1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý HOẠT ĐỘNG bồi DƯỠNG CHUYÊN môn CHO NHÂN VIÊN y, dược, VIỆN y học PHÒNG KHÔNG KHÔNG QUÂN

115 348 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 728 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển nguồn nhân lực của Việt nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, tạo cơ hội việc làm cho người lao động có vị trí, tầm quan trọng rất to lớn, được coi là đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 20112020. Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong quân đội giai đoạn 20112020 đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu đổi mới quản lý và vai trò của quản lý trong tình hình mới 2.

Trang 1

Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn Y, Dược là hoạt động thường xuyêntại các bệnh viện trong và ngoài Quân đội, giữ vai trò cập nhật và duy trì chấtlượng kỹ thuật chuyên môn bệnh viện, có mức độ tác động, ảnh hưởng đếntoàn bộ nhân viên chuyên môn bệnh viện, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của BanGiám đốc, do cơ quan chuyên môn phụ trách và phải được tổ chức, quản lý,chỉ đạo chặt chẽ và khoa học Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn là một hìnhthức của hoạt động giáo dục, do đó chịu ảnh hưởng của các hoạt động quản lý

và tuân theo các nguyên tắc quản lý giáo dục chung [4]

Viện Y học Phòng không-Không quân là Viện nghiên cứu có giườngbệnh, phân hạng tương đương bệnh viện đa khoa hạng 2 trong Quân đội, theochủ trương của Bộ Quốc phòng, Viện được đầu tư xây dựng và định hướngphát triển là bệnh viện chuyên ngành đứng đầu Việt Nam và khu vực.Với sốlượng cán bộ, nhân viên có năng lực chuyên môn được đào tạo đa dạng cácchuyên ngành, trong những năm qua Viện đã thực hiện tốt nhiệm vụ, bao gồm

02 lĩnh vực chính là chuyên môn Y học hàng không và khám chữa bệnh chocác đối tượng Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho nhân viên y, dược củaViện đã được tổ chức và ngày càng phát huy vai trò trong duy trì chất lượngnguồn nhân lực, nâng cao mức độ hài lòng của người bệnh và giảm thiểu sai

Trang 2

Tuy nhiên, với góc nhìn khoa học cá nhân tôi nhận thấy: Muốn giữ vữngđược vị thế và phát huy tiềm năng trong thời đại ngày nay, là thời đại của nềnkinh tế tri thức thì vấn đề quản lý hoạt động BDCM cho nhân viên y, dược tạiViện YHPKKQ vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, các biện pháp quản lý chưađược đồng bộ, còn nhiều lúng túng, chưa cập nhật với sự phát triển chung,cần phải bàn bạc, trao đổi, bổ sung, khắc phục, rút kinh nghiệm kịp thời đểđổi mới đi lên đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của xã hội

Nhận thấy tính cấp thiết, cần phải giải quyết kịp thời, đề tài được lựa

chọn nghiên cứu trong khuôn khổ của luận văn là:“Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho nhân viên y, dược tại Viện Y học Phòng không- Không quân”.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Nguồn nhân lực quyết định chất lượng mọi dịch vụ y tế, đặc biệt vớingành y tế với đối tượng phục vụ là sức khỏe con người Do vậy cán bộ y tếphải được học tập suốt đời mới có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình Tronglĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, bệnh viện là môi trường học tập, cập nhậtkiến thức và kỹ thuật chuyên môn lý tưởng nhất

Bộ Y tế luôn xác định bệnh viện là cơ sở đào tạo liên tục quan trọnghàng đầu để nâng cao trình độ nguồn nhân lực y tế Thực hiện một số điều củaLuật Khám bệnh, chữa bệnh, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09 tháng 8 năm 2013 hướng dẫn việc đào tạo liên tục cán bộ y tế.Đến nay hầu hết các bệnh viện Trung ương đã có trung tâm đào tạo, các bệnhviện, tỉnh, thành phố nhiệm vụ đào tạo liên tục đang được triển khai mạnh mẽnhằm tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ y tế đáp ứng được nhu cầu chămsóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân [5]

Tuy nhiên, trong các bệnh viện, cán bộ chủ yếu làm công tác điều trị nênnhiệm vụ đào tạo còn chưa được quan tâm đúng mức Công tác tổ chức, quản

lý đào tạo liên tục, trong đó có nội dung BDCM còn nhiều khó khăn

Trang 3

* Đào tạo y khoa liên tục

Đào tạo y khoa liên tục (tiếng Anh là ContinuingMedicalEducation đượcviết tắt là CME) là quá trình cán bộ y tế không ngừng cập nhật những kiến thức

và tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Đào tạo y khoa liên tụcđược định nghĩa là “hoạt động được xác định rõ ràng để phát triển chuyên môncủa cán bộ y tế và dẫn tới việc cải thiện chăm sóc cho bệnh nhân CME baogồm tất cả các hoạt động học tập mà cán bộ y tế mong muốn thực hiện để cóthể thường xuyên, liên tục nâng cao năng lực chuyên môn của mình…”

Thông tư số 07/2008/TT-BYT (2008), Bộ Y tế định nghĩa “ Đào tạo liêntục là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹnăng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục; đào tạo chuyển giao kỹthuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên mônnghiệp vụ khác trong lĩnh vực y tế” [5]

Ngày nay nhằm thay đổi thái độ của cán bộ y tế, tổ chức y tế thế giới đãđưa ra thuật ngữ phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing ProfessionalDevelopment viết tắt là CPD) và được sử dụng rộng rãi tại các nước Âu, Mỹ.Ngoài các nội dung giống như của CME, CPD còn bao gồm cả các phươngpháp học tập khác ngoài hình thức nghe giảng và ghi chép là các hình thức tựhọc và tự phát triển của từng cá nhân Phát triển nghề nghiệp liên tục đề cậpviệc cán bộ y tế sau khi đã hoàn thành giai đoạn đào tạo cơ sở, sẽ học tậptrong suốt cuộc đời làm việc của mỗi người để cập nhật kiến thức, kỹ năng đểđáp ứng nhu cầu của người bệnh, các dịch vụ y tế CPD được xây dựng dựatrên nhu cầu chuyên môn của cán bộ y tế đồng thời cũng là giải pháp chính đểcải thiện chất lượng Khác với đào tạo chính quy hay đào tạo sau đại học đượcthực hiện theo các quy định và quy tắc cụ thể thì CPD lại chủ yếu là các hoạtđộng học tập trên cơ sở định hướng cá nhân và thực hành để thúc đẩy nângcao năng lực nghề, nhằm duy trì và nâng cao năng lực từng cá thể để đáp ứng

Trang 4

thực tế hiện nay ở nước ta đang đồng nhất giữa CPD và CME, hoạt độngBDCM cho nhân viên y, dược là một phần của CPD và CME ở các cơ sở y tế.

* Tổ chức đào tạo liên tục cho cán bộ, nhân viên y, dược

Tổ chức thực hiện CME giữa các nước trên thế giới rất khác nhau Tuynhiên mọi người đều thừa nhận rằng bản thân người trong nghề phải chịu tráchnhiệm chính trong việc thực hiện các hoạt động đào tạo liên tục Các hiệp hội yhọc và tổ chức chuyên môn có vai trò là người khởi xướng, cung cấp và thúcđẩy thực hiện đào tạo liên tục tại rất nhiều nước Có nhiều tổ chức cung cấpCME thậm chí không liên quan trực tiếp đến chuyên ngành y tế, chẳng hạn nhưcác công ty cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe vì lợi nhuận, ngành côngnghiệp công nghệ y, dược, các hiệp hội người tiêu dùng,…Mặc dù vậy chúngvẫn có một số đặc điểm chung, đó là phần lớn các hệ thống đều dựa trên cơ sở

số giờ được đào tạo, trong đó giờ học được có thể tính tương đương với tín chỉ.Các hoạt động đào tạo thường được chia làm ba nhóm chính: Nhóm ngoạikhóa gồm: các khóa học, hội thảo, hội nghị,… Nhóm nội tại gồm: các hoạtđộng thực hành, hội thảo giải quyết tình huống, hội thảo nhóm lớn, phân tíchtập thể, giảng dạy, tư vấn với đồng đẳng hoặc đồng nghiệp,… Các tài liệu đàotạo mang tính lâu dài như tài liệu in, đĩa CD, tài liệu trên web như chươngtrình đào tạo, kiểm tra, đánh giá,…

Ở những nước yêu cầu có sự đánh giá lại việc cấp chứng chỉ hành nghề,các bằng chứng của đào tạo liên tục hoặc phát triển chuyên môn liên tục sẽ trởthành một phần không thể thiếu và rất quan trọng [5]

*Một số nghiên cứu về đào tạo y khoa liên tục

Đào tạo liên tục trong ngành y tế (CME) không phải là một khái niệmmới, thông qua sự liên kết giữa các trường đại học y và các bệnh viện thựchành, các học viên y tế tiếp tục việc học của mình bằng cách gặp gỡ với đồngnghiệp của họ Giai đoạn những năm 1990 đến nay, đào tạo liên tục trongngành y trở thành nhu cầu cấp thiết đối với đội ngũ nhân viên y, dược làm

Trang 5

nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho con người, với quy mô được toàn cầu hóa,

đa dạng, cập nhật và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ thông tin trong đàotạo liên tục

David A D và cộng sự (1995) nghiên cứu các dữ liệu đào tạo y khoa liêntục từ năm 1975 đến năm 1994 thuộc các cơ sở dữ liệu MEDLINE, ERIC,NTIS, kết quả cho thấy đào tạo y khoa liên tục đã giúp nâng cao năng lực củabác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ Tương tự, David A D và cộng sự (1999) khảosát 14 nghiên cứu nhỏ để đánh giá hiệu quả của đào tạo liên tục đối với nănglực chuyên môn của nhân viên y tế và kết quả khám chữa bệnh, kết quả chothấy đào tạo liên tục có tác động tích cực rõ rệt đối với các tiêu chí trên [25],[26]

Jeannie CG (2000) nhận thấy vai trò quan trọng của hệ thống thư việnchuyên môn của bệnh viện trong nâng cao chất lượng đào tạo liên tục cho cán

bộ, nhân viên y tế.Mather NJ và cộng sự (1999) đã tiến hành điều tra và nhậnthấy trình độ người dạy, phương pháp giảng dạy và nguồn lực đầu tư cho đàotạo y khoa liên tục có ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả của đào tạo liêntục.Jann TL (2013) nhận định về sự thay đổi để thích ứng với nhu cầu đào tạo

y khoa liên tục ở Hoa Kỳ, trong đó nhấn mạnh vai trò của người dạy vàphương pháp dạy, đề cao vai trò của chuyên gia, cũng như tính linh hoạt tronghọc tập, các yêu cầu cần đạt được khi cấp chứng chỉ và quản lý chất lượng[29],[30][31]

Fenning PA (2008) so sánh hình thức đào tạo truyền thống và ứng dụngcông nghệ thông tin trong đào tạo liên tục y khoa, kết quả cho thấy ứng dụngcông nghệ thông tin có thể tiết kiệm từ 25-35% thời gian học tập và 30-45%chi phí tài chính phục vụ đào tạo.Tương tự, FuhmeiWang (2008) đánh giá vaitrò của hệ thống mạng máy tính và y học từ xa trong dào tạo liên tục, kết quảnghiên cứu cho kết luận như củaFenning PA [27],[28]

Trang 6

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về quản lý giáo dục trong ngành y tế đãđược thực hiện nhiều, chủ yếu đề cập đến các lĩnh vực quản lý để nâng caochất lượng đào tạo ở các trường y, dược Đinh Thị Phong Lan (2013), nghiêncứu một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo ngành y dược ởTrường trung cấp Hồng Hà, thành phố Hồ Chí Minh [18] Nguyễn ThịThanh Tình (2012), nghiên cứu Một số hoạt động đảm bảo chất lượng ởTrường Đại học Y khoa Vinh [22]

Tuy nhiên, các nghiên cứu đánh giá về thực trạng, nhu cầu đào tạo liêntục, BDCM cho nhân viên y dượcbệnh viện chưa nhiều, Trịnh Yên Bình(2013) nghiên cứu thực trạng, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y học cổtruyền, kết quả của đề tài đã giúp các nhà khoa học có thêm tư liệu để nghiêncứu quá trình phát triển Y dược cổ truyền (YDCT), giúp các nhà quản lýhoạch định các chiến lược phát triển nguồn nhân lực YDCT và xác định đượcchương trình đào tạo liên tục cho cán bộ YDCT [1]

* Tình hình tổ chức đào tạo liên tục các bệnh viện Quân đội

Hiện nay, thực hiện đào tạo liên tục theo đúng nội dung Thông tư số22/2013/TT-BYT ngày 09/8/2013 chỉ được thực hiện tại các bệnh viện hạng 1,hạng đặc biệt trong Quân đội, theo chỉ đạo về tổ chức công tác tuyến của CụcQuân y Các bệnh viện quân y còn lại tổ chức thực hiện BDCM cho nhân viên

y, dược của bệnh viện và thuộc tuyến mình

Công tác BDCM cho nhân viên y, dược tại các bệnh viện trong Quân đội

là một nội dung thuộc Kế hoạch huấn luyện chiến đấu, giáo dục chính trị củađơn vị, được người chỉ huy phê duyệt và cơ quan phụ trách tổ chức thựchiện.Nội dung BDCM cập nhật theo các tiêu chí của đào tạo liên tục cho cán

bộ, nhân viên y, dược, có liên quan mật thiết đến quy trình cấp chứng chỉhành nghề và xét phân hạng, ngạch bậc kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ Cho đến nay, chưa có đề tài nào thực hiện nghiên cứu về quản lý côngtác BDCM cho nhân viên y, dược tại Viện YHPKKQ, vì vậy việc tiến hành

Trang 7

nghiên cứu này là thực sự cần thiết, góp phần đánh giá thực trạng và đề xuấtcác biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng công tác BDCM cho nhân viên

y, dược tại Viện YHPKKQ

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động BDCM cho nhânviên y, dược tại Viện YHPKKQ, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng caochất lượng BDCM cho nhân viên y, dược tại Viện YHPKKQ hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động bồi dưỡng và quản lý hoạt độngchuyên môn cho nhân viên y, dược tại Viện YHPKKQ

- Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động BDCM và quản lý hoạt độngBDCM cho nhân viên y, dược của Viện YHPKKQ

- Đề xuất các biện pháp pháp quản lý hoạt động BDCM cho nhân viên

y, dược tại viện YHPKKQ

- Khảo nhiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động bồi dưỡng cho nhân viên y, dược của Viện YHPKKQ

* Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động BDCM cho đối tượng nhân viên y, dược tại ViệnYHPKKQ

* Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp quản lý hoạt độngBDCM cho nhân viên y, dược tại Viện YHPKKQ hiện nay

Trang 8

Hoạt động BDCM bao gồm nhiều đối tượng Trong luận văn này tác giảchỉ tập trung nghiên cứu: quản lý hoạt động BDCM cho nhân viên y, dượccủa Viện YHPKKQ

Phạm vi điều tra, khảo sát là các cán bộ quản lý, giáo viên tham gia BDCM

và các nhân viên y, dược Các số liệu điều tra, khảo sát tính từ năm 2011 đến nay

5 Giả thuyết khoa học

Chất lượng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn và quản lý hoạt độngBDCM cho nhân viên y, dược tại Viện YHPKKQ phụ thuộc vào nhiều yếu tố:Nếu chủ thể quản lý ở Viện y HPKKQ đánh giá đúng thực trạng, đề xuất đồng

bộ, khả thi các biện pháp quản lý theo chức năng - mục tiêu quản lý và dựa

trên cơ sở khoa học và thực tiễn thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng BDCM

cũng như hiệu quả quản lý của các cấp đối với nhân viên y, dược tại ViệnYHPKKQ hiện nay

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp của chủ nghĩa mác –LêNin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về giáo dục và quản lý giáo dục Đồng vận dụng các quan điểm hệthống-cấu trúc, logic-lịch sử và quan điểm thực tiễn để phân tích, đánh giá,xem xét các vấn đề nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện đề tài tác giả sử dụng các nhóm phương pháp cụ thể:

Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu,văn bản pháp quy của Nhà nước, của ngành; các văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị

về thực hiện nhiệm vụ BDCM cho nhân viên y, dược bệnh viện Nghiên cứucác tài liệu, sách báo, tạp chí, báo cáo, tổng kết, đề xuất,….về hoạt động

Trang 9

BDCM cho nhân viên y, dược tại Viện YHPKKQ để xây dựng cơ sở lý luậncủa vấn đề nghiên cứu.

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động BDCM của ViệnYHPKKQ, nhận thức của nhân viên y, dược đối với hoạt động BDCM

Phương pháp điều tra: Xây dựng bảng câu hỏi, nghiên cứu về quản lýhoạt động BDCM của 146 nhân viên y, dược; 52 cán bộ quản lý và giáo viêntham gia BDCM

Phương pháp chuyên gia; Phương pháp thống kê toán học

7 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài có ý nghĩa thực tiễn, góp phần phân tích, đánh giá thực trạng côngtác quản lý BDCM cho nhân viên y, dược tại Viện Y học Phòng không-Không quân, góp phần đánh giá thực trạng công tác BDCM cho nhân viên y,dược các bệnh viện trong Quân đội; đề xuất các giải pháp quản lý để nâng caochất lượng công tác BDCM cho nhân viên y, dược tại Viện Y học Phòngkhông-Không quân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chuyênmôn, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của đơn vị

8 Kết cấu của đề tài

Luận văn có kết cấu bao gồm mở đầu, 3 chương (9 tiết), kết luận vàkhuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO NHÂN VIÊN Y, DƯỢC TẠI VIỆN Y HỌC PHÒNG KHÔNG-KHÔNG QUÂN 1.1 Các khái niệm cơ bản

* Quản lý

Nguồn gốc phát triển loài người là lao động của cá nhân và lao động

chung C Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.

Trang 11

Quản lý là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của xãhội, nhu cầu quản lý hình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗlực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung, luôn là một thuộc tính tất yếu lịch

sử khách quan gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó Thuộc tính

đó bắt nguồn từ bản chất của hệ thống xã hội đó là hoạt động lao động tập thể lao động xã hội của con người

Mặc dù quản lý là một thuộc tính tất yếu gắn liền với xã hội nhưng chỉkhi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định thì quản lý mới được tách rathành một chức năng riêng của lao động xã hội; dần dần hình thành những tậpthể, những tổ chức và cơ quan chuyên hoạt động quản lý - hệ thống quản lý(chủ thể quản lý) Xã hội càng phát triển về trình độ và quy mô sản xuất, vềvăn hóa, khoa học, kỹ thuật công nghệ, thì trình độ quản lý, tổ chức, điềuhành và công nghệ quản lý càng được nâng lên và phát triển không ngừng [6]

Sự phát triển xã hội dựa vào nhiều yếu tố: sức lao động, tri thức, nguồnvốn, tài nguyên, năng lực quản lý Trong đó năng lực quản lý được xếp hàngđầu Năng lực quản lý là sự tổ chức, điều hành, kết hợp tri thức với việc sửdụng sức lao động, nguồn vốn và tài nguyên để phát triển xã hội Quản lý tốtthì xã hội phát triển, ngược lại nếu buông lỏng hay quản lý tồi thì sẽ mởđường cho sự rối loạn, kìm hãm sự phát triển xã hội

Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý" (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu làhai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình "quản" là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì

ở trạng thái "ổn định"; quá trình “ lý" là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổchức vào thế “phát triển”

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, ví dụ:

MaryParkerFollet: "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác" [32].

Trang 12

Robert Albanese: "Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức" [33].

Robert Kreitner: "Quản lý là tiến trình làm việc với và thông qua người khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi Trong tâm của tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn" [34].

Harol Koontz: "Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã

đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác" [24].

Nguyễn Minh Đạo: "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra" (Cơ sở khoa học quản lý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

1997) [20]

"Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức" (Khoa học quản lý, tập I, Trường ĐH KTQD, Hà Nội

2001) [24]

Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục vàcần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức Đó là quá trình tạonên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổchức nhằm đạt được mục tiêu chung

Quản lý bao gồm các yếu tố :Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tácđộng và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp và các khách thể khác chịucác tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý Muốn quản lý thành công, trước tiêncần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý

Trang 13

Tóm lại: Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể

quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật khách quan nhằm đạtđược mục tiêu chung

* Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhàquản lý giáo dục trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất củaquản lý nhằm đạt được những mục tiêu đề ra

Quản lý giáo dục có các đặc điểm chính: bao giờ cũng có chủ thể quản lýgiáo dục và đối tượng quản lý giáo dục; bao giờ cũng liên quan đến việc traođổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược; bao giờ cũng có khả năng thíchnghi (luôn biến đổi); vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và là một nghề; gắnvới quyền lực, lợi ích và danh tiếng; có chức năng ngăn ngừa sự dập khuônmáy móc trong quá trình tạo ra sản phẩm cũng như không cho phép có sảnphẩm hỏng

Bản chất của QLGD là dạng lao động xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáodục nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển hệ thống giáo dục và các thành tố của

nó, định hướng và phối hợp lao động của những người tham gia công tác giáodục để đạt được mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục dựa trênthể chế giáo dục và các nguồn lực giáo dục [17]

Theo sự phát triển của giáo dục học, đã hình thành một số quan điểmquản lý giáo dục

Quan điểm hiệu quả (Efficiency) là quan điểm quản lý giáo dục ra đờivào thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, khi xuất phát từ việc áp dụng tư tưởngkinh tế vào quản lý giáo dục Theo quan điểm hiệu quả, quản lý giáo dục phảiđược thực hiện sao cho “hiệu số” giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống giáodục phải đạt cực đại

Quan điểm kết quả (Effectiveness) ra đời vào đầu những năm 20 của thế

Trang 14

điểm kết quả trong quản lý giáo dục chú ý đến việc đạt mục tiêu giáo dục nhiềuhơn chú ý đến hiệu quả kinh tế của nó, chú ý đến kết quả đầu ra là của giáo dục

là phát triển nhân cách con người đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội

Quan điểm đáp ứng (Responsiveness) ra đời vào những năm 60 của thế

kỷ XX Cơ sở tư tưởng của quan điểm này là khía cạnh chính trị của giáo dục,quản lý giáo dục phải hướng tới việc làm cho hệ thống giáo dục phục vụ, đápứng các đòi hỏi của sự phát triển đất nước, phát triển xã hội

Quan điểm phù hợp (Revelance) ra đời vào những năm 70 của thế kỷ

XX Cơ sở tư tưởng của quan điểm này là vấn đề văn hoá, quản lý giáo dụcphải đạt được mục tiêu phát triển giáo dục trong điều kiện bảo tồn và phát huytruyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc

Nhà QLGD cần quán triệt sâu sắc các tư tưởng trên và vận dụng phù hợpvới điều kiện thực tiễn [20]

* Một số mô hình quản lý giáo dục

Mô hình quản lý dựa vào nhà trường lấy nhà trường làm cơ sở, là mộtphương hướng cải tiến quản lý giáo dục theo hướng tăng cường phân cấp quản

lý nhà trường cho các chủ thể quản lý bên trong nhà trường với những quyềnhạn và trách nhiệm rộng rãi hơn để thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề tạichỗ Quan điểm này xuất hiện vào những năm 1980, nó trở thành chủ đề trungtâm và chiến lược trong cải cách giáo dục của nhiều nước

Trên cơ sở tiếp cận quản lý dựa vào nhà trường, các trường phải nắmvững các qui định về phân cấp trong quản lý giáo dục Xác định rõ nhữngviệc nhà trường phải làm khi được trao quyền tự chủ và cách thực hiện Xácđịnh rõ các mối quan hệ quản lý trong thực hiện các công việc này

Các cán bộ quản lý trong trường học phát huy vai trò chủ động trongtriển khai thực hiện các công việc đúng thẩm quyền Tham mưu đề xuất vớicác cấp quản lý bên trên, bên ngoài nhà trường trong việc xây dựng cơ chế, chính

Trang 15

sách quản lý phù hợp Xây dựng và phát triển mối quan hệ với cơ quan quản lýnhà nước về giáo dục trong triển khai các hoạt động của nhà trường

Mô hình Quản lý theo kết quả (ResultsBasedManagement) hay Hệ thốngquản lý theo kết quả (PerformanceManagementSystem- PMS) là một phươngpháp hay một công cụ quản lý mang tính khoa học, là quá trình thiết lập các mụcđích, mục tiêu và các chỉ số kết quả, gắn tổ chức với nguồn nhân lực để đạt đượcmục tiêu, theo dõi tiến độ so với các mục tiêu đã đề ra, xác định các cơ hội để cảitiến, tiến hành các hoạt động để nâng cao chất lượng

Việc áp dụng PMS trong công tác quản lý sẽ góp phần làm thay đổiphương pháp và phong cách làm việc của các cá nhân và tổ chức thực hiện.Quản lý theo kết quả là quản lý để “hoàn thành kết quả của công việc” hơn làquản lý để “hoàn thành công việc” Do vậy, cụm từ “quản lý theo kết quả” ởđây muốn nhấn mạnh đến việc đạt được “kết quả cuối cùng” hơn là dừng lại ởcác “kết quả trung gian”, ví dụ như muốn nâng cao chất lượng giáo dục đây

là kết quả cuối cùng, nhưng để đạt được cần đạt được những kết quả trunggian như kết quả về đội ngũ, kết quả về đổi mới, cải tiến chương trình, đổimới về phương pháp,…

Nguyên tắc đặt ra của PMS là phải giải quyết phần gốc(các nguyên nhân)chứ không chỉ giải quyết phần ngọn(các tồn tại) Do vậy, việc xác định đúng cácnguyên nhân và hậu quả từ mục tiêu đặt ra sẽ là cơ sở để đề xuất các biện pháp cụthể để giải quyết từng nguyên nhân(nếu có), giải quyết từng mục tiêu đã đề xuất,các biện pháp này phải có trọng điểm, đồng bộ, đồng thời kết hợp chặt chẽ việctriển khai thực hiện để hoàn thành mục tiêu cuối cùng đặt ra [23]

* Nhân viên y, dược:

Theo WHO (2006), khái niệm nhân lực y tế là những người tham gia vàocác hoạt động với mục đích chính là tăng cường sức khoẻ cộng đồng Nhânlực y tế trong bệnh viện bao gồm các bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng và nữ hộ

Trang 16

sinh, kỹ thuật viên, cử nhân, các thành phần làm nhiệm vụ hỗ trợ, đảm bảo(thợ điện, thợ nước, lái xe cấp cứu,…)

Khái niệm nhân viên y, dược thuộc phạm vi đề tài này là các nhân viênchuyên môn kỹ thuật, được đào tạo cơ bản về chuyên ngành, có chức trách,nhiệm vụ được quy định theo Quyết định số 47/QY-4 ngày 17/01/2000 của Cụctrưởng Cục Quân y ban hành Chức trách cán bộ, nhân viên y dược bệnh việnQuân đội Nhân viên y dược là một phần của nhân lực y tế trong bệnh viện

Vị trí, vai trò, mối quan hệ của nhân viên y dược trong bệnh viện quânđội được quy định cụ thể cho từng chức danh chuyên môn kỹ thuật, thể hiện

sự chuyên biệt, đồng thời nằm trong mối quan hệ tổng quát hình thành nănglực chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện, mà năng lực chuyên môn kỹ thuật đóđược phê duyệt bởi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Tương tự nhưvậy, nhiệm vụ và quyền hạn của nhân viên y dược cũng được quy định cụ thể,chi tiết cho từng vị trí công tác [9]

* Chuyên môn:

Chuyên môn là tổ hợp các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành mà conngười tiếp thu được qua đào tạo để có khả năng thực hiện một loạt công việctrong phạm vi một ngành nghề nhất định theo phân công của xã hội

Chuyên môn trong phạm vi đề tài này là chuyên môn ngành y, dược, cụthể bao gồm chế độ công tác chuyên môn bệnh viện, kiến thức chuyên ngành,những nội dung thông tin chuyên môn được cập nhật, các quy trình chuyênmôn được quy định bởi Cục Quân y, Bộ Y tế, …các kỹ năng ứng xử, giao tiếpcủa nhân viên y, dược, kỹ năng nghiên cứu khoa học,…[14]

1.1.2 Bồi dưỡng chuyên môn:

* Theo từ điển giáo dục, bồi dưỡng (nghĩa hẹp) là trang bị thêm những

kiến thức, thái độ, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực

hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể; bồi dưỡng (nghĩa rộng) là quá trình giáo

Trang 17

dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt củanhân cách theo định hướng mục đích đã chọn.

Từ quan niệm trên, tác giả cho rằng:

Bồi dưỡng chuyên môn là quá trình tác động của chủ thể giáo dục đến hoạt động bồi dưỡng nhằm cập nhật, bổ sung kiến thức, kĩ năng, thái độ để nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của người được bồi dưỡng về một lĩnh vực hoạt động mà học đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó

Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn rakhi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kĩ năng chuyênmôn, nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của lao động nghềnghiệp Nội dung bồi dưỡng được triển khai ở các mức độ khác nhau, phù hợpcho từng đối tượng cụ thể

Tự bồi dưỡng là quá trình tự học, tự giác, tích cực, độc lập chủ độngchiếm lĩnh nhằm chuẩn hóa, cập nhật và nâng cao những tri thức, kỹ năng, kỹxảo chuyên môn, nghiệp vụ để có thể đạt hiệu quả nghề nghiệp cao hơn củabản thân người trưởng thành đã tham gia công tác [15]

1.1.3 Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn

Tác giả cho rằng:

Quản lý hoạt động BDCM là hoạt động của chủ thể quản lý thông qua các chức năng quản lý là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để tác động đến khách thể quản lý (là nhân viên y, dược và các nội dung của hoạt động BDCM cho nhân viên y, dược) nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đã

đề ra (về nâng cao năng lực chuyên môn, về những mục tiêu khác)

Chức năng lập kế hoạch là chức năng quan trọng nhất, nhằm định rachương trình, mục tiêu, chiến lược mà quản lý hoạt động BDCM cần đạt được

Trang 18

Chức năng tổ chức là chức năng nhằm hình thành các nhóm chuyên mônhoá, các phân hệ tạo nên hệ thống để cùng góp phần vào hoạt động BDCMnhằm đạt được mục tiêu mong muốn.

Chức năng điều khiển (chỉ đạo) là chức năng nhằm phối hợp hoạt độngchung của nhóm, của phân hệ trong hệ thống tổ chức, có vai trò của cơ quanchuyên trách nhiệm vụ BDCM và lãnh đạo, chỉ huy đơn vị

Chức năng kiểm tra là chức năng nhằm kịp thời phát hiện những sai sóttrong quá trình hoạt động, tổ chức thực hiện kế hoạch và những cơ hội độtbiến trong hệ thống BDCM, đây là chức năng quan trọng nhất của người lãnhđạo, chỉ huy đơn vị

Bên cạnh đó, có chức năng điểu chỉnh, là chức năng sửa chữa những saisót nảy sinh, tạo thế cân bằng mới trong quá trinh hoạt động, tận dụng các cơhội thúc đẩy tổ chức phát triển Tuỳ theo điều kiện thực tiễn mà chức năngnày được nhà quản lý quan niệm là một chức năng độc lập, hoặc nó được hoàtrộn với các chức năng khác UNESCO tổng kết về chức năng quản lý baogồm: Lập kế hoạch (hoạch định); Tổ chức; Chỉ đạo và Kiểm tra [20]

Đặc điểm của quản lý quá trình BDCM cho nhân viên y dược ở bệnh viện

là điều khiển, điều chỉnh quá trình này vận hành một cách có kế hoạch, có tổchức và được chỉ đạo, kiểm tra, giám sát thường xuyên nhằm từng bước hướngvào thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện để đạt mục tiêu huấn luyện, BDCM.Quá trình BDCM cho nhân viên y dược ở bệnh viện được tiến hành songsong với các hoạt động chuyên môn khác của bệnh viện như hoạt động khámchữa bệnh, hoạt động công tác tuyến, nghiên cứu khoa học, phát triển chuyênmôn kỹ thuật và kinh tế y tế Công tác quản lý quá trình BDCM cho nhân viên ydược là một mặt của công tác quản lý bệnh viện, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp củalãnh đạo, chỉ huy bệnh viện và được giao cho các bộ phận chuyên trách

1.2 Nội dung quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho nhân viên y, dược bệnh viện

Trang 19

1.2.1 Đối tượng của quản lý quá trình bồi dưỡng chuyên môn

Là hoạt động của người dạy, người học Nói chung công tác quản lý quátrình BDCM cũng diễn ra theo một chu trình gồm 5 giai đoạn là: chuẩn bị kếhoạch lập kế hoạch tổ chức thực hiện chỉ đạo, lãnh đạo kiểm tra đánh giá.Trong một bệnh viện, các nhà quản lý thường được chia làm 3 cấp: Quản

lý cấp cao (lãnh đạo), quản lý cấp trung gian, quản lý cấp cơ sở Nhà quản lýcấp càng thấp thì số lượng càng nhiều hơn Quản lý cấp cao là những ngườichuyên vạch ra mục tiêu, chiến lược chung cho toàn bộ bệnh viện và thiết lậpcác mục đích tổng quát để cấp dưới thực hiện.(Giám đốc, các Phó Giám đốc

….) Quản lý cấp cơ sở là người chịu trách nhiệm trực tiếp điều hành các hoạtđộng khám chữa bệnh, chịu trách nhiệm điều hành và phối hợp hoạt động củacác người quản lý cấp cơ sở(trưởng khoa, phòng…) [6]

Cũng do cấp bậc khác nhau mà thời gian lao động của người quản lýthực hiện mỗi chức năng cũng khác nhau:

Bảng 1.1 Phân bố tỷ lệ % nội dung công việc của các cấp quản lýCấp quản lý Hoạch định (%) Tổ chức (%) Chỉ đạo (%) Kiểm tra (%)

Trang 20

của nó đến hoạt động chuyên môn kỹ thuật bệnh viện; giảm dược sự chồngchéo và lãng phí; tạo nên tiêu chí, tiêu chuẩn cho công tác kiểm tra; tạo nên

cơ hội hoàn thiện phương pháp và quy trình, kế hoạch hoá các nội dungBDCM, chuyên nghiệp hoá hoạt động BDCM [23]

Chức năng tổ chức là hoạt động quản lý BDCM nhằm thiết lập một hệthống các vị trí cho mỗi cá nhân và bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận

đó có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu chiếnlược của bệnh viện Trong hoạt động BDCM cho nhân viên y dược, chứcnăng tổ chức giúp chi tiết hoá nội dung BDCM theo lĩnh vực, chuyên ngành,chuyên khoa cũng như phân công người phụ trách, giáo viên thực hiện mộtcách có hiệu quả nhất

Nhờ tổ chức có hiệu quả mà người quản lý có thể phối hợp, điều phốitốt hơn các nguồn lực Nhờ có tổ chức mà kỷ cương, nề nếp, tác phong làmviệc khoa học, sự đoàn kết nhất trí trong tổ chức được đảm bảo; năng lực, sởtrường của mỗi người và mỗi bộ phận được phát huy

Điều khiển tổ chức là quá trình chủ thể sử dụng quyền lực quản lý củamình để tác động lên hành vi của các phần tử trong tổ chức một cách có chủđích để tổ chức đi đến mục tiêu Ở chức năng này, chủ thể điều khiển phảithực hiện nhiệm vụ chính là ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó.Các học giả còn gọi chức năng này là chức năng lãnh đạo, chỉ đạo Trong đó,lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ tự nguyện và nhiệttình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức, bao gồm các hoạt độngchỉ đạo, điều hành, hướng dẫn, phối hợp ra lệnh và đi trước của người quản lýđối với các cá nhân, bộ phận thừa hành trong tổ chức; chỉ đạo là quá trình tậphợp, liên kết các thành viên trong tổ chức; theo sát hoạt động của bộ máy,hướng dẫn, điều chỉnh công việc nhịp nhàng, động viên, khuyến khích, khenthưởng người lao động nhằm đạt mục tiêu của tổ chức

Trang 21

Chức năng kiểm tra (Controlling) giúp nhà quản lý phát hiện các sai sót,các ách tắc của tổ chức trong quá trình hoạt động để có giải pháp xử lý, điềuchỉnh, tận dụng các nguồn lực để sớm đưa tổ chức đạt đến mục tiêu Chứcnăng kiểm tra là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý

Theo Robert J.Mockers: "Kiểm tra trong quản trị là cố gắng một cách có

hệ thống để xác định các tiêu chuẩn so với mục tiêu kế hoạch, thiết kế hệ thống thông tin phản hồi, so sánh sự thực hiện với các tiêu chuẩn, xác định

và đo lường mức độ sai lệch và thực hiện hoạt động điều chỉnh để đảm bảo rằng mọi nguồn lực đã được sử dụng một cách hiệu quả nhất trong việc thực hiện mục tiêu" [35].

Nhiều tác giả đều thống nhất: "Kiểm tra trong quản lý là quá trình theo dõi giám sát, đo lường, đánh giá diễn biến và kết quả đạt được của các hoạt động, đồng thời tiến hành các biện pháp sửa chữa, uốn nắn, khắc phục những sai lệch cần thiết Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh của tổ chức" [24].

Nếu tiếp cận theo góc độ lý thuyết thông tin thì kiểm tra là quá trìnhthiết lập mối liên hệ ngược (thông tin ngược) giữa người quản lý và đối tượngquản lý Như vậy, kiểm tra là hệ thống phản hồi về kết quả của các hoạt động

và là hệ thống phản hồi dự báo trước những kết quả có thể xảy ra

Kiểm tra có vai trò quan trọng trong quá trình quản lý, là nhu cầu cơ bản

để hoàn thành các quyết định quản lý Kiểm tra còn giúp hoàn thiện các quyếtđịnh quản lý về nhiều mặt, khẳng định sự đúng sai của đường lối, chính sách,mục tiêu, cơ cấu, cơ chế của tổ chức Chức năng kiểm tra còn có các vai trò:

- Chủ động ngăn chặn các nhầm lẫn, sai phạm có thể xảy ra trong quá

trình quản lý để đảm bảo cho các kế hoạch được thực hiện với hiệu quả cao;

- Là nhu cầu khách quan của mọi thành viên để tránh sự đổ lỗi về tráchnhiệm, đồng thời đảm bảo thực thi quyền lực quản lý của người lãnh đạo;

Trang 22

- Giúp tổ chức theo sát và đối phó với sự thay đổi của môi trường (quan

hệ cạnh tranh, hợp tác ), xác định chỗ đứng của tổ chức hiện tại, tạo tiền đềcho quá trình hoàn thiện, đổi mới, tìm ra chỗ đứng mới để hướng tới

Có thể nói rằng "không có kiểm tra là không có quản lý".

1.2.2 Quản lý nội dung bồi dưỡng chuyên môn

* Quản lý mục tiêu, nội dung BDCM là quản lý xây dựng và thực hiệnmục tiêu, nội dung chương trình đến thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục,thái độ, phát triển trí tuệ cho người học trong quá trình dạy học và giáo dục.Xuất phát điểm của nội dung quản lý này là các hoạt động dự báo, trên

cơ sở nắm vững và phân tích về nhiệm vụ của bệnh viện trong năm, chínhsách của Đảng, nhà nước, nhu cầu phát triển chuyên môn kỹ thuật, phân tích

kỹ các yếu tố về nguồn lực bệnh viện, điểm mạnh và điểm yếu của đội ngũnhà quản lý và giáo viên; đây là những căn cứ quan trọng để hoạch định kếhoạch, xây dựng mục tiêu và chương trình BDCM trong năm

Mục tiêu là một sự cam kết cụ thể đối với việc thực hiện một kết quả cóthể đo lường được trong khoảng thời gian đã định Các tổ chức và cá nhântham gia BDCM không thể hành động nếu không xác định được mục tiêu mộtcách rõ ràng Các nhà quản lý phải xác định mục tiêu, nhận thức về tầm quantrọng của chúng và biết cách thiết lập mục tiêu cụ thể cho từng bộ phận, từngnội dung BDCM trên cơ sở mục tiêu chung của bệnh viện

Các mục tiêu được xác định cụ thể trên các phương diện về số lượng, cácđiều kiện cụ thể, các dữ kiện có thể đo lường được và được thể hiện bằng vănbản mang tính bắt buộc Nói cách khác, các mục tiêu thể hiện sự cam kết bệnhviện để hoàn thành nội dung BDCM ở một mức độ và thời gian nào đó

Xây dựng mục tiêu của hoạt động BDCM cho nhân viên y dược cần chú

ý các điểm sau:

Trang 23

- Mục tiêu phải xác đáng, có ý nghĩa và khả thi, phù hợp điều kiện cơ sởvật chất bệnh viện, năng lực trình độ của người dạy và người học.

- Mục tiêu được trình bày ra dưới dạng định lượng hoặc định tính, mục tiêu định lượng dễ truyền đạt, dễ kiểm điểm việc thực hiện

- Cần xác định mục tiêu ưu tiên trong toàn bộ nội dung BDCM một giai đoạn để tập trung nguồn lực thực hiện, có vai trò quan trọng để xác định chiếnlược phát triển ngắn hạn và dài hạn về chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện

- Nên xác định mục tiêu kỳ vọng để phấn đấu đạt hiệu quả và chất lượng công tác BDCM đạt cao, mục tiêu kỳ vọng phụ thuộc các yếu tố mang tính chất nền tảng, cơ sở về nhân lực, phương tiện và trang bị của bệnh viện

- Mục tiêu của các cấp quản lý hợp thành hệ thống mục tiêu phân cấp

Hệ thống mục tiêu ở từng cấp hợp thành mạng lưới mục tiêu

Sau khi xác định được các mục tiêu của hoạt động BDCM, cần xây dựng

kế hoạch BDCM, cụ thể hoá kế hoạch bằng chương trình BDCM cho nhânviên y dược

Về lý luận, kế hoạch BDCM có vai trò và tác dụng lớn đối với tổ chức vàquản lý, nó là chiếc cầu nối cần thiết giữa hiện tại và tương lai, làm tăng khảnăng đạt được kết quả mong muốn của tổ chức Kế hoạch BDCM giúp bệnhviện tận dụng tốt các nguồn lực, giúp các nhà quản lý ứng phó với sự bất định

và thay đổi của môi trường, dự đoán các biến cố và xu hướng trong tương lai,thiết lập các mục tiêu BDCM và lựa chọn các chiến lược để theo đuổi cácmục tiêu này Nhờ có kế hoạch các thành phần tham gia BDCM có thể pháttriển tinh thần làm việc tập thể Kế hoạch BDCM còn giúp các cấp quản lýthực hiện việc kiểm tra tình hình thực hiện các mục tiêu thuận lợi và dễ dàng

Kế hoạch BDCM của bệnh viện đa số là kế hoạch ngắn hạn, thực hiệntrong năm hoặc trong một giai đoạn nhất định để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụchung của bệnh viện

Trang 24

Nội dung chủ yếu của kế hoạch BDCM là xác định mục tiêu của

BDCM; các nguồn lực để đạt được các mục tiêu; quyết định những hoạt động

và biện pháp cần thiết để đạt các mục tiêu; phân chia các giai đoạn và dự kiếnthời gian thực hiện kế hoạch cụ thể

Yêu cầu của kế hoạch BDCM là nội dung phải rõ ràng, khoa học, hợp

lý, tập trung giải quyết những vấn đề chủ yếu; phải phù hợp với thực tế và cótính khả thi; Nội dung kế hoạch phải cụ thể: chỉ rõ làm gì, ai làm, làm ở đâu,làm như thế nào, cái gì cần đạt được; nhưng không quá vụ vặt, quá chi tiết

Cơ sở khoa học của lập kế hoạch BDCM: Căn cứ mục tiêu, chức năng

nhiệm vụ của bệnh viện; căn cứ phân cấp về quyền hạn và trách nhiệm trongbệnh viện; đòi hỏi của các quy luật khách quan chi phối lĩnh vực hoạt độngcủa bệnh viện, xu hướng và chiến lược phát triển của ngành Y; các chỉ tiêu,định mức, hướng dẫn của cấp trên giao; hoàn cảnh thực tiễn khách quan bêntrong và bên ngoài tổ chức; các dự báo khoa học v.v

Kế hoạch BDCM phải được sự phê duyệt của cấp có thẩm quyền trướckhi triển khai tổ chức thực hiện Kế hoạch BDCM thông thường được xâydựng ngay sau khi xây dựng kế hoạch chuyên môn bệnh viện hàng năm

* Quản lý người học và quản lý nền nếp BDCM:

Là quản lý thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện của người dạy và cácnhiệm vụ học tập, rèn luyện của người học, việc chấp hành các quy định, điều

lệ, nội quy… một cách nền nếp ổn định

* Quản lý chất lượng BDCM là phát hiện kịp thời các nguyên nhân dẫnđến tình trạng yếu kém, đề ra và tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phụcnhằm đảm bảo chất lượng theo yêu cầu

* Quản lý tài chính và cơ sở vật chất: hiểu biết về luật ngân sách, thựchiện có hiệu quả ngân sách Nhà Nước cấp Đảm bảo cơ sở vật chất và thiết bịphục vụ hoạt động dạy học

* Kiểm tra, đánh giá:

Trang 25

Kiểm tra có vai trò quan trọng trong quá trình quản lý, là nhu cầu cơ bản

để hoàn thành các quyết định quản lý Trong quản lý hoạt động BDCM, hoạtđộng kiểm tra, đánh giá là một phần của nội dung xây dựng kế hoạch ở giaiđoạn tiếp theo Để các hoạt động kiểm tra, đánh giá đạt hiệu quả, cần tuântheo một số nguyên tắc nhất định

- Kiểm tra phải mang tính khách quan Công tác kiểm tra cần tôn trọngcác sự vật, hiện tượng một cách khách quan Không nên đưa ra ý kiến chủquan của người kiểm tra vào công việc bởi vì ý kiến chủ quan sẽ làm sai lệchthực trạng mà nhà quản lý cần biết

- Kiểm tra phải dựa vào các chuẩn mực đã định sẵn, thông qua các bảngkiểm, thang điểm, người kiểm tra dựa vào đó để kiểm tra các hoạt độngBDCM Chỉ dựa vào các chuẩn mực mới tránh được hiện tượng chủ quan trongkiểm tra

- Kiểm tra phải chính xác Mọi công tác kiểm tra phải có độ chuẩn xácnhất định Hiệu quả của việc điều chỉnh phụ thuộc nhiều vào độ chuẩn xáccủa kiểm tra

- Kiểm tra cần có độ đa dạng hợp lý Để cho công tác kiểm tra đạt hiệuquả, cần kết hợp kiểm tra theo mẫu và kiểm tra toàn bộ, kiểm tra định kỳ vàkiểm tra đột xuất, kiểm tra chiều dọc và kiểm tra chiều ngang, kiểm tra từngmặt và kiểm tra toàn diện… Mặt khác, tránh kiểm tra chồng chéo Người đikiểm tra thì "cửa quyền", sách nhiễu, người được kiểm tra thi "đối phó"

- Kiểm tra cần có trọng tâm, trọng điểm Tùy thuộc vào năng lực kiểmtra và thực trạng hoạt động của hệ thống mà các nhà quản lý đưa ra nhữngtrọng tâm kiểm tra tại những trọng điểm nhất định nhằm vừa nâng cao hiệuquả kiểm tra, vừa tiết kiệm chi phí

Tất cả các nội dung quản lý nói trên đều phải thực hiện theo chu trìnhgồm 5 giai đoạn như đã trình bày ở trên [20]

Trang 26

Cơ chế - chính sách là một hệ thống những văn bản, hành động có mụcđích nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BDCM ở Viện YHPKKQtheo đúng Điều lệ công tác tham mưu huấn luyện, Điều lệ công tác Quân y,Chế độ chuyên môn bệnh viện trong Quân đội Cơ chế - chính sách phù hợpvới thực tiễn của cơ sở hạ tầng, thể hiện tính công khai, công bằng, dân chủtrong giáo dục; làm cho mọi người tích cực, chủ động, sáng tạo trong việclĩnh hội nội dung BDCM và nghiên cứu tìm tòi phát hiện ra nội dung mới…

Cơ chế chính sách cho hoạt động BDCM nhân viên y dược trong ViệnYHPKKQ bao gồm:

- Các quy trình công tác: Quy trình xây dựng và phê duyệt kế hoạch; quytrình giao ban ngày, tuần, tháng; quy trình chuyên môn kỹ thuật bệnh viện,…

- Phân công nhiệm vụ phụ trách, quản lý, thực hiện: Quyết định phâncông nhiệm vụ thành viên Ban Giám đốc; Nhiệm vụ các Khoa, Ban; Nhiệm

vụ Ban Điều dưỡng; các Kế hoạch công tác năm, quý, tháng,…

- Phân công nhiệm vụ người dạy: Danh sách giáo viên tham gia BDCMtheo chuyên khoa, Danh sách giáo viên giảng dạy các lớp tập huấn,…

- Quyết định về các chế độ, tiêu chuẩn, phương thức đảm bảo cho hoạtđộng BDCM

- Các quy định, quyết định về việc khuyến khích quá trình tự học tập, tựnghiên cứu: Quy định về hỗ trợ học tập tại bệnh viện tuyến trên, quy định hỗtrợ kinh phí nghiên cứu khoa học, dịch thuật và soạn thảo giáo án,

1.2.4 Dự báo lập kế hoạch

Kế hoạch công tác BDCM của Viện YHPKKQ do Giám đốc viện phêduyệt và ban hành, là văn bản pháp quy quy định mà người dạy và người họcphải tuân theo

Quy trình lập kế hoạch: Quy trình lập kế hoạch bao gồm các bước sau:

Trang 27

Nghiên cứu và dự báo: Giám đốc Viện YHPKKQ căn cứ nhiệm vụ, địnhhướng phát triển bệnh viện để giao nhiệm vụ cho các Phó Giám đốc và các cơquan nghiên cứu, đề xuất.

Xác định các mục tiêu hoạt động BDCM: Các mục tiêu BDCM được xácđịnh căn cứ và kế hoạch công tác bệnh viện, do Ban Điều dưỡng, Hội đồngđiều dưỡng đề xuất

Phát triển các tiền đề: Các tiền đề của hoạt động BDCM được hình thành

từ các mục tiêu, có sự thảo luận của các cơ quan, khoa chuyên môn trong toànViện, do Phó Giám đốc phụ trách

Xây dựng, đánh giá các phương án, chương trình BDCM: Ban Điềudưỡng được phân công nhiệm vụ xây dựng phương án, chương trình, PhóGiám đốc phụ trách chủ trì việc đánh giá, các cơ quan chuyên môn và cácKhoa chuyên ngành tham gia thảo luận

Lựa chọn phương án, chương trình BDCM và ra quyết định: Sau khinhận được dự thảo phương án, chương trình BDCM và các báo cáo đánh giáBan Giám đốc Viện thảo luận, lựa chọn phương án, chương trình, phê duyệt

kế hoạch và bắt đầu tổ chức thực hiện

Kế hoạch phải được sự phê duyệt của cấp có thẩm quyền trước khi triểnkhai tổ chức thực hiện, cụ thể do Giám đốc Viện YHPKKQ phê duyệt Kếhoạch BDCM thông thường được xây dựng ngay sau khi xây dựng kế hoạchchuyên môn bệnh viện hàng năm

1.2.5 Quản lý tổ chức thực hiện bồi dưỡng

* Quản lý hoạt động dạy của người dạy

Quản lý hoạt động của người dạy trong quản lý hoạt động BDCM là cáchành động của nhà quản lý nhằm hình thành đội ngũ người dạy học có nănglực chuyên môn, có phẩm chất đạo đức, đáp ứng cho nhiệm vụ BDCM vềngắn hạn cũng như lâu dài Hoạt động BDCM nhân viên y dược Viện

Trang 28

người dạy cũng có đặc điểm riêng, nhà quản lý có định hướng sử dụng nguồnnhân lực người dạy ngắn hạn và dài hạn, từ đó đặt ra các tiêu chí đánh giá vớimục tiêu nâng cao chất lượng BDCM về lâu dài, đáp ứng được với sự thayđổi, cập nhật, hiện đại hoá các kiến thức về y tế và chăm sóc sức khoẻ [22].Nội dung quản lý hoạt động của người dạy trong BDCM của ViệnYHPKKQ bao gồm:

- Xây dựng nhân sự tham gia giảng dạy theo chuyên khoa, chuyên ngành

và phân công nhiệm vụ: Nhân sự tham gia được hình thành sau khi kế hoạch,chương trình BDCM được phê duyệt Do Ban Điều dưỡng, Hội đồng điềudưỡng đề xuất, thông qua Giám đốc Viện YHPKKQ

- Phê duyệt kế hoạch giảng dạy, giáo án, giáo trình: Do Giám đốc Việnhoặc Phó Giám đốc được ủy quyền thực hiện

- Tổ chức kiểm tra và đánh giá: Do Phó Giám đốc phụ trách

* Quản lý hoạt động học tập của người học

Quản lý hoạt động học tập của người học nhằm đảm bảo hiệu quả việchọc tập, chất lượng đầu ra của hoạt động BDCM

Đối tượng học tập trong hoạt động BDCM nhân viên y dược ở ViệnYHPKKQ là đa dạng, nhiều lĩnh vực, có chức trách nhiệm vụ được quy địnhbởi các văn bản pháp quy cụ thể

Quản lý hoạt động của người học là chuỗi các hành động ngay từ thờiđiểm hoạch định kế hoạch và kết thúc ở giai đoạn kiểm tra, đánh giá; chuỗihành động này có tính liên tục và cần được lượng hoá cụ thể Việc thực hiệnkhông đầy đủ ở bất cứ khâu nào trong chuỗi hành động đó sẽ dẫn đến suygiảm chất lượng của mục tiêu BDCM

Nội dung quản lý hoạt động người học bao gồm:

- Xây dựng tiêu chí và nhiệm vụ của người học

- Quản lý lớp học, nề nếp, thái độ học tập

- Quản lý hoạt động tự học tập

Trang 29

- Kiểm tra, đánh giá định kỳ, kết thúc học tập và đánh giá trong quá trìnhcông tác [22].

Tính đặc thù của hoạt động BDCM đối với nhân viên y dược cho thấy,việc kiểm tra, đánh giá đối tượng người học có thể thực hiện ở những giaiđoạn tiếp theo trong quá trình công tác của học, ngay cả khi việc dạy học đãkết thúc, hoạt động này giúp nhà quản lý duy trì chất lượng công tác chuyênmôn bệnh viện, nhất là đối với những dịch vụ chuyên môn kỹ thuật mới, kỹthuật cao Công tác quản lý người học trong BDCM của Viện YHPKKQ đượcgiao cho Ban Điều dưỡng làm nhiệm vụ quản lý chung, tổng hợp và báo cáo,các Khoa, Ban có người dự học quản lý quân số học tập của Khoa, Ban mình

* Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học

Quản lý cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ dạy học là các hành động củanhà quản lý nhằm duy trì, điều phối, sử dụng các nguồn lực về cơ sở vật chấttrong bệnh viện có hiệu quả để phục vụ nhiệm vụ BDCM

Nội dung bao gồm:

- Lập danh mục cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ dạy và học: Danh mụcđược lập theo từng Khoa, Ban và cơ sở vật chất dùng chung của Viện nhưPhòng huấn luyện tiền lâm sàng, phòng học

- Phân công nhiệm vụ cho người phụ trách: Cơ sở vật chất dùng chung

do Ban Điều dưỡng quản lý, cơ sở vật chất tại Khoa, Ban do chính Khoa, Ban

Trang 30

Trong điều kiện còn hạn hẹp về kinh phí đảm bảo tạo nguồn cho cơ sởvật chất kỹ thuật phục vụ BDCM, ý nghĩa công tác quản lý cơ sở vật chất, kỹthuật phục vụ dạy học là rất quan trọng.

* Quản lý nguồn kinh phí để chi cho hoạt động dạy và học

Quản lý nguồn kinh phí phục vụ công tác BDCM nhân viên y dược chấphành đúng các quy định hiện hành về quản lý chi tiêu ngân sách, được Giámđốc Viện giao cho Ban Tài chính là cơ quan đầu mối tổng hợp, các Khoa Banđược phân cấp kinh phí chấp hành nhiệm vụ chi ngân sách

Nội dung bao gồm:

- Tiếp thu và phân cấp nguồn ngân sách của nhiệm vụ

- Lập kế hoạch chi tiêu

- Xây dựng dự trù chi tiêu theo nhiệm vụ cụ thể

- Thực hiện chi kinh phí

- Thanh quyết toán

1.2.6 Tổ chức hoạt động kiểm tra - đánh giá

Nhiệm vụ của kiểm tra trong quản lý hoạt động BDCM là xác định, sửachữa được những sai lệch trong hoạt động của hoạt động BDCM so với mụctiêu, kế hoạch và tìm kiếm các cơ hội, tiềm năng có thể để khai thác, hoànthiện, cải tiến, đổi mới không ngừng hoạt động BDCM Các nhà quản lý phảitrả lời câu hỏi: kiểm tra cái gì, ở đâu, kiểm tra cần tiến hành thường xuyênđến mức nào v.v

Nội dung kiểm tra là toàn bộ các yếu tố cần thiết và không thể bỏ quatrong hoạt động BDCM Nội dung công tác kiểm tra cần tập trung vào nhữnglĩnh vực, khu vực hoạt động thiết yếu, những điểm kiểm tra chủ yếu và nhữngcon người, những mối quan hệ có ảnh hưởng quan trọng đối hoạt độngBDCM Nội dung chính của công tác kiểm tra là: Kiểm tra quy chế hoạt động;Kiểm tra nghĩa vụ đã được giao của cá nhân, bao gồm cả nhà quản lý các cấp,người dạy và người học; Kiểm tra đường lối, mục đích của hoạt động BDCM;

Trang 31

Kiểm tra kết quả về các mặt chuyên môn, tài chính,…; Kiểm tra các điểnhình, bao gồm các điển hình tích cực và điển hình tiêu cực

Kiểm tra - đánh giá là một bộ phận hợp thành, không thể thiếu được trongquá trình BDCM Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học được tồn tại

đồng thời với quá trình BDCM, đó là quá trình thu nhận và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh Trên cơ sở đó đề ra

những biện pháp phù hợp, giúp người học học tập tiến bộ

*

Xây dựng và duy trì nguồn nhân lực nhân viên y, dược của ViệnYHPKKQ có chất lượng tốt thì nhiệm vụ quan trọng là nâng cao chất lượngcác hoạt động BDCM thường xuyên Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghềnghiệp của nhân viên y, dược là yếu tố sống còn để duy trì chất lượng côngtác chuyên môn bệnh viện

Nắm vững các khái niệm về chất lượng chuyên môn, quản lý, các yếu tốảnh hưởng đến chất lượng hoạt động BDCM sẽ giúp cho việc định hướng cáchoạt động BDCM cho nhân viên y, dược, duy trì nguồn nhân lực có chấtlượng tốt để phục vụ nhiệm vụ của Viện YHPKKQ

Vai trò của công tác BDCM cho nhân viên y, dược cần được khẳng địnhkhông chỉ tại Viện YHPKKQ mà còn ở các bệnh viện quân y cũng như dân y,góp phần cùng với các trường đào tạo chuyên nghiệp ngành y xây dựng, tạonguồn và duy trì nguồn nhân lực nhân viên y, dược bệnh viện, đáp ứng nhucầu chăm sóc sức khỏe bộ đội, nhân dân

Trang 32

Chương 2

CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO NHÂN VIÊN Y, DƯỢC TẠI VIỆN Y HỌC PHÒNG KHÔNG-KHÔNG QUÂN

2.1 Khái quát về Viện Y học Phòng không-Không quân

Viện Y học Phòng không-Không quân được thành lập từ 15/1/1970, tiềnthân là Bệnh viện Phòng không-Không quân, có nhiệm vụ khám, thu dung,điều trị bệnh tật cho bộ đội quân chủng Phòng không - Không quân (PKKQ);giám định và quản lý sức khỏe phi công quân sự

Quyết định số 429/QĐ-TM ngày 04/7/2001 của Tổng Tham mưu trưởnggiao nhiệm vụ cho Viện YHPKKQ là viện nghiên cứu có giường bệnh; cóchức năng nhiệm vụ: Huấn luyện, nghiên cứu khoa học, đào tạo chuyênngành YHHK và bệnh nghề nghiệp; Giám định sức khoẻ phi công, khámtuyển tạo nguồn học viên lái máy bay; Khám bệnh, cấp cứu, thu dung điều trịcho cán bộ, chiến sĩ trong Quân chủng PKKQ và nhân dân trong khu vựcđóng quân; Chỉ đạo công tác tuyến.Viện là cơ sở YHHK duy nhất của ViệtNam, có chuyên môn chuyên sâu về khám tuyển, giám định sức khoẻ phicông, huấn luyện, nghiên cứu khoa học về YHHK, việc xây dựng ViệnYHHK nằm trong chiến lược phát triển lực lượng PKKQ lâu dài của Đảng,

Nhà nước và quân đội Ngày 30/12/2009, Cục Hàng không Việt Nam - Bộ

Giao thông vận tải có Quyết định số 4436/QĐ-CHK phê chuẩn cơ sở giámđịnh và cấp Giấy chứng nhận sức khỏe cho Nhân viên Hàng không của Viện

YHHK - Quân chủng PK-KQ và các Giám định viên Y khoa Hàng không phù

hợp với Tiêu chuẩn về hàng không của Châu Âu (JAR FCL 3)

Thực hiện Quyết định số 3789/QĐ-BQP ngày 10/10/2011 của Bộ trưởng

Bộ Quốc phòng và Hướng dẫn số 1826/HD-TM ngày 14/11/2011 của Bộ Tổng

Trang 33

tham mưu hướng dẫn triển khai điều chỉnh tổ chức lực lượng ngành quân y vàcác đoàn an điều dưỡng trong Quân đội; Viện YHHK có chủ trương tổ chức đểchuyển thành Bệnh viện chuyên ngành YHHK Nhiệm vụ của Viện giai đoạntiếp theo có sự đa dạng hóa; bên cạnh nhiệm vụ của một cơ sở quân y còn cócác nhiệm vụ của một Bệnh viện chuyên ngành sâu của cả nước; đảm nhiệmkhám chữa bệnh cho các đối tượng mà chú trọng đối tượng A; giám định, khámtuyển sức khỏe phi công quân sự; nghiên cứu khoa học YHHK và bệnh nghềnghiệp, huấn luyện chuyên ngành; khám tuyển, giám định sức khỏe nhân viênhàng không và các nhiệm vụ khác khi được phân công

2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ

Viện YHPKKQ thực hiện nhiệm vụ trên 02 nội dung chính: nhiệm vụchuyên ngành YHHK và nhiệm vụ bệnh viện quân y Chức năng nhiệm vụ cụthể của Viện bao gồm:

- Khám tuyển tạo nguồn học viên lái máy bay quân sự Giám định, quản

lý sức khỏe phi công quân sự

- Nghiên cứu khoa học về YHHK và bệnh nghề nghiệp; huấn luyện sinh

lý YHHK cho phi công và nhân viên công tác trên không; huấn luyện, đào tạochuyên ngành YHHK Thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo tuyến Hợp tác quốc tế vềYHHK

- Đảm bảo quân y sẵn sàng chiến đấu theo phân cấp, phòng chống dịchbệnh, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; phòng chống thiên tai, thảm họa Khám chữabệnh cho bộ đội thuộc Quân chủng PK-KQ và nhân dân

- Tham gia khám tuyển tạo nguồn phi công và nhân viên hàng không dândụng; giám định sức khỏe nhân viên Hàng không

2.1.2 Tổ chức

Thực hiện theo Quyết định số 429/QĐ-TM ngày 04/7/2001 của TổngTham mưu trưởng về việc ban hành Biểu tổ chức biên chế Viện YHPKKQ

Trang 34

thuộc Quân chủng PK-KQ, Viện YHPKKQ được tổ chức 100 giường bệnhvới quân số 170 cán bộ, nhân viên, cụ thể:

* Chỉ huy Viện: Giám đốc, Chính ủy và 03 Phó Giám đốc.

* Khối cơ quan: Gồm 05 Ban trực thuộc chỉ huy Viện: Ban Kế hoạch

tổng hơp, Ban Điều dưỡng, Ban Chính trị, Ban Hậu cần, Ban Tài chính

* Trung tâm Y học Hàng không (YHHK) có 02 Khoa: Khoa Nghiên

cứu sinh lý Hàng không; Khoa Khám tuyển phi công

* Khối các Khoa lâm sàng: Gồm 06 Khoa: Khoa Nội chung; Khoa

Truyền nhiễm; Khoa Y học cổ truyền; Khoa Ngoại hồi sức cấp cứu; Khoa TaiMũi Họng; Khoa Mắt Răng Hàm Mặt

* Khối các Khoa cận lâm sàng và bảo đảm: Gồm 04 Khoa: Khoa Khám

bệnh; Khoa Xét nghiệm; Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, chức năng; Khoa Trang bị

Dược-2.1.3 Biên chế

Theo Quyết định 429/QĐ-TM ngày 04/7/2001 của Tổng Tham mưutrưởng QĐND Việt Nam, Viện biên chế 170 người (diện cán bộ quản lý: 74;diện quân lực quản lý: 96) Cụ thể theo các đầu mối như sau: Chỉ huy Viện04; đối tượng cán bộ quản lý 74 người, đối tượng cơ quan quân lực quản lý 96người Tuy nhiên, giai đoạn hiện nay Viện đang trong tình trạng dư biên chế.Thời điểm tháng 7/2016, quân số của Viện (Hiện có/biên chế): 313/170(126nữ) Trong đó: Sỹ quan và đối tượng cán bộ quản lý: 97/81 Quân nhânchuyên nghiệp, CNVQP, HSQBS: 216/89

Về quân số chuyên môn của Viện hiện có 61 bác sỹ, 09 dược sỹ, 63 y sỹ,

18 điều dưỡng và kỹ thuật viên, 29 dược trung, 07 dược tá và 17 y tá

2.1.4 Cơ sở vật chất và trang thiết bị chuyên ngành

2.1.4.1 Trang thiết bị y tế:

Viện được trang bị cơ bản các trang thiết bị chẩn đoán hình ảnh, chứcnăng, xét nghiệm, phẫu thuật, khám chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân

Trang 35

Trang thiết bị chẩn đoán hình ảnh, chức năng: Máy MRI 1,5 Tesla, Máychụp CT Scanner, Xquang số hóa, Xquang tăng sáng truyền hình, điện tim,điện não, lưu huyết não, siêu âm 3D, 4D, Siêu âm tim, hệ thống nội soi tiêuhóa.

Trang thiết bị xét nghiệm: Máy xét nghiệm máu tự động (02 máy), máy xétnghiệm sinh hóa tự động (02 bộ), máy xét nghiệm điện giải, đông máu toàn bộ,nước tiểu, máy xét nghiệm miễn dịch và hệ thống ELISA bán tự động

Trang thiết bị phẫu thuật: Hệ thống phẫu thuật nội soi ổ bụng, các bộdụng cụ phẫu thuật thường, kính hiển vi phẫu thuật mắt Tại các phòng mổđược trang bị đầy đủ các trang thiết bị gây mê, hồi sức, máy theo dõi bệnhnhân, máy thở, hệ thống khử khuẩn, tiệt trùng

Các khoa được trang bị cơ bản các thiết bị phục vụ chăm sóc, theo dõi bệnhnhân và điều trị theo chuyên khoa: Máy đo huyết áp, theo dõi bệnh nhân tạigiường, máy hút dịch, máy thở, hệ thống tạo oxy, khí y tế trung tâm,…

Tại Khoa Dược, Trang bị có đủ các hệ thống labo pha chế, dụng cụ thínghiệm, chưng cất để thực hiện các kỹ thuật bào chế, pha chế thuốc dùngtrong Viện Hệ thống kho tàng đầy đủ, hợp chuẩn

Các trang thiết bị y tế đầy đủ là yếu tố tích cực hỗ trợ cho các hoạt độnghuấn luyện, BDCM cho cán bộ nhân viên y, dược của Viện Qua điều tra tácgiả thấy về cơ bản các trang thiết bị y tế đáp ứng với nhu cầu BDCM củaViện YHPKKQ

2.1.4.2 Trang thiết bị Y học Hàng không:

Trang thiết bị phục vụ chuyên ngành YHHK chủ yếu được lắp đặt ởKhoa Khám tuyển phi công và Khoa Nghiên cứu sinh lý Hàng không, phục

vụ cho việc giám định sức khỏe, khám tuyển sức khỏe cho phi công, nhânviên tổ bay và học viên đào tạo phi công

Trang 36

Từ trước năm 2015, các trang thiết bị YHHK của Viện YHPKKQ đa số

là cũ, tuổi thọ cao, khả năng vận hành hạn chế, chưa đáp ứng được với sựphát triển của ngành YHHK hiện đại

Từ năm 2015 đến nay, được sự quan tâm của Chính phủ, Bộ Quốcphòng, Cục Quân y, Viện YHPKKQ đã được đầu tư bước đầu những trangthiết bị YHHK hiện đại như Buồng giảm áp thế hệ mới, Hệ thống kiểm trathần kinh, tâm lý, Hệ thống đo thính lực, Máy tập phóng ghế nhảy dù.Nhữngtrang thiết bị YHHK hiện đại mới được đầu tư đặt ra những nhu cầu cấp thiết

về huấn luyện kỹ thuật vận hành, sử dụng phục vụ cho công tác chuyên mônchuyên ngành, đòi hỏi những định hướng về BDCM cho cán bộ, nhân viên y,dược

2.1.4.3 Phòng học, phòng thực hành:

Tổng diện tích mặt bằng của Viện là 32.000 m2, vị trí địa lý thuận lợi chocác hoạt động chuyên môn, huấn luyện và giảng dạy Viện có 01 hội trườnglớn 350 chỗ ngồi, hệ thống âm thanh ánh sáng đầy đủ, thuận lợi cho việc tổchức các hoạt động BDCM như phổ biến quán triệt kế hoạch, huấn luyện tậptrung, hội thi, hội thao chuyên ngành.Phòng học chuyên môn: 01 phòng, diệntích 70m2; số chỗ ngồi: 36 chỗ Phòng học tiền lâm sàng: 01 phòng, diện tích36m2; trang thiết bị gồm: Máy tập cấp cứu ngừng tim, mô hình tiêm tuyền,

mô hình chăm sóc bệnh nhân toàn diện Thư viện chuyên môn: 01 phòng,diện tích 70m2

Có 06 khoa lâm sàng, 04 khoa đảm bảo, 02 khoa chuyên ngành YHHK.Tại các khoa đều có các phòng thực hành chuyên môn, labo thí nghiệm với hệthống máy móc đồng bộ, tại mỗi khoa có ít nhất 01 phòng đảm bảo được choviệc lên lớp, giảng bài chuyên ngành cho các lớp nhỏ, số lượng 5-10 người học

Hệ thống thiết bị nghe nhìn đầy đủ, gồm 03 máy chiếu kèm màn chiếu,

02 hệ thống âm thanh đồng bộ Hệ thống phòng cháy, chữa cháy đồng bộ,hoạt động tốt Hệ thống xử lý nước thải y tế đầy đủ

Trang 37

Do đặc thù nghề nghiệp, việc BDCM cho đối tượng nhân viên y dược cónhững nội dung được thực hiện trực tiếp trên người bệnh, với sự thoả thuận chophép của bệnh nhân và phải tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, đồng thờiphải đảm bảo được các yếu tố an toàn người bệnh, kiểm soát nhiễm khuẩn, chốnglây nhiễm, lây chéo trong quá trình tổ chức thực hiện.

Như vậy, hệ thống phòng học, phòng thực hành của Viện YHPKKQ cơbản đáp ứng nhu cầu cho hoạt động BDCM của Viện

2.2 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho nhân viên y, dược tại Viện Y học phòng không-Không quân

2.2.1 Nhiệm vụ huấn luyện của Viện Y học Phòng không-Không quân

Viện YHPKKQ thực hiện chức năng nhiệm vụ trên hai nội dung chính:Bệnh viện đa khoa hạng 2 và Bệnh viện chuyên ngành Thực hiện nhệm vụhuấn luyện và huấn luyện lại về kiến thức chuyên môn kỹ thuật nhằm trang

bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp ngành Y, Dược cầnthiết cho người học là cán bộ, nhân viên y, dược để có thể nâng cao trình độnghề nghiệp, cũng cố kỹ năng chuyên môn, nâng cao hiệu quả công tác vàduy trì chất lượng hoạt động chuyên môn bệnh viện

Nhiệm vụ huấn luyện, huấn luyện lại cho đội ngũ nhân viên y dược lànhiệm vụ thường xuyên, được xác định trong chức năng nhiệm vụ ViệnYHPKKQ, kế hoạch công tác chuyên môn hàng năm và các kế hoạch ngắnhạn Thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, huấn luyện lại một mặt công tác chuyênmôn bệnh viện, chấp hành đúng quy chế bệnh viện của Bộ Y tế và Điều lệcông tác quân y Quân đội nhân dân Việt Nam

2.2.2 Thực trạng người học

Đối tượng cán bộ, nhân viên y dược ở bệnh viện đa dạng ở nhiều trình

độ, theo đó phân ra các nhóm chính: trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp và

Trang 38

Nhóm đối tượng trình độ sơ cấp bao gồm y tá, nữ hộ sinh, dược tá.BDCM trình độ sơ cấp để người học củng cố năng lực, thực hiện được cáccông việc đơn giản của một nghề; y tá cầnthành thạo các kỹ thuật đo mạch,huyết áp, nhịp thở, thực hành tiêm truyền, chăm sóc bệnh nhân nhẹ đến trungbình; với nữ hộ sinh, bên cạnh các kỹ thuật chuyên môn của y tá, cần thànhthạo các kỹ thuật cơ bản chăm sóc trẻ sơ sinh, sản phụ; đối với dược tá, cầnthành thạo các kỹ thuật pha chế đơn giản, kỹ thuật bảo quản thuốc, hoá chất,sắp đặt kho tàng và thống kê ghi chép.

Nhóm đối tượng trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ lớn trong ViệnYHPKKQ BDCM trình độ trung cấp để người học củng cố năng lực thựchiện được các công việc của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số côngviệc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹthuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm; trongbệnh viện, nhóm đối tượng trung cấp cần thành thạo các kỹ thuật chuyên mônthuộc lĩnh vực mình phụ trách, có khả năng làm việc độc lập và theo nhómtrong thực hiện các dịch vụ chuyên môn kỹ thuật ngành y dược, sẵn sàng cókhả năng tiếp thu đào tạo đối với dịch vụ kỹ thuật mới

Đối với nhóm đối tượng trình độ đại học, sau đại học, BDCM để củng cốnăng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp trở lên và giảiquyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; cókhả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc,hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc.Hoạt động BDCM cho nhóm đối tượng này chủ yếu thông qua các hoạt độngtập huấn, hội thảo và định hướng tự học tập, tự bồi dưỡng là chính, công tácquản lý của Viện YHPKKQ chỉ dừng ở mức độ quản lý hành chính, đăng ký

và ghi chép, hầu như không có các chính sách, biện pháp và giải pháp quản lýcan thiệp lên quá trình BDCM của nhóm đối tượng đó

Trang 39

Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài này chủ yếu đối với đối tượngnhân viên y, dược có trình độ trung, sơ cấp, được đào tạo cơ bản về chuyênngành, có chức trách, nhiệm vụ được quy định theo Quyết định số 47/QY-4 ngày17/01/2000 của Cục trưởng Cục Quân y ban hành Chức trách cán bộ, nhân viên

y dược bệnh viện Quân đội

Thực tế cho thấy nhu cầu BDCM cho nhân viên y, dược của ViệnYHPKKQ là khá lớn, đối tượng gồm 146 nhân viên y dược ở trình độ trung

sơ cấp Cơ cấu chuyên môn cụ thể theo chuyên khoa gồm nội chung 37 người(25,3%), ngoại chung 06 người (4,1%), truyền nhiễm 05 người (3,4%), Y học

cổ truyền 05 người (3,4%), tai mũi họng 05 người (3,4%), mắt 02 người(1,4%), răng hàm mặt 07 người (4,8%), kỹ thuật viên các chuyên khoa 34người (23,3%), dược sỹ trung học 29 người (19,8%), y tá 12 người (8,2%) vàdược tá 7 người (4,8%)

Cơ cấu nhân lực nhân viên y, dược là khá đa dạng và phong phú, baogồm hầu hết các chuyên ngành, phân bố ở toàn bộ các Khoa, Ban của Viện;thực trạng về cơ cấu nhân lực nhân viên y, dược có ảnh hưởng trực tiếp đếnquá trình tổ chức và quản lý hoạt động BDCM, ngay từ khâu lập kế hoạch vàchương trình BDCM cho các đối tượng Hiện tại vẫn còn một số lượng nhânviên y, dược có trình độ sơ cấp chiếm 15,8% Theo xu hướng nâng cao trình

độ nhân lực chuyên môn ngành y, dược nhóm đối tượng này sẽ giảm dần sốlượng Thông qua hoạt động BDCM thường xuyên, các đối tượng có trình độ

sơ cấp được củng cố, cập nhật kiến thức và duy trì năng lực chuyên môn đápứng với sự phát triển của ngành

2.2.3.Thực trạng người dạy

Các cán bộ chuyên môn của Viện YHPKKQ được phân công thực hiệnnhiệm vụ huấn luyện, huấn luyện lại trên từng lĩnh vực chuyên môn của bảnthân và theo chương trình được phê duyệt

Trang 40

Do tính chất đặc thù chuyên sâu và đa dạng lĩnh vực của ngành y dược,các cán bộ chuyên môn tham gia BDCM chỉ thực hiện nội dung thuộc lĩnhvực mình phụ trách, có tính chất chuyên gia và đa số là kiêm nhiệm; đốitượng nhân viên y dược cũng được phân loại theo từng lĩnh vực, từng chuyên

khoa để tổ chức BDCM cho phù hợp Giáo viên trình độ TS, CK II ngành y

chiếm 33,3%, ngành dược chiếm 25%; trình độ thạc sỹ, CKI ngành y chiếm58,3%, ngành dược chiếm 75% Như vậy hầu hết các giáo viên có trình độsau đại học, chiếm 92,2%, chỉ có 02 giáo viên trình độ đại học (Đại học điềudưỡng) và 02 giáo viên trình độ cử nhân (cao đẳng) điều dưỡng

Biểu đồ 2.1 Phân bố giáo viên tham gia BDCM theo trình độ

Các giáo viên kiêm nhiệm của Viện YHPKKQ đã nhận thức được vai tròcủa người thầy trong việc nâng cao chất lượng dạy học, qua đó góp phần nângcao chất lượng công tác chuyên môn chung Đội ngũ người dạy đã nêu caotình thần trách nhiệm trong giảng dạy, nghiêm túc thực hiện mọi nội quy, quychế trong huấn luyện, dạy học của Viện và của ngành Y

Đội ngũ giáo viên trong khoa đều sử dụng thành thạo phần mềmPowerpoint trong giảng dạy, tất cả các giáo viên đều tham gia viết giáo trình

để giảng dạy, các giáo viên đều có trình độ Anh văn từ B1 trở lên

2.2.4 Nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng chuyên môn

2.2.4.1 Nội dung bồi dưỡng chuyên môn:

Nội dung BDCM cho nhân viên y, dược bao gồm các nội dung về lýthuyết, thực hành, đã thể hiện được mục tiêu BDCM, huấn luyện ở các trình

độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng; phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp vàhình thức huấn luyện; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với từng nộidung huấn luyện Chương trình, giáo trình BDCM cho nhân viên y dược bệnhviện được phân loại theo từng lĩnh vực chuyên môn, nhiệm vụ BDCM(thường xuyên, đột xuất), theo hình thức bồi dưỡng (giảng lý thuyết, thựchành, hội thảo, tập huấn,…) Các chương trình và giáo trình BDCM được phê

Ngày đăng: 11/06/2017, 15:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Yên Bình (2013), Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ Y Dược cổ truyền và đánh giá một số giải pháp can thiệp, Luận án tiến sỹ y học, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục chocán bộ Y Dược cổ truyền và đánh giá một số giải pháp can thiệp
Tác giả: Trịnh Yên Bình
Năm: 2013
2. Bộ Quốc phòng, Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011-2020, Nxb Quân đội nhân dân, năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong quân độigiai đoạn 2011-2020
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
3. Bộ Khoa học công nghệ và môi trường (2010), Dự thảo tầm nhìn Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Dự thảo tầm nhìn ViệtNam
Tác giả: Bộ Khoa học công nghệ và môi trường
Năm: 2010
4. Bộ Y tế (2013), Thông tư hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
5. Bộ Y tế (2014), Tài liệu đào tạo quản lý đào tạo liên tục tại Bệnh viện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo quản lý đào tạo liên tục tại Bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
6. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012), Đại cương khoa học quản lý, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quảnlý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
7. Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011- 2020, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011- 2020
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Chiến lược phát triển Giáo dục - Đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011- 2020, Nxb Quân đội nhân dân, 2013. (trùng tài liệu số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Giáo dục - Đào tạo trong quân đội giai đoạn 2011-2020
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
9. Cục Quân y (2000), Chức trách cán bộ, nhân viên Quân y, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức trách cán bộ, nhân viên Quân y
Tác giả: Cục Quân y
Nhà XB: Nxb Quân độinhân dân
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w