Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Nguồn nhân lực con người và tiềm năng con người chính là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội bền vững. Trong chiến lược phát triển con người, GDĐT có vai trò quyết định và được xem là nhiệm vụ trọng tâm. Phát triển giáo dục là nền tảng để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, là động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá. Tại Điều 61, Hiến pháp năm 2013 có nêu: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. GDMN là bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí rất quan trọng và là nền tảng ban đầu trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Nguồn nhânlực con người và tiềm năng con người chính là nhân tố quyết định sự phát triển
xã hội bền vững Trong chiến lược phát triển con người, GD&ĐT có vai tròquyết định và được xem là nhiệm vụ trọng tâm Phát triển giáo dục là nền tảng
để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, là động lực của sự nghiệp côngnghiệp hoá - hiện đại hoá Tại Điều 61, Hiến pháp năm 2013 có nêu: Phát triểngiáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhânlực, bồi dưỡng nhân tài GDMN là bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dụcquốc dân, có vị trí rất quan trọng và là nền tảng ban đầu trong sự nghiệp pháttriển nguồn nhân lực của đất nước
GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổiđến 6 tuổi Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trítuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻvào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lý, những
kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếptheo (Luật Giáo dục 2005) Với ý nghĩa đó thì lực lượng GVMN chính là yếu tốquan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục, bởi vì GVMN chính là người đặtnền móng đầu tiên cho sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ sau này Laođộng của GVMN là lao động vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật:các cô không chỉ là cô giáo, mà còn là người mẹ thứ hai, cô cũng vừa là bác sĩ
và là nghệ sĩ của trẻ thơ Chính vì thế mà cô giáo Mầm non phải hội tụ đủ nhữngyêu cầu về phẩm chất đạo đức, nhân cách và năng lực chuyên môn để thực hiện
tốt mục tiêu GDMN như Bác Hồ đã dạy: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ.
Muốn làm được thế thì phải yêu trẻ Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ chịu khó mới nuôi dạy được các cháu Dạy trẻ cũng như trồng cây non Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt Anh chị em giáo viên mẫu giáo cần luôn luôn gương mẫu về đạo đức
để các cháu noi theo ”
Trang 2Vì vậy xây dựng đội ngũ GDMN đủ về số lượng và chuẩn về trình độ đàotạo, giỏi về chuyên môn và mẫu mực về nhân cách đạo đức là khâu then chốt.Trong đó tổ chức BDCM cho giáo viên được xác định trong giai đoạn này lànhiệm vụ thường xuyên quan trọng, có ý nghĩa đổi mới về chất lượng đội ngũgiáo viên Hơn nữa, việc quản lý thật tốt hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN
để đạt hiệu quả cao còn là trách nhiệm của các cấp quản lý ngành giáo dục
Đối với tỉnh Sóc Trăng, trong những năm gần đây GDMN được sự quantâm đặc biệt của Tỉnh ủy, HĐND - UBND tỉnh và ngành GD&ĐT nên có điềukiện phát triển cả về quy mô và chất lượng, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.Đội ngũ giáo viên và CBQL từng bước đủ về số lượng, chuẩn về chuyên môn để
có thể theo kịp mặt bằng chung của khu vực và cả nước
Trong thời gian qua Sở GD&ĐT quan tâm nâng cao trình độ cho đội ngũnên hoạt động BDCM cho GVMN được đẩy mạnh với nhiều hình thức đào tạo
và bồi dưỡng, nhờ vậy mà tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn khá cao Tuynhiên, công tác quản lý đội ngũ và các hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMNtrên địa bàn tỉnh Sóc Trăng vẫn còn nhiều bất cập, bộc lộ những hạn chế nhấtđịnh Trong đó, công tác quy hoạch và đánh giá đội ngũ chưa sát thực tiễn, chưa
có sự phối hợp nhu cầu xã hội với yêu cầu phát triển bậc học; chưa triển khaisâu rộng chương trình BDTX Đối với việc BDCM hàng năm thì việc lập kếhoạch và triển khai thực hiện chưa đồng bộ từ Sở đến Phòng và các cơ sởGDMN, chưa đẩy mạnh khâu giám sát, kiểm tra; chưa thu thập ý kiến phản hồisau khi được bồi dưỡng (ít có thông tin ngược); việc đánh giá chất lượng, sựthay đổi của giáo viên còn mang tính hình thức Vì vậy ít nhiều tác động đến tưtưởng nhận thức của một bộ phận giáo viên về nhiệm vụ học tập bồi dưỡng nênkhông toàn tâm, toàn ý tập trung vào việc tiếp thu cái mới Đối với các cấp quản
lý chưa có biện pháp rút kinh nghiệm kịp thời để có những định hướng tiếp theo
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như hạn chế nêu trên, với trọngtrách của người quản lý bậc học Mầm non trên địa bàn toàn tỉnh, tôi quyết định
chọn đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Sóc Trăng” để làm đề tài luận văn cho mình, nhằm xây dựng
Trang 3một số biện pháp khắc phục những hạn chế, đáp ứng yêu cầu cấp thiết đang đặt
ra và để quản lý bậc học Mầm non của địa phương đạt hiệu quả
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
2.1 Trên thế giới
Thế kỷ XXI là thế kỷ của nền kinh tế tri thức Bởi vậy giáo dục của thế kỷnày cũng cần phải có những thay đổi cụ thể và điều đó được phản ánh ở bốn trụ
cột giáo dục mà tổ chức UNESCO đã đặt ra: “Học để biết; Học để làm; Học để
tồn tại; và Học để chung sống” Mặt khác vấn đề đào tạo, bồi dưỡng là mục tiêu
xuyên suốt của nền giáo dục XHCN Việt Nam Vấn đề này cần phải được thựchiện như thế nào, nhất là trong bối cảnh nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng liêntục ra đời đáp ứng yêu cầu “đổi mới căn bản và toàn diện” nền giáo dục ViệtNam và những đòi hỏi về năng lực thực chất của đội ngũ nhà giáo hiện nay
Đào tạo bồi dưỡng giáo viên không chỉ là mối quan tâm của các nhà khoahọc mà nó còn là mối trăn trở lớn đối với các nhà quản lý giáo dục Không ít cáccông trình của tập thể và cá nhân (kể cả trong và ngoài nước) đã đầu tư nhiềuthời gian, công sức để nghiên cứu, tìm tòi, đề xuất giải pháp liên quan đến chấtlượng, hiệu quả của công tác quản lý và BDCM cho giáo viên
GDMN là giai đoạn khởi đầu đặt nền móng cho sự hình thành và phát
triển nhân cách trẻ em, thời kỳ Mầm non còn được gọi là “thời kỳ vàng” của
cuộc đời Sự phát triển của trẻ trong thời kỳ này rất đặc biệt, chúng hồn nhiênnon nớt, buồn vui, khóc cười theo ý thích Những gì trẻ được học, được trang bị
ở trường Mầm non có thể sẽ là những dấu ấn theo trẻ suốt cuộc đời Nhà giáo
dục Nga đã nói: “Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ, đã hình thành
trước tuổi lên năm, những điều dạy cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau giáo dục đào tạo con người vẫn còn tiếp tục, nhưng
đó chỉ là bước đầu đếm quả, còn những nụ hoa thì được trồng năm năm đầu tiên”.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng đội ngũgiáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục Việc tạo mọi điều kiện đểmọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời
Trang 4bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp với sự pháttriển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục.Qua tìm hiểu giáo dục một số quốc gia trên thế giới cho thấy họ có một hệ thốngBDCM cho GVMN từ Trung ương đến địa phương nhằm góp phần nâng dầnchất lượng GD&ĐT Hình thức bồi dưỡng và biện pháp quản lý còn tùy thuộcvào điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia để có lựa chọn cho phù hợp với
xu thế luôn đổi mới của thế giới
Đại đa số các trường sư phạm ở Úc, NewZeland, Canada, đã thành lập các
cơ sở chuyên bồi dưỡng giáo viên để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên thamgia học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên vàCBQL giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm Tùy theothực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phươngthức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi nhất định theo yêu cầu
Ở Ấn Độ từ năm 1988 đã quyết định thành lập hàng loạt trung tâm học tậptrong cả nước nhằm tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người Việc bồi dưỡnggiáo viên được tiến hành ở các trung tâm này đã mang lại hiệu quả rất thiết thực
Ở Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở cáctrung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹnăng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội
Ở Singapore việc đánh giá giáo viên được đặc biệt coi trọng Có hệ thốngđánh giá giáo viên để giúp họ nâng cao kĩ năng của mình Đào tạo vừa học vừalàm được thiết kế cho phù hợp với nhu cầu phát triển năng lực của đội ngũ Mọingười đều có cơ hội được học tập và làm việc để giúp họ phát triển tốt hơn
Tại Philippin, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên không thựchiện trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thời gianhọc sinh nghỉ hè và có nội dung bồi dưỡng cụ thể cho từng mùa hè
2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam ngay từ xưa đến nay đều rất coi trọng giáo dục và vai trò của
người thầy vì “không có thầy giáo thì không có giáo dục” Điều đó nhắc nhở
Trang 5mọi người phải quan tâm mọi mặt và toàn diện đến giáo dục mà chủ thể đóngvai trò quan trọng nhất đó chính là đội ngũ giáo viên Vấn đề phát triển giáo dục
và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ratrong thư gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô giáo, công nhân viên, học sinh, sinh
viên nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 16 tháng 10 năm 1968 rằng: “Giáo dục
nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới…Cán bộ và giáo dục phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại”.
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu vềxây dựng và phát triển đội ngũ GVMN như:
- Vụ giáo dục mầm non “60 năm giáo dục mầm non Việt Nam”, Nxb giáodục – 2008
- Nguyễn Minh Đường (1996), Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực
trong điều kiện mới Chương trình công nghệ cấp nhà nước KX 07-14 Hà Nội
- Luận văn của tác giả Vũ Thị Minh Hà với đề tài "Biện pháp quản lý
công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non Hà Nội" (2004).
- Luận văn của tác giả Trần Thị Kim Thoa với đề tài "Các biện pháp
tăng cường quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng trường Mầm non Quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh" (2006)
- Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Lý với đề tài “Một số giải pháp phát
triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Bắc Giang đến 2010” (2006).
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Lê Hữu Huyên với đề tài “Thực
trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh” (2011).
- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Lê Thị Diệu Thủy với đề tài “Biện pháp
quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên các trường mầm non thành phố Đà Nẵng đáp ứng chuẩn nghề nghiệp” (2012).
Trang 6Các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu về phát triển đội ngũGVMN dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực; trên cơ sở phân tích thực trạngvới những thế mạnh của từng địa phương, mỗi tác giả đề xuất những giải pháptích cực khác nhau đảm bảo tính phù hợp và khả thi Nhưng các tác giả đều cóchung mục đích là muốn quản lý có hiệu quả hoạt động BDTX của GVMN đểnâng cao chất lượng đội ngũ nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp nângcao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN tỉnh SócTrăng, nhằm phát triển năng lực, phẩm chất của đội ngũ GVMN đáp ứng nhucầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động BDCM cho GVMN
- Khảo sát, đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động BDCM cho GVMNtỉnh Sóc Trăng trong thời gian qua
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động BDCM cho GVMN tỉnh SócTrăng trong thời gian tới Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý
đã đề xuất
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà
nước về GDMN
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý hoạt
động BDCM cho đội ngũ GVMN tỉnh Sóc Trăng
Trang 7Đối tượng khảo sát: Lãnh đạo Sở và Lãnh đạo các phòng, ban chuyênmôn thuộc Sở GD&ĐT; Lãnh đạo và giáo viên các trường Mầm non
Số liệu và tư liệu sử dụng trong đề tài được giới hạn trong 3 năm học:2012-2013; 2013-2014; 2014-2015
5 Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu xây dựng được cơ sở lý luận về quản lý hoạt độngBDCM cho đội ngũ GVMN cập nhật trình độ phát triển của lý luận quản lý giáodục hiện đại, đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động này, đề xuất được hệthống các biện pháp quản lý phù hợp với xu thế phát triển của lý luận và thựctiễn GDMN tác động vào nhận thức, vào hoạt động bồi dưỡng, vào các thành tốcấu trúc của quá trình bồi dưỡng thì sẽ phát triển được phẩm chất, năng lực củađội ngũ GVMN đáp ứng nhu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận nghiên cứu:
Để hoàn thành công trình nghiên cứu, tác giả đã dựa trên nền tảng cácquan điểm, tư tưởng về BDCM và quản lý hoạt động bồi dưỡng nguồn nhân lựccủa Chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồngthời quán triệt và vận dụng sâu sắc quan điểm hệ thống, cấu trúc, lôgíc, lịch sử và quanđiểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dục
* Phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận về quản lý giáo dục, bồidưỡng đội ngũ; các văn kiện Đại hội Đảng các cấp; các văn bản pháp quy vềgiáo dục và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ đó rút ra cơ
sở lý luận để đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN trên địabàn tỉnh Sóc Trăng
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu xin ý kiến của lãnhđạo các phòng, ban chuyên môn thuộc Sở GD&ĐT; lãnh đạo các phòngGD&ĐT và hiệu trưởng các trường Mầm non nhằm thu thập nhiều thông tin có
Trang 8liên quan đến đề tài nghiên cứu; về vấn đề nghiên cứu để có cơ sở cho việc đưa
ra các giải pháp thực hiện
+ Phương pháp quan sát: Sử dụng biện pháp quan sát để thu thập cácthông tin có liên quan đến công tác quản lý hoạt động BDCM cho GVMN trênđịa bàn tỉnh Sóc Trăng để có cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp tổ chức thựchiện
+ Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn lãnh đạo các phòng, ban chuyênmôn thuộc Sở GD&ĐT; lãnh đạo các phòng GD&ĐT cùng hiệu trưởng cáctrường Mầm non về thực trạng công tác quản lý hoạt động BDCM cho GVMNnhằm làm căn cứ đề xuất các giải pháp một cách hiệu quả
+ Phương pháp thống kê: Sử dụng các công thức toán để xử lý kết quảkhảo nghiệm, phân tích kết quả nghiên cứu và đánh giá mức độ tin cậy củaphương pháp điều tra
7 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài này đã xây dựng các khái niệm công cụ, đặc điểm, nội dung vànhững nhân tố tác động đến công tác BDCM cho GVMN tỉnh Sóc Trăng và làmsáng tỏ thực trạng vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở đó, đề xuất những biện phápmang tính khả thi cao nhằm áp dụng cho công tác quản lý hoạt động BDCM choGVMN tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới đạt kết quả và hiệu quả cao nhất Kếtquả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp quản lý giáo dục vàGVMN trong toàn tỉnh Sóc Trăng
8 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm phần mở đầu; 3 chương nội dung; phần kết luận, kiến nghị;danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN
MÔN CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON
1.1 Những vấn đề chung về giáo dục mầm non
1.1.1 Vị trí, vai trò của giáo dục mầm non
Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân GDMNđặt nền móng ban đầu cho việc giáo dục lâu dài nhằm hình thành, phát triểnnhân cách cho trẻ em Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã
ghi rõ: “Việc chăm sóc giáo dục các em từ tuổi sơ sinh cho đến 6 tuổi có tác
dụng cực kỳ quan trọng trong sự hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa”.“Ra sức nâng cao chất lượng nuôi dạy các cháu, làm cho các cháu phát triển một cách thuận lợi về thể lực, tình cảm và trí thông minh, chuẩn bị tốt cho các cháu vào học trường phổ thông ” (Trích Nghị quyết 14 của Bộ chính trị về
Cải cách giáo dục, tr.14) Niềm tin và hy vọng của từng gia đình và cả xã hội vềtương lai của trẻ và của đất nước đều trông chờ ở sự phát triển của lứa tuổi mầmnon này Đề án của Chính phủ về phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi đã chỉ rõ quanđiểm: Việc chăm lo để mọi trẻ em năm tuổi được đến trường, lớp mầm non làtrách nhiệm của các cấp, các ngành, của mỗi gia đình và toàn xã hội Đẩy mạnh
xã hội hóa với trách nhiệm lớn hơn của Nhà nước, của xã hội và gia đình để pháttriển GDMN
Có thể thấy, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ Mầm non lànhiệm vụ rất quan trọng trong công tác nâng cao chất lượng CS - GD, tạo tiền đềcho trẻ 5 tuổi bước vào lớp một, vào giai đoạn giáo dục phổ thông nhằm gópphần đưa sự nghiệp giáo dục phát triển bền vững
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, ngoài việc thực hiện mụctiêu phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi, các độ tuổi còn lại cũng luôn được quan tâm,
vì bất kỳ sự phát triển nào cũng phải tuân theo quy luật từ thấp đến cao, từ nhỏđến lớn Vì vậy giai đoạn mầm non chính là giai đoạn rất quan trọng trong sựhình thành và phát triển nhân cách toàn diện trong cuộc đời của mỗi người
Trang 101.1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục mầm non
Tại Điều 21, 22, Luật giáo dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục tiêucủa GDMN: “GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3tháng tuổi đến 6 tuổi”, “Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển và về thểchất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhâncách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1”
Để làm rõ hơn về nhiệm vụ của GDMN, trong cuốn sách “60 năm GDMN
Việt Nam” đã nhấn mạnh: “Nhiệm vụ cơ bản của GDMN là hình thành cho trẻ
những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới, làm cho trẻ phát triển toàn diện, hài hòa và cân đối, tạo điều kiện tốt cho bước phát triển sau này, xây dựng cho mỗi trẻ em một nền tảng nhân cách vừa khỏe khoắn, vừa mềm mại, đầy sức sống cả về thể chất lẫn tinh thần Có nghĩa là GDMN một mặt cần làm cho trẻ hồn nhiên, vui tươi, tích cực, chủ động, nhạy cảm để trở thành người dễ tiếp thu giáo dục; mặt khác, GDMN lại phải ngay từ đầu hướng sự phát triển của trẻ vào việc hình thành những tiền đề nhân cách con người mới, chuẩn bị cho trẻ khả năng học tập tốt, sống và làm việc phù hợp với xã hội mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở thế kỷ XXI” [tr.42, 276]
1.1.3 Đặc điểm của giáo dục mầm non
GDMN là cấp học đầu tiên rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốcdân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ củatrẻ em, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của các cấp học sau Trong đó, yếu tốquan trọng quyết định chất lượng GDMN là đội ngũ GVMN vì họ là người trựctiếp chăm sóc – giáo dục trẻ, là người đặt nền móng cho sự phát triển toàn diệncủa trẻ và là người mẹ thứ hai của trẻ Lao động của GVMN là lao động mangtính khoa học và nghệ thuật đòi hỏi công phu vì cô giáo là tấm gương cho trẻhọc và bắt chước Chính vì vậy mà cô giáo mầm non phải hội tụ đầy đủ nhữngyêu cầu về phẩm chất và năng lực chuyên môn để thực hiện mục tiêu chươngtrình GDMN mới nhằm phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ
Lao động của GVMN là một loại hoạt động sư phạm đặc biệt Trẻ em vừa
là đối tượng tác động, vừa là chủ thể của lao động sư phạm Đây là yếu tố quan
Trang 11trọng để biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quá trình lao độngnày sẽ mang lại hiệu quả cao khi cô giáo biết cách hướng dẫn trẻ khám phá đểtrẻ hiểu biết nhưng phải phù hợp với tuổi của trẻ Có thể nói lao động của côgiáo mầm non là loại hình lao động vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệthuật cao Cô giáo mầm non vừa là mẹ, vừa là bác sĩ và là nghệ sĩ.
Từ đặc điểm trên đặt ra những yêu cầu riêng cho đội ngũ GVMN Ngoàicác tiêu chí của các yêu cầu được quy định trong Chuẩn nghề nghiệp GVMN,người GVMN cần phải có một số năng lực và phẩm chất sau:
Người GVMN phải có xu hướng nghề nghiệp sư phạm phát triển cao Xuhướng đó được thể hiện ở tình yêu thiết tha, hứng thú với nghề nghiệp, phải yêunghề và mến trẻ, tôn trọng trẻ, là tấm gương hằng ngày đối với chúng NgườiGVMN cần có ý chí cao, tính tình cởi mở, cứng rắn nhưng lại kiên nhẫn và biết
tự kiềm chế
Người GVMN phải có năng lực sư phạm để thực hiện tốt chức năng,nhiệm vụ chăm sóc của GDMN Người GVMN cần có năng lực tổ chức cuộcsống và các hoạt động CS – GD trẻ một cách linh hoạt, sáng tạo và phải có khảnăng khéo léo trong xử lý sư phạm Người GVMN phải có một số năng lực sưphạm riêng biệt như múa, hát, đọc và kể diễn cảm, ứng dụng công nghệ thôngtin trong soạn bài và tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với khả năng củatrẻ…
Người GVMN phải lấy đạo đức làm gốc cho mọi hoạt động chuyên môn.Đạo đức là phẩm chất tối cần thiết của bất kỳ người lao động chân chính nàotrong công việc, nhưng riêng đối với những người làm công tác giáo dục thì yếu
tố đạo đức luôn là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong việc đánh giá năng lựctoàn diện của một nhà giáo Nhà giáo phải là người có đạo đức tốt thì mới cóđầy đủ vị thế truyền đạt những kiến thức, những kỹ năng, những kinh nghiệmsống đến học sinh, giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách Đặc trưng
của giáo dục là nơi truyền đạt những tinh hoa của văn hóa nhân loại, là “lò rèn
đạo đức, nhân cách” cho thế hệ trẻ, do đó yếu tố đạo đức phải là chuẩn đầu tiên
của bất kỳ ai nếu muốn đứng trong hàng ngũ những người làm công tác giáo
Trang 12dục, đồng thời phải luôn duy trì, phát huy, rèn luyện phẩm chất tốt đẹp này đểmãi là tấm gương sáng cho học sinh noi theo
GDMN là một bậc học đòi hỏi khắc nghiệt phẩm chất đạo đức ở các thầy,
cô giáo Khi chấp nhận vào ngành mầm non, các tố chất cần thiết nhất cho ngườicông tác ở bậc học này là lòng yêu nghề, yêu người, là sự kiên trì nhẫn nại, giàuđức hy sinh, sẵn sàng bỏ thời gian, công sức, thậm chí cả tiền bạc cho sự nghiệpgiáo dục trẻ như lời Bác Hồ đã từng nói với lớp đào tạo cán bộ mẫu giáo năm
1955: “…Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ Muốn làm được thế thì trước hết
phải yêu trẻ Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu Dạy trẻ cũng như trồng cây non Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt… Điều trước tiên là dạy các cháu về đạo đức Anh chị em giáo viên và mẫu giáo cần luôn luôn gương mẫu về đạo đức để các cháu noi theo”.
Người GVMN phải tự học, tự rèn luyện thường xuyên Hoạt động củaGVMN đòi hỏi phải có kiến thức văn hóa cơ bản và một hệ thống tri thức khoahọc nuôi dạy trẻ, phải nhiệt tình, chu đáo và dễ hòa nhập cùng với trẻ Nhữngnăng lực sư phạm này là kết quả của một quá trình học tập, rèn luyện tại trường
và tự học tập một cách nghiêm túc, thường xuyên
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1.Khái niệm giáo viên mầm non và đội ngũ giáo viên mầm non
Theo điều 34 Điều lệ trường mầm non, giáo viên trong các cơ sở GDMN
là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập GVMN là những người được đào tạo qua nghiệp vụ sư phạm mầm non, có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm mầm non trở lên, có đủ các tiêu chuẩn về đạo đức, nhân cách và năng lực chuyên môn để thực hiện mục tiêu GDMN
Theo đó, khái niệm đội ngũ GVMN được hiểu như sau: Đội ngũ GVMN
là tập hợp những người làm công tác CS - GD trẻ em tại các cơ sở GDMN, được tổ chức thành một tập thể sư phạm, đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển GDMN trong tình hình mới.
Trang 13Đặc trưng bản chất của đội ngũ GVMN là ở tính tổ chức của đội ngũ về
số lượng, chất lượng và cơ cấu Đội ngũ GVMN mạnh hay yếu, một phần phụthuộc vào phẩm chất, năng lực cá nhân của mỗi giáo viên, phần quan trọng hơnphụ thuộc vào tổ chức biên chế đội ngũ đó Thực tiễn sư phạm cho thấy, đôi khimột cơ sở GDMN không thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đã đề
ra, không phải vì thiếu các giáo viên có phẩm chất và năng lực tốt mà do khâu tổchức biên chế không hợp lý về số lượng và cơ cấu, không khai thác, phối hợpđược năng lực của các cá nhân trong đội ngũ Vì vậy, xây dựng, phát triển độingũ GVMN phải kết hợp thống nhất biện chứng giữa hoạt động xây dựng pháttriển phẩm chất, năng lực cá nhân với hoạt động xây dựng, phát triển đội ngũ về
tổ chức Hai mặt hoạt động này luôn tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ cho nhaucùng phát triển Trong đó, tổ chức đội ngũ GVMN hợp lý về số lượng, chấtlượng, cơ cấu là cơ sở để xây dựng, phát triển phẩm chất, năng lực của mỗi cánhân GVMN Ngược lại, bồi dưỡng, phát triển phẩm chất, năng lực cá nhân củamỗi GVMN là điều kiện để xây dựng, phát triển đội ngũ
GVMN là nhà giáo đang tham gia các hoạt động giáo dục ở một bậc học
cụ thể trong hệ thống giáo dục quốc dân Trước hết, GVMN có vai trò, nhiệm vụ
và những yêu cầu chung của nhà giáo Đảng ta chỉ rõ: “Nhà giáo giữ vai trò
quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách đảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo dục thực hiện nhiệm vụ của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”.
Mỗi bậc học khác nhau, có đặc điểm cụ thể không giống nhau, do đó vaitrò của nhà giáo trong các nhiệm vụ cụ thể cũng khác nhau Người GVMN làngười thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người trongtương lai Nhân cách của con người trong xã hội tương lai như thế nào phụ thuộcrất nhiều vào nền móng ban đầu này Trong trường mầm non, giáo viên giữ vaitrò chủ đạo trong việc tổ chức các hoạt động CS – GD trẻ Người giáo viên
Trang 14không chỉ là người thầy mà còn là người mẹ, người bạn lớn tuổi đáng tin cậy vàgần gũi với trẻ nhiều nhất GVMN có các nhiệm vụ cơ bản như sau:
1 Bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em ởnhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập
2 Thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chươngtrình GDMN: lập kế hoạch CS – GD; xây dựng môi trường giáo dục, tổ chứccác hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; đánh giá và quản lý trẻem; chịu trách nhiệm về chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em;tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn, của nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ,lớp mẫu giáo độc lập
3 Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo;gương mẫu, thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của trẻem; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; đoàn kết, giúp đỡ đồngnghiệp
4 Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹtrẻ Chủ động phối hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em
5 Rèn luyện sức khỏe; học tập văn hoá; BDCM nghiệp vụ để nâng caochất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em
6 Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và củangành, các quy định của nhà trường, quyết định của Hiệu trưởng
Quyền của GVMN được đảm bảo các điều kiện để thực hiện nhiệm vụnuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em Được đào tạo nâng cao trình độ, BDCM,nghiệp vụ, được hưởng lương, phụ cấp và các chế độ khác theo quy định củapháp luật khi được cử đi học để nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ.Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc, bảo vệ sứckhỏe theo chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo Được bảo vệ nhânphẩm, danh dự Được thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật
1.2.2 Bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non
* Khái niệm chuyên môn của giáo viên mầm non
Trang 15Thuật ngữ chuyên môn của giáo viên được sử dụng khá phổ biến trong lýluận và thực tiễn giáo dục, đào tạo Cho đến nay, nhận thức về khái niệm chuyênmôn của giáo viên thường được hiểu là lĩnh vực chuyên ngành mà người giáoviên được đào tạo và sử dụng trong thực tiễn hoạt động giáo dục Có những cáchphân loại chuyên môn của giáo viên khác nhau Phân chia theo môn học ta cógiáo viên chuyên môn toán, giáo viên chuyên môn lý, giáo viên chuyên mônvăn, giáo viên chuyên môn sử… Đối với GVMN, có giáo viên chuyên môn vềnhạc, họa; có giáo viên chuyên môn về dinh dưỡng Một cách tiếp cận khác,chuyên môn của đội ngũ giáo viên nói chung, đó là chuyên môn về nghiệp vụ sưphạm Tất cả mọi giáo viên đều phải có chuyên môn về nghiệp vụ sư phạm Mỗiloại hình nhà trường, mỗi cấp học có yêu cầu khác nhau về chuyên môn nghiệp
vụ sư phạm Đối với GVMN, khi nói đến chuyên môn là bao gồm cả chuyênmôn về môn học và chuyên môn nghiệp vụ sư phạm Trong đó, chuyên mônnghiệp vụ sư phạm mầm non là chủ yếu
Chuyên môn của GVMN là trình độ nghiệp vụ sư phạm mầm non mà người giáo viên sử dụng trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, chăm sóc trẻ ở nhà trường và các cơ sở GDMN.
Mỗi ngành nghề, mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau đều có chuyên mônnghiệp vụ riêng Chuyên môn nghiệp vụ sư phạm là chuyên môn của nhà giáo.Mỗi nhà giáo, dù ở cấp nào cũng phải được trang bị về nghiệp vụ chuyên môn
sư phạm Nghiệp vụ chuyên môn sư phạm giúp cho người giáo viên thực hiệncác nhiệm vụ giáo dục, đào tạo một cách có hiệu quả Thực tiễn đã chứng minhrằng, đôi khi giáo viên được đào tạo cơ bản, có trình độ hiểu biết nội dung lýthuyết của môn học khá tốt, nhưng kết quả hoạt động sư phạm vẫn thấp, chưađáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đào tạo đã đặt ra Nguyên nhân chủ yếu củahiện trạng đó là do trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của giáo viên cònyếu Trình độ hiểu biết và thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm vừa tạo
cơ sở cho giáo viên xử lý mục tiêu, nội dung, sử dụng phương pháp dạy học mộtcách có hiệu quả, vừa là điều kiện để họ xử lý linh hoạt, sáng tạo các tình huống
sư phạm phức tạp
Trang 16Cấu trúc chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của GVMN bao gồm một hệthống các thành tố về kiến thức lý thuyết, về kỹ năng và kỹ thuật thực hành sưphạm Trong đó, các kiến thức lý thuyết về khoa học giáo dục, về tâm lý học, vềsinh lý học…có vai trò tạo nền tảng định hướng cho sự rèn luyện kỹ năng, kỹxảo và hình thành kỹ thuật trong hoạt động sư phạm Đặc biệt, cấu trúc chuyênmôn nghiệp vụ sư phạm của GVMN còn bao hàm trong đó cả những yếu tốnăng khiếu chuyên biệt và những phẩm chất đặc thù theo yêu cầu của lĩnh vựcGDMN Như vậy, chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của GVMN là sự hòa quyệngiữa kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm sư phạm của người giáo viên với cácphẩm chất của người bảo mẫu.
* Khái niệm bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non
Trong lĩnh vực giáo dục, thuật ngữ bồi dưỡng giáo viên là chỉ việc nângcao, hoàn thiện trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên đangdạy học Nghĩa hẹp, bồi dưỡng là trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng nhằmmục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể.Nghĩa rộng, bồi dưỡng là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách
và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đãchọn Bồi dưỡng là quá trình tác động của chủ thể giáo dục đến đối tượng giáodục, làm cho đối tượng được bồi dưỡng tăng thêm năng lực, phẩm chất và pháttriển theo chiều hướng tốt hơn
Theo quan niệm của tổ chức UNESCO: "Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao
nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp" Riêng tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng
"Bồi dưỡng có thể coi là một quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu
hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường xuyên được xác định bằng một chứng chỉ "
Các quan điểm trên đây cho thấy, bồi dưỡng là hoạt động có chủ đíchnhằm cập nhật những kiến thức mới tiến bộ, hoặc nâng cao trình độ cho giáoviên để tăng thêm năng lực, phẩm chất theo yêu cầu phát triển chung của giáo
Trang 17dục và yêu cầu phát triển riêng của mỗi cá nhân Mọi hoạt động bồi dưỡng đượcthực hiện trên nền tảng các loại trình độ đã được đào tạo cơ bản từ trước
Bồi dưỡng được hiểu là một dạng đào tạo không chính quy Về bản chấtthì bồi dưỡng là một con đường của đào tạo Đối tượng của bồi dưỡng là nhữngngười đương nhiệm trong các lĩnh vực hoạt động đa dạng của xã hội Vì vậy,trong công tác đào tạo bồi dưỡng hiện nay phải kết hợp tính chất đào tạo với tínhchất bồi dưỡng, trong bồi dưỡng có tính chất đào tạo và trong đào tạo có tínhchất bồi dưỡng Bồi dưỡng là việc làm thường xuyên, liên tục cho mỗi giáo viên,mỗi cấp học nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ để đáp ứng yêu cầu ngày càngcao của ngành giáo dục Quá trình BDCM cho đội ngũ GVMN thể hiện quan
điểm giáo dục hiện đại đó là: “Đào tạo liên tục và học tập suốt đời”.
BDCM là bổ sung những kiến thức, kỹ năng tay nghề và những kiến thức,
kỹ năng chuyên biệt góp phần tăng trưởng về chuyên môn cho người được bồidưỡng BDCM cho giáo viên có thể coi là việc đào tạo lại, đổi mới, cập nhậtkiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả côngviệc đang làm Đó là dạng lao động đặc biệt, là giai đoạn tất yếu tiếp theo củaquy trình đào tạo liên tục, tiếp nối, thường xuyên trong cuộc đời sự nghiệp củangười giáo viên
BDCM cho đội ngũ GVMN là quá trình bổ sung, hoàn thiện cho đội ngũ giáo viên về kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm mầm non và những vấn đề cần thiết khác, được thực hiện một cách có mục đích, có tổ chức, nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển hoàn toàn năng lực, phẩm chất chuyên môn của người GVMN, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của GDMN và yêu cầu phát triển cá nhân của mỗi giáo viên.
BDCM cho đội ngũ GVMN vừa là yêu cầu thường xuyên, vừa là yêu cầucấp thiết hiện nay Chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của giáo viên được hìnhthành trong quá trình đào tạo ở nhà trường sư phạm và trong thực tiễn hoạt độngnghề nghiệp Trong quá trình đào tạo ở nhà trường sư phạm, chỉ có thể hìnhthành cho người học những phẩm chất chuyên môn nghề nghiệp sư phạm đạicương, chung nhất, còn lại những phẩm chất chuyên biệt chủ yếu được hình
Trang 18thành trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp Quá trình hoạt động thực tiễn sưphạm, nếu được tổ chức một cách khoa học thì đó sẽ trở thành quá trình bồidưỡng nghiệp vụ sư phạm tốt nhất cho mỗi giáo viên
Lý luận và thực tiễn năng lực chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của giáoviên là một bộ phận của khoa học giáo dục, luôn vận động, phát triển theo sựvận động phát triển của khoa học, công nghệ, của các khoa học giáo dục, theoyêu cầu của thực tiễn phát triển giáo dục và xã hội Mặt khác, trong xu thế hộinhập, hợp tác quốc tế hiện nay, nhiều lý thuyết mới lạ về khoa học giáo dục đã,đang xuất hiện và thâm nhập vào thực tiễn, tác động mạnh mẽ đến từng cá nhângiáo viên Việc BDCM nghiệp vụ sư phạm cho GVMN là con đường để mỗigiáo viên phát triển đúng hướng, đồng thời để họ cập nhật được trình độ pháttriển của khoa học, công nghệ, của lý luận giáo dục hiện đại
Trong thực tế, có nhiều mô hình BDCM nghiệp vụ sư phạm khác nhau,với những nội dung và phương thức bồi dưỡng vô cùng đa dạng Bồi dưỡng vềchuyên môn nghiệp vụ theo chức trách, bồi dưỡng chung, bồi dưỡng riêng,BDTX, bồi dưỡng định kỳ… Tùy theo đặc điểm cụ thể, điều kiện sư phạm cụthể mà lựa chọn nội dung và phương thức bồi dưỡng cho thích hợp Tức là,BDCM nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ GVMN phải có kế hoạch, có tổ chức, cócác loại hình hoạt động bồi dưỡng khác nhau
1.2.3 Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non
Hoạt động BDCM là hoạt động phối hợp giữa chủ thể bồi dưỡng với đốitượng được bồi dưỡng trong quá trình bổ sung kiến thức và các yếu tố cần thiếtcho sự phát triển, hoàn thiện phẩm chất, năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầunhiệm vụ trong tình hình mới Tiếp cận dưới góc độ của tâm lý học, hoạt độngBDCM cho đội ngũ GVMN là tập hợp những thao tác, động tác, hành vi, hànhđộng mà chủ thể bồi dưỡng và đối tượng bồi dưỡng sử dụng để thực hiện cácmục tiêu, nhiệm vụ bồi dưỡng đã được xác định Theo góc độ của khoa học giáodục, hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN được hiểu như sau:
Trang 19Hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa chủ thể bồi dưỡng với đối tượng bồi dưỡng, trong quá trình bổ sung, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng mới, nhằm phát triển phẩm chất, năng lực chuyên môn của GVMN, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ bồi dưỡng đã đề ra.
Hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là một loại hình hoạt động giáodục, đào tạo có mục đích, có tổ chức, có chủ thể, đối tượng, có nội dung,phương pháp và được tiến hành trong điều kiện sư phạm xác định Về bản chất,hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là tổ chức cho GVMN tự hoàn thiện, pháttriển phẩm chất và năng lực của bản thân, thông qua các loại hình hoạt độngtương tác giữa chủ thể bồi dưỡng và đối tượng bồi dưỡng
Mục đích hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là nhằm chuẩn hóa chất
lượng đội ngũ giáo viên theo yêu cầu nâng cao chất lượng GDMN hiện nay.Hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là hoạt động thường xuyên nhằm giúpcác GVMN tự hoàn thiện bản thân theo chuẩn nghề nghiệp Mục đích cuối cùngcủa hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là nhằm nâng cao chất lượng GDMNđáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay
Chủ thể BDCM cho đội ngũ GVMN là những chuyên gia sư phạm có
trình độ hiểu biết sâu rộng về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm mầm non Baogồm những giảng viên và CBQL được phân công đảm nhiệm những nội dungbồi dưỡng trong chương trình xác định Hoạt động của chủ thể bồi dưỡng là hoạtđộng truyền thụ, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, có mục đích, có tổ chức.Chủ thể bồi dưỡng tác động lên đối tượng bồi dưỡng thông qua các loại hìnhhoạt động sư phạm đã xác định
Đối tượng bồi dưỡng là đội ngũ GVMN, những người đang trực tiếp
giảng dạy, giáo dục, chăm sóc trẻ ở các nhà trường và các cơ sở GDMN Đây lànhững người có nhu cầu nâng cao trình độ năng lực sư phạm, đáp ứng yêu cầunhiệm vụ phát triển mới của GDMN Hoạt động của đối tượng được bồi dưỡng
là hoạt động nhận thức và rèn luyện về chuyên môn Phương thức hoạt động củađối tượng được bồi dưỡng là hoạt động nhận thức của người học nhưng có sựkiểm soát của ý thức và sự trải nghiệm thực tiễn sư phạm của bản thân
Trang 20Vai trò, mối quan hệ của chủ thể bồi dưỡng và đối tượng bồi dưỡng Hoạt
động BDCM cho đội ngũ GVMN là hoạt động phối hợp của chủ thể bồi dưỡng
và đối tượng bồi dưỡng Hai hoạt động này luôn thống nhất với nhau, hỗ trợ chonhau cùng hướng vào thực hiện mục tiêu chung là hoàn thiện, phát triển nănglực và phẩm chất của người GVMN, đáp ứng nhu cầu phát triển GDMN trongtình hình mới Trong mối quan hệ đó, hoạt động của chủ thể bồi dưỡng giữ vaitrò định hướng cho hoạt động của đối tượng được bồi dưỡng Hoạt động của đốitượng được bồi dưỡng vừa chịu sự điều khiển của chủ thể bồi dưỡng, vừa mangtính chủ động, tích cực cá nhân, phù hợp với đặc điểm riêng của bản thân
Nội dung bồi dưỡng là những vấn đề phát triển mới về lý luận và thực tiễn
giáo dục nói chung và GDMN nói riêng Những chủ trương, chính sách, nhữngvăn bản pháp luật và các quy định mới trong ngành giáo dục Trong đó, cần tậptrung vào các vấn đề cấp thiết đang nổi lên, như bồi dưỡng về tư tưởng chính trị,đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng; đạo đức, lối sống Bồi dưỡng nhữngkiến thức pháp luật, kiến thức về quản lý; về văn hóa, ngoại ngữ, tin học, sứckhỏe, thể dục thể thao, văn nghệ Bồi dưỡng về kiến thức chuyên ngành, vềnghiệp vụ sư phạm, bồi dưỡng chuyên đề nâng cao, đổi mới phương pháp dạyhọc, những kiến thức tâm lý học, giáo dục học…
Phương thức bồi dưỡng Hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là một
loại hình bồi dưỡng được tiến hành thường xuyên và định kỳ theo kế hoạch xácđịnh BDTX là hình thức được áp dụng rộng rãi và phổ biến nhất vì nó phù hợpvới đặc điểm công việc của giáo viên và điều kiện các nhà trường; nhất là việc
bố trí thời gian để giáo viên tự bồi dưỡng, nghiên cứu các nội dung học tập vàliên hệ thực tế vào bài học cụ thể Việc bồi dưỡng thường thông qua các hộinghị khoa học, báo cáo chuyên đề, hội thảo, seminar, các đợt tập huấn, thaogiảng, dự giờ
Bồi dưỡng định kỳ, giúp giáo viên vượt qua sự lạc hậu về tri thức dokhông được cập nhật kiến thức thường xuyên Bồi dưỡng nâng cao, là hình thứcbồi dưỡng các giáo viên nòng cốt trong nhà trường để làm hạt nhân cho sự pháttriển của đơn vị cũng như tạo nguồn CBQL trong tương lai
Trang 21Tóm lại, hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là một loại hình hoạtđộng giáo dục, đào tạo có kế hoạch, có tổ chức, được tiến hành thường xuyên,liên tục với nhiều hình thức tổ chức đa dạng Hoạt động BDCM cho đội ngũGVMN là một nhiệm vụ được quy định tại Luật giáo dục Các cơ quan quản lýnhà nước về giáo dục phải có chính sách bồi dưỡng nhà giáo nói chung, BDCMcho đội ngũ GVMN nói riêng.
1.2.4 Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
Thuật ngữ quản lý, có nhiều cách giải nghĩa khác nhau Từ điển giáo dụchọc, quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thểquản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổchức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.
Theo góc độ xã hội học quản lý, Vũ Hào Quang cho rằng: “ Quản lý
chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” {24,
tr.105}
Hà Sĩ Hồ lại cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng,
có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”.{15, tr.21}
Theo Tâm lý học quản lý: “Quản lý được coi như là sự kết hợp của quản
và lý Quản bao gồm sự coi giữ, tổ chức, điều khiển, trông nom và theo dõi Lý được hiểu là lý luận về sự phân biệt phải trái, sự sửa sang, sắp xếp, thanh lý, sự
dự đoán cùng sự tạo ra thiết chế hành động để đưa hệ vào sự phát triển”{6,tr.
33,34} Theo cách hiểu này, quản lý là “ lý luận về sự cai quản” Chức năng của
quản lý là lãnh đạo, tham mưu và thừa hành Nếu người quản lý chỉ lo “quản”
mà coi nhẹ “lý” thì tổ chức sẽ trì trệ chậm phát triển; còn ngược lại thì dễ rơi vào
Trang 22thế mất cân bằng Vì thế trong “quản” phải có “lý’, trong “lý” phải có “quản”,
“quản và lý” phải đi đôi với nhau Quản lý là yếu tố tạo nên sự ổn định để pháttriển của hệ thống trên lộ trình tiến tới trạng thái mới có chất lượng cao hơn
Như vậy, có thể hiểu quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủthể quản lý tới khách thể quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản
lý, bằng những công cụ và phương pháp mang tính đặc thù nhằm đạt được mục
tiêu chung của toàn bộ hệ thống “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là
nghệ thuật”, và “hoạt động quản lý vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan, vừa có tính pháp luật của nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi; chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất” Quản lý có các chức năng cơ bản
là duy trì và phát triển Bất kỳ một hoạt động tập thể nào cũng cần phải quản lý
Quản lý hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là thực hiện chức năngquản lý trong quá trình tổ chức bồi dưỡng giáo viên, từ chức năng lập kế hoạch,
tổ chức, điều khiển đến kiểm tra đánh giá, để công tác BDCM của giáo viên đạtmục đích và hiệu quả
Quản lý hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là hệ thống những tác động của chủ thể quản lý đến các hoạt động BDCM, nhằm tổ chức, điều khiển các hoạt động đó diễn ra theo một kế hoạch xác định, đảm bảo cho phẩm chất, năng lực chuyên môn của GVMN được phát triển liên tục và đúng hướng, đáp ứng nhu cầu chuẩn hóa chất lượng đội ngũ GVMN.
Quản lý hoạt động BDCM cho GVMN là hoạt động phối hợp giữa cáccấp quản lý từ trung ương đến cơ sở, với các cấp có liên quan Đây là hoạt động
có chủ đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý, nhằm tạo điều kiện cho giáo viên
có cơ hội học tập nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu phát triểnGDMN Quản lý hoạt động BDCM chính là thực hiện các chức năng quản lýtrong quá trình tổ chức bồi dưỡng, đảm bảo cho các hoạt động bồi dưỡng diễn rađúng mục đích, đúng kế hoạch, nhanh chóng và đạt hiệu quả cao
Mục tiêu chung của quản lý hoạt động BDCM cho GVMN là đảm bảo
cho hoạt động của các chủ thể bồi dưỡng và hoạt động của đối tượng được bồidưỡng diễn ra một cách khoa học, hướng vào phát triển phẩm chất, năng lực của
Trang 23đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp Mục tiêu cụ thể của quản lý hoạt độngBDCM cho GVMN nhằm đưa hoạt động này vào khuôn khổ nề nếp, thực hiệnthường xuyên, bài bản và hiệu quả hơn để góp phần nâng cao chất lượng chămsóc, giáo dục trẻ ở các nhà trường và cơ sở GDMN.
Chủ thể quản lý là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực GD&ĐT tại địa
phương, cụ thể cấp tỉnh là Sở và cấp huyện, thị xã, thành phố là Phòng GD&ĐT,trực tiếp quản lý là lãnh đạo phụ trách bộ phận GDMN và phòng chuyên mônmầm non của Sở, đối với phòng GD&ĐT có lãnh đạo và cán bộ phụ tráchGDMN Chủ thể quản lý là tập thể và cá nhân CBQL các cấp có trách nhiệm tổchức, điều khiển các hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN trong phạm vi quản
lý của mình
Đối tượng quản lý là hoạt động BDCM cho GVMN của tỉnh và huyện, thị
xã, thành phố Bao gồm hoạt động của tất cả các thành viên tham gia vào quátrình bồi dưỡng, trong đó chủ yếu là hoạt động của người đi bồi dưỡng với tưcách là chủ thể bồi dưỡng và hoạt động của người được bồi dưỡng với tư các làđối tượng bồi dưỡng Đối tượng quản lý tiến hành các hoạt động bồi dưỡng dưới
sự tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý có chức năng xây dựng kế hoạch, tổ chức, điều khiển vàkiểm tra các hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN Đảm bảo cho hoạt động củangười đi bồi dưỡng và người được bồi dưỡng luôn phối hợp thống nhất vớinhau, phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức BDCMcủa GVMN, phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục hiện đại và đặc điểm củaGDMN Như vậy, chủ thể quản lý hoạt động của người đi bồi dưỡng với hoạtđộng của đối tượng được bồi dưỡng, đặt các hoạt động này trong mối quan hệvới các thành tố cấu trúc của quá trình BDCM cho đội ngũ GVMN
1.3 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
1.3.1 Quản lý kế hoạch bồi dưỡng
Trong quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng, kế hoạch giữ vaitrò vị trí rất quan trọng Đối với người quản lý thì kế hoạch đóng vai trò là công
cụ quản lý, căn cứ vào kế hoạch để kiểm tra quá trình triển khai thực hiện và dự
Trang 24báo trước được kết quả của quá trình Đối với người bị quản lý thì kế hoạch cótính chất định hướng cho quá trình phấn đấu và phát triển của cá nhân hay củatập thể Căn cứ vào kế hoạch để xác định mục tiêu phấn đấu, nhiệm vụ phải thựchiện để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Vai trò của quản lý kế hoạch là rất quan trọng và quyết định kết quả củaquá trình quản lý, bởi vì mọi hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN đều phảiđược kế hoạch hóa Kế hoạch là bản thiết kế hoạt động cho các lực lượng, là vănbản pháp quy cho các lực lượng phải tuân theo Trong hoạt động dạy học việclập kế hoạch là điều kiện quan trọng hàng đầu và quyết định kết quả thực hiện
Kế hoạch phải đảm bảo tính khoa học, phù hợp, khả thi và phải được triển khaithực hiện một cách nghiêm túc thì mới đạt kết quả
Các loại kế hoạch bồi dưỡng bao gồm: kế hoạch chiến lược về phát triểnđội ngũ GVMN; kế hoạch trung hạn, kế hoạch ngắn hạn Kế hoạch BDTX hàngnăm; kế hoạch bồi dưỡng theo chủ đề; kế hoạch bồi dưỡng tại chỗ…
Yêu cầu xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phải đảm bảo tính pháp lý, tính hệthống, đồng bộ, tính khoa học, tính thực tiễn và tính khả thi Việc lập kế hoạchBDCM cho GVMN phải được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm củaquá trình bồi dưỡng Kế hoạch phải được xây dựng trên cơ sở phát triển, mangtính chiến lược dài hạn, đảm bảo phù hợp và cân đối giữa các nội dung Cần xácđịnh một cách cụ thể mục tiêu phải đạt được sau mỗi đợt bồi dưỡng Khi xâydựng kế hoạch phải dựa trên nhu cầu thực tiễn, xuất phát từ tình hình năng lựccủa đội ngũ GVMN Kế hoạch phải mang tính thống nhất trong nội dung vàphương pháp Dự tính rõ trình tự, quy trình tiến hành bồi dưỡng và các tìnhhuống có thể xảy ra trong quá trình thực hiện Kế hoạch phải mang tính thiếtthực, khả thi, kiểm tra được Trong kế hoạch BDCM cần tập trung vào nhu cầu
và mong muốn của GVMN để phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
Như vậy, việc xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động BDCM cho GVMNgóp phần thực hiện các nguyên tắc quản lý giáo dục Thực chất quản lý kế hoạchbồi dưỡng GVMN là quản lý bằng kế hoạch, quản lý thông qua kế hoạch bồidưỡng Quản lý kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn GVMN là điều quan trọng phải
Trang 25làm vì có quản lý được kế hoạch bồi dưỡng thì mới có thể nắm được toàn bộhoạt động từ khâu thực hiện đến phương pháp và hình thức cũng như kết quảcủa quá trình.
1.3.2 Quản lý các nguồn nhân lực trong hoạt động bồi dưỡng
Nội dung quản lý hoạt động tổ chức BDCM cho đội ngũ GVMN nhằmthực hiện chức năng tổ chức của quản lý nhà nước về giáo dục Tổ chức là quátrình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phậntrong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạtđược mục tiêu tổng thể của tổ chức Tổ chức là một bước cụ thể hóa của kếhoạch quản lý đã xác định Trong việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng phải tổchức chặt chẽ, khoa học các hoạt động bồi dưỡng Tổ chức phân công người,phân công việc sao cho phù hợp, phát huy được tối đa các nguồn lực trong thựchiện các nhiệm vụ bồi dưỡng Phân bổ thời gian, lực lượng, các nguồn lực, cácđiều kiện đảm bảo hợp lý Quản lý hoạt động tổ chức BDCM cho đội ngũGVMN là chức năng của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục Các cơ quanquản lý nhà nước về giáo dục căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quyền hạn củacấp mình mà tiến hành các hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN
Quản lý hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là quản lý một loại hìnhhoạt động phối hợp của hai chủ thể Hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN baogồm hoạt động của người đi bồi dưỡng và hoạt động của người được bồi dưỡng.Các hoạt động này được đặt dưới sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan quản lý nhànước về giáo dục Như vậy, trong quá trình BDCM cho đội ngũ GVMN đồngthời diễn ra hoạt động của người quản lý, người bồi dưỡng, người được bồidưỡng Mỗi lực lượng có chức năng khác nhau, nhưng lại có chung một mụctiêu là phát triển phẩm chất, năng lực của đội ngũ GVMN
Người quản lý có chức năng tổ chức phối hợp hoạt động của các lựclượng này tạo thành sự thống nhất với nhau, cộng hưởng với nhau cùng hướngtới thực hiện mục tiêu chung Để tạo ra được sự phối hợp thống nhất hoạt độngcủa các lực lượng bồi dưỡng, vấn đề cơ bản nhất đối với người CBQL là phảixây dựng được cơ chế quản lý, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng lực
Trang 26lượng cụ thể và mối quan hệ giữa các lực lượng đó trong quá trình thực hiện cácnhiệm vụ BDCM cho đội ngũ GVMN
Người quản lý phải xác định được chủ thể hoạt động bồi dưỡng và đốitượng được bồi dưỡng Trên cơ sở nắm được đặc điểm trình độ năng lực vềnghiệp vụ sư phạm của họ để tổ chức các hoạt động bồi dưỡng sao cho thíchhợp Người quản lý phải căn cứ trình độ, năng lực nghiệp vụ sư phạm của độingũ GVMN trong phạm vi quản lý của mình đã có đến đâu, đang cần cái gì.Trên cơ sở đó xác định nội dung, phương thức bồi dưỡng và chủ thể bồi dưỡng
Như vậy, nội dung quản lý hoạt động tổ chức BDCM cho đội ngũ GVMNbao gồm tổ chức lực lượng bồi dưỡng và lực lượng được bồi dưỡng; xây dựng
cơ chế phối hợp hoạt động của các lực lượng này
1.3.3 Quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình bồi dưỡng
Mục tiêu bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môncho GVMN Bộ GD&ĐT đã ban hành chuẩn nghề nghiệp GVMN, do đó bồidưỡng để đạt chuẩn nghề nghiệp là mục tiêu phấn đấu và học tập về chuyênmôn, kỹ năng nghề nghiệp để khẳng định vị trí của bản thân trong nhà trường vàtrong ngành giáo dục Chuẩn nghề nghiệp đóng vai trò định hướng mục tiêu vànội dung bồi dưỡng GVMN Do vậy, việc quản lý mục tiêu BDCM cho GVMN
có vị trí quan trọng và không thể thiếu trong quá trình quản lý hoạt động BDCMGVMN Mục tiêu của quản lý hoạt động BDCM cho GVMN nhằm tạo dựngmôi trường và những điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch bồidưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GVMN vànâng cao chất lượng CS – GD tại các cơ sở GDMN
Quản lý nội dung chương trình bồi dưỡng nhằm hướng đến việc nâng caokiến thức và kỹ năng thực hành, cập nhật công nghệ thông tin để sử dụng trongquá trình dạy học Nội dung phải tập trung vào những kiến thức mới và cácphương pháp, cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ mầm non Do vậy,quản lý nội dung chương trình nhằm đảm bảo được thiết kế theo chuyên đề vàkết cấu thành các module Mỗi module là một nội dung độc lập và các module
có liên quan với nhau tạo thành chương trình bồi dưỡng hoàn chỉnh với những
Trang 27nội dung kiến thức và kỹ năng mang tính hệ thống và phù hợp với thực tiễn pháttriển GDMN trong thời kỳ đổi mới.
Thực chất quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình BDCM cho đội ngũGVMN là mô hình hóa mục tiêu thành tiêu chí về phẩm chất, năng lực củangười GVMN, là phân cấp mục tiêu bồi dưỡng theo các cấp độ khác nhau Trên
cơ sở mục tiêu đó để xử lý chế biến nội dung, xây dựng chương trình bồi dưỡngcho thích hợp
1.3.4 Quản lý phương pháp và hình thức bồi dưỡng
Phương pháp bồi dưỡng là cách thức mà người đi bồi dưỡng và ngườiđược bồi dưỡng sử dụng để tác động vào nội dung và thực hiện các mục tiêu,nhiệm vụ bồi dưỡng đã xác định Hình thức tổ chức bồi dưỡng là cách thức tổchức bồi dưỡng Phương pháp và hình thức tổ chức bồi dưỡng được diễn ratrong thực tiễn hoạt động bồi dưỡng Thực chất quản lý phương pháp và hìnhthức tổ chức bồi dưỡng là thực hiện chức năng điều khiển của quản lý nhà nước
về giáo dục
Quản lý phương pháp bồi dưỡng nhằm định hướng phương pháp mới, tiến
bộ, tập trung vào phương pháp tìm hiểu, khám phá và cùng tham gia Khi đóngười học luôn tích cực, chủ động tham gia vào quá trình lĩnh hội kiến thức, giảiquyết các vấn đề và tham gia cấu trúc lại kiến thức từ vốn kinh nghiệm nghềnghiệp đã có của bản thân, đồng thời cập nhật thêm kiến thức mới cần thiết choviệc hoàn thành nhiệm vụ của bậc học mầm non Quản lý phương pháp bồidưỡng chủ yếu là điều khiển hoạt động của người đi bồi dưỡng và họat động củangười được bồi dưỡng trong quá trình lựa chọn, sử dụng phương pháp bồidưỡng
Hình thức bồi dưỡng cần phù hợp với thực tiễn tại các trường mầm non,xuất phát từ phương pháp chủ yếu là tự học, tự nghiên cứu là chính nên việcquản lý các hình thức bồi dưỡng cũng phải linh hoạt phù hợp với điều kiện họctập của các cá nhân thì mới đạt hiệu quả Trong điều kiện phát triển khoa họccông nghệ hiện đại thì phương pháp bồi dưỡng cần đa dạng phong phú như họctập trung theo từng khóa học, học theo từng đợt ngắn hạn, học tại chức, học từ
Trang 28xa, nghiên cứu qua mạng hoặc qua tài liệu Khi quản lý hình thức bồi dưỡngGVMN cần có sự đúc kết lại xem hình thức nào đạt hiệu quả cao nhất để pháthuy đồng thời cũng để điều chỉnh bổ sung các hình thức cho phù hợp tình hìnhthực tiễn.
Quản lý hình thức bồi dưỡng để đánh giá mức độ phù hợp của hoạt độngBDCM Triển khai nhiều hình thức bồi dưỡng và kịp thời điều chỉnh hợp lý làrất tốt nhưng cũng cần chú ý đến đối tượng giáo viên tham gia, phải biết thâmniên công tác, trình độ đào tạo và khả năng tiếp thu của giáo viên ở mức nào để
áp dụng hình thức phù hợp nhất thì mới đem lại kết quả cao nhất
1.3.5 Quản lý chất lượng và hiệu quả hoạt động bồi dưỡng
Quản lý chất lượng và hiệu quả hoạt động bồi dưỡng là một chức năng cơbản của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục Quản lý chất lượng, hiệu quả củahoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là đảm bảo cho hoạt động đó đạt đượccác mục tiêu, nhiệm vụ bồi dưỡng đã đặt ra với chi phí thấp nhất Nội dung quản
lý chất lượng, hiệu quả hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN chủ yếu là xácđịnh được tiêu chí đánh giá chất lượng, xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượngcủa hoạt động đó và lựa chọn được phương thức hoạt động tối ưu nhất
Chất lượng của hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là tổng thể chấtlượng của các khâu, các bước, các thành tố cấu thành hoạt động bồi dưỡng.Quản lý chất lượng hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN bao gồm quản lý chấtlượng của mọi thành tố Mỗi thành tố có vai trò, vị trí khác nhau trong từng điềukiện và từng thời điểm khác nhau
Chất lượng và hiệu quả là hai phạm trù luôn quan hệ với nhau Đã nói đếnchất lượng là nói đến hiệu quả, không phải đạt được chất lượng bằng mọi giá.Đối với người quản lý, bao giờ cũng phải quan tâm đến chất lượng với hiệu quảcao nhất Hiệu quả của hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN bao gồm hiệu quảtrong và hiệu quả ngoài của quá trình bồi dưỡng Hiệu quả trong là tỷ lệ giữađầu tư cho hoạt động bồi dưỡng và kết quả đạt được các mục tiêu bồi dưỡng đãđặt ra Cơ quan quản lý có chức năng hạch toán và tổ chức các hoạt động bồi dưỡngsao cho đạt được các mục tiêu đã đề ra với chi phí tối ưu nhất
Trang 29Hiệu quả ngoài của hoạt động bồi dưỡng là mức độ phát huy tác dụng của độingũ giáo viên trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp chuyên môn do bồi dưỡng manglại Hiệu quả ngoài có tác động trực tiếp đến năng suất hoạt động chuyên môn củagiáo viên, nhưng thường được thể hiện chậm hơn so với hiệu quả trong.
Quản lý chất lượng, hiệu quả hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN baogồm quản lý hiệu quả trong, hiệu quả ngoài của quá trình bồi dưỡng và sự vậnhành của những yếu tố tạo nên hiệu quả đó Vấn đề quan trọng nhất của quản lýchất lượng, hiệu quả hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là phải thiết kế được
bộ tiêu chí chuẩn để đánh giá chính xác mức độ phát triển phẩm chất, năng lựccủa GVMN, đánh giá hiệu quả tác động của sự phát triển đó cả trong và sau quátrình bồi dưỡng Nghĩa là, người CBQL và cơ quan quản lý nhà nước về giáodục phải kiểm soát được kết quả vận hành của các hoạt động BDCM cho độingũ GVMN trong suốt quá trình diễn ra các hoạt động bồi dưỡng đó
Phương thức quản lý chất lượng, hiệu quả của hoạt động BDCM cho độingũ GVMN là thanh tra, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động Thanh tra, kiểmtra, đánh giá là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý, là quá trình thiết
lập mối liên hệ ngược trong quản lý Có thể nói “ không có thanh tra, kiểm tra,
đánh giá là không có quản lý”
Mục đích của hoạt động thanh tra, kiểm tra, đánh giá là nhằm tìm ranhững mặt ưu điểm, mặt hạn chế trong hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN,qua đó đánh giá, điều chỉnh và xử lý kết quả của quá trình bồi dưỡng, làm chomục đích của quản lý được hiện thực hóa một cách đúng hướng và có hiệu quả
Nội dung, phương thức thanh tra, kiểm tra, đánh giá trong hoạt độngBDCM cho đội ngũ GVMN là một phần trong thanh tra, kiểm tra, đánh giáGD&ĐT nói chung Nội dung cơ bản của thanh tra, kiểm tra, đánh giá kết quảhoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN là: kiểm soát phát hiện; động viên phêphán; đánh giá và thu thập thông tin Nhờ có thanh tra, kiểm tra, đánh giá màngười quản lý và cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nắm bắt được thực trạngchất lượng, hiệu quả và những vấn đề đang đặt ra trong hoạt động BDCM cho
Trang 30đội ngũ GVMN, từ đó có căn cứ đề xuất các quyết định mới, kịp thời uốn nắn,điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng
1.4 Những nhân tố tác động đến quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non
1.4.1 Các nhân tố chủ quan
Quản lý hoạt động BDCM cho đội ngũ GVMN chịu sự tác động của nhiềunhân tố, bao gồm các nhân tố chủ quan, khách quan, các nhân tố bên trong, bênngoài ngành giáo dục, các nhân tố xã hội Trong đó, các nhân tố chủ quan thuộc
về đội ngũ giáo viên, đội ngũ CBQL và các điều kiện đảm bảo cho hoạt độngbồi dưỡng
- Tác động từ thực trạng đội ngũ giáo viên mầm non
Đội ngũ GVMN, số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ GVMN đang có tácđộng mạnh đến quản lý hoạt động bồi dưỡng Đặc biệt, phẩm chất, năng lực củađội ngũ GVMN ngang tầm với nhiệm vụ được phân công; đời sống vật chất ổnđịnh, tạo điều kiện cho họ luôn tha thiết với ngành, nghề, gắn bó với trường,đang là nhu cầu đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục còn tiếptục phấn đấu Trong thực tế, đội ngũ GVMN còn nhiều bất cập về số lượng, chấtlượng, cơ cấu Đặc biệt về chất lượng chưa đồng đều, chưa đáp ứng nhu cầuphát triển trong tình hình mới
- Tác động từ thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục mầm non
CBQL có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động bồi dưỡng, nâng caochất lượng đội ngũ GVMN CBQL phải có trình độ năng lực, có tầm nhìn vềquản lý giáo dục, có sự am hiểu chuyên môn thì mới có thể xây dựng được kếhoạch bồi dưỡng hợp lý Phẩm chất, năng lực của đội ngũ CBQL chuyên trách
về Mầm non , trong đó có tầm nhìn chiến lược, khả năng đoàn kết, tạo lập sựđồng thuận giữa các đơn vị và cá nhân trong các nhà trường Mầm non với các
cơ quan, các ngành, các cấp có liên quan để thực hiện mục tiêu chung; sự nhạybén của đội ngũ lãnh đạo và quản lý trong việc đổi mới quản lý phù hợp với môitrường thường xuyên biến động
Trang 31- Tác động từ thực trạng cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng
Cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng Cơ sở vật chất là điềukiện để thực hiện kế hoạch BDCM cho đội ngũ GVMN Trước sự phát triểnnhanh chóng của khoa học và công nghệ hiện đại, đòi hỏi phải thường xuyên bồidưỡng cho đội ngũ giáo viên thích ứng với các phương tiện công nghệ mới Đặcbiệt đối với các nhà trường mầm non, cơ sở vật chất vừa là điều kiện, vừa làphương tiện học cụ không thể thiếu Chất lượng, kết quả của hoạt động BDCMcho đội ngũ GVMN bị chi phối rất lớn bởi điều kiện đảm bảo về vật chất,phương tiện và đồ dùng dạy học
- Tác động từ kinh nghiệm thực tiễn phát triển đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Sóc Trăng
Kinh nghiệm thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ GVMN ở cácnhà trường và các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục có tác động lớn tới hoạtđộng BDCM, nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN Cơ quan quản lý nhà nước
về giáo dục ở cấp phòng, cấp sở là nơi tổ chức các hoạt động bồi dưỡng, chấtlượng, hiệu quả của các hoạt động bồi dưỡng, trước hết phụ thuộc vào kinhnghiệm và năng lực tổ chức của các cơ quan này Nhà trường mầm non là môitrường sư phạm trực tiếp tác động đến động cơ, niềm tin, ý chí và sự đam mênghề nghiệp của từng giáo viên Trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ sưphạm, bản lĩnh nghề nghiệp của người giáo viên phụ thuộc rất nhiều vào sự trảinghiệm thực tiễn của chính họ và kinh nghiệm thực tiễn của nhà trường Nhàtrường cần phải biết khai thác, sử dụng kinh nghiệm thực tiễn đó trong quản lýhoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
1.4.2 Các nhân tố khách quan
- Xu thế phát triển của giáo dục, đào tạo trong tình hình mới
Xu hướng phát triển của lý luận và thực tiễn giáo dục trong thế kỷ XXIđang diễn ra những biến động mạnh mẽ, làm thay đổi hẳn phương thức giáo dục,đào tạo truyền thống Thực hiện quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐTtheo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI),
Trang 32toàn ngành giáo dục đang quyết tâm chuyển mạnh sang mục tiêu phát triển nănglực và phẩm chất của người học, tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng giáodục đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế Một trong những giải pháp đó là đột phá vào các trường sư phạm, các cơ sởđào tạo giáo viên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói chung và giáoviên các trường mầm non nói riêng Điều đó đã làm xuất hiện những thời cơmới, thách thức mới, đặt ra những yêu cầu mới về quản lý hoạt động BDCM chođội ngũ giáo viên ở các trường mầm non
- Chủ trương, chính sách của chính quyền địa phương trong phát triển giáo viên mầm non
Sự quan tâm của lãnh đạo Đảng và Chính quyền địa phương và các cơquan hữu quan đến hệ thống trường mầm non và đội ngũ GVMN Sự quan tâm
đó có tác động về các mặt nhân sự, tài chính, đất đai cũng như phát huy vai tròcủa các trường mầm non trong các hoạt động tại địa phương Chính quyền địaphương là cơ quan quản lý hành chính nhà nước đối với các trường mầm nontrên địa bàn Quản lý của phòng giáo dục và sở giáo dục là quản lý ngành, mọihoạt động của ngành chỉ có thể đạt được chất lượng, hiệu quả khi có sự phối hợpthống nhất, đồng bộ với quản lý của chính quyền địa phương
- Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương
Phát triển giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội là hai mặt luôn có mốiquan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, quy định lẫn nhau Mộttrong những quy luật của giáo dục là sự phát triển của giáo dục chịu sự tác độngcủa điều kiện kinh tế - xã hội Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội những nămqua đã làm gia tăng dân số ở các trung tâm kinh tế, văn hóa lớn Kéo theo đó lànhu cầu mới về số lượng, chất lượng GDMN Đây là một áp lực đặt ra cho các
cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển độingũ GVMN tương thích với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội
* *
*
Trang 33GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là một bậchọc có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển nguồn lực con người.Đội ngũ cán bộ giáo viên có vai trò quyết định trong việc CS – GD trẻ ở cáctrường mầm non Do đó các cấp quản lý phải xem việc BDCM cho đội ngũGVMN là nhiệm vụ quan trọng phải làm thường xuyên và có hiệu quả Mục tiêucủa công tác bồi dưỡng là nhằm hoàn thiện quá trình đào tạo, khắc phục nhữngthiếu sót lệch lạc trong công tác giảng dạy, về quan điểm, nội dung phương phápgiáo dục đồng thời theo kịp những yêu cầu phát triển của xã hội Vì vậy, việcquản lý hoạt động BDCM cho GVMN có ý nghĩa quyết định đến chất lượng độingũ cũng như chất lượng CS – GD trẻ trong các trường mầm non
Trong tình hình hiện nay, những thay đổi và phát triển nhanh chóng vềkinh tế xã hội buộc mục tiêu giáo dục phải ngày càng hoàn thiện Người giáoviên, nhân vật quan trọng nhất của quá trình giáo dục phải được đào tạo vàBDTX để có thể thực hiện được trọng trách xã hội của mình Để hoàn thành tốtnhiệm vụ của GDMN đòi hỏi người GVMN phải có phẩm chất, trình độ, nănglực, đề cao lương tâm và nhân cách nhà giáo, lòng nhân ái tận tụy thương yêutrẻ, thể hiện ở tinh thần tự học, tự bồi dưỡng và không ngừng cải tiến nội dung,phương pháp CS – GD trẻ
Bồi dưỡng, phát triển phẩm chất, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho độingũ GVMN là một yêu cầu tất yếu, thường xuyên Đây không chỉ là con đường,biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục của bậc học đầu tiên trong hệ thốnggiáo dục quốc dân mà còn là con đường để phát triển năng lực, phẩm chất cánhân của mỗi giáo viên theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiệnnay
Trang 34Chương 2 THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON TỈNH SÓC TRĂNG
2.1 Khái quát sự phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục tỉnh Sóc Trăng
2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng
Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, được chiatách từ tỉnh Hậu Giang cũ vào năm 1992, với diện tích tự nhiên là 3.331,76 km2,
có bờ biển dài 72 km và vùng biển rộng khoảng 30.000 km2 Tỉnh Sóc Trăng có
11 đơn vị hành chính, gồm 01 thành phố thuộc tỉnh, có 02 thị xã và 08 huyện với
109 xã, phường, thị trấn Tổng dân số trong tỉnh là 1.303.149 người (năm 2012),với mật độ trung bình 390 người/km Có 03 dân tộc chính: người Kinh chiếm64,24% dân số, người Khmer chiếm 30,71% (tỉnh có đông đồng bào Khmer nhất
cả nước) và người Hoa chiếm 5,02% dân số Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnhtăng bình quân trong 5 năm đạt 9,6% GDP bình quân đầu người 1.581USD/người/năm; kinh tế phát triển chủ yếu nhờ vào sản xuất nông nghiệp vàđánh bắt thủy sản
So với các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng là tỉnh cóđông đồng bào dân tộc Khmer, đời sống kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộnghèo chiếm 17,03% Để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo đúngtầm của một đô thị có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực,đòi hỏi phải có sự đầu tư phát triển đồng bộ nhiều lĩnh vực, trong đó GD& ĐTđóng vai trò rất quan trọng, góp phần cải thiện đời sống, kinh tế - xã hội và xóađói giảm nghèo Muốn vậy, ngành giáo dục cần phải có những giải pháp thayđổi toàn diện, trọng điểm, có hệ thống, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệpcông nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh SócTrăng cũng đã khẳng định vai trò của giáo dục đối với phát triển kinh tế của địaphương đến năm 2020
Trang 352.1.2 Tình hình giáo dục tỉnh Sóc Trăng
* Quy mô giáo dục các cấp học từng bước phát triển, đáp ứng nhu cầu họctập của nhân dân, phục vụ yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡngnhân tài cho đất nước Hệ thống trường lớp phát triển khá ổn định theo quyhoạch Năm học 2013 – 2014 toàn tỉnh có 582 trường, trong đó: Mầm non có
131 trường; Tiểu học có 304 trường; THCS có113 trường; THPT là 34 trường
Số lượng trẻ mầm non và học sinh phổ thông đến trường hàng năm đều tăng.Trường đạt chuẩn quốc gia ở các cấp học đạt tỷ lệ 31,9%, ngành giáo dục đangphấn đấu để đạt chỉ tiêu Nghị quyết tỉnh giao là 40% vào cuối năm 2015
Bảng 2.1 Quy mô phát triển giáo dục từ năm học 2011-2012 đến 2013-2014
Nguồn: Báo cáo tổng kết Sở GD&ĐT hàng năm
* Tình hình đội ngũ, toàn ngành có 19.431 cán bộ, giáo viên và nhân viên,
nữ có 9.711 người, chiếm tỷ lệ 50%, dân tộc 4.241 người, chiếm 22,0%, số cán
bộ, giáo viên là đảng viên là 7.049 người, chiếm tỷ lệ 36,26% CBQL các cấp là1.297 người, đạt chuẩn 100% và nhân viên là 3.454 người Tổng số giáo viên là15.680 người, trong đó: có 1.937 GVMN, 7.050 giáo viên tiểu học, 4.585 giáoviên THCS, 1.959 giáo viên THPT và 149 giảng viên cao đẳng sư phạm Giáoviên có trình độ đào tạo trên chuẩn đối với mầm non đạt 60,2%, tiểu học 59,4%,THCS 51,4% và THPT là 7,0 %
Hàng năm, Sở GD&ĐT đều hướng dẫn các đơn vị trực thuộc thực hiệncông tác đánh giá CBQL (Công chức, chuẩn hiệu trưởng), giáo viên (Viên chức,chuẩn nghề nghiệp) đúng theo quy định hiện hành Kết quả xếp loại CBQL vàgiáo viên trong năm học 2013 – 2014 như sau:
Trang 36Bảng 2.2 Tổng hợp đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp NH 2013 - 2014
Nguồn từ báo cáo tổng kết năm học 2013 – 2014 của phòng TCCB, Sở GD&DT
* Cơ sở vật chất và tài chính cho giáo dục là yếu tố quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng dạy và học Giai đoạn 2008 – 2012 thực hiện Đề án Kiên cốhóa trường học và nhà công vụ cho giáo viên đã giải quyết gần 2.000 phòng họccho các cấp học, đặc biệt từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thônmới có 66 trường được xây dựng mới theo hướng đạt chuẩn quốc gia Nhìnchung cơ sở vật chất các trường kể cả các điểm lẻ đang từng bước được cải thiệnnhằm đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy ngày càng đa dạng
Về tài chính cho giáo dục trong vòng 3 năm gần đây, ngân sách nhà nướcchi cho giáo dục Sóc Trăng bình quân chiếm 29,3% tổng chi ngân sách của tỉnh,riêng năm 2013 chi ngân sách cho giáo dục tăng 14,9% so với năm 2012, điềunày cho thấy sự quan tâm rất lớn của chính quyền địa phương đối với quan điểmchỉ đạo của Đảng và Nhà nước về giáo dục Mặc dù được đánh giá là được đầu
tư cao, nhưng nếu so sánh với một số tỉnh trong khu vực về tỷ lệ chi ngân sáchnhà nước cho giáo dục của Sóc Trăng vẫn còn thấp (Trà Vinh – 31,6% , TiềnGiang – 40,5%, Đồng Tháp 36,8%)
Trang 37Bảng 2.3 Ngân sách chi cho giáo dục từ năm 2011 đến 2013
Đơn vị: triệu đồng
Nguồn từ phòng Kế hoạch-Tài chính Sở GD&ĐT Tỉnh Sóc Trăng
2.1.3 Đặc điểm tình hình giáo dục mầm non tỉnh Sóc Trăng
* Quy mô trường lớp, trẻ em
Năm học 2013 – 2014 toàn tỉnh có 131 trường Mầm non, tăng 3 trường sovới năm học trước; chia ra: công lập 117 trường, ngoài công lập 14 trường.Ngành giáo dục phối hợp chặt chẽ với các cấp chính quyền địa phương làm tốtcông tác tuyên truyền nên tỷ lệ huy động trẻ đến trường hàng năm đều tăng
Nhà trẻ: Có 99 nhóm (tăng 19 nhóm) với 2.562 cháu, đạt 5,7% số trẻ
trong độ tuổi từ 0 - 2 tuổi toàn tỉnh, so với chỉ tiêu Tỉnh giao đạt 85,4% (chỉ tiêugiao 3.000 cháu);
Lớp mẫu giáo: Có 1.608 lớp với số trẻ ra lớp là 45.944 cháu chiếm tỷ lệ
74,8 % trẻ trong độ tuổi (tăng 1,4% so với năm trước) và đạt 105,6% theo chỉtiêu của Tỉnh giao (43.500)
Lớp mẫu giáo 5 tuổi: được thống kê thường xuyên là 21.830 trẻ Trongđó: số trẻ được đến trường là 21.731 trẻ trên tổng số 842 lớp, chiếm tỷ lệ 98,4%(so với năm qua tăng 26 lớp với 1.005 trẻ)
Thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi: đến cuối năm 2014 toàn tỉnh
có 65/109 xã được công nhận hoàn thành phổ cập, chiếm tỷ lệ 59,3% và 03 đơn
vị cấp huyện được công nhận đạt 27,3% Ngành giáo dục tập trung đẩy mạnhthực hiện Đề án phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 – 2015 đểhoàn thành đúng tiến độ vào cuối năm 2015
Trường chuẩn Quốc gia: Chỉ tiêu Nghị quyết của tỉnh giao số trườngchuẩn quốc gia chung của các cấp học đạt tỷ lệ 40,0 % Tính đến cuối năm học
Trang 382013 – 2014, bậc học mầm non có 27/117 trường mầm non công lập đạt chuẩnquốc gia, chiếm tỷ lệ 23,0 %, dự kiến năm học 2014 – 2015 tăng 09 trường.Song song với việc thực hiện chỉ tiêu trường chuẩn quốc gia, bậc học mầm noncòn thực hiện kiểm định chất lượng theo quy định của Bộ giáo dục, đến nay có100% trường công lập thực hiện tự đánh giá, 12 trường được đánh giá ngoài.
* Đội ngũ giáo viên mầm non tỉnh Sóc Trăng
Về số lượng và cơ cấu: Đội ngũ CBQL - GVMN và nhân viên toàn ngành
có 2.933 người, tỷ lệ GV/lớp là 1.22 so với quy định là 1.5 GV/lớp vẫn còn thiếu.Trình độ chuẩn đạt 99,3%, trong đó trên chuẩn đạt tỷ lệ 60,2 % được chia ra:
CBQL phòng và trường: tổng số 293 người, trong biên chế 291 chiếm95,0%, đạt chuẩn 100%, trên chuẩn 77% (tăng 12,3%) So với quy định còn thiếu 45người Nhân viên tại các cơ sở GDMN có 439 người, phần lớn là hợp đồng
Giáo viên có 2.201 người: biên chế 1.544 (70,2%); đạt chuẩn 79,0%, trênchuẩn chiếm 48,4%, tỷ lệ giáo viên chưa đạt chuẩn còn khá cao 21,0% chủ yếungoài công lập, mặt bằng chung của GVMN không đồng đều Đây chính là vấn
đề khó hiện nay trong việc nâng cao chất lượng CS – GD trẻ
Trong những năm gần đây, số giáo viên mới ra trường còn rất trẻ tăngđáng kể (tính từ năm 2010 – 2015, bình quân mỗi năm tăng 112 GV, trong đógiáo viên có trình độ cao đẳng chiếm 60-68%), chính sự tăng cường giáo viênhàng năm để vừa đáp ứng nhu cầu đi học của trẻ, vừa thay thế lực lượng giáoviên cao tuổi, đồng thời cũng là lực lượng nòng cốt đi đầu trong đổi mới phươngpháp dạy học và ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong quản lý và CS – GDtrẻ Tuy nhiên dựa vào bảng tỷ lệ của 11 đơn vị trong 3 năm cho thấy: số lượnggiáo viên không ổn định, tỷ lệ giáo viên trên lớp chênh lệch với khoảng cách khálớn (từ 0.8-1.9), tỷ lệ dao động trong khoảng 1.0 – 1.2 là chiếm đa số, vẫn cònmột đơn vị có tỷ lệ thấp nhất chỉ đạt 0.8 (huyện Mỹ Tú)
Bảng 2.4 Tỷ lệ giáo viên mầm non trên lớp trong 3 năm học
Trang 39Nguồn báo cáo từ phòng giáo dục mầm non của Sở GD&ĐT
Tỷ lệ giáo viên trên lớp nhiều năm không đảm bảo theo quy định, trongkhi số giáo viên ra trường đều tăng, điều này chỉ ra sự thách thức và cảnh báocần khai thác hết vai trò của dự báo trong giáo dục nhằm hỗ trợ việc đề ra kếhoạch sử dụng các nguồn lực và chủ động đối phó với các tình huống thay đổi
Bảng 2.5 Thống kê số năm công tác và trình độ tính theo năm công tác
Nguồn từ phòng Tổ chức-Cán bộ năm 2014, Sở GD&ĐT tỉnh Sóc Trăng
Từ thống kê trên cho thấy, số giáo viên có năm công tác dưới 5 nămchiếm cao nhất là 48,0%, thâm niên dưới 15 năm (từ 6-15 năm) tỷ lệ khá cao đạt36,8%, cho nên độ tuổi chung của GVMN tỉnh Sóc Trăng được đánh giá là rấttrẻ, có ưu thế mạnh trong việc cải thiện trình độ để đạt trên chuẩn là rất cao (tỷ
lệ này đang chiếm 81,5%) và giảm dần đối với đối tượng có thâm niên trên 16năm (14,7%) Điều này cũng cho thấy việc quy hoạch đội ngũ giáo viên baogồm việc bồi dưỡng, đào tạo nâng chuẩn để đảm bảo tính cân đối giữa tuổi nghề,tuổi đời và trình độ tương ứng đáp ứng yêu cầu đổi mới về GDMN
Chất lượng đội ngũ: Đội ngũ GVMN có lập trường chính trị vững vàng,
nghiêm chỉnh chấp hành đường lối chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng –
Trang 40Nhà nước Hầu hết GVMN có phẩm chất đạo đức chuẩn mực của nhà giáo, tâmhuyết với nghề và sáng tạo trong công tác, có tinh thần trách nhiệm và luôn tậntụy với công việc CS – GD trẻ nên được chính quyền địa phương và nhân dântin tưởng
Bảng 2.6 Tổng hợp đội ngũ GVMN được đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp
Năm Tổng số
GV
Được đánh giá
Tỷ lệ được đánh giá
Kết quả đánh giá
Nguồn báo cáo của phòng giáo dục mầm non của Sở GD&ĐT
Việc đánh giá GVMN theo Chuẩn nghề nghiệp được thực hiện theo Quyếtđịnh số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22/01/2008, thông qua việc đánh giá từngnăm cho thấy trình độ đạt chuẩn của giáo viên được cải thiện rõ, tỷ lệ kémkhông đáng kể, tỷ lệ trung bình dao động dưới 10,0%, riêng tỷ lệ xuất sắc và khá
tương đồng và chiếm tỷ lệ rất cao Đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp là căn cứ để
xác định mặt mạnh, mặt hạn chế về năng lực nghề nghiệp trong điều kiện cụ thểcủa nhà trường để giúp GVMN phát triển khả năng CS – GD trẻ, tự đánh giátrình độ chuyên môn, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện, phấnđấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ,đồng thời là cơ sở đề xuất chế độ, chính sách đối với GVMN
Bên cạnh đó, Hội thi giáo viên giỏi các cấp cũng góp phần nâng cao nănglực học tập, trao đổi kinh nghiệm cho giáo viên, khuyến khích động viên, tạo cơhội để giáo viên tự học và sáng tạo; tuyên dương, nhân rộng những điển hình tiêntiến trong hoạt động chuyên môn, góp phần nâng cao chất lượng GDMN, tạo độnglực phát triển sự nghiệp giáo dục của mỗi địa phương và toàn ngành Vì vậy, Sở