Hôn lễ truyền thống của người Tày được tiến hành qua các nghi thức: Lễ dạm, lễ ăn hỏi, lễ sêu tết, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu,thể hiện bản sắc văn hoá của một tộc ngư
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 2
1.1 Khái quát về tỉnh Cao Bằng 2
1.2 Khái quát về tộc người nghiên cứu 2
1.2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bố dân cư 3
1.2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa nghệ thuật dân gian 3
2 Một số loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian 5
2.1 Văn hóa tinh thần của người Tày Cao Bằng 5
2.2 Văn hóa vật chất của người Tày Cao Bằng 11
2.3 Văn hóa xã hội người tày tỉnh Cao Bằng 12
3 Một số loại hình văn nghệ dân gian và ý nghĩa của nó trong đời sống văn hóa của người Tày 13
3.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian 13
3.1.1 Thơ ca 13
3.1.2 Truyện cổ tích 14
3.1.3 Dân ca 25
3.1.4 Hát 26
3.1.5 Đồng dao 26
3.1.6 Câu đố 28
4 Gía trị của văn nghệ dân gian của người Tày đối với kho tàng văn học Việt Nam 28
4.1 Gía trị lịch sử 28
4.2 Gía trị nhân văn 28
4.3 Gía trị nghệ thuật 29
4.4 Gía trị gắn kết cộng đồng 29
5 Đánh giá và đề xuất biện pháp quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị của người Tày tỉnh Cao Bằng 29
KẾT LUẬN 32
Trang 2MỞ ĐẦU
Nước Việt Nam là một dải đất hình chứ S, đất nước của năm mươi tưdân tộc anh em, mỗi dân tộc mang một bản sắc riêng của mình như loài hoaquý góp thêm hương, thêm sắc cho rừng hoa lớn cho dân tộc Việt Nam
Bài tiểu luận này tôi muốn nói tới là một trong số năm mươi tư dân tộcanh em sinh sống chủ yếu ở vùng núi phía bắc Việt Nam là dân tộc Tày
Trong quá trình học và tìm hiểu về người Tày, tôi mong muốn đượchiểu hơn về con người cũng như về văn hóa của họ Từ đó có cái nhìn rộnghơn mới hơn và góp một phần nhỏ của mình vào việc giữ gìn, bảo tồn nét vănhóa truyền thống của họ
Sau khi được học và nghiên cứu môn học “ văn hóa các dân tộc thiểu
số văn hóa Việt Nam” Tôi thấy thích, yêu môn học này vì đã mở mang chotôi biết bao nhiêu kiến thức hữu ích, bản sắc văn hóa, cuộc sống, nếp sinhhoạt, lao động buôn bán của các dân tộc anh em cùng chung sống trên dải lụahình chứ S của nước Việt Nam, hiểu hơn về cuộc sống tươi đẹp, đa sắc màucủa chính dân cùng quốc tịch và có những giờ học trải nghiểm bổ ích qua sựhướng dẫn giảng dạy tận tình của cô giang viên bộ Môn học không nhữngđem lại cho tôi kiến thức sự hiểu biết mà còn mang đến cho tôi mở mang tầmnhìn hiểu sau hơn về văn hóa là nền tảng bổ sung thêm cho tôi có những kiếnthức hữu ích bước vào đời
Trang 3NỘI DUNG
1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
1.1 Khái quát về tỉnh Cao Bằng
Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam Hai mặt Bắc vàĐông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài334km
Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6724,62km vuông., là cao nguyên
đá xen lẫn với núi đất, có độ cao trung bình trên 200m , vùng sát biên có độcao từ 600-1300m so với mực nước biển
Cao Bằng là một vùng văn hóa đa dạng, phong phú bởi sự giao hòa củavăn hóa cuả văn hóa của nhiều dân tộc anh em Dân tộc tiêu biểu ở Cao Bằngbao gồm Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ, Kinh, Mông và dân tộc Hoa Trong đó dântộc Tày chiếm ưu thế (khoảng 42%), dân tộc Nùng (35%), còn lại là các dântộc khác… Mỗi dân tộc đều có những di sản văn hóa truyền thống độc đáoriêng của mình
Các dân tộc thường sinh sống theo những quần thể trên các vùng khácnhau Họ có truyền thống văn hóa lâu đời, có chữ viết riêng (nhóm ngôn ngữTày-Nùng) Nét văn hóa đặc sắc của người Tày được thể hiện trong làn điệuLượn, Hát then, Lượn Slương, Lượn cọi, Lượn ngạn, múa Sluông, múa chầu,cây đàn tính, Phướng lỵ Người Tày mến khách cởi mở dễ làm quen và thíchnói chuyện Văn hóa chợ của người Tày chiếm một vai trò quan trọng tronggiao lưu trao đổi hàng hóa, thông tin và giao lưu văn hóa giữa các vùng dântộc
Người Tày chiếm số dân khá đông trong tỉnh Cao Bằng
Trang 41.2 Khái quát về tộc người nghiên cứu
Người Tày là một trong số năm mươi tư dân tộc Việt Nam, nhóm địaphương Pa dí, Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, thuộc hệ ngôn ngữ Thái-Kadai sinhsống chủ yếu ở vùng miền núi thấp phía Bắc Việt Nam Người Tày trước đâyhay còn gọi là người Thổ
1.2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bố dân cư.
Dân số, địa bàn cư trú: Người Tày chủ yếu cư trú tại các tỉnh trung du
và miền núi phía bắc (1400519 người) Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây,người Tày còn di dân đến một số tỉnh Tây Nguyên như Đắk Lắk và LâmĐồng
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tày ở Việt Nam
có dân số 1626392 người, là dân tộc đứng thứ hai tại Việt Nam, có mặt trêntất cả 63 tỉnh, thành phố
Người Tày ở Cao Bằng cứ trú ở tất cả các xã trong tỉnh, từ đô thị tớivùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Tập trung ở các huyện miền Đông của tỉnhnhư: Trùng Khánh (68,9%), Thạch An (44,2%), Hòa An (65,03%), Trà Lĩnh(49,67%), Hạ Lang (47,74%), Thị Xã (47,58%)… Ở phạm vi huyện, thị xã,thị trấn, phường thì người Tày sinh sống đan xen với các dân tộc khác, trongphạm vi bản làng thì vẫn có những bản thuần người Tày Ở các xã biên giới có19,2-11% tổng số người Tày sinh sống, có vị trí, vai trò quan trọng phát triểnKT-XH vùng giới bảo vệ tổ quốc
Lịch sử; Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ cuối thiênniên kỷ thứ nhất trước công nguyên
1.2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa nghệ thuật dân gian
Từ lâu, người Tày đã cư trú tập chung thành bản, thường ở ven cácthung lũng, triền núi thấp trên một miền thượng du Mỗi bản có từ 15 đến 20nóc nhà, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà Ngôi nhà truyền thống củangười Tày là nhà sàn, họ thường chọn những loại gỗ quý để dựng nhà Nhà có
Trang 52 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hoặc lá cọ Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặcche bằng liếp nứa.
Theo phong tục truyền thống, hầu hết người Tày kết hôn trong cùngdòng họ Gia đình người Tày theo chế độ gia đình hạt nhân, phụ hệ, một vợmột chồng Thanh niên nam nữ được tự do tìm hiểu trước khi đi đến hônnhân Thế nhưng, có đi đến hôn nhân hay không lại do hai gia đình quyếtđịnh Hôn lễ truyền thống của người Tày được tiến hành qua các nghi thức:
Lễ dạm, lễ ăn hỏi, lễ sêu tết, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu,thể hiện bản sắc văn hoá của một tộc người Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ
đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng
Người Tày quan niệm, người chết linh hồn tiếp tục sống ở thế giới bênkia Nếu người chết bất đắc kỳ tử thì người Tày làm lán quàn quan tài, làm machôn tại chỗ Trẻ em chết thì bó chiếu chôn rất xa nhà Người già chết thì làm
ma trên sân nhà ở Khi bố mẹ qua đời, người con trai cả đeo dao, mang mộtgói muối đi mời thầy tào đến cúng làm đám tang Người con đeo dao suốtnhững ngày diễn ra tang lễ Hàng năm, người Tày chỉ đi tảo mộ người chếtvào tết Thanh Minh (ngày 3/3 âm lịch) và chỉ cúng tổ tiên vào ngày rằm,mồng một, ngày Tết như cúng các thần linh khác
Trang phục cổ truyền của người Tày được làm từ vải sợi bông tự dệt,nhuộm chàm đồng nhất trên trang phục nam và nữ, hầu như không có hoa văntrang trí Nữ có áo cánh ngắn may cổ cao, năm thân, cài năm khuy ở cổ vàsườn bên phải, quần dài, thắt lưng, khăn Ngày lễ hội, mặc thêm áo cánh trắngbên trong Trước kia, phụ nữ Tày nhiều vùng cũng mặc váy, gần đây chuyểnsang mặc quần, dài chấm gót, quần chân què, đũng rộng, cạp lá tọa Phụ nữTày còn có áo dài kiểu như áo ngắn, vạt buông dài quá đầu gối Đồ trang sức
có vòng cổ, vòng tay, vòng chân và dây xà tích bằng bạc Trang phục của namgiới có quần chân què, đũng rộng, cạp lá tọa, áo ngắn cũng may năm thân, cổđứng Nam cũng có áo dài như cái áo ngắn kéo dài vạt xuống quá đầu gối
Người Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loạithơ, ca, các truyện cổ tích, truyện cười dân gian, múa nhạc Các điệu dân ca
Trang 6phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, ru con Người Tày phổ biến hát lượnnhư hát ví ở miền xuôi Hai bên nam nữ hát đối đáp về mọi khía cạnh của đờisống xã hội, nhất là về tình yêu đôi lứa Có nhiều điệu lượn như lượn Slương,lượn Then, lượn Nàng Hai Người Tày còn có các điệu hát Then, gọi là Văn
ca, được ngâm hát trong đám tang, gọi là hát hội trong các hội Lồng tồng, gọi
là Cỏ lẩu trong hát đám cưới
Đàn tính là loại nhạc cụ có mặt trong tất cả những sinh hoạt văn hoátinh thần của đồng bào Tày Nó như linh hồn trong nghệ thuật dân ca dân vũTày Bao đời nay đàn tính như một phương tiện giao tiếp mang đậm bản sắc
Trong xu hướng phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, để gìn giữ bảnsắc văn hóa của dân tộc Tày cùng các dân tộc anh em khác như giữ lại đượcnhững trang phục cổ truyền, sinh hoạt văn hóa trong đám cưới, ma chay, lễhội là điều không phải dễ dàng Việc bảo tồn và phát huy những nét sinh hoạtvăn hóa độc đáo của người dân tộc đòi hỏi có một chính sách nhất quán đểngười dân tộc hiểu và nhận thức được vốn quý giá của dân tộc, có ý thức gìngiữ là lưu truyền qua nhiều thế hệ Có như vậy mới tránh được tình trạng dầnmất đi
2 Một số loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian
2.1 Văn hóa tinh thần của người Tày Cao Bằng
Lễ hội:
Hội được bắt đầu vào tháng giêng và kéo dài đến trung tuần thángba.Theo tín ngưỡng dân gian dân tộc Tày thì trên cung trăng có Mẹ Trăng vàmười hai nàng tiên - con gái của mẹ Mẹ cùng các nàng hằng năm chăm lobảo vệ mùa màng cho dân Hội Nàng Hai được tổ chức với ý nghĩa tượngtrưng các mẹ các nàng ở dưới trần gian hành trình lên trời đón Mẹ Trăng vàcác nàng tiên xuống thăm trần gian và giúp trần gian trong công việc làm ăn
để sinh sống
Thời gian tổ chức hội Nàng Hai phụ thuộc vào thời gian đã quy định ởtừng xóm từ thời xa xưa truyền lại; như ở Bản Guống đón trăng vào ngày
Trang 7mùng 6 tháng hai và đưa tiễn trăng vào ngày 24 tháng 3 Bản Nưa Khau đóntrăng vào ngày 11 tháng 2 và đưa tiễn trăng vào ngày 22 tháng 3 Bản NgườmCuông đón trăng vào ngày 15 tháng 2 và đưa tiễn trăng vào ngày 21 tháng 3.
Để tổ chức hội Nàng Hai, các cụ già trong bản chọn một bà mẹ có cuộcsống gia đình hoàn thiện, hát giỏi để làm Mẹ Trăng, tiếng địa phương gọi là
"Mụ cốc" và chọn lấy 12 đến 18 cô gái trẻ đóng vai nàng tiên Trong các cônày chọn ra hai cô gái chưa chồng để đóng hai chị em trăng Cô chị gọi là
"Nàng Slở", cô em gọi là "Nàng Gường" Chọn lấy hai thiếu niên nam mang
lễ đi trước mở đường cho cuộc hành trình các nàng và mẹ trăng đi lên trời
Về trang phục: Mẹ Trăng (Mụ cốc) mặc quần áo chàm, trên đầu buộcmột dẻ vải đỏ vắt chéo qua trên khăn Khi hành lễ, đến đoạn múa lên đường,
mẹ trăng tay cầm ngọn mía, trên ngọn mía có treo một túi đựng trầu nhỏ, mộtchiếc mù soa, và một bát nước có đặt một lá bưởi Bát nước và ngọn mía có ýnghĩa tượng trưng cho việc tẩy uế
Hai thiếu niên nam mặc quần áo chàm, trên đầu buộc hai dẻ vải đỏ,ngang hông buộc thắt lưng bằng vải đỏ Đến khi Mẹ Trăng và các nàng tiênlàm cuộc hành trình thì hai thiếu niên tay cầm mỗi người một cây trúc nhỏ tỉacành, chỉ để lại mấy cành ở ngọn, trên ngọn buộc một chiếc khăn tay Theotiếng dân tộc hai cây trúc này gọi là cây "cụ tiến" Cây "cụ tiến" với ý nghĩa là
mở đường cho Mẹ Trăng và các nàng tiên lên trời cầu các mẹ trăng xuốnggiúp trần gian trong các công việc làm ăn
Hai nàng trăng, trăng chị (nàng Slở) thì mặc áo vàng, trên đầu vấn khăn
có buộc một dẻ vải màu vàng chéo qua trên khăn, trăng em (nàng Gường) thìmặc áo đỏ, trên đầu buộc dẻ vải màu đỏ Theo sau trăng chị, trăng em là sáuhoặc tám cô gái mặc áo chàm, trên đầu cô nào cũng buộc dẻ vải màu đỏ, hoặcmàu vàng Các cô này gọi là các mụ nàng đi phục vụ cho hai nàng trăng.Trong lễ hội còn có ông Tào làm lễ cúng các thần để cho lễ hội diễn ra và kếtthúc an toàn
Khi đã chuẩn bị xong mọi thứ, dân bản dựng một cái lều ở nơi khô ráotrong bản, gọi là lều trăng, tiếng địa phương gọi là "Thiêng hai" Lều được
Trang 8dựng sơ sài lợp rơm, trong lều kê mấy tấm phản dùng làm chỗ ngồi cho mẹtrăng và các nàng tiên khi làm lễ Trước lều các cô gái vào rừng hái các hoarừng như: Bioóc Mạ, hoa cây Khảo Quang, hoa Guột, hoa Chuối về buộc lạitừng bó vắt lên sào treo trước lều trăng Trước khi hành lễ những người đóngvai Mẹ Trăng (Mụ cốc) và các nàng đứng trước bàn thờ để ông Tào làm lễ hóathân Theo trình tự, mỗi người hít thở ba lần khói hương để tống khứ linh hồncủa người ra để linh hồn Mẹ Trăng và các nàng tiên nhập vào Sau lễ nhậphồn việc hành lễ đón trăng bắt dầu Sau ngày lễ đón trăng, Mẹ Trăng và cácnàng đã làm lễ nhập hồn rồi về nhà không được làm những công việc uế tạpnhư gánh phân, vào chuồng gia súc
Việc hành lễ hội: Sau lễ đón trăng xuống, các đêm tiếp theo là làm lễcúng các Mẹ Trăng Lễ cũng làm trong mười hai đêm Mỗi đêm cúng mời một
Mẹ Trăng xuống giúp cho trần gian làm ăn Lễ cúng được miêu tả là cuộchành trình các nàng tiên lên trời đến các cửa của các Mẹ Trăng như cửa mẹLạn Ba, mẹ Khắc Cơ, mẹ Bích Lam, mẹ Bích Vân, mẹ Lưỡng Tàm, mẹ MạMỳ
Theo dân gian thì mỗi mẹ phụ trách một công việc; như mẹ Khắc Cơbảo quản giống lúa, mẹ Bích Lan thì coi giống bông, mẹ Lưỡng Tàm thì quảngiống Tằm, mẹ Mạ Mỳ thì trông coi các loại sâu bọ, cầu mẹ nhốt các loại sâu
bọ lại không cho nó phá hoa màu
Sau khi đã cầu hết các cửa, xin các mẹ được đầy đủ các giống cây, con,các điều kiện mưa gió thuận cho việc trồng trọt, làm ăn ở trần gian thì dân bảnlại tổ chức đưa tiễn các nàng trăng về trời Lễ này được tổ chức chu đáo và làngày hội chính thức trong năm của bản, lễ hội này thu hút nhiều người ở địaphương khác đến chơi
Tổ chức lễ tiễn các nàng trăng về trời, dân bản lại dựng một lều trăngthứ hai ở ngoài cổng Lễ này được tổ chức trong một ngày Trước khi ra hành
lễ đưa tiễn các nàng trăng về trời ở ngoài đồng, Mẹ Trăng và các nàng trăngphải làm lễ chia tay trong lều đón trăng ở trong bản, họ hát các bài hát chiatay và vừa đi vừa dùng tay du mạnh những cột lều để cho lều đổ, mục du lều
Trang 9đổ này gọi là mục "Trụ trại" Sau lễ "Trụ trại", Mẹ Trăng và các nàng trăng racầu thần trông coi đầu bản và cuối bản mở cửa cho Mẹ Trăng và các nàngtrăng về trời.
"Lều trăng" ở giữa đồng cũng dựng sơ sài như lều trăng ở trong bản,phía trước lều có đặt các mâm cỗ, trong đó có ba mâm to, một mâm có thủlợn, xôi, rượu, hai mâm có con gà, xôi, các mâm khác chỉ có xôi ngũ sắc Bêncạnh các mâm có đặt những chiếc thuyền đẽo bằng gỗ, trong đó có một chiếc
to, trang trí đẹp hơn Các thuyền này tượng trưng là những con thuyền chởcủa cải, hoa trái của dưới dương gian đưa lên tiến cho các Mẹ Trăng lên trời.Trước cửa "lều trăng" là những hàng cọc dựng lên thành khung, mỗi khungcách nhau chừng hai mét, trên những khung đó được trải những tấm vải lợpqua, tạo thành một đường vòng quanh sân Những khung lợp vải này gọi là
"trại mùng mành" Khi hành lễ đoàn các mẹ và các nàng trăng đi qua dướinhững tấm vải lợp này Trong "lều trăng" có trên những sào hoa rừng ở trướclều, những sào hoa này được các nàng phụ đi theo hai nàng trăng khiêng từlều đón trăng trong bản ra Trước lều đặt một mâm hương có ba bát gạo mộtbát có quả trứng gà, một bát có cắm ba con én gấp bằng giấy, ba chiếc thíadùng đựng rượu và một số các loại giống hoa màu Trong lễ tiễn trăng này,sau khi làm xong lễ đưa tiễn, múa, đưa của cải lên thuyền cho các mẹ và cácnàng trăng về trời thì các nàng phụ khiêng hai sào hoa và một người già cầmchiếc thuyền to nhất đi xuống trước bản thả Sau khi thả thuyền và đặt hoa ởbên suối, thầy Tào làm phép tách vía cho mẹ và các nàng trăng, cùng với thầyTào, thân nhân, bạn bè của hai cô đóng vai trăng chị và trăng em, gọi hồn víangười ở trần gian nhập lại vào người để trở về người trần Hai cô phải rũ bỏkhăn vấn trên đầu và ra khỏi chỗ làm lễ tách nhập hồn
Sau mấy chục năm lễ hội Nàng Hai của người Tày ở Cao Bằng không
có điều kiện tổ chức, đến năm 1996 Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Cao Bằng đãđồng ý cho bà con ở xã Tiên Thành tổ chức lại lễ hội này Lễ Hội Nàng Hai ởTiên Thành tuy mới được khôi phục lại nhưng đã có sức cuốn hút nhiềungười Cái độc đáo nhất là lễ hội vừa thể hiện tín ngưỡng dân tộc, vừa phản
Trang 10ánh nguyện vọng của dân tộc Tày nói riêng và các dân tộc miền núi nói chungtrong sự sinh tồn, trong bối cảnh nông thôn miền núi Việc khôi phục lại lễ hộiNàng hai là gìn giữ cho dân tộc Tày một lễ hội cổ truyền mang tính văn hóa,đồng thời gìn giữ được làn điệu dân ca "lượn hai" mà lâu nay trong các lànđiệu dân ca dân tộc Tày, người sưu tầm gần như đã quên lãng.
Có thể nói, nghệ thuật dân gian ở Cao Bằng là một kho tàng phong phú,nhiều thể loại, trong đó, nổi bật nhất khi nói đến nghệ thuật dân gian củangười Tày phải kể đến: Nghệ thuật hát Then, cây đàn tính, hát lượn…
Điểm nổi bật của hát Then Cao Bằng là tính nhân dân của nó Thenđược hát ở nhiều nơi, nhiều lúc, người ta hát trong nghi lễ, trong sinh hoạt,nam cũng như nữ, rất nhiều người biết đàn và hát rất điệu nghệ Hát Then đãthành một yêu cầu quan trọng đối với đời sống văn hóa tinh thần của dân tộcTày ở vùng này
Nguồn gốc hình thành hát Then hiện nay chưa xác định được, nhưngtheo lời truyền văn của các nghệ nhân ở nhiều nơi thì Then có xuất xứ từ CaoBằng
Người ta cho rằng ông Bế Văn Phụng và ông Nông Quỳnh Văn làngười sáng tạo ra thể loại này, nghệ thuật được ra đời dưới triều nhà Mạc(1594 - 1677) Then, giàng là hai phường hội hát vui phục vụ cung đình, giảisầu cho vua Mạc Kính Cung, sau này trở thành tục cúng lễ
Thủy tổ của phường hát then là ông Tư thiên quản nhạc, tên là Bế VănPhụng, người làng Bản Vạn, xã Nhượng Bạn, châu Thạch Lâm, nay là xã BếTriều, huyện Hòa An Nông Quỳnh Văn ở xã Nga Ổ (nay thuộc xã Chí Viễn,huyện Trùng Khánh), tục gọi là “Vua Ca đáng” Theo một số công trìnhnghiên cứu Then ở Cao Bằng thì: ông không làm quan, nhưng kết bạn và giaoước với Bế Văn Phụng mỗi người lập ra một phường hát Ông Quản nhạc lập
ra phường Then nữ, còn ông Quỳnh Văn lập ra phường giàng nam hát rồituyển trai xinh, gái đẹp làm diễn viên tập luyện, khi thuần thục rồi được vuaMạc Kính Cung mời vào chầu múa, hát cho vua xem, được vua khen và từ đólan truyền mãi trong dân
Trang 11Cả Then và giàng đều là các phường hát mua vui, khi hát đều có đàntính đệm theo, một thứ nhạc cụ độc đáo của dân tộc Tày Nhưng để phân biệt
rõ là nam hay nữ người ta dùng từ “giàng” để chỉ nam hát, từ “then” để chỉgiọng nữ hát Hai từ then và giàng còn chỉ rõ, xác định về âm điệu, tiết tấu,phong cách diễn của hai hệ khác nhau, kể cả nhạc cụ dân gian, nên đã có câu:
“Tính vử tính sam sai - soong sai lẻ tính giàng” (có nghĩa là: Đàn tính của bụt
là ba dây - đàn tính hai dây là đàn của giàng)
Hệ giàng thuộc miền Đông gồm ba vùng: Trùng Khánh, Quảng Uyên,
Hạ Lang Vùng trung tâm là Trùng Khánh quê hương ông vua Ca đáng QuỳnhVăn Từ “then” để chỉ nữ hát Hệ Then miền Tây Cao Bằng (then nữ) gồm bavùng: Hòa An, Thạch An, Hà Quảng Then Hà Quảng ảnh hưởng Then Hòa
An Vùng Then Hòa An được xác định là vùng trung tâm vì là quê hương củaông Tư Thiên quản nhạc Bế Văn Phụng Then (vỉt) Hòa An nổi tiếng trongdân gian từ rất lâu bởi giọng Then nữ có tính chất trữ tình, đường nét mềmmại, uyển chuyển, thiết tha Then là loại hình nghệ thuật vừa có yếu tố hiệnthực sinh hoạt quần chúng, vừa mang tính chất hoạt động tín ngưỡng nghi lễ
Hát Then với nhạc cụ đàn tính biểu hiện hình tượng âm thanh, âm điệuđộc đáo của nền dân ca dân tộc Tày được bà con yêu thích vì nó mang yếu tố
âm nhạc dân gian, nó tồn tại mãi với thời gian Cái hay của Then là giọng háthay, tiếng đàn du dương, dìu dặt, mà lời cứ êm ru, ngọt ngào nói lên đượctiếng nói của quần chúng nhân dân Then có tình tiết phong phú, có nhữngảnh hưởng quen thuộc, có nhiều tứ đã thành ước lệ Hát then là loại hình dân
ca mang tính chất tổng hợp của nhiều hình loại Xuất xứ thủa xưa là lối kểchuyện bằng văn vần, dùng đàn để nâng đỡ lời ca, ở giai đoạn đầu sự hìnhthành bước đầu của Then về giai điệu, tiết tấu, lời Then còn đơn giản, hầu nhưchưa thoát khỏi âm thanh ngôn ngữ bình thường, dần dần các yếu tố như sinhhoạt, tập quán, ngôn ngữ được phát triển, đưa Then tới mức phát triển hơn.Dần dần, hát Then đạt tới trình độ điêu luyện qua những người trí thức chuyênnghiệp kết hợp với nghệ sĩ dân gian
Trang 12Từ sau Cách mạng Tháng Tám (1945) trở về đây, hát Then được biếnhóa gọi là Then mới; nhất là từ năm 1960 đến nay, âm nhạc Then và giàngbiến hóa dần theo phương châm dân tộc, khoa học và đại chúng; do nhu cầuphản ánh cuộc sống mới đã có nội dung mới, âm nhạc mới Then là một sinhhoạt văn hóa dân gian đã xuất hiện từ lâu đời, từ nhu cầu sinh hoạt văn hóacủa cộng đồng, đã có quá trình phát triển và đang tồn tại Then tồn tại vì tínhnhân dân của những khúc hát Then, của cây đàn tính, của những sinh hoạt vănhóa thỏa mãn nhu cầu quảng đại nhân dân.
Hát Then đã đi qua những bước phát triển từ xa đến gần, từ đơn giảnđến phức tạp để có những tinh hoa nghệ thuật góp phần xây dựng nền nghệthuật dân tộc chung hòa hợp với cộng đồng văn hóa các dân tộc Việt Nam
2.2 Văn hóa vật chất của người Tày Cao Bằng
Nhà ở: Từ lâu, người Tày sống quần tụ thành xóm, làng từ 8 đến 15
nhà, có nơi tới 20 đến 30 nhà san sát nhau, hoặc nhiều hơn Tùy từng nơi,hoàn cảnh khác nhau, người Tày làm nhà khác nhau Vùng đồng núi, vùngsâu, vùng xa, biên giới, người Tày thường làm nhà sàn thưng ván, cót, buộccây, trát vách xung quanh hoặc tường trình xây đá Vùng đồng bằng, ven thịtrấn thường làm nhà trệt Nhưng nhà truyền thống của người Tày, nét kiếntrúc văn hóa độc đáo, đặc trưng điển hình chính là ngôi nhà sàn
Kiến trúc nhà sàn truyền thống, nhà trình tường và các loại nhà củangười Tày mang một vẻ đẹp và tiện ích riêng, phục vụ thiết thực cho đờisống, trường tồn bao năm qua Đó là một loại hình di sản văn hóa vật thể quýbáu do ông cha ta để lại, rất cần được quan tâm lưu giữ và phát huy
Văn hóa ẩm thực của người Tày Cao Bằng.
Cao Bằng là địa bàn sinh sống chủ yếu của người Tày, vì vậy khi nhắcđến văn hóa ẩm thực nơi đây không thể không nhắc đến những nét độc đáo vàthú vị của những món ăn thức uống của người dân tộc Tày
Đa dạng các loại rau rừng
Trang 13Các món ăn từ rau rừng ngoài giá trị ẩm thực còn có giá trị chữa bệnhrất tốt Có thể kể đến hàng chục loại rau rừng thường xuyên được dùng trongcác bữa ăn của người Tày: rau dạ hiến hay còn gọi là rau bò khai, rêu đá, rauchuối rừng, hoa ban…Trong số đó có rất nhiều loại du khách không thể bỏqua khi có dịp đến đây thưởng thức hoặc mua về cho người thân Cách chếbiến món ăn của người Tày cũng rất đa dạng, vừa đem lại cảm giác mới lạ,vừa tạo mỹ quan lại có sự kết hợp hài hòa gữa các vị đắng-cay-mặn-ngọt.
Nhiều loại rau rừng được dùng ăn ghém như cỏ mần trầu, rau dạ hiến,rau ngót rừng…vừa bùi, thơm lại ngọt Tuy nhiên cách chế biến các món raucủa người Tày chủ yếu lại là bằng cách “xôi” Có những loại đắng-cay-chua-chát vậy mà khi kết hợp với nhau lại trở nên thơm ngon lạ thường Măng đắngngâm với hoa ban hết đắng mà có vị chua dễ chịu, đem nấu canh cà rất “đưa”cơm Rau chuối rừng trộn thịt băm tạo vị ngọt bùi, thơm đậu
2.3 Văn hóa xã hội người tày tỉnh Cao Bằng
Nguồn lực con người: Nguồn lực lao động của người Tày nhiều về sốlượng, nhưng hạn chế về trình độ Người Tày có nhiều cán bộ công tác trongcác cấp, ngành từ Trung ương đến địa phương
Nguồn lực văn hoá: Ờ Cao Bằng, mọi hoạt động xã hội và quan hệ xãhội của người Tày từ xưa tới nay luôn giữ vai trò trung tâm Các phong tục,tập quán, tư tưởng, tình cảm… của cộng đồng người Tày có tác động tới cácdân tộc anh em khác Xây dựng cộng đồng người Tày trở thành trung tâmđoàn kết các dân tộc ở Cao Bằng trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc là việclàm có ý nghĩa quan trọng
Nguồn lực tự nhiên: Vùng đồng bào Tày sinh sống có nguồn lực tựnhiên phù hợp cho phát triển nông nghiệp, nhất là trồng lúa Đẩy mạnh thâmcanh lúa vùng người Tày là điều kiện đảm bảo an ninh lương thực của CaoBằng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Người Tày Cao Bằng vốn có truyền thống văn hóa phong phú từ lâuđời Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, người Tày đã tạo ra những
Trang 14giá trị văn hóa khá đặc sắc, trong đó có nghề dệt thổ cẩm Đây là một nghềthủ công có từ rất lâu, nó không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân
mà cũng là sản phẩm được bán rộng rãi ở các địa phương trong và ngoài tỉnh.Nghề này vẫn luôn có mặt trong đời sống thường nhật của người Tày với đầy
đủ sắc thái văn hóa tộc người
Tạo điều kiện để đưa sản phẩm tới thị trường thông qua các hội chợ,hội thảo trên toàn quốc Có như vậy, người dân mới tìm được đầu ra, mới cóthu nhập ổn định để theo nghề, giữ nghề
Giữ gìn, bảo tồn các làng nghề, không chỉ lưu giữ được những giá trịvăn hóa tinh thần truyền thống mà còn mang lại nguồn lợi kinh tế, làm cho bèbạn trong nước và quốc tế ngày càng hiểu sâu thêm về hình ảnh quê hương,non nước Cao Bằng
3 Một số loại hình văn nghệ dân gian và ý nghĩa của nó trong đời sống văn hóa của người Tày
3.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian
3.1.1 Thơ ca
Bài thơ tiếng Tày viết về Bác Hồ:
Chứ vằn slíp cẩu bươn hả Dân boong lầu dú mọi miền đin Việt Chứ vằn đeo viết đáo đeng dú lịch Slíp cẩu bươn hả chăn vằn slinh Cúa Bác Hồ Chí Minh kính mến Cải tứn pền cần tiên thông thái Dền cần thầy pò slinh vĩ đại Pây khóp tỳ mác din tham thắp Pây thâng chập Chủ nghĩa Mác Lênin
Au mà nước hết pền cách mạng Tẹp hò Phap, nước lườn độc lập Tẹp hò Mỹ, nước lườn liền căn Dân tộc lầu slung slướng bặng đua phăn Chùa căn chướng, dựng xây nặm mường Sle tèng công, chứ lèng của Bác
Trang 15Dịch thơ:
Nhớ ngày mười chín tháng năm Nhân dân ta ở khắp miền đất Việt Nhớ một ngày lịch đỏ trên tường Mười chín tháng năm là ngày sinh Của Bác Hồ Chí Minh kính mến Lớn lên thành ông tiên thông thái Thành người thầy người cha vĩ đại
Đi khắp địa cầu tìm đường cứu nước Bác đã gặp Chủ nghĩa Mác - Lênin Đem về nước làm nên cách mạng Đuổi Pháp đi, nước nhà độc lập Đuổi Mỹ đi, Tổ quốc - một nhà Dân tộc ta tự do hạnh phúc Hãy cùng nhau giữ nước xây quê nhà
Để đền công nhớ ơn của Bác
Tình cảm và lòng kính yêu sâu sắc đối với vị cha già của Dân tộc đượcgửi gắm vào những vần thơ da diết, dạt dào, sâu lắng trên
3.1.2 Truyện cổ tích
Những câu truyện ngắn chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu,như thân tiên, quỷ, các vị thần, lý giải cuộc sống đấu tranh
Sử dụng hình thức nghệ thuật có cốt truyện, có nhân vật
Một số câu truyện cổ tích của người Tày:
Chàng nho sĩ và cóc thần
Ngày xưa tại bản mường có một chàng nho sĩ nghèo nhưng rất chămhọc Ban ngày chàng vào rừng hái củi đem bán để lấy tiền mua gạo và muadầu đèn Ban đêm chàng cặm cụi đọc sách cho đến lúc gà hàng xóm gáy lầnthứ hai mới đi ngủ
Nhà cửa chàng chỉ là một túp lều, tài sản chỉ có một con dao quắm vàmột chồng sách Làm bạn với chàng chỉ có một con cóc tía, những buổi chànghọc khuya con cóc nhảy ra quanh quẩn ở dưới chân chàng, đớp gọn nhữngcon muỗi bay vo ve Thấy cóc quấn quít bên mình, chàng nho sĩ rất mến
Trang 16cóc, mỗi bữa ăn, chàng không bao giờ quên dành cho cóc một miếng cơm.Những lúc lên rừng hái củi chàng thường bắt cào cào châu chấu, hay con bọngựa đem về cho cóc ăn thêm Cóc được chăm nom nên ngày càng lớn
Chàng nho sĩ rất sáng dạ, trong sáu năm dùi mài đèn sách, chàng họcthuộc gần hết mười lăm pho sách quí của các bậc thánh hiền Thấy chàng họcgiỏi, người làng thầm mong cho chàng sau này sẽ đỗ trạng nguyên
Năm ấy, nhà vua mở khoa thi chọn trạng, sĩ tử khắp các phương trờiđều tấp nập về kinh dự thi Thấy chàng nho sĩ vào kinh, cóc tía xin được đitheo
Sáng hôm sau, chàng cùng cóc tía lên đường Ông chủ đi đến đâu, cóc tíanhảy bước một đi theo kịp đến đó Đi mãi, đi mãi, một ngày kia, hai thầy tròcóc đến một cái lều bỏ không ở ven rừng vắng vẻ Chàng nho sĩ thấy trong lều
có một người chết, bên cạnh có một gói sách và một bọc quần áo Chàng đoánchắc người này cũng là một sĩ tử lên kinh dự thi, sờ vào người thấy mạch cònđập nhè nhẹ, chàng nho sĩ cố loay hoay tìm cách cứu chữa Thấy chàng cónhiệt tâm, cóc liền ghé tai nói nhỏ :
- Ông ơi ! Con xem bộ nó là người không có thủy chung gì cả, hạngnày nếu không phải là gian phi thì cũng là kẻ bội bạc, cứu nó làm gì !
Chàng nho sĩ nhìn cóc rồi nghiêm nghị nói :
- Gặp kẻ hoạn nạn mà không cứu chữa, không phải là người quân tử, dù
có khó nhọc bằng mười, ta cũng không thể bỏ được Nếu nó chưa đến ngàytận số mà được sống lại thì ta lại có thêm một người bạn đường càng hay chứsao
Thấy chàng nói vậy, cóc tía bèn bảo :
- Nếu ông đã quyết thì ông cứ cứu nó, còn thuốc thì ông không phảichạy tìm đâu cả Cóc có hòn ngọc cải tử hoàn sinh đây
Trang 17Nói đến đây cóc liền nhả ra một viên ngọc trong sáng như kim cương,hình dáng tựa trứng chim Cóc nói :
- Ông hãy để viên ngọc này vào mũi người chết thì người chết lập tức
sẽ sống lại
Chàng nho sĩ nhận lấy viên ngọc rồi làm y như lời Quả nhiên được mộtlúc người ấy dần dần hồi tỉnh Chàng nho sĩ mừng quá đến gần đỡ người lạngồi dậy hỏi họ tên, quê quán rồi kết làm bạn Chàng mở cơm nắm mời bạn
ăn rồi cùng nhau lên đường
Hai người và cóc tía đi thêm ba ngày nữa thì tới kinh thành Đến kinhthành, cóc bảo chàng cho mình đi dạo một lượt đến chiều sẽ về Chàng nho sĩ
và người bạn ngồi ở quán ăn uống nói chuyện trò vui vẻ Người bạn bỗnghỏi:
- Hôm nọ, tôi đi đường xa bị cảm nặng, các bạn đồng hành của tôi bỏtôi nằm lại ở lều Nếu không có anh ra tay cứu chữa thì tôi đã hóa ra ma mấtrồi Công ơn của anh sau này tôi xin đền đáp Không biết anh có thuốc linhđan hay phép thuật gì mà cứu sống được tôi vậy ?
Chàng nho sĩ mỉm cười móc túi lấy viên ngọc thật thà nói :
- Tôi có viên ngọc cải tử hoàn sinh này đây, tôi chỉ cần đặt viên ngọcnày và mũi thì người chết dù tắt thở đã ba ngày cũng sống lại tức khắc
Nghe ân nhân nói, hắn tỏ bộ lễ độ xin được cầm viên ngọc xem mộtlúc Khi cầm ngọc trong tay hắn làm bộ mân mê, ngắm nghía rồi lừa khi ânnhân sơ ý bỏ vào túi, vơ vội lấy hành lý, chạy ù ra đường phố, trà trộn vàođám đông Mất ngọc, chàng nho sĩ đuổi theo kêu la ầm ĩ, nhưng hắn đã nhanhchân lẩn vào các ngõ ngách của kinh thành còn tìm làm sao được, đành trở lạiquán ăn thẫn thờ ngồi chờ cóc Một lúc lâu, cóc trở về Cóc giẫm chân nói :
- Con đã bảo ông đừng cứu chữa cho nó mà, nếu nó là người tốt thì cácbạn cùng đường chắc không bỏ nó nằm chết ở giữa nơi rừng vắng ấy Nhưng