
1.2.2 Về nguồn gốc lịch sử 3
1.3 Đặc điểm về đặc điểm văn hóa của người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 4
1.3.1 Văn hóa vật chất 4
1.3.2 Văn hóa tinh thần 5
2 Một số loại hình văn nghệ dân gian và ý nghĩa của nó trong đời sống văn hóa của người Pu Péo 7
2.1 Truyện cổ dân gian 7
2.1.1 Truyện thần thoại 7
2.1.2 Truyện cổ tích 8
2.2 Dân ca 10
2.2.1 Hát nghi lễ - phong tục 11
2.2.2 Hát giao duyên 14
2.2.3 Hát ru 20
2.2.4 Hát đố 21
3 Đánh giá và đề xuất biện pháp để quản lý, bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa của tộc người Pu Péo 23
3.1 Đánh giá 23
3.1.1 Ưu điểm 23
3.1.2 Nhược điểm 24
3.2 Biện pháp quản lý, bản tồn và phát huy các giá trị văn hóa của tộc người Pu Péo 24
KẾT LUẬN 27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
PHỤ LỤC 29
Trang 2MỞ ĐẦU
Mục đích là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa, được học tập, trang
bị và trau dồi những kiến thức về văn hóa các dân tộc thiểu số, được tìm hiểu về các vấn đề như: kinh tế, hôn nhân, tín ngưỡng, lễ hội, ma chay, của các tộc người Qua đó giúp tôi hiểu rõ và sâu sắc hơn về văn hóa vật chất cũng như tinh thần của các tộc người trên khắp mọi miền đất nước, đây cũng là nền tảng để tôi nghiên cứu sâu hơn về giá trị văn hóa dân gian của dân tộc Pu Péo
Dân tộc Pu Péo (tên gọi khác Ka Beo, Pen ti lô lô, La quả) là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam Người Pu Péo cư trú tập trung ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc các huyện Đồng Văn, Yên Minh và Bắc Mê tỉnh Hà Giang
Trong bài tiểu luận dưới đây tôi tập trung nghiên cứu về người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang
Trang 3NỘI DUNG
1 Khái quát chung về người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang
1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
1.1.1 Vị trí địa lý
Đồng Văn là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Hà Giang và là điểm cực bắc của Tổ Quốc, có tọa độ từ 22 độ 55 đến 23độ 23 bắc; vĩ độ 105 độ 42 độ kinh đông, có vị trí giáp ranh như sau:
- Phía Bắc và Đông bắc tiếp giáp nước CHND Trung Hoa
- Phía Đông và Đông Nam tiếp giáp huyện Mèo Vạc
- Phía Tây và Tây Nam tiếp giáp huyện Yên Minh
Huyện có đường biên giới tiếp giáp với nước CHND Trung Hoa dài trên
52 km Trung tâm huyện được đặt tại thị trấn Đồng Văn cách thành phố Hà Giang 150km về phía bắc
Huyện Đồng Văn là trung tâm vùng lõi của cao nguyên đá Đồng Văn Với địa hình đặc trưng là núi đá với độ cao trung bình so với mặt biển là 1500m nhìn chung địa hình khá phức tập và bị chia cắt mạnh và thấp dần từ tây bắc xuống đông nam Toàn huyện chia thành 2 dạng địa hình chính là:
Địa hình núi đất gồm 7 xã: Lũng Cú, Ma Lé, Đồng Văn, Phố Bảng, Phố
Là, Phố Cáo và Sủng Trái
Địa hình núi đá vôi gồm 12 xã còn lại đó là: Hố Quáng Phìn, Lũng Phìn, Lũng Táo, Lũng Thầu, Sảng Tủng, Sính Lủng, Sủng Là, Tả Lủng, Tả Phìn, Thài Phìn Tủng, Vần Chải và xã Sà Phìn
Theo số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2010, huyện Đồng Văn có tổng diện tích đất tự nhiên theo địa giới hành chính là 44.497,55 ha Trong đó đất nông nghiệp là 26,51%, còn lại là rừng núi đá tự nhiên chiếm 73,49% diện tích Diện tích đất có độ dốc trên 25 độ là lớn nhất chiếm 14.119ha Điều này đã gây khó khăn cho việc phát triển giao thông và canh tác sản xuất nông - lâm nghiệp cũng như sinh hoạt đời sống nhân dân
Trang 41.1.2 Kinh tế xã hội
Vì địa thế toàn rừng núi nên kinh tế nơi đây tương đối kém phát triển Lâm sản chính là vài loại gỗ quý như lát hoa, lát da đồng; và các loại gỗ cứng như lim, sến, trai, táu, đinh Củ nâu, vầu, nứa ở đâu cũng có Nông sản gồm lúa, ngô, khoai và các loại đậu đỗ Dân chúng cũng trồng cây ăn trái, mận
và lê Nghề nuôi ong lấy mật khá thịnh hành Tính đến cuối năm 2008, toàn huyện có 63.254 người với 11.069 hộ dân, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 61.845 người
Tổng số hộ nghèo toàn huyện tính đến cuối năm 2008 là 6.198 hộ Chiếm
tỷ lệ 51,82% Sau 1 năm thực hiện Nghị quyết 30a, tính đến cuối năm 2009, tỷ lệ
hộ nghèo huyện Đồng Văn giảm mạnh, chỉ còn 5.390 hộ (trên tổng số 12.757 hộ dân toàn huyện), chiếm tỷ lệ 42,25% Trong năm 2009 thực hiện xóa 100% số nhà tạm trên địa bàn huyện với tổng số 1.054 nhà
1.2 Khái quát về tộc danh và nguồn gốc lịch sử của người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang
1.2.1 Về dân số, tộc danh và ngôn ngữ
Theo số liệu thống kê năm 2005 thì dân số tộc người Pu Péo ở Hà Giang
có khoảng 602 người Tính đến 31/12/2007 có khoảng 663 người
Tộc danh chính thức Pu Péo xuất phát từ cách đồng bào tự gọi mình là Ka Béo, QaBéo hay Han Béo… Trong các tài liệu dân tộc học trước đây còn có nhiều cách ghi tên gọi khác như Pen ti, Pen ti Lô Lô, Ka Béo và Pu Péo
Người Pu Péo được xếp vào nhóm ngôn ngữ Ka – Đai trong hệ ngôn ngữ Tai-Kadai Tuy nhiên Người Pu Péo nói giỏi cả các tiếng H'Mông, Quan hỏa
1.2.2 Về nguồn gốc lịch sử
Từ lâu người ta đã xác định rằng người Pu Péo là một trong những cư dân lâu đời nhất ở vùng cao cực bắc Hà Giang Họ cũng được xem là một tộc người chỉ duy nhất có mặt sinh sống ở Hà Giang Người Pu Péo di cư đến huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang cách ngày nay khoảng hơn 300 năm, khi đặt chân lên mảnh
Trang 5đất Đồng Văn, đồng bào cư trú ở các xã Phố Là, xã Phố Cáo, Phố Bảng là chủ yếu Hiện nay, dân tộc Pu Péo với gần 1000 người, tập trung chủ yếu tại xã Phố Là; Thị trấn Phó Bảng, huyện Đồng Văn, ở xã Sủng Tráng và Phú Lũng, huyện Yên Minh và một số ít còn lại sống ở huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang Người Pu
Péo nói giỏi tiếng Hmông, Quan hoả So với lịch sử phát triển của các dân tộc
anh em sinh sống tại vùng núi này, người Pu Péo là một trong những cư dân khai khẩn ruộng nương đầu tiên ở vùng cực Bắc
1.3 Đặc điểm về đặc điểm văn hóa của người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang
1.3.1 Văn hóa vật chất
Cho dù với số dân không đông, nhưng người Pu Péo lại sinh sống phân tán trên dải đất Việt - Trung Người Pu Péo không ở trên núi cao như người Hmông mà thường chọn những bồn địa giữa núi để lập làng Làng bản của người Pu Péo đều thuộc vùng núi giữa, mang đậm tích chất của khí hậu á nhiệt đới Với một điều kiện tự nhiên như vậy người Pu Péo có thể làm ruộng nước và vừa vận dụng được những thế mạnh của rừng trong canh tác Các thôn xóm của
họ thường có quy mô nhỏ, chỉ 10 - 12 hộ gia đình; cá biệt có những gia đình Pu Péo ở một mình, ghép với bản của người Hmông Nhìn chung, do số dân ít, lại
cư trú phân tán, hiện tượng xen cư của dân tộc này diễn ra khá phổ biến, theo kiểu một hoặc hai xóm Pu Péo ghép vào các bản của người Tày hoặc người Hmông Các sắc thái văn hoá Pu Péo vẫn được giữ cho đến nay, kể cả trong văn hoá vật chất cũng như tinh thần và nhất là trong ý thức tự giác tộc người.Theo hồi ức của những người già, trước kia, người Pu Péo ở nhà sàn nhưng do rừng bị tàn phá nhiều nên việc tìm kiếm nguyên vật liệu trở nên khó khăn; vì vậy, họ đã phải chuyển sang ở nhà đất Người Pu Péo ở kiểu dạng nhà làm theo kiểu của người Hoa đó là nhà trình tường, hai mái, không có chái và số gian không cố định, phổ biến hơn là ba gian Các ngôi nhà đều được xây to, bề thế, nhưng chỉ được trổ một cửa ra vào không có cửa sổ Trước đây người Pu Péo thường làm theo kiến trúc hai tầng giống người Hoa, mái nhà chủ yếu được lợp bằng cỏ
Trang 6tranh; Hiện nay được lợp bằng ngói máng (ngói âm dương) hoặc ngói Tây Ngày nay các ngôi nhà làm theo kiểu người Việt chỉ có một tầng kiểu kiến trúc vẫn tương đối chuyên biệt Nhà của Pu Péo thường được dựng ở chân đồi, tựa lưng vào rừng và nhìn ra ruộng Hướng Nam và Đông Nam được xem là tốt nhất Không gian sinh hoạt của người Pu Péo rất đa dạng Mỗi gia đình thường có khuân viên riêng, trong đó có các kiến trúc như: Nhà ở, chuồng gia súc và vườn nhà Về nhà mới là lễ thức quan trọng nhất trong hệ thống tín ngưỡng liên quan đến ngôi nhà của người Pu Péo Mọi nghi thức cúng tế nhà mới phải hoàn tất vào lúc gần sáng, đến khi trời sáng họ hàng, làng xóm sẽ sang mừng tân gia, chúc phúc cho gia chủ Trang phục của người Pu Péo trước kia được may bằng vải bông tự dệt và nhuộm chàm; ngày nay hầu hết đều mặc vải công nghiệp Cho đến nay, trang phục của họ vẫn chủ yếu được phân loại theo giới tinh và tình trạng hôn nhân ( đối với phụ nữ), không phân biệt theo vị thế xã hội hay nghề nghiệp Hiện nay những người lớn tuổi chỉ mặc quần áo đen như nam giới như các dân tộc khác ở trong vùng Tuy nhiên, các đặc trưng văn hoá của dân tộc Pu Péo cơ bản vẫn được bảo lưu ở trang phục nữ Trang sức của người Pu Péo chủ yếu là bằng bạc, thường được đi chung với những bộ trang phục mang những nét hoa văn đặc sắc riêng của dân tộc mình.Trống đồng xưa kia được người Pu Péo sử dụng trong các hoạt động văn hoá như: Lễ hội, tang ma, cưới xin Ngày nay người ta chỉ còn dùng nó trong các đám ma khô Trống đồng của Pu Péo có
2 loại (trống đực và trống cái), Trống đồng còn là nhạc nền cho những điệu dân
ca, dân vũ
1.3.2 Văn hóa tinh thần
Người Pu Péo tin vào sự tồn tại của ba thế giới Ngoài thế giới thực, còn
có sự tồn tại của một thế giới khác ở trên trời, mà con người không kiểm soát được - thế giới của các thần linh Trong thế giới đó, ngoài các vị thần còn có những người trời, có đặc điểm là mặt đỏ và thường đeo dao gỗ ở cổ Thế giới thứ ba ở dưới mặt đất với những con người chỉ bé bằng ngón tay và thường đeo dao ở khoeo chân Thời gian của thế giới thực và hai thế giới kia luôn ngược nhau, trước kia ba thế giới được thông qua bằng chiếc thang Truyền thuyết của
Trang 7người Pu Péo kể lại rằng quả bầu chính là vật đã cứu sống tổ tiền của dân tộc này chính vì vậy: Con cháu dân tộc này khi cúng tổ tiên bao giờ cũng bày thức
ăn lên nong chứ không bày lên mâm; và khi hành lễ, bao giờ thầy cúng cũng phải cầm một quả bầu Người Pu Péo sử dụng lịch nhà Chu, mỗi giáp có 12 năm, mỗi năm chia thành 12 tháng, mỗi tháng có 29 ngày hoặc 30 ngày, mỗi ngày có 12 giờ Cứ 3 năm, sẽ có một năm nhuận, hoàn toàn khớp với cách tính năm, tháng và ngày của âm lịch ngày nay Vì vậy họ cũng ăn tết Nguyên đán như nhiều dân tộc khác Mặc dù có số dân không đông, nhưng người Pu Péo ở
Hà Giang vẫn còn lưu giữ trong ký ức cộng đồng một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú Những bài cúng của họ thực chất là những áng cổ văn, kể về nguồn gốc loài người, về nạn đại hồng thuỷ và lịch sử du cư của họ từ đời này sang đời khác Trong đám cưới, trai gái thường hát đối đáp mà nội dung của các bài hát thường nói nhiều về tình yêu lứa đôi và biểu thị khát vọng hạnh phúc Ngoài ra, họ còn có nhiều thành ngữ, tục ngữ, được sử dụng khá nhuần nhuyễn trong giao tiếp hàng ngày Đó là một lối truyền đạt các tri thức bản địa hữu hiệu, một biện pháp giáo dục cộng đồng hiệu quả Người Pu Péo có những phong tục tập quán, lễ hội, dân ca, cưới xin theo phong tục riêng đặc biệt là Lễ cúng thần rừng (Lễ cúng thần rừng Là lễ cúng cầu Thần Rừng, Thần Đá, Thần Suối bảo vệ ruộng nương và phù hộ sự bình yên cho người Pu Péo có cuộc sống ấm no, hạnh phúc) Xuất phát từ những phong tục tập quán, văn hoá truyền thống của dân tộc thiểu số là một nét đẹp trong đời sống văn hoá của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam Chính những nét văn hoá truyền thống ấy đã thôi thúc mỗi con người Việt Nam chúng ta tìm về cội nguồn một cách tận tâm, tận ý Mỗi dòng họ, mỗi tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đều có một nét văn hoá độc đáo riêng Đưa các giá trị văn hoá vào phục vụ du lịch là hình thức bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số, góp phần phát triển mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo đối với bà con các dân tộc vùng sâu, vùng xa
Trang 82 Một số loại hình văn nghệ dân gian và ý nghĩa của nó trong đời sống văn hóa của người Pu Péo
2.1 Truyện cổ dân gian
2.1.1 Truyện thần thoại
Bao gồm nhiều truyện kể giải thích về nguồn gốc vũ trụ, các hiện tượng của tự nhiên Văn học dân gian đã thể hiện trí tưởng tượng phong phú đa chiều
để lý giải các hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội Chẳng hạn như giải thích
về nguồn gốc của vũ trụ, các hiện tượng tự nhiên ngày và đêm có liên quan đến tiếng gà gáy, vì sao có thần rừng và việc thờ cúng thần rừng, Nguồn gốc loài người giống truyện “ Quả bầu mẹ” của nhiều tộc người ở Tây Bắc hay nội dung tượng tự của nhiều tộc người khác hay truyện “Hai anh em” của người Dao và các truyện có nội dung tương tự của nhiều dân tộc khác theo một mô thức chung
là lũ lụt - nam + nữ - loài người
Tuy nhiên theo truyền thuyết Pu Péo cũng có một số chi tiết khác đáng lưu ý Hai chị em nhà nọ vào một buổi tối cho bà cụ già tên gọi Diệc Linh, Diệc Lúa – thần chuyên quản lý về sông nước ngủ nhờ trong một cái nia, sáng dậy bà báo cho biết trên thế gian sẽ gặp một trận lụt lớn và trao cho hai người một hạt bầu, bảo mang trồng, ba ngày bầu sẽ mọc, sáu ngày ra hoa, chín ngày có quả, ngày mười thu hoạch về và chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng để tránh nước Đúng ngày mười ba trời đổ mưa, nước lớn kéo dài liên tục 12 ngày đêm, chả mấy chốc nước
đã ngập cả thế gian Hai chị em chui vào trú trong quả bầu, nước dâng đến đâu, quả bầu nổi lên đến đó Nhờ đó mà chị em thoát nạn
Sau nạn đại hồng thủy trên thế gian không còn người, đi tới đâu hai chị
em đầu nghe vẳng vẳng bên tai là thế giới không còn ai nữa
Trải qua hàng loạt thử thách, cuối cùng hai chị em kết duyên với nhau Sau một thời gian, người chị sinh ra một bọc thịt, hai vợ chồng vứt mang vứt xuống hồ nước để cho cá ăn, nhưng các loài muông thú lại kéo đến khu vực hồ
để ngắm nhìn Hai vợ chồng thấy vậy lại đi vớt về và cắt thành từng miếng thịt nhỏ treo lên các cành cây Ba ngày sau, mỗi miếng thịt treo ở cành cây biến thành một nóc nhà và người chủ nhà đó mang một tên họ Miếng thịt treo ở cành
Trang 9cây lê hóa ra người họ Lê; miếng thịt treo ở cành cây đào hóa người họ Thào; miếng thịt treo ở bờ rào hóa thành người họ Duyền , đến miếng thịt thứ 100 biến thành người họ Pờ Từ đấy có người sống trên trái đất
Trên đây là tóm lược truyện kể về nguồn gốc loài người từ hai chị em mồ côi được quả bầu cứu thoát sau cơn đại hồng thủy Để nhớ ơn cứu mạng, ngày nay trong các buổi cúng tế, người Pu Péo thường dùng quả bầu để tân sự với tổ tiên trong mâm lễ cúng
Trong thần thoại còn đề cập đến một số biểu trưng hình tượng anh hùng văn hóa Truyện “Mẹ lửa, mẹ ngô” kể rằng “Dé Linh”, “Dé Lúa” – người trời đã cho con người dưới trần các giống lúa, ngô, kê, mạch để trồng và theo các ông Sáng:
“ông Sáng ngày (mặt trời), ông Sáng đêm (mặt trăng), gieo giống ở nơi đất bằng, ở
cả thung lũng Phải trồng lúa ở nơi có nước ” Từ ngày ấy cây lúa lên xanh, rồi chín vàng, bông to hột nặng Cây bắp, kê, mạch cũng đẻ quả to hạt nhiều
Người mặt đất có gạo ngô, kê, mạch ăn Lại biết say gạo, giã bột làm bánh Trẻ con ăn bánh thấy béo tốt, lớn nhanh, khôn nhiều Bây giờ có nhiều tiếng cười, ít nghe tiếng khóc
Người Pu Péo nhớ ơn người cho giống lúa, giống ngô, gọi đó là mẹ lúa,
mẹ ngô Khi địu xong ngô, lúa về nhà, cất vào kho, người ta cũng cúng Bao giờ
lễ cũng là bát cơm ngon và bánh ngô thơm dẻo
2.1.2 Truyện cổ tích
Truyện cổ tích của tộc người Pu Péo khá phong phú, đề cập đến nhiều sắc thái của tự nhiên và xã hội bao gồm: Truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt xã hội và truyện cổ tích loài vật
Truyện cổ tích thần kỳ: Ở đây người ta dùng những yếu tố hoang đường
để giải quyết những xung đột xã hội và chi phối toàn bộ quá trình phát triển của cốt truyện Tiêu biểu là các truyện “Tướng Cóc ra trận”, “Vua Ếch” , những nhân vật ưu tú, khô ngô, thông minh, tài giỏi, giàu lòng vị tha, nhưng trong lốt là những con vật quen thuộc (con cóc hay con ếch)
Truyện “Tướng Cóc ra trận” kể rằng, có đôi vợ chồng nọ sinh ra một con cóc Lớn lên cóc lấy vợ - một cô gái làng bên đẹp đẽ, nết na, thùy mị Ngày ngày
Trang 10nàng cùng chồng lê nương, ra ruộng Bà mẹ có dâu hiền cũng đỡ vất vả Nhà mỗi năm lại no đủ hơn Bỗng có tin giặc lại xâm phạm bờ cõi Rồi quân giặc tràn tới biên giới Lính nhà vua đánh chỗ nào cũng thua Giặc tràn đến giết mẹ Cóc, bắt vợ Cóc mang đi Cóc tìm đến xin nhập ngũ, cứu nguy đất nước Đang lúc quẫn bách, vua chấp thuận Cóc chỉ xin nhà vua ba trăm xe than tốt và số lính hộ tống những xe than đó Xe than ngày đêm rầm rập lên đường ra trận Gần tới chiến địa giáp doanh trại giặc, Cóc sai đổ than ra thành đống lớn và cho nhóm lửa Than rực hồng thành một đống lửa lớn nóng bỏng, Cóc nhẩy đến bên núi lửa nuốt dần từng hòn vào bụng Cóc nhảy rất nhanh ra trận, phun lửa liên tiếp và doanh trại địch Lửa trong mồm Cóc phun ra tới đâu, lính giặc bị thiêu cháy tới đó Giặc chết không sót một tên Cả chiến trường biến thành bãi tha ma lớn phủ tro tàn và khói than nghi ngút, mùi thịt cháy khét lẹt Quân ta toàn thắng, không mất một người, không phí một mũi tên, không mất một cây gươm Tin thắng trận lan truyền về hậu phương, nhà vua và mọi người vô cung sung sướng Đất nước trở lại bình yên, nơi nơi hát ca mừng chiến thắng
Riêng nhà vua đã quên lời hứa với tướng Cóc là nếu Cóc đuổi sạch được quân thù thì vua phải gả con gái út xinh đẹp cho Cóc Trong bữa tiệc mừng công Cóc nhắc lại với vua về việc ấy Vua vờ ngạc nhiên như không bao giờ hứa vậy Cóc tức giận, bỏ tiệc đi ra ngoài phun lửa đốt ngay 72 cổng thành Vua kinh hoàng phải giữ lời hứa cũ, nhưng lại ra thêm một điều kiện nữa Vua nói: “Nhà
ta có ba mươi sáu buồng giống nhau Nếu Cóc đoán đúng buồng cô út ở thì được lấy nàng Nếu đoán sai thì thôi!” Cuối cùng nhờ có ruồi giúp, Cóc tìm ra được buồng của cô út Đám cưới được tổ chức thật linh đình, vui vẻ Ngay đêm tân hôn, rể mới liền xé tấm da Cóc xù xì, xấu xí và vươn vai thành một chàng trai tuấn tú, khôi ngô Ít lâu sau, vua cha ốm nặng rồi qua đời Chàng rể út nhờ tài năng đánh giặc, cứu nguy cho đất nước, được lên làm vua
Truyện cổ tích sinh hoạt xã hội:
Truyện cổ tích sinh hoạt xã hội chiếm một vị trí quan trọng trong kho tàng truyện cổ Pu Péo Nổi bật là các mối quan hệ gia đình, quan hệ nam nữ, quan hệ vợ chồng, quan hệ anh em Đặc biệt là ca ngợi tình yêu, tình nghĩa vợ
Trang 11chồng thủy chung, trọn vẹn Các truyện “Inh và Ính”, “Chàng rể kỳ lạ”, “Vợ chồng chàng Rồng”, phản ánh đa dạng quan hệ vợ chồng, dù phải trải qua nhiều bi kịch đau khổ, bị các thế lực đối nghịch chia cắt, nhưng cuối cùng tình yêu đã chiến thắng, vợ chồng đuoực đoàn tụ bên nhau Truyện “Ba anh em” nói lên tình anh em gắn bó keo sơn, tính trung hậu, tinh thần dũng cảm đẩy lùi được toán cướp, giữ được cuộc sống yên ổn cho gia đình Mặc dầu, xã hội của Pu Péo chưa phát triển, nhưng đã có người giàu, người nghèo, đã có thường dân và chức dịch Cuộc đấu tranh giữa thiện và ác đã diễn ra gay gắt Truyện “Tình anh em và tên bạo chúa” nói về 8 anh em nhà nọ, mỗi người một năng lực riêng, trải qua bao thử thách hiểm nghèo do tên vua độc ác bày đặt ra để giết hại họ Cuối cùng chiến thắng thuộc về họ và tên vua độc ác uất
ức phải chết Mọi người đồng thanh cử 8 anh em biết hết việc lên trông coi thiên hạ
Truyện cổ tích về loài vật
Trong nhiều truyện cổ, tập tính của nhiều loài vật được khắc họa khá hiện thực và sâu đậm Như vì sao “gà sống cất tiếng gáy” báo hiệu một ngày đến và ngày mới bắt đầu? Vì sao diều hâu bắt gà ăn, người Pu Péo không dám kêu? Vào đầu năm mới từ mồng 5 tháng giếng người ta phải kiêng giặt giũ và phơi quần áo? Vì sao số phận của chó và bọ hung không dám lơ là việc làm
vệ sinh cho con người? Những loài vật được thể hiện trong truyện cổ phần lớn là có thực, sống trên lãnh thổ của tộc người
2.2 Dân ca
Dân ca là một rong những loại hình nghệ thuật phổ biến nhất hấp dẫn nhất đối với tộc người Pu Péo Họ rất tự hào vốn dân ca của mình, “hát suốt mấy ngày đêm trong hàng tháng không phải quay lại bài cũ”
Có thể tạm chia khối lượng dân ca phong phú của tộc người Pu Péo ra làm mấy loại như sau:
- Hát nghi lễ - phong tục
- Hát giao duyên
- Hát ru
- Hát đố
Trang 122.2.1 Hát nghi lễ - phong tục
Trong đời sống dân tộc có nhiều hoạt động, đánh dấu những bước ngoặt, những giờ phút thiêng liêng của cuộc đời, những mốc giới của cuộc sống tiễn năm cũ đón năm mới, lấy vợ gả chồng, chết đi sang thế giới bên kia, mong ước một mùa thu hoạch phong đăng bội thu, khi một ngôi nhà mới vừa dựng xong cả gia đình và bản làng đón mừng
Chính vào những dịp như thế, người Pu Péo thường có những lễ tục mang tính chất tín ngưỡng tôn giáo và kèm theo những lời ca tiếng hát biểu lộ ý tâm lý vui nhộn, ước mong mọi điều tốt lành đã đến và sẽ đến với bản thân từng thành viên và cả gia đình, hoặc sự chia ly, buồn tủi giữ kẻ ở người đi trong các lễ ma chay của người thân Dân ca nghi lễ - phong tục của tộc người Pu péo rất đa dạng gắn liền với từng một hiện tượng cuộc sống cụ thể Hát mừng năm mới, hát đám cưới, hát gọi hồn lúa, hát mừng cơm mới, hát đám ma, “Những nghi lễ này hát bằng nhạc lay khinh, một điệu nhạc chậm rãi, ngâm ngợi Lay khinh hay xính khinh cùng chung nhạc điệu cơ bản, song ứng vào ứng vào nhiều đề tài khác nhau Lay khinh dùng trong lễ chiêu hồn và lễ tang Còn hát đón giao thừa
và hát mừng năm mới thì dùng xính khinh, tiết tấu có thay đổi chút ít, nghe vui hơn lay khinh”[2, Tr 76]
Lễ “Chiêu hồn” trong phần mời các thần về hưởng lộc là mời các thần thánh, tổ tiên ở trên trời, dưới mặt đất ở khắp mọi nơi về ăn tết với gia đình, khi
về gọi giúp hồn các thành viên của gia đình về theo
“Tháng hết hôm nay, năm hết hôm nay
Mời hồn về ăn bữa cơm tết sáng
Tết đầu năm, ăn to nhất
Mời hồn về dự bữa cơm tết tối
Lễ tiễn năm cũ tết to, ăn nhiều
Về ăn bánh gio to, bánh chưng lớn
Mời hồn, mời hồn!
Năm mới phát tài mới”[1, Tr 12]
Trang 13Dân ca mừng năm mới với nội dung bày tỏ niềm vui đưa tiễn một năm qua đi và đón nhận một năm mới đến, cầu mong cho gia đình tài lộc, sức khỏe mới, vụ mùa phong đăng, gia súc gia cầm đầy chuồng trại
“Mở cửa đón cơm
Mở cửa đón nước
Mở cửa đón gia cầm nhỏ, đón gia súc lớn
Gia cầm đầy sân, gia súc đầy chuồng
Gà sinh nở từng đàn
Chó sinh sôi từng lứa
Lợn đẻ như lợn rừng
Trâu nhiều như hươu nai
Bò đông như dê núi
Lúa, ngô, kê, mạch
Về đầy nhà đầy cửa”[1, Tr 13]
Trong dân ca nông nghiệp, nguyện vọng được mùa no đủ được diễn đạt dưới dạng cầu mong Lễ cúng cơm mới, xin cầu chúc ở tổ tiên, thần thánh:
“Đừng cho sét đánh xuống ruộng
Gió đừng cho nó to
Bão đừng cho nó lớn
Mưa đừng cho nó nhiều
Nước vào ruộng nước đủ lúa uống
Nắng, đừng cho hạn hán
Thấy gió về đẩy gió lên núi
Thấy mưa nhiều đẩy nước xuống khe
Thấy bão về thì quạt đi
Nắng gắt thì làm mây che
Cho mát nương, mát lúa
Năm sau mùa mới
Được lúa, được lợn, được gà
Trang 14Lợn chật chuồng
Gà đầy sân
Chúng tôi lại dâng mời”[1, Tr 13]
Việc vào nhà mới đánh dấu công trình xây dựng tốn nhiều vật lực của gia đình và công sức của nhiều thành viên trong dòng họ, làng bản giúp đỡ đã hoàn thành Nghi lễ vào nhà mới giải quyết được nhiều vấn đề đời sống tinh thần Các thành viên gia đình yên tâm bởi lẽ đã được các loại thần linh chấp thuận, từ nay trở đi có cuộc sống an cư lạc nghiệp sau khi kết thúc nghi lễ vào nhà mới xong, gia chủ dọn mâm cơm thiết đãi những người đến giúp việc và các thân thích bạn
bè đến mừng Khách khứa bằng những lời ca tiếng hát chúc mừng gia chủ:
Sinh đàn, đầy chuồng
Xong nhà mới: Lòng thật yên lòng”[1, Tr 16]
Trang 15Lễ cưới là sự kiện quan trọng của cả đời người, là ngày vui của cô dâu chú rể nhưng cũng là ngày vui mang tính chất ngày hội của cộng đồng dòng họ, xóm làng
Vì vậy dân ca đám cưới đóng vai trò không thể thiếu trong đám cưới của người Pu Péo Các bài hát trong lễ mừng cưới chúc tụng cô dâu chú rể, chúc tụng nhà trai cưới được dâu thảo hiền; bày tỏ niềm vui và khuyên nhủ cô dâu chú rể hay hai vợ chồng trẻ chung thủy thuận hòa, xây dựng gia đình đầm ấm, hạnh phúc
Sau đây là một vài đoạn đối đáp giữa đại diện của nhà cô dâu với ông bà nội của nhà chú rể trong nghi thức đón dâu về nhà chồng
Đại diện cho nhà gái hát: :Piềng pạc lìn piềng pai, piềng pai lìn xhờ sờ, vần ươi vần dấm hồ tung chiên bang, uổn éng dắm hồ tương chín mướng, bản khu du nhạc du đi, pế xả khuổi mở lắng dú xê, chẳng mứng vấn ẻng dấm ngô tùng táng lao du sử” Đại ý là đón dâu, 2 bên vợ chồng làm ăn phát đạt hạnh phúc mãi mãi Không thể tan tình chia sẻ hai vợ chồng, phải phiền phức ông bà mối giới thiệu thành đôi thành lứa
Ông bà mối đáp: “Ca khu táng ngứn, ca khu táng ngứn, khạc di pác lao, thì nại dạc du sà, thì thì nại giác chín ban, tạc lao tạc tem, tạc lao giác tạc lạc, giữ ươi” Đại ý là xin cảm ơn chủ nhà đã đưa một con gái đi làm ăn, 2 vợ chồng được sinh sống thành đôi, xin cám ông ngoại bà ngoại
Trong dân ca đám cưới Pu Péo, người diễn xướng là những người đóng vai trò trung gian, là người đại diện thay ông bà của gia đình cô dâu chú rể Trong tang lễ, các nghi lễ được quy định rõ ràng Bài ca nào sử dụng trước, bài nào sử dụng sau, cách diễn xướng ra sao đều nhằm phục vụ nghi lễ được quy định rõ ràng
2.2.2 Hát giao duyên
Hát giao duyên là loại dân ca trữ tình, là bộ phận phong phú nhất trong dân ca Từ xa xưa, trai gái nhiều dân tộc trong đó có dân tộc Pu Péo tìm hiểu nhau, yêu mến nhau chủ yếu là qua ngững lờia ca tiếng hát làm quen, yêu nhau, thử thách và kết duyên trăm năm thành vợ, thành chồng Loại dân ca truyền