Không giống với bất kỳ một nơi du lịch nào ở Việt Nam, đến Lai Châu bạn có thể thấy đời sống vật chất và tinh thần của các tộc người miền núi rất độc đáo Huyện Mường Tè là một trong nhữn
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 Khái quát về huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu và dân tộc La Hủ 2
1.1 Khái quát về huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu 2
1.2 Khái quát về tộc người La Hủ 3
1.2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bổ dân cư 3
1.2.1.1 Dân số 3
1.2.1.2 Nguồn gốc lịch sử 3
1.2.1.3 Phân bố dân cư 3
1.2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa 4
1.2.2.1 Văn hóa vật chất 4
1.2.2.2 Văn hóa tinh thần 6
1.2.2.3 Văn hóa xã hội 8
2.1 Văn học dân gian 10
2.1.1.Truyền thuyết 10
2.1.2 Sự tích 15
2.1.3 Cổ tích 17
2.1.4.Tục ngữ, thành ngữ 20
2.2 Múa 21
2.3 Hát 22
2.4 Nhạc cụ 24
3 Đánh giá và đề xuất biện pháp để quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị của dân tộc La Hủ 25
3.1 Đánh giá về các giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc La Hủ 25
3.2 Một số biện pháp để quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc La Hủ 27
3.2.1 Nâng cao công tác tổ chức quản lý 27
3.2.2 Nâng cao ý thức của người dân tộc La Hủ 28
3.2.3 Xã hội hóa việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc La Hủ, tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các nước trong khu vực, trên thế giới 29
KẾT LUẬN 31
DANH MỤC TÀI LỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC 33
Trang 2MỞ ĐẦU
Lai Châu là một tỉnh biên giới thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam Là mảnh đất không quá nổi bật về tiềm năng kinh tế hay những danh làm thắng cảnh, Lai Châu không phải địa danh đầu tiên để người ta nhớ đến khi đi du lịch Tuy nhiên, khám phá mảnh đất này các bạn mới thấy đây là vùng đất có “vẻ đẹp tiềmẩn” với vô vàn điều lý thú xung quanh con người, phong tục tập quán hay cảnh sắc thiên nhiên Nơi đây có nhiều sản phẩm văn hóa đặc sắc từ truyền thống lâu đời của 20 dân tộc, một địa danh du lịch đáng nhớ bởi cảnh quan thiên nhiên và con người ở đây Không giống với bất kỳ một nơi du lịch nào ở Việt Nam, đến Lai Châu bạn có thể thấy đời sống vật chất và tinh thần của các tộc người miền núi rất độc đáo
Huyện Mường Tè là một trong những huyện giáp biên giới thuộc tỉnh Lai Châu Nơi đây là nơi cư trú của 12 dân tộc với những phong tục tập quán và văn hóa tinh thần riêng biệt Một trong những dân tộc đó chính là dân tộc La Hủ - Một tộc người
có số dân không đông nhưng lại có đặc điểm về đời sống tinh thần rất đặc sắc Văn nghệ dân gian là một yếu tố góp phần tạo nên nét đặc sắc đó
Là một sinh viên đang theo học chuyên ngành quản lý văn hóa và được học học phần văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam thì việc tìm hiểu các giá trị văn hóa của các dân tộc này thực sự hữu ích, phù hợp với chuyên ngành của mình Đây
là một cơ hội tốt để tôi có thể tìm hiểu và tích lũy thêm nhiều kiến thức về văn hóa của các dân tộc thiểu số
Với những lí do trên tôi đã chọn tìm hiểu và nghiên cứu về văn nghệ dân gian của dân tộc La Hủ ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu
Trang 3NỘI DUNG
1 Khái quát về huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu và dân tộc La Hủ
1.1 Khái quát về huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu
Lai Châu là tỉnh biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc, tỉnh Lai Châu có9.068,78 km2 diện tích tự nhiên; có 08 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị
xã Lai Châu và các huyện: Mường Tè, Sìn Hồ, Nậm Nhùn, Tam Đường, PhongThổ, Tân Uyên, Than Uyên
Huyện Mường Tè là huyện biên giới, phía Đông giáp với huyện Nậm Nhùntỉnh Lai Châu và huyện Kim Bình (Vân Nam - Trung Quốc), phía Bắc giáp tỉnhVân Nam (Trung Quốc), phía Tây và phía Nam giáp huyện Mường Nhé (tỉnhĐiện Biên) Huyện Mường Tè có 14 đơn vị hành chính gồm thị trấn Mường Tè
và 13 xã (Bum Nưa, Bum Tở, Vàng San, Kan Hồ, Pa Vệ Sủ, Mường Tè, NậmKhao, Tà Tổng, Pa Ủ, Ka Lăng, Thu Lũm, Mù Cả, Tá Bạ) Trung tâm huyện lỵđặt tại thị trấn Mường Tè
Huyện Mường Tè có diện tích 2.679,34 km2; Dân số 39,92 nghìn người;gồm 12 dân tộc: dân tộc Kinh 5,73%; dân tộc Thái 35,86%; dân tộc Mông22,59%; dân tộc Dao2,45%; dân tộc La Hủ 25,40%; Hà Nhì 22,32%; dân tộcMảng 4,42%; dân tộc Cống 3,14%; dân tộc Khơ Mú 2,30%; dân tộc Giáy2,35%; dân tộc Si La 1,36%; dân tộc Hoa 0,30%
Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc sinh sống như dân tộc Thái, Hà Nhì,
La Hủ, Si La …với bản sắc văn hoá riêng, có những lời ca, tiếng hát, say sưatrong điệu xòe của người Thái, Hà Nhi và kiến trúc xây dựng nhà sàn mangđậm sắc thái
Từ một huyện thuần nông kinh tế kém phát triển, đến nay Mường Tè đã cónhiều thay đổi, kinh tế có bước phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng địnhhướng, sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục đào tạo cán bộ, đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên, chính trị ổn định, quốc phòng -
an ninh được giữ vững
1.2 Khái quát về tộc người La Hủ
Trang 41.2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bổ dân cư
1.2.1.1 Dân số
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người La Hủ ở Việt Nam códân số 9651 người, cư trú tại 16 tỉnh trên cả nước Tuyệt đại đa số người la Hủ
cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (9600 người chiếm 99,47% tổng số người la
Hủ tại Việt Nam) ngoài ra còn có ở người Thái Nguyên (20 người), các tỉnh cònlại có không nhiều hơn 10 người Theo kết quả tổng điều tra dân số toàn quốcnăm 1979 dân số dân tộc La Hủ đứng thứ 38 và đến năm 1989 đứng thứ 37trong số 54 dân tộc ở Việt Nam
Trong số 21 dân tộc hiện đang cư trú ở Mường Tè, dân tộc La Hủ đứnghàng thứ ba về dân số (chiếm 19,13% trong tổng số) sau dân tộc Thái (31,29%)
và dân tộc Hà Nhì (23,67%)
1.2.1.2 Nguồn gốc lịch sử
La Hủ là một dân tộc hiện đại đươc phân hóa từ siêu tộc người Địch
-Khương thuộc những nhóm bộ tộc nói ngôn ngữ Tạng - Miến chuyên chăn nuôi
và làm nông thời đại đồ đồng cách đây trên dưới 4000 - 5000 năm Người La Hủvốn là một nhanh của người Khương, từ trên cao nguyên Thanh Hải đi xuốngphía nam theo dọc hành lang Hà Tây, đã có mặt ở vùng tây nam Tứ Xuyên hiệnnay vào thời Thương Chu Rất có thể vào thời điểm này người La Hủ đã xuấthiện ở Mường Tè - lúc này chưa có sự phân chia biên giới như hiện nay Ở ViệtNam trước kia người La Hủ được biết đến với tên gọi Xá Pươi, Xá Quỷ, Xả,Khù Sung La Hủ là tên gọi mới xuất hiện từ thời Thanh Ý nghĩa cua tộc danhnày thì La là con hổ, hủ là cách nướng thịt ngon nhất La Hủ là một tộc người cóliên quan đến tục nướng thịt hổ và săn bắt hổ Ở nước ta người La Hủ phân biệtthành ba ngành: La Hủ Tsư (La Hủ vàng), La Hủ Na (La Hủ đen) và La HủPhung ( La Hủ trắng)
1.2.1.3 Phân bố dân cư
Khác với nhiều dân tộc thiểu số ở nước ta, người La Hủ sinh sống tậptrung ở huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu Họ cư trú trên các sườn núi, năm nóc
Trang 5nhà, giao thông đi lại rất khó khăn Hiện nay, nhiều bản của người La Hủ đã có
từ 20 đến 60 hộ gia đình cư trú
Nhóm người La Hủ Na (La Hủ đen), La Hủ Tsư (La Hủ vàng), La HủPhung (La Hủ trắng) sinh sống ở huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu Từ Vân Nam(Trung Quốc) tổ tiên của họ di cư tới Việt Nam khoảng 150 - 200 năm trước,người La Hủ còn phân bố ở bắc Lào và Vân Nam (Trung Quốc)
Sự phân bố dân tộc La Hủ trên địa bàn huyện Mường Tè không đồng đều: “Xã Bum Tở có 1525 người, xã Pa Vệ Sử có 1125 người, xã Pa Ủ có 785 người, xã Ca Lăng có 735 người, xã Nậm Khao có 329 người, xã Hua Bum có 73 người, xã Mù
Cả có 23 người, thị trấn Mường Tè có 26 người Các xã Bum Nưa, Mường Nhé và Kan Hồ của Mường Tè có từ 2 đến 3 người La Hủ cư trú”[1,Tr 40]
Ngoài ra còn 45 người La Hủ sống trên địa bàn khác thuộc tỉnh Lai Châu
Số xã có người La Hủ cư trú luôn biến động thất thường do tập quán sinh sốngcủa họ Tuy nhiên trên thực tế sự phân biệt được nhận thấy rõ nhất chỉ ở hainhóm đen và vàng Nhóm La Hủ Vàng đang cư trú ở Pa Ủ, Pa Vệ Sử, La Hủ đenđang cư trú ở Bum Tở Nhóm người La Hủ Na đã có mặt ở Mường Tè sớm hơn,còn nhóm người La Hủ Tsư - những người đến sau nhưng là bộ phận đông đảohơn Thời kì thiên di ồ ạt nhất có lẽ đã diễn ra sau khi những cuộc khởi nghĩacủa họ nhằm chống lại triều đình nhà Thanh và các thổ ty người Thái trong thế
kỷ XVIII - XIX bị thất bại
Đảng và Nhà nước cùng chính quyền và các đoàn thể ở địa phương đã vậnđộng người dân La Hủ quy tụ từ các địa điểm khác nhau để lập nên các làngbản Với cuộc vận động định canh định cư vùng người La Hủ trong những năm
70 đã tạo lập được gần 30 thôn bản
1.2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa
1.2.2.1 Văn hóa vật chất
a, Tập quán ăn uống
Đối với người La Hủ, gạo tẻ, gạo nếp và ngô đều được coi là lương thựcchính trong các bữa ăn thường ngày Gạo nấu thành cơm như cách thông dụngcủa người Việt, còn vơi gạo nếp thì đồ thành xôi trong những chiếc chõ gỗ Ngôtươi thường được nướng hay luộc còn ngô hạt khô có thể nấu lẫn với gạo hoặc
Trang 6giã thành bột và hông bằng chõ Ngoài ra, khoai sọ còn được biết đến như mộtthứ cây thực phẩm, song đối với nhiều gia đình đây cũng là một dạng lương thựcphụ bổ trợ cho những gia đình thiếu đói
Đối với các loại rau, đậu, người La Hủ thường luộc hoặc xào Nhưng vớirau rừng, cách chế biến cầu kỳ hơn một số loại có thể ăn sống hoặc muối chua.Một số loại lá có hàm lượng bột cao còn được giã nhỏ, trộn với bột ngô và hônglên ăn thay cơm Đặc biệt từ các loại rau rừng, người La Hủ còn chế biến đượcnhiều món ăn đặc sản mà các dân tộc khác không có
Thực phẩm có nguồn gốc từ động vật hoặc côn trùng cũng được chế biếntheo nhiều cách như luộc, nấu canh, kho mặn, xào, nướng và muối chua
Ở người La Hủ có hai dạng đồ uống chính là nước uống thông thường vàrượu Để có nước uống cũng như sinh hoạt hàng ngày, người ta lấy nước từ suốihoặc các khe nước ven bìa rừng gần nơi ở Nước uống được đun sôi trong ấmhoặc lam trong ống tre có thể pha thêm chút chè rừng Rượu không uốngthường xuyên trong các bữa cơm thường nhật, nhưng khi có khách gia chủ dùnghèo đến mấy cũng cố mua chút ít để dùng trong bữa cơm Đương nhiên rượuđược sử dụng trong các nghi lễ gia đình hoặc các nghi lễ liên quan đến chu trìnhđời người như lễ vật bắt buộc Rõ ràng thứ đồ uống này có một vai trò xã hội rấtlớn trong đời sống cộng đồng người La Hủ
b, Nhà cửa
Tại Việt Nam trước kia người La Hủ chỉ ở nhà đất Nhà của họ được xây rấtđơn giản, phù hợp với thói quen du canh du cư nhịp độ cao Sau nhiều ngàymiền Bắc hoàn toàn giải phóng người La hủ từng bước có cuộc sống ổn địnhhơn và một vài bộ phân đã chuyển sang ở nhà
Nhà ở của người La Hủ có hai loại là nhà đất và nhà sàn Nhà đất là loạinhà đơn giản nhất của người La Hủ, có kết cấu vì nửa kèo - nửa cột, hai gian.Nhà sàn thì được xây dựng nhiều kể từ sau ngày giải phóng Đa số các ngôi nhàsàn đều được xây dựng kiên cố nhưng cấu trúc kỹ thuật có sự khác nhau
c, Trang phục
Trang 7Trang phục của người La Hủ có màu chàm đen và được tạo dáng hầu nhưkhông khác biệt so với trang phục của các dân tộc anh em khác trong khu vực.
Họ mặc quần dài may kiểu chân què, cạp lá tọa, đũng và ống quần rộng Nammay theo kiểu bà ba, hai túi, xẻ ngực với hai cjat bằng nhau, các hàng cúc vàkhuyết đều tết bằng vải Các ống tay áo thường thẳng và rộng, họ không đội mũ
mà vấn khăn Trang phục của phụ nữ La Hủ gồm quần có màu chàm đen và cấutạo không khác quần nam giới Áo có hai loại, áo dài và áo ngắn [A1, Tr33] Áodài màu chàm đen, dài đến tận cổ chân, cài khuy bên nách phải Áo ngắn có cấutạo giống áo gilet của người phương Tây chỉ dài chấm qua lưng, không có tay vàcài cúc ở giữa ngực Hai bên nẹp ngực áo là dải hoa văn hình con bướm vớinhững hàng xu bạc hoặc xu nhôm
Trang phục của người La Hủ thể hiện chức năng sinh học, bảo vệ cơ thể.Bên cạnh đó cũng thể hiện rất rõ chức năng phân biệt tộc người của họ với cáctộc người khác trong khu vực
1.2.2.2 Văn hóa tinh thần
a, Tôn giáo, tín ngưỡng
Người La Hủ ở nước ta chưa chịu ảnh hưởng của các tôn giáo lớn Trướcngày miền Bắc giải phóng các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo của họ thể hiện rõtính chất sơ khai nhưng khá phức tạp Mặt khác về nhận thức người La Hủ cònchịu ảnh hưởng nhiều từ các dân tộc đang sinh sống gần kè, nhất là dân tộc HàNhì Điều đó cũng được phản ánh trong các khía cạnh tôn giáo, tín ngưỡng của
họ Tình trạng ảnh hưởng, vay mượn lẫn nhau trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôngiáo giữa người La Hủ với các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến là doquá trình cộng cư lâu dài trên cùng địa bàn, gần nhau về trình độ kinh tế - xã hội
và có chung một tầng văn hóa Tuy nhiên, sự ảnh hưởng vay mượn lẫn nhautrong lĩnh vực này thể hiện ở mức độ đậm nhạt khác nhau và không thể làm phainhạt đi những những nét riêng biệt ở bản thân mỗi dân tộc Quan niệm củangười La Hủ về tín ngưỡng rất phong phú Họ quan niệm về thần thánh, đất trời
và vũ trụ, quan niệm về linh hồn và các loại ma Trong nghi lễ tốn giáo của họ
Trang 8phải kể đến như: Lễ cũng bản, lễ cúng ma suối, má đá, lễ cúng ma đất Ngoài radân tộc La Hủ còn có các hình thức ma thuật và bói toán
b, Các nghi lễ gia đình
Trong nghi lễ gia đình của dân tộc La Hủ thì thờ cúng tổ tiên là một hìnhthức tín ngưỡng sỡ khai và được duy trì bền vững cho đến tận ngày hôm nay ởnhiều tộc người trên thế giới nói chung, các tộc người ở nước ta nói riêng Kháiniệm thờ cúng tổ tiên được xác định là việc thờ cúng ông bà cha mẹ đã khuất Ởngười La Hủ thờ tổ tiên là một trong những hình thức tín ngưỡng phổ biến có ýnghĩa quan trọng trong đời sống của họ Còn lễ gọi hồn được coi như một phầnquan trọng trong đời sống tín ngưỡng của họ Người La Hủ quan niệm con người
có linh hồn, nhưng hồn thường yếu ớt thụ động hay đi chơi lang thang nên bị hồn
ma - một lực lượng đối lập vô hình làm hại Để bảo vệ linh hồn, ngoài một sốphương pháp có tính chất ma thuật trừ tà thì việc thực hiện lễ gọi hồn là cách thứcđược người La Hủ coi trọng nhất và được một loại người đặc biệt - các thầy cúngchủ trì Người La Hủ rất coi trong ngày Tết, họ có những tập tục rất độc đáo trongngày lễ này Họ ăn Tết năm mới sau khi thu hoạch xong lúa và ngô trên nương.Đồng bào ăn Tết không phải vào một ngày thống nhất giữa các bản vì thời vụ thuhoạch sơm muộn khác nhau, bản nào gặt xong sớm thì ăn tết trước
c, Các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp
Trong đời sống của người La Hủ, tín ngưỡng và những nghi lễ nông nghiệpgiữ một vai trò quan trọng Một số lễ hội liên quan đến noogn nghiệp của người
La Hủ như: Lễ gieo hạt, lễ làm cỏ nương cúng hồn lúa, lễ cúng thần gió, lễ cúngcơm mới, lễ gọi hồn lúa., nghi lễ cúng bản [A2,Tr33]
Lễ gieo hạt được tổ chức mỗi năm một lần vào dịp tiến hành gieo hạt Lễlàm cỏ nương cúng hồn lúa được tiến hành sau khi nương đã gieo được mộttháng Lễ cúng thần gió được tiến hành lúc lúa trổ bông, người La Hủ cho rằngngô có chắc hạt hay không là nhờ ma gió mà nên Lễ cúng cơm mới là một trongnhững nghi lễ gia đình liên quan đến nông nghiệp của người La Hủ Người tathường chọn ngày tốt để tổ chức lễ Lễ cúng gọi hồn lúa quan trọng nhất là vàolúc đánh trống hoặc đưa thóc vào kho chứa ở trên nương, trước lúc chuyển về
Trang 9nhà Ý nghĩa của chính là liên quan đến việc cầu mùa, trừ sâu bệnh được diễn ra
ở tất cả các khâu trong chu kỳ làm nương Nội dung chính của những nghi lễnày là vỗ về hồn lúa, hồn ngô vì chúng quyết đinh tất cả sự trưởng thành, pháttiển, ra hoa, kết quả để thu hoạch Các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp là mộthình thức tôn giáo sơ khai nhưng nó thể hiện rõ rệt sự kết hợp trong đó nhiềuyếu tố của tôn giáo sơ khai khác nhau, đặc biệt là các phương pháp ma thuật vàquan niệm vạn vật hữu linh nguyên thủy
1.2.2.3 Văn hóa xã hội
a, Cộng đồng làng bản
Làng bản là đơn vị hành chính cấp cao nhất của họ Bản của họ gồm các loàihình: Làng bản du canh du cư, qui mô vài ba - chục gia đình, canh tác nôngnghiệp trên đất dốc, dùng sức kéo của trâu bò hoặc dùng cuốc làm đất Người La
Hủ cư trú phân tán thành nhiều xóm nhỏ với thành phần dân cư thay đổi thườngxuyên do lối sống du canh
Các bản của họ đều có bộ máy tự quản gồm: Trưởng bản và những ngườigiúp viễ do dân bầu bổ nhiệm Chức dịch được hưởng một phần nhất định sốtiền, số hiện vật do xử phạt người vi phạm lệ tục mà có, của biếu xén, lao dịch Ngoài các chức dịch, bản còn có hội đồng người già, các thầy mo Là nhữngthành phần có uy tín được mọi thành viên tin tưởng Công cụ quản lý và điềuhành các hoạt động trong bản là lệ tục, dư luận cộng đồng Ai làm trái lệ sẽ bịphạt và bị cộng đồng lên án Đất đai sông suối, rừng núi trong phạm vi bản dotrưởng bản quản lý, mọi gia đình đều có quyền khai thác
b, Quan hệ dòng họ
Trong điều kiện du canh du cư và sinh sống phân tán, mối quan hệ dòng họhết sức lỏng lẻo Các dòng họ của người La Hủ hiện tại đều không có đất đai riêng,không có vai trò kinh tế và hầu như không có các hoạt động cộng đồng huyết tộc.Chỉ có một vài dòng họ thuộc nhóm La Hủ Na có một nghi thức cúng tế tập thể -theo chu kỳ ba năm một lần với sự góp mặt của các thành viên trong họ
Mặc dù không có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế, nhưng cácdòng họ lại mang ý nghĩa rất quan trọng trong thể chế hôn nhân Tập quán quy
Trang 10định những thành viên trong cùng dòng họ không được phép kết hôn với nhau.Nhưng khái niệm cùng dòng họ ở đây được hiểu là cùng một dòng họ gốc, cótên gọi bằng tiếng La Hủ chứ không phải dựa vào tên gọi hiện nay Đối với cácdòng họ đã được chia tách, nam nữ thuộc hai ngành lơn - nhỏ có thể kết hônđược với nhau Hiện tượn này tương đối giống với người Thái ở miền Tây Nghệ
An và người Phù Lá Lão ở Lào Cai Đây là một hình thức tông tộc cổ truyềnphản ánh quá trình phân rã của chế độ thị tộc nguyên thủy và bước chuyển sanghình thái công xã nông thôn
c, Các tập quán liên quan đến chu trình đời người
Cưới xin là nghi lễ quan trọng trong cuộc đời của người La Hủ Đối vớingười La Hủ, ngoại hôn dòng họ là nguyên tắc bắt buộc Hiện trượng trai gái La
Hủ lấy vợ, lấy chồng ở các dân tộc khác có xảy ra song không nhiều Trong khíacạnh này, nội hôn tộc người là phổ biến Tuổi kết hôn của họ thường là 16 - 17tuổi, cá biệt có trường hợp lấy vợ lấy chồng ở tuổi 14 - 15 Việc hôn nhân củanam nữ phần lớn dữa trên cơ sở quan hệ tự do luyến ái Quá trình cưới hỏi củangười La Hủ phải qua ba bước chính: Gia mi na nhi - có thể xem đây là lễ dạm
vợ hoặc coi mắt của gia đình nhà trai, Gia mi dờ đồ - là lễ ăn hỏi được tiến hànhsau lễ gia mi na nhi khaonrg một tuần, Gia mi sí - là lễ cưới được tiến hành ngaysau lễ ăm hỏi khoảng một tuần
Việc sinh đẻ, chăm sóc phụ sản và trẻ sơ sinh của người La Hủ căn bản dựatrên kinh nghiệm của cuộc sống, kiến thức y học dân gian và kiêng kỵ liên quantới tín ngưỡng Người phụ nữ khi mang thai thường có một chế độ ăn uống vàlao động khác lúc bình thường
Tang ma của người la Hủ cũng rất đặc sắc Khi trong nhà có người chết,người ta thường bắn ba phát súng để đuổi ma tà và báo tin cho những ngườitrong làng biết Thi hài chết được đặt theo hướng nhà, gần cột thiêng Việc antáng người chết được chọn ngày giờ khác kỹ lưỡng Người La Hủ không cónghĩa địa tuy nhiên cũng có một quy định bất thành văn là không bao giờ chônngười chết trên hướng phát triển sự thiên di, tức là chỉ được chôn về phía làng
cũ, nơi họ đã đi qua Người La Hủ không có tục cải táng nhưng ở một số dòng
Trang 11họ như: Phùng, Lý, Vàng có tục xem lại mộ sau ba năm hung táng Sau tang
lễ, các tang chủ thường phải chuyển nhà ra khỏi nền cũ và chọn một nơi khác đểdựng nhà mới Nếu trong một thời gian ngắn liên tục có người chết sẽ tính đếnviệc chuyển nhà đi nơi khác
2.1 Văn học dân gian
2.1.1.Truyền thuyết
Truyền thuyết kể lại rằng, xưa kia người La Hủ cũng đã từng có chữ viếtnhưng do giữu gìn không cẩn thận nên đã bị cháy mất và vì vậy cho đến nay họkhông có chữ viết Tuy nhiên, họ vẫn có một nền văn học dân gian khá phongphú và độc đáo nhưng chưa được sưu tầm, giới thiệu một cách đầy đủ
Kho tàng truyện kể dân gian của người La Hủ chủ yếu là các truyện kể, sựtích về mặt trời, mặt trăng, sự tích về hạt lúa, hạt ngô, truyện con hổ, truyện maquỷ và nguồn gốc sinh ra loài người cùng muôn vật Tuy nhiên ở các nhóm La
Hủ khác nhau cũng có mô típ kể khác nhau, do chịu ảnh hưởng vay mượn vớicác tộc người nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến Sau đây là một số truyền thuyết tiêubiểu của dân tộc La Hủ
TRUYỀN THUYẾT VỀ SỰ HÌNH THÀNH TRỜI ĐẤT, MUÔN LOÀI VÀ
CÁC DÂN TỘC
Xưa kia, trời đất do chim én sinh ra Có trời có đất rồi mới có muôn vật Loài người khi ấy chỉ có rất ít, sinh sống ở vùng Nà Ma À Mé Có người con gái bỏ các thứ hạt giống vào vạt áo dài đem gieo lên đất mẹ thì sinh ra các loài cây cỏ Một hôm, con nhện nước là mẹ của nước không biết vì lí lẽ gì làm nước dâng len mãi, ngập hết cả mặt đất, muôn loài đều chết hết
Có hai anh em nhà kia kịp chui vào quả bầu lớn, trôi lênh đênh khắp mọi nơi Người anh thỉnh thoảng lại lấy dùi chọ quả bầu xem nước đã rứt hết chưa Quả bầu theo nước trôi xuôi dạt vào đỉnh núi Há Gạ (Phu Si Lung) và mắc ở đó Hai anh em thấy nước không chảy vào lỗ rồi mới ra ngoài, nhưng mặt đất còn ngập nước và bùn không đi đâu được Sau cơn hồng thủy mặt trời hun nóng làm đá vỡtung, mặt trăng cũng tỏa hơi nóng làm lá cây khô quắt Chờ mãi đất mới khô, haianh em chia nhau đi khắp nơi tìm không thấy một bóng người Sau họ lại gặp nhau ở vùng bản Hom Bô (nay là bản Nhóm Bố, xã Ka Lăng) Không tìm được
ai để kết làm vợ chồng, họ đành bàn nhau lấy hai thớt cối xay bằng đá, mỗi người thờ một thớt lên hai đỉnh núi đối diện nhau rồi cùng lăn xuống Theo thỏa
Trang 12ước ban đầu nếu thớt cối của người anh úp lên thớt cối của người em gái thì hai người buộc phải lấy nhau Hai người làm đi làm lại ba lần đầu đều đúng như điều đã thỏa ước Đành phải ăn ở với nhau thành vợ chồng Loài vật đầu tiên đến
ở theo đôi vợ chồng trẻ là chim bồ câu nên họ đặt tên nơi này là Khò Khòi (tên
cổ của vùng Bắc Ka Lăng) rồi từ đó muôn vật lại sinh sôi nhanh chóng
Lấy nhau được ít lâu, người chồng mắc bệnh u chửa trên khắp thân mình,
cả ngón chân, ngón tay cũng nổi lên những cục u, người vợ mọc thêm 7 cái vú ởđằng sau lưng Một buổi, người chồng đi săn đẻ rơi ra khắp rừng Mỗi chỗ chửatrên mình sinh ra một người con là tổ tiên của một dân tộc, nói một thứ tiếngriêng Sinh ra ở ngón tay cái là người Kinh, người Hán, sinh ra ở những ngónkhác là người Thái, người Dao Người La Hủ và người Hà Nhì sinh ra từ ngón
út Các loài ma thì sinh ra từ bụng người chồng Người vợ phải đi tìm nhặt con,
ủ cả vào vạt áo đem về nuôi Hai vú ở ngực nuôi người, bảy vú ở lưng nuôi ma.Khi con cái lớn khôn, hai ông bà cho chúng tự ý đi tìm nơi sinh sống và chia củacho Người được chia phần các loài vật thì biết nghe và hiểu tiếng người (vậtnuôi) Ma thì được chia cho các loài vật biết kêu nhưng không biết nghe và hiểutiếng người (thú rừng) nên từ đó thú rừng có nhiều hơn các loài vật nuôi
Những người con chia nhau đi khắp noi Có người đi thật xa, đến những vùngrộng bằng phẳng như người Kinh, người Hán Có những người không đi xa lắm,cùng uống chung dòng nước Gừ Nhi Ma Lò (sống Đà) như người Thái, ngườiCống Còn người La Hủ và người Hà Nhì là con út còn non dại được giữ lại ởvới bố mẹ, sinh sống xung quanh vùng đất Khò Khòi Tất cả đều nhớ công ơnnuôi dưỡng của cha mẹ, gọi bà là Thồ Phồ Za Ha À Ma (bà mẹ của trăm con).Dòng giống của họ dần sinh nở đông đúc thành các dân tộc
Thuở ấy, ông trời (Gừ ma) dùng con chim lợn (lo busk) làm liên lạc giữatrời với người, sai nó mang lệnh của trời cho phép người được sống mãi khôngbao giờ chết, trừ khi quá già yếu không còn muốn sống nữa Nhưng chim cứxuống đến nửa đường là quên, phải quay lại trời hỏi nhiều lần Trời túc qua liềnbảo vắn tắt: “Thấp cũng chết, cao cũng chết” Chim nhớ được, xuống truyềnngay lệnh Từ đó, bất cứ người nào dù già hay trẻ đều có thể chết cả
Trang 13Trời lại sai chim xuống bảo các giống người cần gì cứ lên trời lấy Người
La Hủ chỉ biết chỗ để dao, thuồng, lấy bỏ vào túi mang đi đào củ mài Các dântộc khác biết chỗ lấy cày, bừa và các loại công cụ tốt hơn, làm ra được nhiều củacải, trở nên giàu có hơn hẳn Người La Hủ sống lang thang không có điều kiệnhọc chữ, không biết cách tính toán, không biết cách dành dụm của cải kiếmđược, có bao nhiêu cũng ăn hết, không biết lo cho ngày hôm sau Khi hết cái ăn
đi xin nguời ta không cho, lại vào rừng đào củ mài Lúc ấy họ còn rất dại, có khiđổi cho người ta một đứa con trai chỉ để lấy một thồ ngô, ăn hết rồi nghĩ ra đànhngồi khóc Sau họ cũng được phát nương trồng được ngô một ít lúa nương đểcúng “Thồ phồ za ha à ma”, đời sống mới được tạm đầy đủ Nhưng năm sau,trên những mảnh nương đã phát cỏ mọc nhiều , lại có nhiều cây màng tang vàcây dẻ, gấu kéo nhau về ăn quả, người La Hủ vào rừng nhử gấu xuống, lấy cànhcây đánh chết gấu, mổ ăn thịt luôn tại chỗ Dần dần sau đó mới biết chế ra cácloại nỏ cứng cánh gỗ, thân có hai rảnh, bắn một phát được hai mũi tên gọi là
“Trsù pi trsủ” Từ đó người La Hủ giết được nhiều gấu và thú rừng đem đổi lấybạc, sắt và vải may quần áo Sinh lòng ham mê săn bắn, người La Hủ rong ruổimãi đến vùng K’hi Ma Pả, còn gọi là Chư (nay thuộc huyện Lục Xuân tỉnh VânNam, Trung Quốc Thấy dễ kiếm ăn liền ở lại sinh sản ngày càng đông Khi ấyvùng Pa Ủ và Pa Vệ Sủ của Việt Nam còn gọi là vùng núi hoang vu, hiểm trởchưa có một bóng người
Người La Hủ xưa kia sinh sống ở vùng K’hi Ma Pả (Trung Quốc), thỉnhthoảng có sang vùng rừng núi phía Bắc xã Pa Ủ bây giờ săn bắn út ngày rồi lạiquay về nơi cũ Cách đây đã lâu đời lắm, có hai anh em họ Vàng, người anh đã
có vợ, người em thì chưa Một ngày kia, hai anh em họ rủ nhau sang vùng Pa Ủsăn bắn, thấy có thể ở được ba người đàn bà nữa cùng sang Bản nhà vợ ngườianh thả hổ dữ đuổi theo Hai anh em dấu những người đàn bà một nơi rồi leo lêncây lấy nỏ phục bắn Hổ đuổi tới nhảy lên trực vồ, người anh bắn nhưng khôngtrúng, người em ngồi ở cành mềm phải cố hết sức mới lê được dayay bắn nỏ,bắn một phát hổ chết ngay
Trang 14Từ đó họ ở luôn nơi đất mới, dần dần có nhiều người chạy theo sang tậptrung sống quây quần thành một chỗ gọi là “Nha Đô” vì ở đó có cây Phạ Lô(tiếng Hà Nhì gọi là cây Quy Đò”) nên thành tên Hiện nay, bản còn để lại dấuvết cứ trú xưa là một chiếc cối giã bằng đá đục đẽo rất thô sơ ở gần bản Khò Ma,một bản thuộc phía Bắc xã Pa Ủ giáp biên giới Việt - Trung hiện nay, sau đó họmới phân tán ra khắp vùng Pa Ủ Một bộ phận trở lại đất tổ Khò Khòi (nay làbản Nhóm Pố, xã Ka Lăng) mà người Hà Nhì đã bỏ từ lâu.một bộ phận xuốngvùng Nậm Cấu (nay thuộc xã Bum Tở) và phát triển sang vùng Ba Vệ Sủ ngàynay Lúc này, người hà Nhì ở vùng Ka Lăng, Thu Lũm đã khai phá được nhiềuruộng nhưng luôn bị thú rừng phá hoại vì họ chưa biết làm nỏ nên không cảnnổi, biết người La Hủ giỏi săn bắn , họ đã nhờ người La Hủ giúp cho việc ngănchặn thú rừng vào phá ruộng Về sau người La Hủ dạy cho người Hà Nhì biếtcách làm nỏ nhưng nỏ của người Hà Nhì yếu hơn, không bắn được thú dữ như
nỏ của người La Hủ
TRUYỀN THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG VẬT HÁI LƯỢM
Theo những người già vùng Pa Vệ Sủ thì đây là câu chuyện có liên quanđến nguồn gốc tên gọi của vùng này Theo tiếng Quan Hỏa, cụm từ Pa Vệ Sủvốn có tên gốc là Pá Vùi Sủ, âm Hán - Việt gọi là Bát Vi Thụ, có nghĩa là CâyTám Ôm Người già cho biết trước ở vùng này có một cây tám người ôm khôngxuể nay đã đổ và mục nát hết Theo truyền thuyết này thì đó là một nhánh củagốc cây khổng lồ đã sinh ra mọi vật trong truyền thuyết sau đây:
Thuở xưa, mặt đất còn chưa có nhiều loại cỏ cây như bây giờ Một hôm,
có hai chị em nhà kia lấy chồng xa cùng trở về thăm ba mẹ Khi ra về, mẹ ghét
cô chị xấu người xấu nết nên không cho gì cả Còn cô em đẹp người đẹp nết lại
có một đứa con nhỏ đến nên được mẹ thương, gói cho một nắm cơm to Trênđường về, cô chị ghen tức nán lại phía sau, lấy cứt chuột gói lại, lén đánh tráogói cơm của em trong sọt thồ sau lưng Đến chỗ nghỉ dọc đường, hai chị em mởcơm ra ăn, thấy gói của chị toàn cơm trắng với thịt còn gói của mình toàn là cứtchuột, cô em nghĩ là mẹ ghét mình nên tủi thân không muốn về nhà chồng nữa
Cô em liền địa con trong sọt đi lang thang mãi vào rừng qua chín khe mười núi,
Trang 15cơm nước chẳng có, đói khát đến kiệt sức, chợt nghe tiếng chim Pí Lu Ma kêu,
cô em bèn đặt con xuống gốc cây nhờ chim giữ hộ rồi lần đi tìm nước Khi trởlại thì thấy cây nào cũng có tiếng chim kêu nhưng không thấy con đâu nữa.Trông xa xa phía dưới núi thấy có một đám nương chín vàng, cô em cho là cóngười ở đó đã mang con mình đi mới bẻ cành cây làm gậy, cố lê mình theo dốcnúi tìm đến Nhưng những mảng màu vàng loang loáng đó thực ra lại chính lànước sông Đà đang cuộn lên những cơn lũ đầu mùa chứ không phải nương lúachín Hoàn toàn tuyệt vọng, cô em gắng sức cắm cây gậy xuống đất và nguyềnrằng cây gậy sẽ mọc thật nhanh, một ngày ra ba lá, một đêm ra ba rễ, lớn thànhcây vươn tận trời, che lấp trần gian cho chết hết giống người độc ác rồi rửa mặtnằm ở sông mà chết, hóa thành chim Cúc Cù Đu Đu (một loại chim cu gáy)chuyên tìm dduori đánh loài chim Pí Lu Ma
Ba ngày sau, cây gậy mà cô cắm xuống đã vươn lên mọc thành cây to rồilớn vùn vụt như lời nguyền, một tháng sau cây to ngất, lá to và dày che lấp cảmặt trời, trần gian u ám ngày cũng như đêm Người Thái đi cày phải lấy giẻ tẩmsáp ong cuốn vào sừng trâu mà đốt để lấy ánh sáng nne về sau sừng trâu mới cónhiều khoanh, tốn công cày bừa nhưng lúa lép hết Người Thái về sau biếtnguyên nhân ấy là do bị cây che mất ánh sáng nên lấy súng bắn cho thủng lá câyxem còn có mặt trời không nhưng bắn mãi không xuyên qua được Về sau,người La Hủ lấy nỏ cứng bắn rụng được một chiếc là và thấy mặt trời vẫn còn.Các dân tộc quanh vùng liền tập trung dao, rìu quyết chặt đổ cây, lại sai chimbới rễ cây, sai khi vặt trụi lá Gỗ cây rất cứng, rìu của người Hà Nhì và người La
Hủ nhỏ, chặt cả ngày không vào sâu nổi một gang tay Người Thái cũng yếukhông chặt nổi, riêng có rìu của người Cống chặt một nhát vào sâu ba gang,nhưng vết chặt cứ qua một đem lại lành như cũ Một người đánh bạo thấy ma vềchữa cho cây và bảo nhau chỉ có bôi cứt gà vào rìu chặt thì cây mới đổ Ngườinày nghe vậy liền về mách với mọi người Hôm sau, họ làm theo lời ma bôi cứt
gà vào rìu rồi chặt cây Quả nhiên, việc chặt cây sau đó rất dễ dàng, một nhátchặt sâu vào cả sai tay Con cháu của người nghe được lời ma nói sau này đượclàm thầy cúng Khi cây gần đổ thì có một cón chim Ngák Nho Đu hót rằng dân
Trang 16Cống sẽ chết sáu nghìn người Những người Cống đang chặt cây tức lắm, bènnhảy lên chém chết con chim Ngay lúc đó cây đổ rung chuyển cả trời đất, đảolộn cả núi sông, đè chết một lúc sáu nghìn người Cống, chỉ còn sót sáu người Vìthế dân tộc Cống đến nay còn rất ít.
Sau khi cây đổ xuống, cành lá văng đi khắp nơi Mười hai cành cây sinh racác loại hoa màu, lương thực phụ cho người trồng Mười ba rễ cây sinh ra cácloại củ rừng Một trăm ba mươi sáu cái lá sinh ra các loài cây cỏ khác nhau trênmặt đất Từ đó, lương thực, thực phẩm trong thiên nhiên phong phú hẳn lên, conngười đi vào rừng không còn lo đói khát nữa
TRUYỀN THUYẾT VỀ CỦ MÀI
Xưa kia, cây củ mài vốn là loài cây thân gỗ to, cao, khó trèo Cây củ màilúc đó không có củ mà ra quả lủng lắng đầy cành, con người muốn ăn phải lấyrìu chặt ngả cây lấy quả Có người đàn bà góa chồng đông con nhỏ Những đứacon lúc nào cũng quấy khóc đòi ăn quả mài nhưng mẹ thì không có sức chặt câynên bèn nghĩ ra cách đi xin một ít quả mài về đem vùi xuống đất và cầu xin chocây mài ra củ để đào lấy cái nuôi con Từ đó, cây mài mọc yếu hẳn, các cành cây
cứ bò thấp dưới đất thành dạng dây leo và ra củ dưới lòng đất
Nhìn chung truyện cổ của người La Hủ phản ảnh cuộc đấu tranh với thiênnhiên và xã hội, xung đột giữa những yếu tố thiện và ác, cái tốt và cái xấu, giữangười giàu và người nghèo mà kết thúc câu chuyện thường nói lên nguyệnvọng của quần chúng lao động cái thiện chiến thắng cái ác Các truyện kểthường có ý nghĩa giáo dục rất lớn, là những bài học dễ tiếp thu mang tính tộcngười độc đáo, huống dẫn lối cư xử từ thế hệ này sang thế hệ khác
2.1.2 Sự tích
Nhìn chung trong kho tàng văn học dân gian của người La Hủ, sự tích luônphản ánh mối quan hệ của con người với thiên nhiên Ngày xưa sinh hoạt chínhtrong đời sống hàng ngày của người La Hủ thường gắn với thiên nhiên, tồn tạinhờ những thứ có sẵn trong tự nhiên như những loài cây dại trong rừng từ đóhình thành những sự tích và để lại cho đời sau Người La Hủ xưa đã dùng nhữngtình tiết hoang tưởng để tạo sự thần kỳ cho truyện Sự tích của người La Hủ đã
Trang 17giải thích về một số phong tục tập quán, các loài cây của người La Hủ bâygiờ Dưới đây là một số sự tích của người La Hủ thời xưa:
SỰ TÍCH VỀ TẬP QUÁN HÁI LƯỢM CỦA NGƯỜI LA HỦ
Khi mới sỉnh ra, loài người còn vụng dại, không biết làm gì để sống nêntrời (Gừ xa) phải nuôi vất vả Về sau, trời sai con chim lợn (Lo búk) xuống trầngian hẹn ngày cho các dân tộc lên gặp trời để dạy cho cách thức làm ăn và chocông cụ, giống má về tự làm lấy nuôi thân Sáng ngày hẹn, người La Hủ là con
út nên khỏe và nhanh hơn cả, chạy lên đến nhà trời khi trời còn đang ngủ Người
La Hủ tự tìm vào kho nhà trời thấy có rất nhiều thứ nhưng không biết là nhữngthứ gì liền chỉ nhặt một cái rìu, một con dao và một cái thuồng rồi vào rừng đào
củ mài ăn cho đỡ đói Khi những dân tộc khác đến sau thì trời đã dậy Trời gọitừng người vào ban cho cày, bừa, mai, cuốc và các loại hạt giống lại chó cả trâu,
bò, ngựa giúp sức và chỉ bảo cặn kẽ cách thức làm ruộng, đào mương NgườiKinh và người Hán do khéo mồm xin xỏ nên được trời cho nhiều thứ, dạy cáchlàm ăn kỹ hơn nên sống ung dung nhất, có nhiều của cải, không phải làm nương,còn các dân tộc khác thì phải làm nương một chút mới đủ sống
Đến chiều tối người La Hủ sau một ngày rong ruổi trong rừng trở lại chàotrời để về thì kho nhà trời đã hết mọi thứ, chỉ còn sót lại một cái rìu, một cáicuốc nhỏ xíu và một nắm hạt giống lúa nương mà trời lúc này cũng đã buồn ngủ.Trời thương hại bèn cho người La Hủ những thứ còn lại và chỉ bảo một cách qualoa về cách làm nương rồi đi ngủ Thế là từ đó người La Hủ không biết làmruộng, chỉ biết làm nương với kỹ thuật thô sơ nhất nhưng lại rất thông thạo việchái lượm Cho tới nay họ vẫn lấy hái lượm làm phương kế mưu sinh chủ yếu vàchỉ trồng trọt một chút ít lương thực, hoa màu trên những mảnh nương nhỏ bé đểgiữ gìn giống má và làm vật cúng trời
SỰ TÍCH CÂY THUỐC PHIỆN VÀ CÂY THUỐC LÀO
Ngày xửa ngày xưa có hai vợ chồng nhà nọ đẻ được một người con gái, vợchồng nhà ấy đặt tên con là Già Mể Cô bé lớn nhanh, khỏe mạnh và khi trưởngthành trở thành một cô gái xinh đẹp, hiền dịu Bố mẹ, anh em, bà con hàng xómkhuyên cô gái xây dựng gia đình nhưng cô gái cứ một mực trả lời là: Sẽ không