1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non ở thành phố vinh, tỉnh nghệ an

125 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều hình thức bồi dưỡng GV, trong đó bồi dưỡng GV dạy chương trình và sách giáo khoa mới chỉ là một hình thức đang nổi lên, sôi động trong những năm học trước mắt, khi toàn ngành

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ BÍCH HOÀN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON Ở THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, tháng 8/2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ BÍCH HOÀN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON Ở THÀNH PHỐ VINH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành và trân trọng nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạo trường Đại học Vinh, Khoa Sau Đại học, các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và viết luận văn

Tác giả chân thành cảm ơn : Hội đồng đào tạo, Hội đồng khoa học trường Đại học Vinh, Lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Vinh, Ban lãnh đạo, Tổ trưởng tổ chuyên môn các trường Mầm non trên địa bàn thành phố Vinh

đã tạo điều kiện tốt trong việc cung cấp số liệu và tư vấn khoa học trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc Phó Giáo sư -Tiến sĩ Nguyễn Thị Hường, người đã hết sức tận tình, chu đáo, động viên khích lệ, đồng thời trực tiếp hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Do khả năng và thời gian có hạn, mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ của Hội đồng khoa học, các cô giáo, thầy giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 8 năm 2016

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG

1.2.4 Biện pháp, biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn 14

1.3 Một số vấn đề lý luận về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non

1.3.1 Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ

giáo viên mầm non

14

14 1.3.2 Mục tiêu và nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên

1.3.2.1 Mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non 14

1.3.3 Phương pháp, hình thức bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 16

Trang 5

1.4.2.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo

1.4.2.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV 23

1.4.3 Phương pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội

1.4.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động bồi

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯƠNG CHUYÊN

MÔN CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON THÀNH PHỐ VINH,

2.2 Thực trạng về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn và quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN ở thành phố Vinh,

Trang 6

2.2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng

2.2.1.1 Mục đích khảo sát

2.2.1.2 Nội dung khảo sát

2.2.1.3 Đối tượng khảo sát

2.2.2.1 Thực trạng nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở

2.2.2.2 Thực trạng nhận thức về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn

2.2.2.3 Thực trạng thực hiện nội dung hoạt động bồi dưỡng chuyên

2.2.2.4 Thực trang thực hiện hình thức, phương pháp bồi dưỡng

2.2.2.5.Thực trạng các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng

2.2.3 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN ở một số trường mầm non tại Thành phố Vinh, Nghệ An 52

2.2.3.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng

2.2.3.2 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên

2.2.3.3 Thực trạng kiểm tra- đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên

2.2.3.4 Thực trạng các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN

Trang 7

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG

CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON

3.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về công tác

3.2.2 Kế hoạch hoá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN 78 3.2.3 Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng chuyên

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

Bảng 2.1 Quy mô trường lớp ở bậc học mầm non thành phố Vinh

Bảng 2.2 Cơ cấu đội ngũ CBQL và GVMN ở thành phố Vinh

Bảng 2.3 Bảng số liệu đánh giá về nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn của

GVMN Bảng 2.4 Thực trạng nhận thức về sự cần thiết của hoạt động bồi dưỡng

Bảng 2.7 Đánh giá mức độ thực hiện và mức độ phù hợp của các nội dung

bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN

Bảng 2.8 Mức độ phù hợp của các hình thức bồi dưỡng GVMN

Bảng 2.9 Mức độ thực hiện và hiệu quả của các phương pháp bồi dưỡng

chuyên môn cho GVMN

Bảng 2.10 Hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả sau các đợt bồi dưỡng

chuyên môn cho GVMN

Bảng 2 11 Xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng chuyên môn

Bảng 2 12 Tổ chức chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN Bảng 2.13 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn

cho GVMN

Bảng 2.14 Yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng

chuyên môn cho GVMN

Bảng 3 Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của một số biện

pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mục tiêu của giáo dục nước ta là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp nhằm hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ, có đạo đức, lý tưởng; có kiến thức -

tư duy và trí tuệ, là người làm chủ tương lai Muốn đạt được mục tiêu trên thì phải bắt đầu từ việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non

Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI - Thế kỷ của khoa học - công nghệ, thế kỷ toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới, thế kỷ mà vai trò của giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ có ý nghĩa quyết định hơn bao giờ hết đối với sự phát triển toàn diện của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam Nghị quyết Đại hội lần thứ IX Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định:

“Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nghiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng”

Nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới góc độ sinh lý - tâm lý xã hội, tâm vận động đã khẳng định sự phát triển của trẻ từ 0 - 6 tuổi có tính quyết định đến sự phát triển phẩm chất nhân cách, năng lực trí tuệ và thể lực của chúng trong tương lai Giáo dục mầm non là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, người giáo viên mầm non (GVMN) có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu của bậc học Theo điều 22, chương II, mục 1 Luật giáo dục ghi rõ: “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp Một” Muốn đạt được mục tiêu trên, đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có kiến thức văn hóa cơ bản, phải được trang bị một hệ thống các kiến thức khoa học về chăm sóc giáo dục trẻ, phải vững vàng

Trang 11

về chuyên môn - nghiêp vụ… Vì vậy, người giáo viên mầm non phải không ngừng học tập, rèn luyện một cách thường xuyên, nghiêm túc

Theo báo cáo tại Hội thảo “Phát triển chăm sóc và giáo dục Mầm non Việt Nam”, hiện nay đã có trên 90% giáo viên mầm non có trình độ đạt chuẩn trung cấp sư phạm mầm non trở lên, trong đó 28% trên chuẩn và khoảng 60% đạt chuẩn nghề nghiệp theo quy định Tuy tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đào tạo khá cao, nhưng phần lớn được đào tạo chắp vá qua nhiều hệ, nhiều loại hình đào tạo, nên năng lực thực tế chưa tương thích với trình độ đào tạo

Trong những năm gần đây, mạng lưới trường lớp mầm non( MN) được mở rộng khắp trong cả nước, qui mô và chất lượng giáo dục ngày càng phát triển cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, giáo dục mầm non thành phố Vinh - Nghệ An cũng nằm trong xu thế đó Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp giáo dục đội ngũ GVMN ở thành phố Vinh còn bất cập cả về số lượng, cơ cấu, hạn chế về trình độ và đặc biệt chưa đáp ứng kịp yêu cầu về chất lượng đội ngũ Vì thế, quản lí tốt hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN, từ đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non trên địa bàn

Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu liên quan đến công tác quản

lí của hiệu trưởng trường MN, đề cập đến các vấn đề về quản lý hoạt động chăm sóc; hoạt động giáo dục hay các phương tiện dạy học của giáo viên Tuy nhiên, những nghiên cứu về quản lí hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GVMN còn ít được quan tâm Cán bộ quản lý nhà trường - Hiệu trưởng chưa có biện pháp chỉ đạo hoạt động chuyên môn hữu hiệu Công tác bồi dưỡng chuyên môn chưa có tính kế hoạch, chưa chủ động về thời gian Nội dung bồi dưỡng chưa mang tính thuyết phục, chưa phong phú Những thông tin về hình thức và phương pháp dạy đổi mới chưa cập nhật thường xuyên Hình thức bồi dưỡng còn mang tính giảng giải lý thuyết nhiều, chưa hợp lý, vì vậy chưa lôi cuốn được

Trang 12

giáo viên tham gia Việc chỉ đạo công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mới vào nghề mới chỉ mang tính hình thức, chưa có kế hoạch, nội dung rõ ràng, chưa xác định được tầm quan trọng cũng các biện pháp chỉ đạo chưa đồng bộ và chưa mang tính chủ động

Với các lí do nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: "Một số biện

pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An" làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

2 Mục đích nghiên cứu

Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuấtmột số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non ở thành phố Vinh, Nghệ An

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được các giải pháp khoa học, có tính khả thi thì sẽ quản lý có hiệu quả hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non ở thành phố Vinh

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN

5.1.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Trang 13

5.1.3 Đề xuất và thăm dò tính cần thiết, khả thi của một số biện pháp quản

lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN ở các trường MN công lập thành phố Vinh

- Đề tài tổ chức khảo sát thực trạng tại 5 trường mầm non công lập ở thành phố Vinh, Nghệ An trong các năm gần đây (2014, 2015, 2016): Trường mầm non Hoa Hồng, mầm non Hà Huy Tập, mầm non Bến Thủy, mầm non Trường thi, mầm non Sao Mai

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, so sánh, khái quát hóa các tài liệu có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiển

- Phương pháp điều tra với sự hỗ trợ của các công cụ thu thập thông tin có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu kém để có phương pháp khắc phục

- Phương pháp chuyên gia: Để xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia về các nội dung nghiên cứu

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Để xử lý số liệu điều tra và kiểm chứng mức độ cần thiết và tính khả thi của kết quả nghiên cứu

7 Đóng góp mới của luận văn

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN

- Làm rõ thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN ở Thành phố Vinh, Nghệ An

Trang 14

- Đề xuất được một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GV các trường mầm non ở thành phố Vinh, Nghệ An

8 Cấu trúc Luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được cấu trúc trong 3 chương sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non

- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An

- Chương 3: Một số biện pháp quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở một số trường MN tại thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG

CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN MẦM NON

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu từ lâu

Theo tác giả Nguyễn Trí "Việc nâng cao trình độ văn hóa chung, trình độ

sư phạm cho đội ngũ GV nước ta là việc làm chiến lược, có ý nghĩa thế giới và khu vực Để có đội ngũ GV ngang tầm với thế giới và khu vực, việc đào tạo lại đội ngũ GV nước ta đòi hỏi một khoảng thời gian dài hàng thập kỉ, một sự nỗ lực lớn của Nhà nước và của từng cá nhân GV Để có thể dạy được các kiến thức mới, vận dụng phương pháp dạy học phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu của lớp trẻ, nếu mỗi GV không tự vượt lên chính mình, không tự chiến thắng những thói quen dạy học cũ kỹ, lạc hậu thì bản thân GV và toàn thể đội ngũ không thể đáp ứng yêu cầu của chương trình mới Có nhiều hình thức bồi dưỡng GV, trong đó bồi dưỡng GV dạy chương trình và sách giáo khoa mới chỉ

là một hình thức đang nổi lên, sôi động trong những năm học trước mắt, khi toàn ngành đang phấn đấu thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội, Chỉ thị 14 của Thủ tướng chính phủ." [16]

Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục đã nghiên cứu về vấn đề quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên như:

“Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trẻ huyện

Từ Liêm, Hà Nội”, “Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” đã tiếp cận nghiên cứu về vấn

đề xây dựng, bồi dưỡng quy hoạch quản lý phát triển đội ngũ giảng viên đã từng bước củng cố, hoàn thiện dần cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ, đồng thời đề xuất các biện pháp trong việc quản lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, điều kiện nhà trường mà tác giả đang công tác để từng bước củng cố,

Trang 16

đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này trở thành lực lượng chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục nhà trường

Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề “Quản lý hoạt đông bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non tại thành phố Vinh - Nghệ An” Tiếp thu, kế thừa những thành tựu nghiên cứu trên, tác giả đã chọn đề tài trên làm đề tài luận văn Thạc sĩ

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Chuyên môn, bồi dưỡng chuyên môn:

1.2.1.1 Chuyên môn:

Theo từ điển tiếng việt “Chuyên môn là một công việc cụ thể người lao động phải làm hàng ngày Bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình tạo ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…)[24]

Chuyên môn là tổ hợp các tri thức, kỹ năng thực hành mà con người tiếp thu được qua đào tạo để có khả năng thực hiện một loạt công việc trong phạm vi một ngành nghề nhất định theo phân công của xã hội

Chuyên môn sư phạm là một tổ hợp các tri thức, kỹ năng sư phạm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh ở cấp học, bậc học nào đó

Đối với GDMN, trình độ chuyên môn GVMN thể hiện ở việc họ hiểu rõ về công việc chăm sóc - giáo dục trẻ, hiểu trẻ mà mình phụ trách ở trường MN, có

kỹ năng xác định mục tiêu, nội dung, lựa chọn những phương pháp giảng dạy, chăm sóc, đánh giá có hiệu quả Ngoài ra, GVMN còn biết quan tâm đến những vấn đề mà ngành học của mình đang cố gắng giải quyết Ở góc độ khoa học giáo dục, GVMN tốt là người có hiểu biết về tâm lý học, giáo dục học trẻ em trước 6 tuổi, là người nắm vững các kỹ năng chăm sóc - giáo dục trẻ đến mức hoàn thiện trong lĩnh vực GDMN, là người “lão luyện” trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao của mình Những GVMN như vậy, ngoài hiệu quả đào tạo của nhà trường

Trang 17

sư phạm và tự bồi dưỡng, rèn luyện bản thân, còn phụ thuộc không nhỏ vào vai trò cấp quản lý trong hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN

1.2.1.2 Bồi dưỡng chuyên môn:

Bồi dưỡng chuyên môn là một khái niệm được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

Theo quan niệm của UNESCO bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao kiến thức, năng lực nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp

Tác giả Nguyễn Minh Đường trong đề tài KX-07-14 quan niệm bồi dưỡng chuyên môn có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu đã lạc hậu trong cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng chứng chỉ [13]

Từ những khái niệm trên có thể nói: Bồi dưỡng chuyên môn thực chất là quá trình cập nhật bổ sung tri thức, kỹ năng để nâng cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn cần thiết đáp ứng yêu cầu của lao động nghề nghiệp qua hình thức đào tạo nào đó Mục đích bồi dưỡng chuyên môn nhằm nâng cao phẩm chất và trình độ chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố mở mang hoặc nâng cao hệ thống tri thức kỹ năng chuyên môn có sẵn nhằm nâng

cao chất lượng và hiệu quả công việc đang làm (không nhằm mục đích đổi

nghề)

Theo nghĩa rộng: Bồi dưỡng chuyên môn được hiểu là một dạng đào tạo phi chính quy Về bản chất thì bồi dưỡng chuyên môn là một con đường của đào tạo và người được bồi dưỡng chuyên môn được hiểu là những người đang đương nhiệm trong các cơ quan giáo dục hay trong các nhà trường

Michael Amstrong khi nghiên cứu về quá trình đào tạo đã nêu: Quá trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn có kế hoạch bao gồm các công đoạn sau:

- Xây dựng kế hoạch chương trình bồi dưỡng chuyên môn:

+ Xác định chủ thể bồi dưỡng chuyên môn và đối tượng được bồi dưỡng chuyên môn

Trang 18

+ Xác định nội dung cụ thể bồi dưỡng chuyên môn

+ Xác định phương pháp, phương tiện thực hiện bồi dưỡng chuyên môn

- Xây dựng địa điểm và phân công người đảm nhiệm việc bồi dưỡng chuyên môn

- Triển khai thực hiện kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn

- Đánh giá và hiệu chỉnh kết quả thực hiện kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn

Như vậy, quá trình bồi dưỡng chuyên môn chính là quá trình tổ chức và thực hiện những tương tác qua lại giữa các thành tố cấu trúc trong đó chủ thể bồi dưỡng chuyên môn đóng vai trò chủ đạo, nhằm làm cho đối tượng bồi dưỡng chuyên môn hoạt động tích cực, qua đó nâng cao năng lực và phẩm chất, đáp ứng yêu cầu của xã hội

Đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn GVMN là hai giai đoạn học có liên quan mật thiết với nhau trong quá trình hình thành và phát triển nghề dạy học ở cấp mầm non Đào tạo là giai đoạn đầu hình thành năng lực và phẩm chất cần thiết của GVMN để hành nghề Còn bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN là giai đoạn nối tiếp tất yếu đối với hoạt động đào tạo nghề nghiệp Cả đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN đều có chung một mục tiêu là giúp đỡ người học đạt được mức hoàn thiện về tiêu chuẩn của nghề dạy học đã chọn

1.2.2 Quản lý, Quản lý giáo dục

1.2.2.1 Quản lý

Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ như quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội

và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo Điều này

đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý

Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó Ngay từ thuở bình minh của xã hội loài người, để đương đầu với sức mạnh

to lớn của tự nhiên, để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người phải

Trang 19

lao động chung, kết hợp thành tập thể; điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, tức là phải có quản lý

C Mác nói: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”

Quản lý xã hội về thực chất là tổ chức khoa học lao động của toàn xã hội Hai vấn đề cơ bản trong tổ chức khoa học lao động là phân công lao động và hợp tác lao động

Theo Từ điển giáo dục học, "quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức." [24]

Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất ít nhất” [10]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [12]

Như vậy, quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật và “hoạt động quản lý vừa có tính khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật của Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi, chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất”

Theo tác giả Nguyễn Hữu Long - 2009: “ Quản lý là phạm trù của khoa học

quản lý, tác động qua lại của chủ thể quản lý và khách thể quản lý trong đó chủ

Trang 20

thể quản lý đóng vai trò chủ đạo: vận dụng các nguyên tắc quản lý trong xác định mục tiêu quản lý, nội dung quản lý, phương pháp quản lý, phương tiện quản lý, kết quả của từng công đoạn trong quy trình quản lý (-Lập kế hoạch quản lý- Tổ chức các nguồn lực để thực hiện kế hoạch quản lý- Thực hiện kế hoạch quản lý- Kiểm tra thực hiện kế hoạch quản lý - Hành động hiệu chỉnh để đạt mục tiêu chung của quản lý trong kế hoạch quản lý đã lập)” Đây là một định nghĩa làm việc, làm cho hoạt động quản lý vừa mang tính khoa học, vừa mang tính công nghệ, đặc biệt là bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ khi xác định

“quản lý là sự tác động qua lại của chủ thể quản lý và khách thể quản lý trong đó chủ thể quản lý đóng vai trò chủ đạo” [17]

Vậy quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền Biểu hiện cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt đông nào đó; điêu tiết được nguồn nhân lực,phối hợp được các hoạt đông bộ phận nhằm thu được nhưng diễn biến, thay đổi tích cực

Quản lý có 4 chức năng cơ bản là:

- Kế hoạch hóa: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý, bao gồm soạn thảo, thông qua được những chủ trương quản lý quan trọng

-Tổ chức: Đây chính là giai đoạn hiện thực các quyết định, chủ trương bằng cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, tạo dựng mạng lưới quan

Trang 21

1.2.2.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội, cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất Trong lịch sử phát triển của xã hội, khoa học quản lý xã hội ra đời muộn hơn khoa học kinh tế do cách nhìn nhận giáo dục ở góc độ không đồng nhất nên dẫn đến những khái niệm về quản lý giáo dục có nội dung rộng hẹp khác nhau Có rất nhiều cách định nghĩa về quản lý giáo dục của các tác giả trong và ngoài nước:

Theo học giả nổi tiếng M.I.Kônđacốp: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong

hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng”.[11]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức

là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh [18]

Tác giả Đặng Quốc Bảo lại cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa

tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [9, tr 45]

Từ đó, có thể coi quản lý giáo dục là hệ thống các tác động có hướng

đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau cho đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em

và hoàn thiện nhân cách chủ thể quản lý

Trên đây là những quan điểm khác nhau về quản lý giáo dục, ở mỗi cách tiếp cận khác nhau mỗi tác giả lại có cái nhìn khác nhau về quản lý giáo dục Mặc dù vậy, khi nghiên cứu kỹ về nó ta có thể nhận thấy trong các quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục ấy lại có những điểm tương đồng

Trang 22

Thực chất trong quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường là

cơ sở giáo dục quan trọng nhất, chủ yếu nhất trong hệ thống giáo dục của tất cả

các quốc gia Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường

lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với học sinh” Tác giả cũng

cho rằng “Việc quản lý trường học là quản lý hoạt động dạy và học làm sao đưa

hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu đào tạo”

Từ những khái niệm trên, có thể khái quát khái niệm quản lý giáo dục như sau: “Quản lý giáo dục (hay quản lý hệ thống) là tác động qua lại có hệ thống, có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau cho đến tất

cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống giáo dục (từ Bộ đến Trường và đối tượng được quản lý) nhằm đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em và hoàn thiện nhân cách chủ thể quản lý”

1.2.3 Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non

Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn là hệ thống các tác động có hướng đích của nhà quản lý đến hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của GVMN thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý, từ đó thực hiện có chất lượng mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN

Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN có thể theo các cách tiếp cận sau đây:

- Tiếp cận theo các chức năng quản lý: Lập kế hoạch hoạt động bồi dưỡng chuyên môn; Tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng; Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bồi dưỡng; Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn

Trang 23

- Tiếp cận theo quan điểm hệ thống: quản lý các yếu tố đầu vào (Chương trình bồi dưỡng; Người bồi dưỡng và người được bồi dưỡng; CSVC, THDH phục vụ công tác bồi dưỡng)

- Tiếp cận theo các hình thức bồi dưỡng: Tự bồi dưỡng; bồi dưỡng tại chỗ; bồi dưỡng định kỳ của các cấp quản lý; Bồi dưỡng chuyên đề

Trong luận văn này, tác giả sử dụng cách tiếp cận theo các chức năng quản lý: Lập kế hoạch hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; Tổ chức thức hiện kế hoạch bồi dưỡng; Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bồi dưỡng; Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn

1.2.4 Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn:

Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn là cách làm, cách giải quyết các vấn đề khó khăn, cản trở của chủ thể quản lý trong hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho khách thể quản lý (đội ngũ) nhằm đạt được mục tiêu đề

ra (về nâng cao năng lực chuyên môn)

1.3 Vấn đề bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non

1.3.1 Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non

Như đã phân tích ở trên, người GVMN là người tổ chức lao động sư phạm, quyết định đối với kết quả hoạt động giáo dục trong trường mầm non, Nghị quyết Trung ương II khoá VIII đã nêu rõ: "Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục" Vì thế, làm tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên

và quản lí tốt hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN, từ đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ trong trường mầm non

1.3.2 Mục tiêu và nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non

1.3.2.1 Mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non

Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non nhằm cung cấp, vun đắp, bổ sung những kiến thức, kỹ năng về hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc - giáo dục

Trang 24

và quản lý trẻ mầm non trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng chuyên môn họ đã có, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ trong các cơ sở GDMN

1.3.2.2 Nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non

Bồi dưỡng chuyên môn là một việc không thể thiếu của người GV trong suốt quá trình công tác Nội dung bồi dưỡng chuyên môn phải xuất phát từ khoảng cách giữa yêu cầu thực hiện nhiệm vụ và tri thức chuyên môn, kỹ năng nghề hiện có của mỗi GVMN Đối với những GV chưa đạt trình độ chuẩn thì được bồi dưỡng để đạt chuẩn theo quy định, đối với GV đã có kiến thức chuyên môn chắc chắn cần bồi dưỡng thêm kỹ năng sư phạm Người GV có một trình

độ chuyên môn vững vàng, kỹ năng nghề vững chắc cũng cần bổ sung kiến thức

và kỹ năng nhằm hoàn thiện nghiệp vụ sư phạm…

Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non bao gồm những mặt sau:

a) Bồi dưỡng kiến thức

Bồi dưỡng kiến thức cơ bản về giáo dục MN, về chăm sóc sức khỏe lứa tuổi MN; Các kiến thức cơ sở chuyên ngành; Các kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan đến giáo dục MN

b) Bồi dưỡng những kỹ năng chăm sóc- giáo dục trẻ mầm non

Bồi dưỡng về kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc - giáo dục trẻ theo năm học, tháng, tuần; lập kế hoạch phối hợp với cha mẹ của trẻ để thực hiện mục tiêu chăm sóc - giáo dục trẻ

Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ như: tổ chức môi trường nhóm, lớp đảm bảo vệ sinh an toàn cho trẻ; tổ chức bữa ăn, giấc ngủ; rèn luyện cho trẻ một số kỹ năng tự phục vụ; phòng tránh và

xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạn thường gặp đối với trẻ

Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục trẻ: tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ, môi trường giáo dục phù hợp với điều kiện của nhóm, lớp; sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồ chơi (kể cả đồ dùng, đồ chơi tự làm) và các nguyên vật liệu vào việc tổ

Trang 25

chức các hoạt động giáo dục trẻ; quan sát, đánh giá và có phương pháp chăm sóc

- giáo dục trẻ phù hợp

Bồi dưỡng kỹ năng quản lý lớp học, đảm bảo an toàn cho trẻ; Xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý nhóm, lớp gắn với kế hoạch hoạt động chăm sóc- giáo dục trẻ; Sắp xếp, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, sản phẩm của trẻ phù hợp với mục đích CS-GD; Quản lý và sử dụng hiệu quả hồ sơ cá nhân, nhóm, lớp

Bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ một cách gần gũi, tình cảm; Giao tiếp, ứng xử với đồng nghiệp một cách chân tình, cởi mở, thẳng thắn; Gần gũi, tôn trọng và hợp tác trong giao tiếp, ứng xử với cha mẹ trẻ; Giao tiếp, ứng

xử với cộng đồng trên tinh thần hợp tác

c) Bồi dưỡng kỹ năng thực hiện chuyên đề

Chuyên đề được hiểu là những vấn đề chuyên môn được đi sâu chỉ đạo trong một thời gian nhất định, nhằm tạo ra sự chuyển biến chất lượng về vấn đề đó, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ Chính vì vậy, nhà quản lý cần có kế hoạch chỉ đạo chuyên sâu từng vấn đề và tập trung vào những vấn đề khó, vấn đề còn hạn chế của nhiều GV hoặc vấn đề mới theo chỉ đạo của ngành, giúp cho giáo viên nắm vững những vấn đề lý luận và có kỹ năng thực hành chuyên đề tốt

1.3.3 Phương pháp, hình thức bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN

1.3.3.1 Phương pháp bồi dưỡng

Phương pháp bồi dưỡng GV là khâu quyết định đến chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng Do vậy cần chú trọng:

Đổi mới phương thức học tập của các GV trong các chương trình bồi dưỡng theo hướng tập trung vào hoạt động của GV với phương châm lấy tự học, tự bồi dưỡng là chính Lôi cuốn, hướng dẫn cho GV tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập với sự trợ giúp của tài liệu và phương tiện nghe nhìn, luôn phát hiện, tìm tòi, không cứng nhắc, gò bó, rập khuôn theo những gì đã có trong tài liệu

Tăng cường tổ chức theo nhóm vấn đề, lĩnh vực chuyên môn trong từng tập thể sư phạm, nêu thắc mắc, tự giải đáp ở tổ, nhóm, có chuyên gia giải đáp… Tạo

Trang 26

điều kiện cho GV được đóng góp kinh nghiệm bản thân vào xây dựng nội dung chương trình, đổi mới phương pháp chăm sóc- giáo dục trẻ

Tóm lại, phương pháp bồi dưỡng là phương pháp dạy học cho người lớn - những người đã có phương pháp sư phạm nên phải linh hoạt, phù hợp, nghiêng

về phương pháp tự học, tự nghiên cứu trên cơ sở hướng dẫn khai thác nhiều kênh thông tin Hiện nay, khai thác những tiến bộ của khoa học công nghệ trong hoạt động bồi dưỡng đang được khuyến khích

1.3.3.2 Hình thức bồi dưỡng

Tùy theo nội dung và các điều kiện hiện các trường MN thường có các hình thức bồi dưỡng sau:

a) Bồi dưỡng tại chỗ

Là tổ chức bồi dưỡng ngay tại trường, nơi GV công tác, thông qua sinh

hoạt nhóm, tổ chuyên môn, tổ chức hội thảo theo từng trường hoặc cụm

trường Có nhiều hoạt động phong phú để bồi dưỡng GV theo hướng này:

- Tổ chức cho GV dự giờ, thăm lớp lẫn nhau

- Tổ chức chuyên đề về phương pháp chăm sóc - giáo dục trẻ

- Tổ chức rút kinh nghiệm sau mỗi học kì, mỗi năm học

- Các GV trong trường có thể giúp đỡ lẫn nhau, làm việc theo cặp hoặc theo tổ GV giỏi giúp GV còn yếu về chuyên môn, GV có kinh nghiệm hướng dẫn giúp GV mới ra trường

- Tổ chức cho GV giao lưu, trao đổi kinh nghiệm

- Tạo điều kiện cho GV tham dự các hội thảo, seminar

b) Bồi dưỡng thường xuyên

Là bồi dưỡng theo chu kỳ cho GVMN để họ được bổ sung các kiến thức thiếu hụt và cập nhật kiến thức mới về chủ trương, đường lối giáo dục, về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục trẻ Việc bồi dưỡng này rất thiết thực, đòi hỏi mỗi GV phải có ý thức tự bồi dưỡng, thường xuyên trau dồi kiến thức, nếu không sẽ khó có thể dạy tốt chương trình mới

c) Bồi dưỡng thay sách

Trang 27

Là hình thức bồi dưỡng được tiến hành khi có những thay đổi về chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục trẻ Loại bồi dưỡng này chủ yếu giúp

GV có kiến thức mới, cập nhật những đổi mới trong chương trình về nội dung cũng như phương pháp giáo dục, kỹ năng sư phạm giúp cho đội ngũ GVMN có thể dạy tốt chương trình mới Các đợt bồi dưỡng thay sách này thường diễn ra trong hè trước khi năm học mới bắt đầu

d) Bồi dưỡng thông qua tự học, tự nghiên cứu

Với các yêu cầu như: Phát huy hình thức tự bồi dưỡng, kết hợp quan sát hoạt động, trao đổi, thảo luận; Tăng cường thực hành, rút kinh nghiệm, chia sẻ cùng đồng nghiệp; Chú trọng sử dụng các thiết bị, phương tiện, đồ dùng dạy học Trong bồi dưỡng, việc tự bồi dưỡng sẽ phát huy hiệu quả tối ưu khi có sự định hướng của người hướng dẫn của tổ chức và có sự tác động đúng hướng của quản lý Bồi dưỡng tập trung chỉ có hiệu quả khi được quản lý hợp lý và phải dựa trên cơ sở ý thức tự giác và tự bồi dưỡng của người học

1.4 Vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN

1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN

Trường mầm non là nơi hiện thực hóa mục tiêu của ngành học mầm non, nên quản lý trường mầm non là một khâu quan trọng của hệ thống ngành học Chất lượng quản lý trường mầm non có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ và góp phần tạo nên chất lượng quản lý của ngành Chỉ đạo hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, đảm bảo sự tồn tại, phát triển của nhà trường, phù hợp với sự đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội, với giáo dục đào tạo trong điều kiện công nghiệp hoá

- hiện đại hoá đất nước

Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là một nội dung quan trọng, cơ bản của người hiệu trưởng vì đội ngũ giáo viên là yếu tố hàng đầu, là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng giáo dục mầm non

Mục tiêu quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là tạo dựng môi trường và những điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt mục tiêu, kế

Trang 28

hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên, góp phần khẳng định vị thế trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, giữ vị trí nòng cốt của các sơ sở giáo dục mầm non, khẳng định thương hiệu của nhà trường

1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN

Với mục tiêu như trên, nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của CBQL trường mầm non bao gồm:

1.4.2.1 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên

Trong các hoạt động bồi dưỡng giáo viên thì việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là vấn đề trước nhất và mang tính định hướng cho mọi hoạt động Kế hoạch đó phải thể hiện được các yêu cầu chủ yếu sau:

- Khảo sát nhu cầu bồi dưỡng, tìm hiểu yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của GVMN trong hiện tại

Quá trình dạy trẻ đòi hỏi người giáo viên mầm non phải không ngừng bồi dưỡng về chuyên môn để tránh bị lạc hậu trước nhưng biến đổi không ngừng của của xã hội Tự học, tự rèn, tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu là hoạt động thiết thực nhất trong quá trình tự hoàn thiện của bản thân mỗi cô giáo mầm non để nâng cao năng lực và vị thế của người thầy; là nhu cầu tất yếu để họ tồn tại và phát triển, đáp ứng được yêu cầu của thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra: “Phát triển đội ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm, cải tiến chế độ đãi ngộ, đảm bảo về cơ bản đội ngũ giáo viên đạt chuẩn quốc gia và tỷ lệ giáo viên so với học sinh theo yêu cầu của từng cấp học" "Về xây dựng đội ngũ giáo viên, cần có kế hoạch cụ thể về bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình mới”

Như vậy, việc tổ chức bồi dưỡng nhằm nâng cao, hoàn thiện trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên mầm non đang là một việc làm chiến lược và có ý nghĩa với nhiệm vụ trọng tâm của nghành giáo dục mầm non

Trang 29

- Xác định mục tiêu bồi dưỡng

Cần chỉ ra hoạt động bồi dưỡng nhằm vào đối tượng nào, bồi dưỡng để người tham dự bồi dưỡng thu nhận được những kiến thức, kỹ năng và có thái độ như thế nào Nói cụ thể hơn là sau bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thì giáo viên đạt được mức độ như thế nào so với chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non

- Xác định các hình thức tổ chức bồi dưỡng

Dự kiến các hình thức tổ chức là việc làm cũng không kém phần quan trọng Việc này được thực hiện khi thực hiện chương trình bồi dưỡng chuyên môn Nó thể hiện việc tổ chức bồi dưỡng tập trung cả thời gian, hay tập trung từng giai đoạn, tổ chức thành lớp hay theo nhóm, ở tại thành phố hay tổ chức kết hợp với tham quan thực tế, và cuối cùng là biện pháp đánh giá như thế nào (thi hay làm tiểu luận, )

- Lập kế hoạch bồi dưỡng

Kế hoạch hoá là khâu đầu tiên của chu trình quản lý Nội dung chủ yếu là: xác định hình thành mục tiêu đối với hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, lựa chọn các phương án, biện pháp tốt nhất phù hợp nhất với điều kiện thực tế để tiến hành hoạt động bồi dưỡng đạt kết quả tốt

1.4.2.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên

Tổ chức là chức năng được tiến hành sau khi lập kế hoạch nhằm chuyển hoá những mục đích, mục tiêu bồi dưỡng giáo viên được đưa ra trong kế hoạch thành hiện thực

Đây là việc làm thực hiện nội dung bồi dưỡng theo kế hoạch đã có nhằm thực nhiện nội dung và chương trình bồi dưỡng Trong đó thực hiện việc giảng dạy lý thuyết, tổ chức các hoạt động thực hành, đánh giá kết quả học tập của người được bồi dưỡng (theo các hình thức đã định) Trong tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng cần phải thực hiện những nội dung sau:

- Lựa chọn và phân công công việc cho đội ngũ

Trang 30

Vấn đề này được thể hiện trên hai mặt:

Người được bồi dưỡng (các GVMN được chọn, cử và được triệu tập tham gia khoá bồi dưỡng) Nó trả lời câu hỏi họ là ai, triệu tập họ như thế nào, số lượng là bao nhiêu, Nói chung là tổ chức đội ngũ người học trong hoạt động bồi dưỡng chuyên môn

Ai là giảng viên hoặc báo cáo viên trong lớp bồi dưỡng để phổ biến chủ trương đường lối và các quy định của Đảng, Nhà nước và của Ngành về phát triển giáo dục và những yêu cầu đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình; ai là báo cáo viên về thực tiễn tại các cơ sở giáo dục, Đây chính là tổ chức đội ngũ người dạy trong hoạt động bồi dưỡng chuyên môn

- Ban hành các nội quy, quy định, hướng dẫn…có liên quan đến hoạt động bồi dưỡng

CBQL phải triển khai các văn bản, chỉ thị, yêu cầu của nghành về công tác bồi dưỡng chuyên môn đến giáo viên và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ chuyên môn và cá nhân phấn đấu.Trên cơ sở các văn bản và chỉ thị của ngành có thể chỉ đạo việc xây dựng các nội quy, quy định, hướng dẫn phù hợp với tình hình phương hướng nhiệm vụ năm học của ngành, tình hình cụ thể của trường, nhằm giúp giáo viên xác định đúng đắn mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn

-Chuẩn bị các nguồn lực cần thiết để thực hiện hoạt động bồi dưỡng

Đây là công việc chuẩn bị về lĩnh vực tổ chức nhằm định hướng được chọn

ai, ở đâu để làm giảng viên, chi phí cho mọi hoạt động bồi dưỡng sẽ ở nguồn nào, tài liệu và phương tiện vật chất khác (như hội trường máy móc thiết bị, ) được khai thác ở đâu, thời lượng để thực hiện chương trình bồi dưỡng và tổ chức vào thời gian nào trong năm học

1.4.2.3 Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên

- Chỉ đạo quán triệt mục tiêu

Trang 31

Với công tác chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn quán triệt mục tiêu có vai trò quyết định chất lượng bòi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ Quán triệt mục tiêu giúp co giáo viên hiểu thấu đáo, nắm được mục tiêu nhằm đinh hướng cho bản thân những công việc cần phải thực hiện để hoàn thiện và nâng cao khả năng chuyên môn, nghiệp vụ của mình

- Chỉ đạo thực hiện các hình thức bồi dưỡng

CBQL thường xuyên phải chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện các hình thức bồi dưỡng, xác định mức độ hoàn thành hoạt động bồi dưỡng của mỗi giáo viên để nắm bắt được các hình thức phù hợp

- Chỉ đạo thực hiện nội dung bồi dưỡng

Chỉ đạo việc thực hiện nội dung là nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nhằm giúp cho giáo viên đảm bảo thực hiện đúng, thực hiện đầy đủ và thực hiện có hiệu quả, sáng tạo trong công tác bồi dưỡng chuyên môn cho bản thân

- Chỉ đạo sử dụng và đổi mới phương pháp bồi dưỡng

Đổi mới phương pháp bồi dưỡng không có nghĩa là phủ định các phương pháp truyền thống mà cần kế thừa những phương pháp đã có, đồng thời vận dụng các phương pháp mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện trong nhà trường

Vì vậy chỉ đạo sử dụng và đổi mới phương pháp bồi dưỡng CBQL cần trân trọng, khuyến khích sáng kiến của giáo viên:

+ Giúp giáo viên nghiên cứu đổi mới phương pháp bồi dưỡng thích hợp với nhu cầu và hoàn cảnh, làm cho phong trào đổi mới phương pháp bồi dưỡng trở thành thường xuyên và hiệu quả hơn

+ Việc đổi mới phương pháp bồi dưỡng cần có sự hỗ trợ của điều kiện cơ sở vật chất Để thúc đẩy phong trào đổi mới phương pháp bồi dưỡng CBQL cần trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật phục vụ hoạt động chăm sóc và giáo dục của giáo viên và phương tiện, đồ dùng hoạt động học tập của trẻ

- Chỉ đạo kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng

Trang 32

Việc kiểm tra đánh giá trong kết quả bồi dưỡng chuyên môn là một việc làm hết sức quan trọng Qua kiểm tra CBQL sẽ phát hiện ra những ưu điểm và những hạn chế của hoạt động bòi dưỡng chuyên môn Nhằm có những điều chỉnh kịp thời, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả cảu hoạt động bồi dưỡng chuyên môn

- Chỉ đạo đảm bảo các điều kiện cần thiết để thực hiện tốt kế hoạch bồi dưỡng

Chất lượng và hiệu quả hoạt động bồi dưỡng giáo viên phụ thuộc vào hoạt động quản lý có hiệu quả các điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn Vì vậy CBQL cần phải chỉ đạo để đảm bảo các điều kiện cần thiết như: Cần xây dựng các chế độ chính sách, khuyến khích về vật chất và tinh thần, chế độ thưởng phạt nghiêm minh đối với việc tự giác thực hiện việc bồi dưỡng

của mỗi giáo viên nhằm tạo động lực để giáo viên tích cực tự giác tham gia vào

hoạt động bồi dưỡng

Cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật là điều kiện và phương tiện tất yếu để thực hiện hoạt động bồi dưỡng giáo viên Không thể tổ chức hoạt động bồi dưỡng khi không có các điều kiện như kinh phí, tài liệu tham khảo, phòng học, thiết bị dạy học, phương tiện giao thông, điện, nước, sân vườn, bãi tập,

1.4.2.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Kiểm tra: là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý nói chung và trong quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên nói riêng

- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng

Để hoạt động bồi dưỡng giáo viên ngày càng có hiệu quả thì người CBQL phải kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng sau mỗi đợt tổ chức Hoạt động này giúp người CBQL biết được những mặt tốt để phát huy, những lệch lạc để điều chỉnh và những sai phạm để có quyết định xử lý; mặt khác nó giúp cho chính đội ngũ giáo viên biết được các hạn chế (chưa đạt yêu cầu của bồi dưỡng) để cố

Trang 33

gắng hơn Như vậy kiểm tra và đánh giá có tác động đến chất lượng và hiệu quả hoạt động bồi dưỡng giáo viên

- Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng

Đánh giá kết quả bồi dưỡng là việc xây dựng được các tiêu chí đánh giá không chỉ tập trung vào đánh giá kết quả người học, mà phải có các tiêu chí đánh giá tổng thể cả mặt hoạt động trong công tác bồi dưỡng như: kế hoạch đã hợp lý và khả thi tới mức độ nào, tổ chức có gì tốt và có gì còn khiếm khuyết, nội dung chương trình có đáp ứng nhu cầu bổ sung kiến thức và kỹ năng của người học đến đâu, phương pháp, hình thức thời gian và địa điểm đã phù hợp với điều kiện của cơ quan tổ chức bồi dưỡng và phù hợp với hoàn cảnh người học chưa

- Sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nhằm rút bài học kinh nghiệm, điều chỉnh kế hoạch bối dưỡng chuyên môn thời gian tới hiệu quả hơn Ngoài ra, kết quả kiểm tra đánh giá còn là căn cứ phục vụ công tác thi đua, khen thưởng của cá nhân, đơn vị tạo động lực thúc đẩy ý thức trau dồi chuyên môn cho giáo viên

1.4.3 Phương pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN

Là những cách thức cụ thể của người quản lý tiến hành để tác động đến đội ngũ giáo viên nhằm mục tiêu quản lý chuyên môn của nhà trường đề ra

Để hiểu và sử dụng một cách có hiệu quả, mỗi phương pháp quản lí giáo dục cần phân loại chúng

Mỗi nhóm phương pháp trên là một hệ phương pháp bao gồm nhiều phương pháp khác nhau

Lựa chọn đúng đắn, áp dụng linh hoạt và phối hợp khéo léo các phương pháp để đạt được chất lượng và hiệu quả công tác cao thể hiện trình độ khoa học

và nghệ thuật quản lí của người quản lí

Phương pháp quản lý gồm có:

- Phương pháp hành chính là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí bằng các mệnh lệnh, chỉ thị hoặc quyết định quản lí

Trang 34

+ Thực hiện phương pháp tổ chức hành chính là Xây dựng qui chế, nội qui hoạt động của tổ chức (nhà trường, phòng giáo dục và đào tạo,…), bộ phận, cá nhân và phải cương quyết thực hiện Quản lí theo phương pháp tổ chức - hành chính có nghĩa là các cấp quản lí thực hiện đúng quyền hạn, trách nhiệm của mình, và đảm bảo sự cân đối giữa hai mặt đó

- Phương pháp tâm lý- xã hội là những cách thức tác động của người quản lí tới người quản lí nhằm biến những yêu cầu của các cấp quản lí thành nghĩa vụ tự giác bên trong, thành nhu cầu của người bị quản lí

+ Thực hiện phương pháp tâm lý- xã hội là tổ chức cho các thành viên trong đơn vị học tập, thảo luận về các văn bản pháp qui và bàn biện pháp thực hiện; thảo luận xây dựng mục tiêu, kế hoạch của tổ chức, góp ý cho các chủ trương quyết định của người quản lí đối với mọi hoạt động của tổ chức Những thông tin phản hồi giúp người lãnh đạo xem xét và điều chỉnh hoạt động quản lí hoặc buộc người quản lí phải thuyết phục các nhân viên rằng những chủ trương đó là cần thiết

- Phương pháp kinh tế là sự tác động một cách gián tiếp tới người bị quản lí bằng cơ chế kích thích lao động thông qua lợi ích vật chất, để họ tích cực tham gia công việc chung và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

Tổ chức thực hiện phương pháp kinh tế là:

+ Tổ chức xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn, định mức cho từng loại hoạt động trong tổ chức (trường học, phòng giáo dục đào tạo,…)

+ Tổ chức bộ máy theo dõi quá trình thực hiện, cuối mỗi đợt (tháng, kì…) tổ chức bình bầu, đánh giá phân loại lao động, thưởng phạt theo chế độ qui định

+ Tổ chức đánh giá phân loại lao động trong giáo viên, xếp loại học tập trong học sinh phải đảm bảo tính công khai, công bằng và dân chủ

1.4.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non

Hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn phụ thuộc nhiều yếu tố:

1.4.4.1 Các yếu tố khách quan

Trang 35

- Định hướng của Đảng, các chủ trương chính sách của nhà nước, địa phương đối với sự phát triển của bậc học mầm non;

- Chế độ, chính sách đối với GVMN; đối với hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GVMN

Cần xây dựng các chế độ chính sách, khuyến khích về vật chất và tinh thần, chế độ thưởng phạt nghiêm minh đối với GVMN cũng như hoạt động bồi dưỡng

chuyên môn Khi có một chế độ, chính sách đúng đắn thì sẽ tạo động lực để giáo

viên tích cực tự giác tham gia vào hoạt động bồi dưỡng

- Yêu cầu nâng cao chất lượng GDMN của xã hội và cộng đồng

Sau hơn hai mươi năm đổi mới và năm năm thực hiện “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010”, giáo dục mầm non nước ta đã có bước phát triển đáng kể về quy mô, loại hình trường, lớp học vượt định mức chỉ tiêu chiến lược

đã đề ra.Tuy nhiên, mức độ phát triển nói trên của giáo dục mầm non vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nuôi dạy trẻ và những đòi hỏi mới của sự nghiệp phát triển đất nước, thành tựu đạt được chưa vững chắc, chưa mang tính hệ thống Đứng trước yêu cầu nâng cao chất lượng GDMN của xã hội thì công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên là mọt vấn đề hết sức quan trong Tạo nền tảng cho đội ngũ GVMN có trình độ chuyên môn vững vàng đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng GDMN của toàn xã hội

- Sự phát triển theo “gia tốc” của trẻ mầm non

Gia tốc phát triển chỉ sự phát triển nhanh chóng về sinh lý, tâm lý, trí tuệ

của trẻ em đang diễn ra ở nhiều nơi trên trái đất Sự phát triển sớm về trí tuệ, sự gia tăng khối lượng tri thức ở trẻ ngày nay là biểu hiện gia tốc phát triển tâm sinh lý của các em trên nhiều bình diện năng khiếu, nhu cầu, thị hiếu, hứng thú, thẩm mỹ Nguyên nhân do trẻ em ngày nay được tiếp nhận một khối lượng rất lớn thông tin biến đổi từng ngày xung quanh chúng (nghe nhìn - phát thanh, báo chí, công nghệ thông tin…) Với những đặc điểm ấy, trẻ có điều kiện tiếp thu nhanh hơn, có điều kiện vận dụng các điều đã học được, đó là những thuận lợi cho giáo dục Ngược lại đó cũng là những khó khăn cho cha mẹ và các cô giáo vì tầm suy nghĩ của chúng rộng hơn, những câu hỏi hay vấn đề chúng đặt ra phong

Trang 36

phú và phức tạp hơn Vậy đây cũng là một nguyên nhân khách quan cho nhu cầu cần phải thường xuyên trau đồi, bồi dưỡng trình độ chuyên môn của giáo viên mầm non nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển một cách “ gia tốc” của trẻ em hiện nay

1.4.4.2 Các yếu tố chủ quan

Cơ sở vật chất của trường, lớp mầm non trên địa bàn thành phố Vinh trong những năm gần đây tuy có nhiều thay đổi, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi ngày càng hiện đại hơn, phòng học rộng rãi, khang trang, sạch đẹp hơn Tuy nhiên, trước xu thế phát triển của xã hội, nhu cầu gửi con em đến trường mầm non của các bậc phụ huynh, để đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Vinh thì cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cần được quan tâm nhiều hơn nữa

Trình độ, năng lực chuyên môn cũng như nhận thức tầm quan trọng về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của đội ngũ CBQL, giáo viên ở các trường mầm non đang còn hạn chế Việc chỉ đạo công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên chỉ mang tính hình thức, chưa có kế hoạch, nội dung chưa rõ ràng, chưa xác định được tầm quan trọng vì vậy các biện pháp chỉ đạo chưa đồng bộ

và chưa mang tính chủ động Một số ít GVMN chưa thực sự yêu nghề, chưa linh hoạt, sáng tạo trong mọi hoạt động, đặc biệt chưa nhận thức rõ được tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn

Đội ngũ CBQL của Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục cũng đã rất quan tam chăm lo đến chất lượng của ngành học Mặc dù vậy, trình độ cũng như năng lực quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn chưa được đánh giá cao, chưa tương xứng với hiệu quả công việc, đặc biệt chưa có biện pháp chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN hữu hiệu

Trang 37

Kết luận chương 1

Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo Việc quản

lý chất lượng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đội ngũ giáo viên Giáo viên là nguồn lực chủ yếu thực hiện các mục tiêu giáo dục trong nhà trường

Nhà quản lý giáo dục mầm non cần phải nắm vững các nội dung đổi mới giáo dục mầm non, hướng dẫn giáo viên biết cách xây dựng kế hoạch chăm sóc- giáo dục, xây dựng môi trường học tập cho trẻ, chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng lớp điểm, tham quan, dự giờ kiến tập, bổ sung CSVC, trang thiết bị theo yêu cầu đổi mới

Vì vậy, quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở các cơ sở giáo dục mầm non nói chung, đặc biệt là trường mầm non đạt chuẩn quốc gia có

ý nghĩa cực kỳ quan trọng để nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên, giúp giáo viên mầm non thực sự là người có tay nghề, có lòng yêu nghề, yêu trẻ, có khả năng chủ động cải tiến, sáng tạo trong mọi hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ, kịp thời tiếp cận với chương trình giáo dục mầm non mới

Chính vì vậy, công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non luôn được quan tâm đúng mức để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiện nay Làm tốt công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non, chắc chắn đội ngũ giáo viên mầm non sẽ có một trình độ chuyên môn vững vàng, tự tin hơn trong công việc của mình

Cơ sở lý luận về các biện pháp chỉ đạo chuyên môn mầm non là căn cứ để nghiên cứu thực trạng quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một

số trường mầm non tại thành phố Vinh, Nghệ An Vấn đề này tôi tập trung nghiên cứu ở chương 2 và chương 3

Trang 38

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế- xã hội

Thành phố Vinh nằm bên bờ sông Lam, ở vị trí Đông nam Tỉnh Nghệ An; Tọa độ địa lý từ 18038’50” đến 18043’38” vĩ độ Bắc đến 105049’50” kinh độ Đông Bắc giáp huyện Nghi Lộc - Nam giáp huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh - Tây giáp huyện Hưng nguyên - Đông giáp thị xã Cửa Lò Diện tích 104,96 km2

; Dân số hơn 310.000 người; cách thủ đô Hà Nội 295 km về phía Bắc; cách thành phố Hồ Chí Minh 1424 km; cách trung tâm kinh tế miền Trung là thành phố Đà Nẵng 472 km về phía Nam; cách thủ đô Viên Chăn (Lào) 400 km về phía Tây

Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt và có sự biến động lớn từ mùa này sang mùa khác Nhiệt độ trung bình 240C, nhiệt độ cao tuyệt đối 42,10C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 70C Độ ẩm trung bình 65-90% Số giờ nắng trung bình 1696 giờ Có hai mùa gió đặc trưng: gió Tây Nam-gió khô xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9 và gió Đông Bắc - mang theo mưa phùn lạnh

ẩm ướt kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau

Kinh tế có bước phát triển khá và tương đối toàn diện: Nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 16,1%/ chỉ tiêu 16-17%, tăng 3,65% Thu nhập giá trị gia tăng bình quân người/ năm tăng từ 15,6 triệu đồng lên 38 triệu đồng/ chỉ tiêu 32-35 triệu đồng

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng: Tỷ trọng ngành công xây dựng tăng từ 37,9% lên 40,7%/ chỉ tiêu 40,5; tỷ trọng ngành dịch vụ giảm từ

Trang 39

nghiệp-60% xuống 57,7% chỉ tiêu 58%; tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 2,1% xuống 1,6%/ chỉ tiêu 1,5%

Thu hút đầu tư đạt khá: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 25.246 tỷ đồng/ chỉ tiêu 20.000-23.000 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 19,9%, Số doanh nghiệp được thành lập đến nay là 4271 đơn vị, tăng bình quân 21,6%/năm; số hộ được cấp đăng ký kinh doanh đến nay là 12.852, tăng bình quân 11,1%/năm

Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt khá, đạt 6.175 tỷ đồng Nhịp

độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng đạt 19,5%/chỉ tiêu 20%, tăng 0,9%

Dịch vụ thương mại, du lich phát triển theo hướng hội nhập và ngày càng

đa dạng Giá trị sản xuất đạt 3.850,4 tỷ đồng Nhịp độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất ngành dịch vụ đạt 16,2%/chỉ tiêu 16,5%, tăng 4,8%

Giá trị sản xuất nông, ngư nghiệp đạt 125,7 tỷ đồng, nhịp độ tăng trưởng bình quân đạt 9,1%

Công tác thu hút đầu tư được quan tâm đúng mức Chủ động và thay đổi phương thức tiếp cận để vận động, tạo điều kiện cho các nhà đàu tư vào tìm hiểu

và tiếp xúc đầu tư trên địa bàn Phát triển mối quan hệ đối ngoại với các thành phố trong và ngoài nước 72 dự án đước cấp phép đầu tư với tổng số vốn đăng

ký đạt 9.147 tỷ đồng Triển khai thực hiện dự án cải tạo nâng cấp hệ thống thoát nước với tổng vốn đầu tư 13,6 triệu EURO, dự án khu liên hợp xử lý chất thải rắn với quy mô 53 ha, tổng vốn đầu tư 3 triệu EURO và 2,5 triệu USD, dự án phát triển đô thị Vinh bằng nguồn vốn WB với tổng vốn đầu tư 125 triệu USD

và nhiều dự án khác…

Thực hiện đề án “Phát triển thành phố Vinh trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung Bộ” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, từ nay đến năm 2025, thành phố Vinh sẽ mở rộng địa giới hành chính để có diện tích

Trang 40

250 km² Sau khi mở rộng, diện tích của thành phố Vinh sẽ bao gồm thành phố Vinh hiện nay và toàn bộ diện tích thị xã Cửa Lò, phần phía Nam huyện Nghi Lộc, phía Bắc huyện Hưng Nguyên Ranh giới thành phố mới sẽ là là phía Bắc

là đường Nam Cấm, phía Tây là đường tránh Vinh, phía Nam là sông Lam và phía Đông là biển Đông

2.1.2 Tình hình giáo dục mầm non thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

2.1.2.1 Quy mô trường lớp, giáo viên, học sinh bậc học mầm non Thành phố Vinh, Nghệ An

Đối với bậc học mầm non, năm học 2015- 2016 toàn thành phố có 56 trường, được phân bố như sau:

Bảng 2.1 Quy mô trường, lớp ở bậc học mầm non TP Vinh

Loại

trường

Số trường

Mẫu giáo

Tổng

số

Nhà trẻ

Mẫu giáo

Trên địa bàn thành phố Vinh hiện có 56 trường mầm non với các loại hình công lập, dân lập, tư thục và trên 91 nhóm lớp độc lập đáp ứng nhu cầu cho

24821 trẻ được ra lớp và nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục đạt tỷ lệ gần 35.2%

Ngày đăng: 27/08/2021, 10:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w