1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn nghệ dân gian người Dao

42 429 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 446,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở địahình tỉnh trung du và miền núi như Phú Thọ, sự phong phú về cảnh quan, môitrường đã tác động lớn đến đời sống văn hóa người Dao nơi đây, làm nên nhữngnét văn hóa dân gian khá đa dạn

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, nhiều tục lệ, giá trị văn hóa, vănnghệ dân gian đã bị mai một dần theo thời gian Bảo tồn những giá trị văn hóacác dân tộc là việc làm cần thiết để góp phần bảo tồn và phát huy vốn văn hóaphi vật thể đặc sắc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Người Dao là một trong 54 dân tộc anh em sinh sống ở Việt Nam, vớinhiều nhóm khác nhau, cư trú tại các bản động vùng sâu, vùng xa thuộc nhiềuvùng, miền của đất nước trong đó có nhóm Dao Tiền và Dao Quần Chẹt định cư

ở Phú Thọ.[A1;Tr.28]

Mặc dù số lượng cư dân không lớn, song dân tộc Dao vẫn giữ được nétvăn hóa độc đáo của mình, không bị trộn lẫn với bất cứ dân tộc nào khác ở địahình tỉnh trung du và miền núi như Phú Thọ, sự phong phú về cảnh quan, môitrường đã tác động lớn đến đời sống văn hóa người Dao nơi đây, làm nên nhữngnét văn hóa dân gian khá đa dạng của người Dao như lễ hội, trang phục, thơ, ca,tín ngưỡng, các điệu múa… mang đậm triết lý nhân sinh Tuy nhiên, trướcnhững biến đổi không ngừng của hiện thực, trong sự phát triển kinh tế và bốicảnh toàn cầu hóa đã làm biến thái và mai một ít nhiều các giá trị văn hóa đặcsắc của đồng bào dân tộc Dao Trong những nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi đó,

có nguyên nhân quan trọng nằm trong chính bản thân con người, những chủnhân thực sự kế thừa văn hóa của dân tộc ấy Cho nên, việc bồi dưỡng, nâng caonhận thức và vai trò lãnh, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thểnhân dân; giáo dục ý thức, tinh thần chủ động giữ gìn, phát huy tinh hoa văn hóacủa mỗi tộc người, mỗi người dân là hết sức cần thiết.Những đặc trưng riêng củadân tộc Dao đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc và gợi cho tôi sự tò mò này đến

sự tò mò khác, là lí do cho tôi say mê, sự mong muốn tìm hiểu

Trang 3

Điều kiện tự nhiên

Yên Lập là huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của tỉnh Phú Thọ, phía đônggiáp huyện Cẩm Khê (Phú Thọ), phía tây giáp huyện Văn Chấn (Yên Bái), phíanam giáp huyện Thanh Sơn (Phú Thọ), phía bắc giáp huyện Hạ Hoà (Phú Thọ)

Địa hình của huyện rất phức tạp, xen lẫn núi đá, đồi đất, nhiều khe suốichia cắt, bao quanh huyện là dãy núi đá vôi và đồi đất trẻ, huyện nằm trongthung lũng có chiều dài hơn 60 km, chiều rộng khoảng 8 km Độ cao trung bình200m, nơi cao nhất là 900 m so với mực nước biển

Yên Lập thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Nhiệt độ trung bình22,50C; lượng mưa trung bình 1800 mm; độ ẩm trung bình 85%, thấp nhất 40%.Thường xuất hiện mưa đá vào mùa hè, sương mù vào mùa đông

Đời sống kinh tế

Trong truyền thống, các dân tộc huyện Yên Lập canh tác chủ yếu ở cácruộng nước thung lũng hay những doi đất nhỏ hẹp dưới chân các dãy núi, vencác đồi gò thấp với hệ thống mương phai rất đặc trưng Lúa nước là cây lương

Trang 4

thực chính Đời sống kinh tế của người Yên Lập ngày xưa cũng rất khó khăn,thấp kém bởi với phương tiện, công cụ sản xuất lạc hậu, lối làm ăn manh mún,

tự túc tự cấp Bên cạnh làm lúa nước, người Yên Lập còn làm nương rẫy để gieolúa cạn và trồng các thứ hoa màu khác góp phần nâng cao đời sống kinh tế

Nghề thủ công truyền thống chủ yếu là nghề mộc, đan lát, dệt vải Trướcđây, gia đình nào cũng có khung cửi, họ tự trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm vàdệt vải; người phụ nữ làm ra những vuông vải cho mình, cho những người tronggia đình và làm của hồi môn đem đến nhà chồng Sự khéo léo thể hiện trongnhững vuông vải trở thành một trong những tiêu chuẩn về giá trị của người phụ

nữ Mặc dù rất khéo léo nhưng nghề mộc chỉ dừng lại ở phạm vi tương trợ, giúpnhau dựng nhà, làm khung cửi, làm đuống, cối giã gạo hoặc phục vụ cho sảnxuất vui chơi chứ không chuyên mộc, không làm hàng hoá; việc đóng các đồ giadụng, làm gạch, xây nhà chỉ phổ biến trong thời gian gần đây

Chính những nét đặc thù trong hoàn cảnh sống và kinh tế đã góp phần làmnên những giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể độc đáo của Yên Lập

Đời sống văn hóa, tinh thần

Cộng đồng dân tộc ở Yên Lập đã trải qua các thời kỳ lịch sử, đấu tranhvật lộn với thiên nhiên, chống chọi với thú dữ để sinh tồn từ thế hệ này đến thế

hệ khác, có truyền thống đoàn kết một lòng chống giặc ngoại xâm bảo vệ quêhương, làng bản

Đồng bào Yên Lập còn lưu giữ một số phong tục tập quán, văn hóa dângian truyền thống mang đặc trưng dân tộc mình như thích ăn các món đồ như xôi

đồ, rau, cá đồ; các món thịt thính, cơm lam Cơm, rau đồ chín được dỡ ra dá tãiđều cho khỏi nát trước khi ăn Món xôi đồ được nhuộm bằng các lá màu đỏ, tím,xanh, vàng; Rượu men lá Trung Sơn nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm

đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể

Hoạt động văn hoá, văn nghệ được đồng bào coi trọng và ưa thích, nhất làhát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa) Hát giang, hát ví là loại dân ca ca ngợi laođộng và các nét đẹp phong tục dân tộc Hò đu là hình thức hát giao du tâm sựtình yêu Bên cạnh đó, còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao

Trang 5

Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu,chơi còn Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ởmọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đơn giản, tiện lợi như trò đánh ô,đánh chắt, đánh cù quay Đặc biệt, các tiết mục múa dân gian thường được tổchức trong các dịp lễ tết, hội hè, cầu mưa, mừng nhà mới với mục đích cầu chomưa thuận, giã hoà, mùa màng tươi tốt, nhà nhà yên vui, hạnh phúc.

1.1.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội của tộc người Dao ở huyện Yên lập, tỉnh Phú Thọ

Đặc điểm về kinh tế

Trong truyền thống, các dân tộc huyện Yên Lập canh tác chủ yếu ở cácruộng nước thung lũng hay những doi đất nhỏ hẹp dưới chân các dãy núi, vencác đồi gò thấp với hệ thống mương phai rất đặc trưng Lúa nước là cây lươngthực chính Đời sống kinh tế của người Yên Lập ngày xưa cũng rất khó khăn,thấp kém bởi với phương tiện, công cụ sản xuất lạc hậu, lối làm ăn manh mún,

tự túc tự cấp Bên cạnh làm lúa nước, người Yên Lập còn làm nương rẫy để gieolúa cạn và trồng các thứ hoa màu khác góp phần nâng cao đời sống kinh tế

Về vị trí định canh, định cư: người Yên Lập Phú Thọ cư trú tập trung ởvùng thung lũng chân núi, nơi có độ cao không lớn Đặc điểm nổi bật trong phân

bố dân cư của người Yên Lập Phú Thọ là tính tập trung, cư dân Mường chiếmtới trên 90% dân số cả xã Sự xen kẽ giữa người Mường và người Việt trong cácđịa phương này cũng diễn ra theo nhiều cấp độ khác nhau, những xã gần huyệnthì người Mường và người Việt sống xen kẽ nhưng thành từng làng hoặc chòmxóm riêng biệt, ở những nơi vùng sâu, vùng xa thì mức độ xen kẽ ngay trongcùng một làng nhưng tỷ lệ người Việt rất ít, có những nơi như xã Trung Sơn, tỷ

lệ người Việt cư trú là dưới 100 người

Về tính đặc thù trong sản xuất kinh tế: Người Yên Lập sống định canh,định cư nên trong sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là canh tác lúa nước, sản xuấtnhỏ theo kiểu tự túc, tự cấp; ngoài việc cấy lúa nước họ còn phát nương trồnglúa Sau năm 1999, với dự án 135 hỗ trợ phát triển kinh tế cho các xã miền núiđặc biệt khó khăn, đã tạo ra những bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu sản

Trang 6

xuất nông nghiệp của đồng bào nhờ đó mà mức sống và thu nhập của người dânđược cải thiện Cơ chế thị trường đã tác động rất lớn đến tập quán canh tác vàchăn nuôi của Nhân dân việc trao đổi, mua bán hàng hoá diễn ra phong phú vànhộn nhịp không khác gì các chợ miền xuôi; đây là điều kiện thuận lợi để ngườidân thoát dần ra khỏi tập quán canh tác cũ, nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của đồng bào.

Nghề thủ công truyền thống chủ yếu là nghề mộc, đan lát, dệt vải Trướcđây, gia đình nào cũng có khung cửi, họ tự trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm vàdệt vải; người phụ nữ làm ra những vuông vải cho mình, cho những người tronggia đình và làm của hồi môn đem đến nhà chồng Sự khéo léo thể hiện trongnhững vuông vải trở thành một trong những tiêu chuẩn về giá trị của người phụ

nữ Mặc dù rất khéo léo nhưng nghề mộc chỉ dừng lại ở phạm vi tương trợ, giúpnhau dựng nhà, làm khung cửi, làm đuống, cối giã gạo hoặc phục vụ cho sảnxuất vui chơi chứ không chuyên mộc, không làm hàng hoá; việc đóng các đồ giadụng, làm gạch, xây nhà chỉ phổ biến trong thời gian gần đây

Chính những nét đặc thù trong hoàn cảnh sống và kinh tế đã góp phần làmnên những giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể độc đáo của Yên Lập

Đặc điểm về xã hội

Thiết chế xã hội của người Dao ở Phú Thọ đơn giản, không được chiathành nhiều cấp bậc như người Mường Người đứng đầu bản gọi là Khán động,ông này phải biết chữ nho, biết xem ngày lành, tháng tốt, biết làm Tết Nhảy, TếtLập tĩnh Trong các nghi lễ, lễ hội của người Dao, thầy cúng (thầy mo) rất đượckính trọng Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệdòng họ Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là họ Bàn, Đặng, Triệu Cácdòng họ có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những ngườithuộc các thế hệ khác nhau Nhà trưởng họ (hay trưởng tộc) được gọi là “nhàcái”, mọi nghi lễ lớn của dòng họ như làm Tết nhảy, Tết tất niên… đều được tiếnhành ở nhà trưởng tộc Ở Phú Thọ, các họ người Dao coi nhau như anh em, nếu

có bất hòa cũng không được kiện cáo nhau mà phải đóng cửa bảo nhau Thiếtchế xã hội của người Dao ở Phú Thọ so với những nơi khác có những điểm

Trang 7

tương đồng như chia theo kiểu xóm, bản Tuy nhiên, do đặc thù người Dao ởPhú Thọ không sống độc lập thành các bản riêng mà hầu hết là ở lẫn chung vớingười Mường và người Kinh nên tổ chức của họ đơn giản và không khắt khenhư ở những nơi khác, hơn nữa, trong quá trình sống, họ còn du nhập thêm cácthiết chế xã hội của dân tộc họ cùng sống.

1.2 Khái quát chung về tộc người Dao ở huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.

1.2.1 Nguồn gốc lịch sử, phân bố dân cư của tộc người Dao.

Người Dao là một trong 54 dân tộc anh em sinh sống ở Việt Nam, với nhiềunhóm khác nhau, cư trú tại các bản động vùng sâu, vùng xa thuộc nhiều vùng, miềncủa đất nước Theo các nhà nghiên cứu dân tộc học, người Dao vốn xuất xứ ở tỉnh

Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc) thiên di vào Việt Nam

từ đầu thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XX Họ đi bằng đường thủy qua Móng Cái (QuảngNinh) hoặc đường bộ từ Trung Quốc sang Việt Nam [1, tr.131]

Cuộc thiên di của người Dao vào Phú Thọ có lẽ là cuộc thiên di tập trung,

có tổ chức nhất mà dấu tích còn để lại trong tín ngưỡng, phong tục tập quán vànhững bản gia phả, thông hành mà người Dao đương đại nhiều lần được đọchoặc được nghe

Người Dao cư trú ở Phú Thọ chỉ có hai nhóm nhỏ trong cùng một nhómlớn “Những người Dao ở Việt Nam, đứng về mặt ngôn ngữ mà xét, có thể chiathành hai nhóm lớn ứng với hai phương ngữ, thuộc phương ngũ thứ nhất có hainhóm lớn: Dao Đại bản và Dao Tiểu bản, thuộc phương ngữ thứ hai cũng có hainhóm: Dao Quần trắng và Dao Làn tiền” [1, tr.134]

Theo sự nhận định ấy thì ở Phú Thọ chỉ có Dao Quần Chẹt (hay DaoQuần chít) thuộc nhóm Đại Bản và Dao Tiền (hay Dao đeo tiền) thuộc nhómTiểu bản Trong quá trình hòa nhập với cư dân bản địa, người Dao không chỉbảo tồn, lưu giữ những nét bản sắc riêng của dân tộc mình mà còn chịu ảnhhưởng không nhỏ những nét văn hóa truyền thống của cư dân bản địa

1.2.2 Khái quát đặc điểm đời sống văn hóa của tộc người Dao

Trang 8

Cộng đồng dân tộc Dao ở Yên Lập đã trải qua các thời kỳ lịch sử, đấutranh vật lộn với thiên nhiên, chống chọi với thú dữ để sinh tồn từ thế hệ này đếnthế hệ khác, có truyền thống đoàn kết một lòng chống giặc ngoại xâm bảo vệquê hương, làng bản.

Trong thời kỳ hiện nay, khi xã hội đang thay đổi từng ngày từng giờ vàkinh tế thị trường tác động lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội thì những yếu tốvăn hóa vật chất của người Dao có những biến đổi mạnh mẽ, đặc biệt là nó chịuảnh hưởng của xu hướng lai Kinh tương đối mạnh Những nhu cầu về ăn, mặc,

ở, đi lại… của người Dao cũng không nằm ngoài quy luật này

Sự cư trú xen kẽ giữa các dân tộc trên cùng một địa bàn cư trú cùng vớiviệc xây dựng thiết chế làng xã văn hóa mới cũng làm cho thiết chế bản, xómcủa người Dao truyền thống không còn tồn tại nguyên vẹn Hiện nay, nhữngngôi nhà sàn dựa lưng vào vách núi của người Dao cũng không còn nhiều, thayvào đó là những ngôi nhà xây, nhà đất theo kiểu của người Kinh và cũng do thợngười Kinh làm đang có chiều hướng gia tăng Những nhu cầu về chăm sóc concái, về phát triển kinh tế làm cho xu thế tách hộ trong các gia 65 đình người Daođang dần diễn ra nhanh hơn, hiện nay, những gia đình 18 - 20 người cùng sinhsống dưới một mái nhà như trước kia hầu như không còn nữa mà có chăng chỉ

có “tam đại đồng đường” (như ngôn ngữ của người Kinh) Không chỉ thay đổi

về thiết chế, kiến trúc mà ngay cả các đồ đạc sinh hoạt trong gia đình cũng thayđổi theo Trước đây, bàn thờ của gia đình người Dao thường được đặt ở góc phảinhà, nơi được coi là trang nghiêm và sạch sẽ nhất nhà- nơi không được phép xêdịch, nhưng ngày nay, bàn thờ cũng đã được thay đổi cho phù hợp với kiểu nhàmới, các đồ đạc trong nhà chủ yếu dùng bằng đồ nhựa, đồ nhôm… Bếp của giađình người Dao cũng được rời xuống nhà ngang tách biệt với nhà ở, các nơi ăn,ngủ… cũng được bố trí lại theo tuổi tác của các thành viên cho phù hợp, nhà vệsinh, khu chăn nuôi cũng được di dời xa hơn khu nhà ở… Rõ ràng, sự sạch sẽ,tiện lợi và hợp vệ sinh là điều không thể phủ nhận, những trang thiết bị hiện đạinhư ti vi, đầu đĩa, đài, giếng nước là điều cần thiết và tất yếu cho một cuộc sốngvăn minh và nó làm cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của đồng

Trang 9

bào, làm cho đời sống của đồng bào Dao ngày càng được ổn định và phát triển.Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường, việc giao lưu hàng hóagiữa miền ngược với miền xuôi, giữa đồng bào dân tộc Dao với dân tộc Kinh vàdân tộc khác cũng diễn ra mạnh mẽ Nó góp phần thỏa mãn những nhu cầu thiếtyếu của nhân dân một cách tối đa và do đó, đã nâng cao chất lượng cuộc sốngcho cư dân Dao Những sản phẩm trước đây của đồng bào được coi là món ăntruyền thống (như thịt chua) thì nay đã được coi là đặc sản chung của cả vùng vàđược bày bán ở mọi nơi, nó làm tăng đáng kể thu nhập của các hộ gia đình ởđây Sự phong phú trong trao đổi hàng hóa khiến cho tình trạng thiếu đói của các

hộ gia đình không còn xảy ra thường xuyên như trước đây, thay vào đó, họ cócuộc sống ấm no và ổn định hơn, đồng bào yên tâm sản xuất đảm bảo nhu cầutại chỗ và từng bước chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa Đời sống vật chất vàkinh tế của đồng bào Dao trong những năm vừa qua có nhiều cải thiện đáng kể;

đó là thành tựu to lớn không thể phủ nhận, có được điều đó là sự cố gắng phấnđấu của các chủ thể lãnh đạo và đặc biệt là sự vươn lên của đồng bào Dao trênđịa bàn tỉnh

Bản sắc văn hóa của một dân tộc biểu hiện đặc sắc và rõ ràng nhất có lẽ ởđời sống tinh thần Những yếu tố như: tín ngưỡng, ngôn ngữ, tôn giáo, văn nghệ,

lễ hội dân gian… là những giá trị được hình thành cùng với chiều dài lịch sử, làyếu tố để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác trong tiến trình xây dựng vàphát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trước hết, trong văn hóa tâmlinh: Theo thống kê, toàn tỉnh Phú Thọ có hơn 20 dân tộc cùng sinh sống, trong

đó đông nhất là người Kinh với 85,89%; người Mường và người Dao đứng thứhai và thứ ba Do vậy, sự giao thoa văn hóa là không thể tránh khỏi, nhưng có lẽ,tín ngưỡng, tôn giáo là lĩnh vực khó áp đặt nhất của dân tộc này đối với dân tộckhác Những tinh hoa văn hóa bén rễ sâu trong đời sống tâm linh của người dânthế nào thì những hủ tục nặng nề cũng sẽ có sức sống lâu bền và dai dẳng nhưthế Trong tang ma của người Dao hiện nay, có lẽ ít bị ảnh hưởng bởi các phongtục của dân tộc khác nhất Người Dao đã tinh giản đi nhiều những thủ tục, nghi

lễ trong việc ma chay và thờ cúng người đã khuất và vẫn duy trì phong tục chôn

Trang 10

một lần không cải táng Đây là một cách làm tiến bộ, cần được phát huy ở cácbản hạ sơn, đồng bào Dao đã có nghĩa trang hợp vệ sinh và cảnh quan, do đó ởnhững nơi này, tục làm ma tươi hay ma khô cho người chết đều được lưu giữ vàkhá gọn nhẹ So với các thế hệ cha ông trước đây, phần đông thanh niên ngườiDao tiến bộ ít hoặc không còn tin vào sự huyền bí của vũ trụ, do đó họ đơn giảnnhững thủ tục kiêng kị quá mức khi gia đình có tang như trước kia (ví dụ: contrai để tang bố mẹ thì phải kiêng tắm gội, đội khăn tang lúc nào rơi mới thôi).Tục thờ cúng hiện nay của họ cũng khá đơn giản, hàng năm đến ngày giỗ họ vẫn

tổ chức đi đắp mộ rồi về làm giỗ nhưng chỉ gói gọn trong phạm vi gia đình dòng

họ chứ không ăn uống linh đình như trước kia

Do tỉ lệ dân cư không quá nhiều, lại thêm địa bàn cư trú thường ở nhữngnơi địa hình cao nên phong tục tập quán, đặc biệt là trong hôn nhân của ngườiDao Phú Thọ vẫn giữ được những nét rất độc đáo như trên đã phân tích Tuyvậy, việc thực hiện luật hôn nhân và gia đình thực sự là một cuộc cách mạngtrong tư tưởng và đời sống của người Dao Độ tuổi kết hôn của người Dao tănglên, phổ biến từ 18 đến 25; họ tự nguyện tìm hiểu, quyết định bạn đời của mìnhnhưng vẫn nghe lời khuyên của cha mẹ Nhóm Dao Đeo tiền vẫn duy trì đượctục “ngủ thăm” và do vậy, nam nữ đến với nhau luôn bằng tình yêu thực sự Tuynhiên, do quan niệm quý người nên người Dao vẫn có tập tục sinh nhiều con,cuộc vận động kế hoạch hóa gia đình ở đây gặp nhiều khó khăn Chỉ có ở cácbản hạ sơn, tục lệ này được xóa bỏ, nam nữ tự do yêu đương và kết hôn, khôngquá nặng nề về việc nhiều con hay ít con, do đó ở đây, tỉ lệ sinh đẻ luôn đạt mứcthấp nhất so với các bản người Dao ở quanh vùng

Tỉnh Phú Thọ được cả nước biết đến như một vùng đất “địa linh nhânkiệt”, nơi hợp lưu của các con sông lớn như: sông Hồng, sông Đà, sông Lô, nơi

có đền thờ các Vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh mà hàng năm, vào ngày 10/3, cảnước thành kính hướng về nhớ ngày Giỗ Tổ Có lẽ vì vậy, nơi đây vẫn còn lưugiữ được những lễ hội, phong tục cổ truyền của đồng bào Dao, khác hẳn nhữngdân tộc khác

Trang 11

Về Lễ hội, hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng của dân tộc Dao bao gồm hàngloạt hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng mang màu sắc Đạo giáo Mặc dù trải quanhiều biến cố thiên di và cuộc sống du canh du cư, song họ vẫn giữ được nhiều

lễ hội phong phú, mang sắc thái riêng và được lưu truyền từ đời này sang đờikhác Lễ cúng Bàn Vương (gọi là lễ Tầm Đàng hay Chảu Đàng) Bàn Vương(tiếng Dao là Pụa cong hay Piêng Hùng) là thủy tổ của người Dao Thường lễcùng Bàn Vương diễn ra vào cuối năm, khoảng một ngày hai đêm, trước bàn thờcủa ông trưởng họ Khi làm lễ phải mời 3 thầy cúng thông thạo, 3 người đàn ông

đã qua lễ cấp sắc, 3 đôi nam nữ thanh thiếu niên chưa xây dựng gia đình Để vào

lễ, người ta lập hai đàn cúng, treo các tranh thờ tổ tiên, sau đó các thầy cúng mờiBàn Vương và tổ tiên họ tộc đến dự lễ, còn 3 đôi nam nữ thiếu niên thì đứngthành hai hàng ở phía sau thầy cúng để vái chào các bậc thánh thần Tiếp đến họ

mổ 2 con lợn, bày ra hai đàn cúng và bày tiếp một bàn thờ dài ở giữa nhà, trên

có 3 bát thịt lợn hoặc 3 bát thịt sóc xào, 3 bát rau cải nấu, 6 bát ăn cơm và 6 đôiđũa, đặc biệt có một quyển sách cúng gọi là Tôm cháo sâu, nói về vai trò củaBàn Vương Sau khi đọc được nửa quyển sách, các thầy được uống rượu vànhấm nháp thức ăn bày ở trên bàn Đọc xong, họ giả vờ vứt quyển sách xuốngđất và nói rằng phải nhớ những điều ghi trong sách, lần sau dù có mang ơn cũngkhông đọc lại nữa Tiếp đó, họ gọi vía cho thóc lúa, hoa màu và tất cả mọi ngườitrong dòng họ luôn khỏe mạnh, phát triển đông đúc, làm ăn phát đạt

Lễ cấp sắc (Lễ Lập tỉnh) hay Chày Phị Đàng Cấp sắc là cấp tên âm chongười đàn ông Dao Tiền từ 9 tuổi trở lên và cho người đàn ông Dao Quần chẹt

đã có vợ Cấp sắc cũng là để cấp cho người thụ lễ một số quân âm binh để có tưcách làm thầy cúng Người đàn ông Dao phải trải qua Lễ cấp sắc mới được coi

là người trưởng thành, có đủ tư cách, địa vị trong cộng đồng (giống như lễ thànhđinh của các dân tộc khác) Nếu đàn ông Dao không qua Lễ cấp sắc thì ốmkhông ai cúng, chết không ai chôn, trở thành ma đói khát và không về đượcDương Châu (đất tổ của người Dao) Lễ được diễn ra trong hai ngày hai đêm, lễvật chính gồm 2 con lợn mỗi con từ 60-80 kg được nuôi chu đáo, gạo nếp, gạo tẻ

đủ trong thời gian cúng cho 100 người ăn Ngoài ra bắt buộc trong ngày lễ cúng

Trang 12

phải có măng khô, sóc khô, gà và từ một đến hai con lợn nhỡ khoảng 20-30 kg.Mỗi đám cúng Lập tỉnh có 7 ông thầy, 2 ông thầy chính, 1 ông đầu bếp, 4 ôngthầy phụ, ngoài ra 44 có 1 bà cả, 2-3 bà hát theo và có 3 cặp trai gái thiếu niêntúc trực để lễ và hát khi cần thiết Hàng năm, lễ cấp sắc được diễn ra vào tháng

11, 12 hoặc tháng 1, 2 âm lịch Tiến trình Lễ cấp sắc gồm có: Lễ khai đàn, Lễtrình diện của những người thụ lễ, Lễ cấp đèn và hạ đèn, Lễ đặt pháp danh, Lễgiao am binh và gạo nuôi quân, Lễ qua cầu, Lễ cấp dụng cụ cúng bái, Lễ truyềnpháp lực, Lễ cúng thần mặt trời Lễ cấp sắc của người Dao rất phong phú, gồmnhiều nghi thức liên quan đến nhiều lĩnh vực như thế giới tâm linh, văn học nghệthuật, sinh hoạt và giáo dục, thơ ca, múa, nhạc… Xét về tổng thể, nó chứa đựngnhiều thành tố văn hóa tộc người Dao, có vai trò kế thừa và kết nối các di sảnvăn hóa giữa các thế hệ Trong lễ hội của người Dao tại Phú Thọ, có rất nhiềunhạc khí được sử dụng, chủ yếu là trống, chiêng, chuông, xập xèng, tù và, kèn.Không chỉ có nhạc khí, các đạo cụ dùng để múa cũng rất độc đáo, đó là: que;dao gỗ (cả loại mũi bằng và mũi nhọn); kiếm gỗ; đục gỗ; búa gỗ; gậy thờ bằng

gỗ, 2 lá cờ giấy - 1 đỏ, 1 trắng; 2 đoạn cây gỗ giả làm dương vật con chó

Trang 13

Phần 2

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ VĂN NGHỆ DÂN GIAN

CỦA TỘC NGƯỜI DAO 2.1 Các hình thức văn nghệ dân gian của người Dao

2.1.1 Truyền thuyết

Có rất nhiều truyền thuyết gắn liền với phong tục tập quán của dân tộcDao, một trong số đó phải nhắc đến câu chuyện: “ Vào một năm hạn hán đói rét,người Dao phải đốt lửa sưởi, khi đi soi cá, vô ý đã làm cháy cầu Vàng của nhàvua Vua định chu di tam tộc, nhưng nhờ có quan đại thần xin tha từ tội chếtxuống đuổi cả bộ tộc đi biệt xứ Bà Đặng Thị Hành, ông Bàn Đức Hội và ôngTriệu Thông là 3 người dẫn đầu đoàn người Dao sang Việt Nam tìm nơi cư trú.Nhưng khi vào biên giới Việt, họ không biết tiếng lại có vũ khí phòng thân nên

bị binh lính canh phòng bắt giam vì tưởng họ là giặc Sau đó, do đọc được “Quásơn bảng văn” (giấy thông hành), biết họ là dân lành, vua Lê đã cho thả tự do vàcho họ ngược theo sông Hồng đi tìm đất sống Đến vùng ngã ba Bạch Hạc (BạchHạc - Việt Trì) thấy đất đai tốt tươi, màu mỡ lại có ba con sông lớn, biết là mạnngược sẽ có nhiều rừng cây, là nơi thích ứng cho cuộc sống du canh du cư saunày, bà Hành và ông Hội cùng tùy tùng quay về Trung Quốc đưa dân làng thiên

di sang Việt Nam Họ đóng bảy chiếc thuyền, tổ chức cho các họ người Daovượt biển Móng Cái (Quảng Ninh) vào cửa sông Hồng rồi lên ngược Khi đang

đi ngoài biển, gặp sóng to gió lớn, bốn thuyền của họ bị đánh bật ra xa bờ.Những người ở trên thuyền lâm nạn phải nhảy lên xin với trời đất cho họ tai quanạn khỏi, sau này sẽ làm Tết Nhảy để tạ ơn cứu mạng Riêng họ Triệu Mốc bịgió bão đẩy thuyền đi xa hơn nên phải khất sẽ làm lễ Tầm đàng để tạ ơn HọTriệu Mốc cập bờ ở Thanh Hóa, còn các họ khác dạt vào cửa sông Hồng, ngượcđến Bạch Hạc, họ bỏ thuyền, lên bờ sinh sống [3, tr.3-4]

Trang 14

Qua truyền thuyết nổi tiếng này, ta biết đựơc nguồn gốc, quá trình di cưđến Việt Nam của người Dao Qua đây cũng biết được tín ngưỡng tin thần, thờthần , tin vào sức mạnh siêu nhiên của người Dao từ thế hệ trước.

2.1.2 Cổ tích

Chuyện cổ của người Dao kể rằng, xưa kia có một ông vua sinh được bangười con gái xinh đẹp Có nhiều quan võ đến xin làm rễ Nhưng người nàocũng không được các cô ưng thuận Một hôm vua gọi ba người con gái lại vàphán rằng:

-Trong triều, quan tài tướng giỏi có nhiều nhưng ai hỏi các con cũngkhông chịu lấy Từ nay cha để các con tùy ý kén chọn, thuận ai thì lấy người ấylàm chồng

Ba cô vâng lời, mỗi người đóng một cái mảng, chở xuôi theo dòng sông,

đi kén chồng

Nàng Cả đi được một quãng thì gặp một chàng trai đứng ở bờ sông, vẫytay gọi mình:

- Nàng chở máng kia ơi, ghé vào cho tôi sang nhờ với!

Thấy người ấy đen đủi, đen thui, xấu xí nàng Cả bĩu môi:

- Ôi chao! Xấu xí thế, ai thèm chở

Nói đoạn, đi thẳng

Nàng Hai chở máng tới nơi, chàng trai lại gọi:

- Nàng chở máng kia ơi, ghé vào cho tôi sang nhờ với!

Nàng Hai nhăn mặt:

- Xấu xí thế, ai thèm chở

Đến lượt nàng Ba Mảng vừa trôi tới, chàng trai cũng cất tiếng xin chở giùm.Nàng Ba vui vẻ ghé mảng vào bờ, mời người đó lên Chàng trai vừa bước lênmảng, bổng biến thành con cọp vằn ngồi chiễm chệ đằng trước Nàng Ba vẫn vui

vẻ Nhưng nàng ra sức khỏa nước nhưng thuyền vẫn đứng yên, không nhúc nhích

Trang 15

Nàng Cả và nàng Hai xuôi mảng, mỗi nàng tìm được một người chồngxinh đẹp, thích lắm, ngược sông trở về Tới chổ cũ, hai nàng thấy em mình loayhoay giữa dòng, trên mảnh lại có con cọp ngồi chồm chổm, bèn chế nhạo:

- Chồng người không lấy, quanh quẩn ở đây lấy chồng cọp à?

Hai người chị vừa nói, vừa gắng hết sức chở chồng đẹp về nhà Tiếng nóivừa dứt, thì mảng của nàng Ba tự nhiên rời bến, bơi vượt lên trên, lướt vun vútnhư có cánh bay

Về đến nhà hai người chị vào cung tâu với vua cha:

- Hai chúng con xuôi mảng, kén được chồng đẹp, còn em Ba ngại đi xa,nên lấy ngay phải chồng cọp rồi!

Vua nói:

- Cha đã cho các con tự ý đi tìm chồng, ưng thuận ai thì lấy người ấy Naynàng Ba đã lấy phải cọp, thi cọp cũng là chồng

Hai nàng cười lui ra

Một hôm, vua gọi ba rễ vào bảo:

- Trâu, ngựa, bò, lợn ta thả ở trong rừng Rể nào lùa được chúng vàochuồng mình, rể đó là người làm ăn giỏi, ta sẽ thưởng cho số gia súc đó

Hai chàng rể xinh đẹp sai gia nhân vào rừng làm mỗi người một cáichuồng thật đẹp rồi đi vào rừng Hai chàng ngợp mắt trước đàn gia súc của nhàvua, nhưnh không biết cách nào lùa chúng vào về chuồng mình Họ vác gậy hòhét, rượt đuổi Nhưng hai chàng đuổi ở đầu núi này, thì đàn gia súc chạy sangnúi nọ, toát mồ hôi mà vẫn không lùa chúng về được

Trong khi đó rể Cọp, hì hục vác gỗ to cọc lớn quây một vùng đất rộng làmchuồng Hàng rào của chàng tuy xấu nhưng chắc chắn bên trong lại rộng Chiềutối, khi hai người anh đã mệt lữ, Cọp mới lững thững bước đi vào rừng Lạ thay,vừa trông thấy cọp, tất cả trâu, bò, ngựa, lợn của nhà vua ngoan ngoãn theochàng về nhà

Thấy vậy, hai chàng rể chạy về tâu vua:

Trang 16

- Hai chúng con có chuồng đẹp, chẳng biết sao đàn gia súc không một connào chạy vào đó cả Trâu, bò, ngựa, lợn đi vào chuồng xấu xí trơ trọi của em rểCọp hết rồi.

Đến ngày sinh của vua cha, rể cọp bảo vợ:

- Hôm nay là ngày sinh của vua cha, để tôi đi lấy ít cá về làm cơm cho cha ăn.Hai chàng rể người thấy Cọp đi lấy cá cũng đi theo Ra đến suối, cả bachung nhau một cái chài Hai người anh tranh lấy chài, đòi quăng chài trước.Nhưng họ sợ ướt quần áo đẹp, chỉ lội quanh quẩn ở chổ nước nông nên khôngđược lấy một con cá nhỏ Họ bèn đưa chài cho Cọp và bảo:

- Chú Cọp làm ăn giỏi, hãy quăng thừ xem có được nhiều cá không?

Cọp xách chài lội ra chỗ vực sâu, lấy cành cây vỗ vỗ vào mặt nước dồn cávào một chỗ rồi quăng tỏa chài xuống đó Một lát, Cọp kéo chài lên, bắt được vôkhối cá Cọp quăng liền mấy tay chài, được một mẻ cá đầym gánh về cho vợm dặn:

- Mình đem cá này làm cơm mời vua cha Tôi có việc đi vài ba ngày Khinào thấy mưa to gió lớn là tôi về đấy

Nói xong, rể Cọp chạy ra bờ sông, nhảy tùm xuống nước biến mất

Hai chàng rể kia thấy vậy hớt hải chạy về báo với vua cha:

- Rể Cọp ngã xuống sông chết rồi

Vua thương tiếc cọp lắm

Còn rể Cọp, sau khi xuống nước, chàng trút lốt da trở thành một chàngtrai khôi ngô tuấn tú, mặc quần áo đẹp, lên ngựa về nhà

Lúc ấy, trời mưa to gió lớn, sấm chơp đùng đùng Mọi người thấy mộtchàng trai da trắng, cưỡi con ngựa từ xa đi lài Biết là chồng mình, nàng Ba vui

Trang 17

mừng chạy ra đón Bấy giờ mọi người biết đó là Cọp, vô cùng kinh ngạc Aicũng trầm trồ ngắm nghía Riêng hai người chị vừa tức vừa xấu hổ.

Chàng Cọp đón vợ về nhà Khi hai vợ chồng vừa đến nơi, căn nhà bỗngbiến thành một toà nhà nguy nga tráng lệ, xung quanh có vườn, có ao, có nương,

có ruộng Hai vợ chồng Cọp ở khi nhà ấy, ngày ngày cùng nhau làm rương phátrẫy, sống cuộc đời đầm ấm, hạnh phúc Họ nuôi được nhiều trâu, bò, ngựa, lợn.Đến mùa thì thóc lúa đầy vựa, đầy bồ

Còn hai cô chị, tuy lấy chồng đẹp nhưng lại là những anh chàng lườinhác, chẳng làm được tích sự gì

Qua tích truyện này của người Dao nhắn nhủ rằng trong cuộc sống không nênxem thường người khác, không nên đố kỵ với người khác Người lương thiện ắt sẽđược trời phù hộ và nhắc nhở các cô gái đừng nên lựa cho bằng được người chồngđẹp mà không biết làm Người tốt sẽ được ban lộc Ở hiền ắt gặp lành

2.1.3 Tục ngữ

Văn học dân gian nói chung và tục ngữ nói riêng xuất phát trực tiếp từ laođộng rồi trực tiếp phục vụ cho lao động sản xuất và người lao động Tục ngữ làtiếng nói được tổng kết từ cuộc sống của nhân dân trong mối quan hệ với thiênnhiên và lao động sản xuất, là sản phẩm của tư duy người lao động bắt đầu từnhững nhận xét giản đơn về thời tiết, khí hậu đã ảnh hưởng đến lao động và đờisống của con người

Những nhận xét đó, qua chiêm nghiệm được xem như quy luật của thiênnhiên tác động đến sản xuất và cũng có thể là những kinh nghiệm đã trở thànhtập quán “xưa làm, nay bắt chước”, lưu truyền trong nhân dân Sống trong mộtnền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước hoặc làm nương rẫy, người Dao cũngnhư các dân tộc thiểu số ở phía bắc nước ta khác với người Việt và các dân tộcthiểu số ở Tây Nguyên và Nam Bộ, do điều kiện thiên nhiên khác nhau, đất đaicũng khác nhau nên phán đoán, nhận xét, kinh nghiệm về dự báo thời tiết hoặckinh nghiệm sản xuất nông nghiệp cũng khác nhau Ở phía bắc nước ta thường

có bốn mùa tương đối rõ rệt nhưng ở phía nam chỉ có hai mùa là mùa mưa và

Trang 18

mùa khô Tuy rằng, ở đâu cũng có thể “trông mưa, trông gió, trông ngày, trôngđêm” để sản xuất nông nghiệp, ở đâu cũng phải đầy đủ “tứ pháp bảo” là “nước,phân, cần, giống” mang tính quy luật của sản xuất nông nghiệp trong cả nước,nhưng cách vận dụng trong thực tiễn ở mỗi vùng, miền có khác nhau Ở phía bắcnước ta, có thể thấy rất rõ trong tục ngữ có chủ đề quan hệ thiên nhiên và sảnxuất nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ có nhiều câu nói vềkinh nghiệm trồng lúa nước; còn ở vùng trung du, miền núi, tục ngữ về quan hệthiên nhiên, lao động nông nghiệp lại nói nhiều đến kinh nghiệm làm nương rẫy.Như vậy, nhìn tổng quát, tục ngữ của người Dao và của các dân tộc thiểu số ởphía bắc nước ta phần lớn nói về sản xuất nông nghiệp được đúc kết thànhnhững kinh nghiệm có giá trị, lưu truyền trong từng dân tộc và trao đổi với cácdân tộc khác.

Trong điều kiện khoa học chưa phát triển, việc xem xét các hiện tượngthiên nhiên, đặt mối tương quan ảnh hưởng của thời tiết với đất đai, cây trồng đểrút ra những kinh nghiệm là một vấn đề không thể thiếu trong sản xuất nôngnghiệp Có lẽ tác động quan trọng nhất của thiên nhiên đối với sản xuất và đờisống là hiện tượng thời tiết Nếu tục ngữ người Dao có câu về sấm thì tục ngữcác dân tộc thiểu số phía bắc đều thống nhất nhận xét:

Trời kêu trước không mưa (dân tộc Dao)

Mấy đời sấm trước có mưa (dân tộc Việt)

Sấm trước trời không mưa (dân tộc Thái)

Trời nổi sấm trước khi mưa là trời hạn hán (dân tộc Tày)

Hiện tượng “cóc nghiến răng” ngày nay đã được khoa học giải thích nhưng từxưa, người Dao cũng như người dân tộc thiểu số đều đúc kết về dự báo mưa:

Ếch kêu từng loạt, trời sắp mưa (dân tộc Dao)

Cóc nghiến răng đang nắng thì mưa (dân tộc Việt)

Ếch kêu uôm uôm ao chuôm đầy nước (dân tộc Việt)

Cóc nghiến răng không lụt cũng mưa (dân tộc Mường)

Tục ngữ người Dao và các dân tộc thiểu số phía bắc nước ta như đã phântích và dẫn chứng trên đây về cơ bản có tính thống nhất Bên cạnh đó, tính đa

Trang 19

dạng được biểu hiện gắn liền với thuỷ thổ, môi trường địa phương, cây, con từngvùng cụ thể Dân tộc Thái nghe con cồ cộ, con ì điềng kêu để phán đoán mùamàng: "Cồ cộ kêu bụng nép, ì điềng kêu bụng no"; dân tộc Dao thì dựa vào conhươu: "Hươu cười trời nắng, hươu kêu trời mưa"; dân tộc Tày - Nùng dựa theoquả dâu gia để gieo cấy: "Quả dâu gia nhét vừa lỗ mũi thì gieo mạ, quả dâu giatím như dái ngựa thì cấy" Có thể thấy, hình như mỗi dân tộc đều theo nônglịch kết hợp với xem mưa nắng, thời tiết mà gieo trồng cho đúng thời vụ, tuynhiên, vào tháng nào, làm việc gì thì không thể giống nhau do thuỷ thổ khôngđồng nhất và các vùng tiểu khí hậu khác nhau có ảnh hưởng không ít đến sảnxuất nông nghiệp.

So sánh tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất của người Dao và củacác dân tộc thiểu số ở phía bắc nước ta, có thể kết luận, Sự thống nhất trong nộidung của tục ngữ người Dao và các dân tộc thiểu số khá rõ nét vì hầu như tất cảcác tục ngữ đó đều là đúc kết từ kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp trong môitrường khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nắng nhiều thất thường, lụt bão thườngnăm không nhiều thì ít tác động đến mùa màng; Sự đa dạng trong nội dung cáctục ngữ người Dao và các dân tộc thiểu số chỉ thể hiện trong một số tục ngữ gắnliền với điều kiện đất đai từng vùng miền khác nhau với các vùng tiểu khí hậu

mà mỗi dân tộc đang sinh sống; Những kinh nghiệm về quan hệ thiên nhiên vàsản xuất nông nghiệp được đúc kết trong tục ngữ người Dao cũng như của cácdân tộc thiểu số ở phía bắc nước ta, trong tính thống nhất và đa dạng đều là kếtquả về tinh thần lao động sáng tạo của nhân dân, chứng minh nguồn gốc dângian của khoa học trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, những tri thức sảnxuất được đúc kết trong tục ngữ còn ở kinh nghiệm thực tiễn, chưa có căn cứkhoa học vững chắc Có một số kinh nghiệm chung, chính xác nhưng cũng cónhững kinh nghiệm về quy luật thiên nhiên ở một vùng trong một thời gian nhấtđịnh không mang tính phổ biến

2.1.4 Dân ca

Trang 20

Cũng như các dân tộc khác, dân tộc Dao có những nét truyền thống vềvăn hoá khá phong phú và mang đậm bản sắc riêng của dân tộc mình Trong nétriêng biệt đó, phải kể đến làn điệu Sán Cố Tuy nhiên, hiện nay làn điệu Sán Cốcủa tộc người Dao đang đứng trước nguy cơ mai một.

Làn điệu Sán Cố của người Dao khá phong phú về thể loại và thườngđược gắn liền với đời sống sinh hoạt của nhân dân như: Hát trong lễ cấp sắc,đám cưới và thường tổ chức hát vào những lúc nông nhàn, tết đến, xuân về Mỗinhịp điệu trong từng bài hát thường mang ý nghĩa trao gửi yêu thương, chia sẻcho nhau những kinh nghiệm về sản xuất, về cách nuôi dạy con cái và đề caotinh thần lao động, đạo đức, lẽ sống, phép ứng xử… Thông qua lời ca tiếng hátthể hiện được chất trữ tình đằm thắm, mượt mà, nét tươi sáng và giản dị của tâmhồn tộc người Dao

Ở thôn Phiêng Chiểng, xã Đồng Tâm nơi có 100% số hộ dân là dân tộcDao sinh sống, nơi đây được ví như một kho tư liệu sống về những nét văn hoáđặc sắc của người Dao, trong đó có các làn điệu Sán Cố Trong cách thức thểhiện các làn điệu của dân tộc Dao khác với các dân tộc Kinh, Tày nhất là ở âmngữ Ví dụ như hát ru, nếu người Tày mở đầu lời hát bằng “éo éo noọng noònđắc noòn nhăm ”, người Kinh bắt đầu bằng “à a à ơi, con ơi con ngủ chongoan…” thì người Dao Thanh Y bắt đầu bằng “ồ ô ối, ô ồ ối…” Tuy nhiên, dù

là khác nhau ở âm ngữ, nhưng những câu hát ru của người Dao cũng mang tínhchất giáo dục con cái về đạo lý làm người, về ca ngợi khí thế hăng say lao độngsản xuất, ca ngợi Đảng, Bác Hồ Tuy nhiên, hiện nay số người biết hát các lànđiệu của dân tộc mình là rất hiếm, chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay Trongcuộc sống hằng ngày, người Dao luôn yêu thương đùm bọc nhau Họ thườngdùng những lời ca, tiếng hát để tạo động lực, khích lệ mọi người vượt qua nhữngkhó khăn vất vả, hăng say lao động, sản xuất Nhưng có một điều cần lo lắng đó

là liệu trong những dịp lễ hội, lễ cưới, lễ cấp sắc những lời ca tiếng hát của dântộc Dao còn vang vọng mãi không nữa

hiện nay các làn điệu của dân tộc Dao dần bị mai một và không đượcnhiều người hát nữa là do cuộc sống của các tộc người Dao hiện cũng còn nhiều

Trang 21

khó khăn nên việc truyền dạy cho thế hệ trẻ những làn điệu của dân tộc mìnhcũng chưa thật sự được quan tâm Bên cạnh đó, các làn điệu hiện nay cũng chỉmang tính chất truyền miệng, thế hệ trẻ chưa thật sự am hiểu về làn điệu của dântộc mình nên cũng không đam mê, học hỏi; số người cao tuổi, nghệ nhân có hiểubiết và có thể hát các làn điệu dân ca ngày một ít; địa phương mới thành lập cáccâu lạc bộ, nhưng công tác bảo tồn, nghiên cứu, sưu tầm và phổ biến chưa đạtđược hiệu quả cao.

Thiết nghĩ, để bảo tồn và phát huy được những làn điệu dân tộc Dao, bêncạnh việc tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quantrọng của làn điệu dân ca của dân tộc Dao, cần mở những lớp dạy tiếng Dao,nhất là cho thế hệ trẻ, để khi đã biết nói, biết hát các bài hát của dân tộc mình từ

đó giúp thế hệ trẻ hiểu được các giá trị truyền thống, tự giác học tập, đấu tranhvới sự xâm nhập của văn hoá ngoại lai Đồng thời, cũng cần khuyến khích mởcác hội thi hát dân ca Dao giữa các thôn, bản, giữa các xã với nhau và duy trìhoạt động của các câu lạc bộ một cách thường xuyên, liên tục để quảng bá, lưutruyền và phục vụ du lịch Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có chế độ ưu đãi đốivới các nghệ nhân và trang bị cho họ những thiết bị cần thiết để động viên tinhthần, ý thức trách nhiệm của họ trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dântộc; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả triển khai và điềuchỉnh các nội dung triển khai phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương

để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, song song với giữ gìn và phát huy bảnsắc văn hoá dân tộc

2.2 Giá trị văn nghệ dân gian của người Dao

Ngày đăng: 11/04/2018, 01:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w