Trong những năm gần đây, trước những tác động mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hội nhập quốc tế đã làm biến đổi các giá trị xã hội, đặc biệt là các giá trị nhân văn. Giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa sự phát triển của khoa học công nghệ và tác động tiêu cực của xã hội với những biểu hiện sa sút các giá trị nhân văn đã và đang là những thách thức, khó khăn đối với giáo dục xã hội nói chung, giáo dục học sinh ở các trường THPT nói riêng. Nghị quyết số 29NQTW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo
Trang 1MỤC LỤC
Tran g
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG
1.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ
2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 392.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 50
Chương 3 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN BA VÌ,
3.1 Yêu cầu đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục
đạo đức cho học sinh trung học phổ thông huyện Ba Vì,
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 683.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 91
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, trước những tác động mạnh mẽ của khoahọc, kỹ thuật và nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hội nhập quốc tế đã làmbiến đổi các giá trị xã hội, đặc biệt là các giá trị nhân văn Giải quyết hài hoàmối quan hệ giữa sự phát triển của khoa học công nghệ và tác động tiêu cựccủa xã hội với những biểu hiện sa sút các giá trị nhân văn đã và đang là nhữngthách thức, khó khăn đối với giáo dục xã hội nói chung, giáo dục học sinh ởcác trường THPT nói riêng Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “Chủ động phát huy mặt tích cực, hạnchế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩatrong phát triển giáo dục và đào tạo Giáo dục con người Việt Nam phát triểntoàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân;yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”[tr.121-122] Đối với giáo dục phổ thông, mục tiêu giáo dục được xác định là:
“Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực côngdân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho họcsinh Nâng cao chất lượng giáo dục tàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng,truyền thống, đạo đức, lối sống” [tr.123]
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là một trong những yếu tố cơbản trong đời sống xã hội của con người, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc Đạođức là một mặt nhân cách con người, nó chi phối các mối quan hệ giữa ngườinày với người khác, giữa mỗi con người với toàn thể đời sống xã hội và ngaytrong mối quan hệ nội tại của chính con người Vì thế giáo dục đạo đức chothế hệ trẻ luôn là vấn đề có tính thời sự đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
Cùng với việc xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.Điều 27, Luật giáo dục 2005 quy định mục tiêu giáo dục phổ thông: “Giúphọc sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹnăng cơ bản” [28] Học sinh THPT là một lực lượng đông đảo, hùng hậu
Trang 3chuẩn bị bước vào đời, thực hiện nghĩa vụ công dân, sẽ trở thành những chủnhân của đất nước nhưng lại đang là “ngòi nổ” của những quan niệm đạo đứcmới, đang có những biểu hiện sa sút về đạo đức, lệch chuẩn về hành vi ngàycàng tăng và trở thành mối lo của toàn xã hội Do đó một nền giáo dục đầytrách nhiệm với thế hệ trẻ có sự kết hợp hài hoà giữa những giá trị văn hoátruyền thống của dân tộc với những giá trị văn hoá hiện đại của nhân loại;đồng thời, kịp thời ngăn chặn, kiểm soát sự sa sút ý thức đạo đức, lý tưởngsống ở một bộ phận học sinh trước những ảnh hưởng mặt trái của cơ chế thịtrường và sự bùng nổ công nghệ thông tin là việc có ý nghĩa rất quan trọng
và cần thiết, là yêu cầu đòi hỏi khách quan, thường xuyên trong tổ chức cáchoạt động giáo dục cho học sinh
Ba Vì là huyện nằm ở phía Tây Bắc của thành phố Hà Nội, có tốc độ đôthị hoá cao, nơi đang chịu tác động rất lớn từ mặt trái của cơ chế thị trườngvới những biểu hiện và những diễn biến phức tạp về tệ nạn xã hội và nhữngrạn nứt trong đạo đức và lối sống Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến côngtác giáo dục đạo đức cho học sinh và đặc biệt là học sinh các trường THPTcủa huyện Những biểu hiện như bỏ học, đánh nhau, dối trá, lười lao động,sống hưởng thụ, ích kỉ…trong lối sống của học sinh ngày càng gia tăng đangảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường.Đứng trước tình trạng xuống cấp trong đạo đức, lối sống của một bộ phận họcsinh THPT đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, các nhà giáo dục, quản lýgiáo dục cần nhận thức sâu sắc về vấn đề này, đặc biệt là việc nghiên cứuquản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trên địa bàn huyện Ba vì
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông huyện Ba Vì, thành
phố Hà Nội hiện nay” với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Ba Vì, thành phố Hà
Nội trong giai đoạn hiện nay.
Trang 42 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, là vấn đề thường xuyênđược đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho cá nhân và cộng đồng tồn tạiphát triển Đó là thước đo thang giá trị của con người mọi thời đại và trởthành mục tiêu đồng thời cũng là động lực cho sự tiến bộ, phát triển của xã
hội, đặc biệt là GDĐĐ cho thế hệ trẻ rèn luyện, trưởng thành, góp phần hình
thành lý tưởng, đạo đức cao đẹp, lối sống nghĩa tình, từng bước hoàn thiệnnhân cách nhằm xây dựng sự phát triển bền vững cho quốc gia, dân tộc Phạmtrù đạo đức, GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ luôn được các nhà giáo vàcác nhà khoa học giáo dục quan tâm nghiên cứu
Trên cơ sở thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, C Mác vàPh.Ăngghen đã khắc phục những hạn chế của một số quan điểm về đạo đức vàGDĐĐ trước đây, kế thừa có chọn lọc những giá trị đạo đức tiến bộ để đưa ranhững quan điểm của mình về đạo đức Đạo đức không thể tách rời cuộc sốngcủa con người Đạo đức trước hết phải là sự phản ánh giá trị cao đẹp của đờisống con người trong mối tương quan giữa người và người, giữa cá nhân và xãhội Con người bằng hành động thực tế, quan hệ xã hội và kinh nghiệm lịch sửcủa mình để xây dựng nên những tiêu chuẩn, những giá trị đạo đức
Những tư tưởng về đạo đức của C.Mác và Ph.Ăngghen đã đượcV.I.Lênin kế thừa, bổ sung, phát triển hoàn chỉnh thành học thuyết Mácxít vềđạo đức cộng sản và hiện thực hoá trong cách mạng tháng Mười Nga
V.I.Lênin khẳng định giáo dục cộng sản chính là GDĐĐ cộng sản chủnghĩa và chỉ rõ trách nhiệm của việc giáo dục đạo đức cộng sản là của toàn xãhội và của tất cả mọi người; trước hết đó là trách nhiệm của nhà trường XôViết, của Đoàn thanh niên tiền phong, của các tổ chức đảng, đoàn, cán bộđảng, đoàn và các thế hệ cách mạng lớn tuổi, các lão thành cách mạng, củađội ngũ thầy, cô giáo Muốn GDĐĐ cộng sản cho thế hệ trẻ có kết quả tốt thì
Trang 5bản thân những người làm công tác giáo dục phải là người gương mẫu, trongsáng, phải là người tiêu biểu để thế hệ trẻ noi theo, nhìn vào và học tập; làmđược như vậy, đạo đức cộng sản mới thực sự trở thành đời sống tinh thần,mang tính giáo dục cao cho mỗi cá nhân và toàn xã hội.
Ở Việt Nam đã xây dựng mẫu hình nhà trường cũ là trường học theotruyền thống nho giáo coi trọng hai nội dung giáo dục Lễ và Văn, tuân theotrong hành vi ứng xử để thể hiện là con người có những phẩm chất cơ bản: nhân,nghĩa, trí, tín là đạo đức Sau cách mạng tháng Tám (1945) và trong suốt haicuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ nền giáo dục Việt Nam với mục đích giáo
dục con người phục vụ “Kháng chiến, kiến quốc” đã luôn gắn chặt hai mặt
đức và tài trong mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ, trong đó lấy đức làm gốc
Chủ tịch Hồ Chí Minh - người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà vănhoá lớn của nhân loại đã đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đứccách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Thống kê trong di sản Hồ ChíMinh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức Đó là cơ sở
lý luận xuyên suốt, luôn hướng dẫn, chỉ đường cho Đảng, quân đội, nhân dân
ta học tập, rèn luyện, phấn đấu trong sự nghiệp xây dựng đất nước thời kỳcông nghiệp hoá, hiện đại hoá
Về phương diện nghiên cứu đã có một số công trình nghiên cứu khoa họctrong nước đề cập vấn đề GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ Tiêu biểu như:
Tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức conngười Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước và nêu lên 6 giải pháp cơbản GDĐĐ cho con người Việt Nam thời kỳ này đó là: “Tiếp tục đổi mới nộidung, hình thức GDĐĐ trong các trường học, củng cố ý tưởng giáo dục ở giađình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việcGDĐĐ cho con người, kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện nghiêmchỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất cácphong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống
Trang 6cho toàn dân, trước hết cho cán bộ đảng viên, cho thầy cô các trường học; xâydựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ, nângcao nhận thức cho mọi người” [23, tr.171].
Tác giả Trần Hậu Kiểm và Đoàn Đức Hiếu trong cuốn “Hệ thống phạmtrù đạo đức học sinh và GDĐĐ cho sinh viên” đã khái quát hoá những phạmtrù đạo đức cơ bản đó là: lẽ sống, hạnh phúc, danh dự, nghĩa vụ, lương tâmthiện và ác…Những phạm trù này phản ánh nội dung khách quan của đờisống xã hội, nó có liên hệ hữu cơ với tình cảm con người và đời sống xã hội
Trong giáo trình “Đạo đức học” tác giả Phạm Khắc Chương và HàNhật Thăng đã nhấn mạnh nội dung giảng dạy và GDĐĐ cho học sinh, sinhviên hiện nay là đạo đức trong gia đình, đạo đức trong tình bạn, đạo đức trongtình yêu, đạo đức trong học tập, đạo đức trong giao tiếp
Tác giả Huỳnh Khải Vinh đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của lốisống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối sống đạo đức vớiphát triển văn hoá và con người, sư tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế,
xã hội tới lối sống đạo đức, chuẩn giá trị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả Nguyễn Kim Bôi nghiên cứu về “Một số giải pháp nâng caochất lượng GDĐĐ học sinh THPT ở trường THPT Trần Đăng Ninh – HàTây” Từ thực trạng đạo đức của học sinh ở một trường mà tác giả coi là tiêubiểu cho đặc điểm của nhiều trường ở nông thôn Việt Nam, tác giả đã đưa ramột số giải pháp để nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh THPT
Tác giả Nguyễn Thị Vinh đi sâu nghiên cứu thực trạng GDĐĐ cho họcsinh trường THPT Tân Mai – quận Hoàng Mai – Hà Nội, sau đó đề ra một sốbiện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh của trường
Tác giả Đặng Văn Chiến với đề tài: "Quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức cho học sinh THPT ở cụm trường Gia Lâm" (2006) Tác giả Trần Thế
Hùng (2006) với Đề tài: "Một số biện pháp đổi mới quản lý hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh THPT Quận 10 thành phố Hồ Chí Minh" Tác giả
Trang 7Trần Văn Hy với đề tài: "Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học
sinh THPT ở huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang" (2008) Từ góc độ của nhà
quản lý, tác giả đề xuất 7 biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ
cho học sinh Tác giả Đỗ Thị Thanh Thuỷ (2010) với đề tài “Biện pháp quản
lý giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng trường THPT Thành phố Hà Nội” Tác giả
Phạm Thanh Bình Quận Cầu Giấy Hà Nội với đề tài: "Quản lý hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh THPT Quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội" (2012).
Tóm lại, các công trình khoa học trên đây đã đi sâu vào việc nghiên cứu
thực trạng và tìm ra các giải pháp cho công tác giáo dục đạo đức và nâng caochất lượng giáo dục nhân cách cho học sinh phổ thông Tuy nhiên, quản lýhoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT nói chung và hoạt động giáodục đạo đức học sinh THPT của huyện Ba Vì nói riêng trong điều kiện pháttriển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay vẫncòn là vấn đề chưa được quan tâm đúng mức Đặc biệt là trước sự sa sút vềđạo đức của học sinh nói chung và chất lượng đạo đức của học sinh THPThuyện Ba Vì nói riêng đang có những diễn biến phức tạp, công tác quản lýgiáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT trên địa bàn của huyện đangđứng trước những thách thức mới cần phải được giải quyết, trong khi đó ởhuyện Ba Vì đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn hoạt động giáo dục đạođức học sinh THPT, đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao chấtlượng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Ba Vì,thành phố Hà Nội
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về GDĐĐ và quản lý hoạtđộng GDĐĐ cho học sinh THPT
Trang 8- Đánh giá thực trạng về GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ ở cáctrường THPT huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh THPThuyện Ba Vì, thành phố Hà Nội hiện nay
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục nhân cách cho học sinh THPT
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh THPT huyện Ba Vì, thành phố
Hà Nội
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh THPT huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Phạm vi khảo sát: Tiến hành điều tra, khảo sát đối với cán bộ, giáo
viên, học sinh ở 09 trường THPT huyện huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Giới hạn thời gian: Các số liệu được sử dụng từ năm 2012 đến 2015.
5 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT có vai trò,
vị trí rất quan trọng, trực tiếp góp phần phát triển toàn diện nhân cách họcsinh Hiện nay, quản lý hoạt động GDĐĐ ở các trường THPT huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội còn nhiều hạn chế, bất cập Nếu các chủ thể quản lý làm
tốt công tác chỉ đạo, điều hành; nâng cao nhận thức về GDĐĐ cho cán bộgiáo viên và học sinh; tạo điều kiện cho giáo viên sử dụng hiệu quả cáchình thức, phương pháp giáo dục, đồng thời phát huy vai trò của nhà
trường trong phối hợp với các lực lượng giáo dục trên địa bàn thì thì chất
lượng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn huyện
Ba vì sẽ được nâng cao, góp phần phát triển nhân cách học sinh, đáp ứngyêu cầu giáo dục toàn diện hiện nay
Trang 96 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vậtbiện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và quản lý giáo dục; trực tiếp là các nộidung liên quan đến giáo dục phẩm chất, đạo đức lối sống cho học sinh phổthông theo quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT trong điều kiệnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thời kỳ hội nhập quốc tế
Quá trình nghiên cứu vận dụng các quan điểm hệ thống - cấu trúc, lôgíc
- lịch sử và quan điểm thực tiễn để phân tích, đánh giá, xem xét các vấn đềnghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trên cơ sở nghiên cứu các văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, cáctài liệu, văn bản, tạp chí, sách báo, công trình khoa học có liên quan đến đề tàinghiên cứu, đề tài xác định cơ sở lý luận của GDĐĐ và quản lý hoạt độngGDĐĐ đối với học sinh
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra để khảo sát tìm hiểu các
vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân đề xuất biệnpháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh
Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý GDĐĐ cho học
sinh thông qua việc tổ chức học tập, rèn luyện học sinh tại các trường THPT
Phương pháp toạ đàm: Trực tiếp trao đổi với cán bộ, giáo viên và học
sinh về thực trạng đạo đức của học sinh và thực trạng quản lý hoạt độngGDĐĐ hiện nay
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến một số nhà sư phạm, nhà quản lý,
nhà khoa học đầu ngành, có kinh nghiệm và tâm huyết về các biện pháp quản
lý hoạt động GDĐĐ hiện nay
Trang 10Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các thuật toán thống kê để
tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu thu được phục vụ cho các vấn đề cần giảiquyết trong luận văn
7 Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý giáo dục đạo đức vàxác định được hệ thống biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giáodục đạo đức cho học sinh THPT huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu thamkhảo để tổ chức giáo dục đạo đức học sinh ở các trường THPT
8 Kết cấu của đề tài
Luận văn được kết cấu gồm: Phần mở đầu, 3 chương (9 tiết), kết luận,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1 Giáo dục đạo đức
Đạo đức là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội đặc biệt phảnánh các mối quan hệ của xã hội loài người Đạo đức được nảy sinh từ nhu cầu xãhội nhằm điều hoà và thống nhất giữa lợi ích chung của toàn xã hội với lợi íchriêng của mỗi cá nhân nhằm đảm bảo trật tự xã hội, thúc đẩy cá nhân, xã hội cùng
đi lên Để giải quyết các mâu thuẫn đó, xã hội đề ra những yêu cầu chuẩn mực giátrị được mọi người công nhận và được củng cố bằng sức mạnh của phong tục, tậpquán, của dư luận xã hội, của lương tâm mỗi con người
Bàn về đạo đức đã có nhiều định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau, tuynhiên có thể hiểu đạo đức một cách khái quát như: theo giáo trình Đạo đứchọc - “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc,quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của conngười trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiệnbởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [18,tr.8]; Học thuyết Mác-Lênin cho rằng: “Đạo đức là một hình thái ý thức xãhội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội Đạo đức
là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội
Vì vậy, tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo Và như vậy đạođức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc”; Theo Báchkhoa triết học của Nga (30 tập) có định nghĩa "Đạo đức là tập hợp nhữngnguyên tắc, quy chế, chuẩn mực nhờ đó con người điều chỉnh được hành vicủa mình" [30, tr.35]; Từ điển Tiếng Việt: "Đạo đức là những tiêu chuẩn,những nguyên tắc, quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau vàđối với xã hội Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những
Trang 12tiêu chuẩn, đạo đức của một giai cấp nhất định" [28, tr.211] Tác giả PhạmMinh Hạc định nghĩa “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định vàchuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người” Nhưng bên trong điều kiệnhiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồmnhững quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, vớicông việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống.
Như vậy, theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ vớiphạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhâncách, phản ánh bộ mặt nhân cách đã được xã hội hoá… đạo đức của mỗi cánhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thứcchính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại Về bản chất đạo đức là nhữngnguyên tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội được hình thành và pháttriển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện
Đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng những tiêu chuẩn đạo đức mà có Đạo đức của con người biến đổi cùng với sự biến đổi
và phát triển của các điều kiện kinh tế xã hội Theo thời gian phạm trù đạo đức ngày càng hoàn thiện và đầy đủ hơn Trong xã hội hiện nay, các giá trị đạo đức là sự kết hợp hài hoà các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc với đạo đức cách mạng và xu thế tiến bộ của thời đại nhân loại.
Từ cách tiếp cận trên, chúng tôi quan niệm: Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh điều chỉnh quan hệ về ý thức và hành vi của con người trong quan
hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, con người với tự nhiên và với bản thân.
Khái niệm đạo đức bao gồm 3 nội dung chính: Quan hệ đạo đức, ý thứcđạo đức và hành vi đạo đức Chúng có quan hệ hữu cơ với nhau:
Quan hệ đạo đức là hệ thống những mối quan hệ giữa con người vớicon người, giữa cá nhân với xã hội về mặt đạo đức
Trang 13Ý thức đạo đức là sự phản ánh những quan hệ đạo đức dưới dạngnhững quy tắc, chuẩn mực phù hợp với những quan hệ đạo đức Ý thức đạođức là tiêu chuẩn giá trị cao nhất tạo nên bản chất đạo đức của con người Nóbao gồm tri thức đạo đức và tình cảm đạo đức.
Hành vi đạo đức là sự hiện thực hoá ý thức đạo đức Nó làm cho ý thứcđược cụ thể hoá và trở nên có ý nghĩa
Chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam ngày nay được nhiềungười bàn đến Chúng ta có thể lấy kết quả nghiên cứu của chương trình khoahọc cấp Nhà nước: Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam tronggiai đoạn CNH-HĐH đất nước (Mã số KHXH-04-04-1996- 2000) làm nhữngchuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam hiện nay Những chuẩn mực đạođức đó là: Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có tinh thần quốc tế xã hội chủnghĩa trong thời đại mới, yêu lao động và có thái độ lao động đúng đắn, có tinhthần tập thể, ý thức cộng đồng và tình đoàn kết kỷ luật, có tinh thần nhân đạo
xã hội chủ nghĩa, có nếp sống văn minh, lành mạnh
Giáo dục đạo đức cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng nằm trongđịnh hướng chung của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở các trường học.Đây là quá trình lâu dài và liên tục, có sự tham gia của nhiều thành tố, trong
đó nhà trường giữ một vai trò rất quan trọng tác động đến người được giáodục nhằm biến ý thức đạo đức thành tình cảm, hành vi và thói quen đạo đức
Như vậy, giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình tác động có mục
đích, có kế hoạch, có tổ chức của nhà giáo dục và yếu tố tự giáo dục của học sinh nhằm trang bị những tri thức, ý thức đạo đức, niềm tin, tình cảm đạo đức
và quan trọng nhất là hình thành hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội
Giáo dục đạo đức trong nhà trường là một bộ phận không thể thiếuđược của quá trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình
Trang 14bộ phận khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáodục lao động hướng nghiệp Giáo dục đạo đức vừa có mối quan hệ mật thiếtvới các bộ phận khác trong quá trình giáo dục tổng thể, lại vừa có vai trò địnhhướng cho các hoạt động giáo dục khác và có ảnh hưởng quan trọng đến kếtquả giáo dục Trong quá trình giáo dục đạo đức, để đạt được kết quả cao cần
có sự tác động và phối hợp của rất nhiều yếu tố từ mục đích, kế hoạch, nộidung, phương pháp, phương tiện giáo dục đạo đức đến tác động của các lựclượng giáo dục và sự phối hợp của các lực lượng giáo dục Giáo dục đạo đứckhông chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật Nó đòi hỏi nhà giáo dục vừa phảituân theo quy luật hình thành và phát triển nhân cách vừa phải tìm và vậndụng khéo léo các biện pháp sư phạm tác động vào ý thức học sinh để tổ chức
và quản lý được các hoạt động giáo dục đạo đức một cách có hiệu quả Đây làquá trình lâu dài, phức tạp đòi hỏi phải công phu, kiên trì, liên tục và lặp đilặp lại nhiều lần
Nhiệm vụ và nội dung của GDĐĐ là cung cấp cho học sinh những trithức về các chuẩn mực đạo đức, gắn liền với các kinh nghiệm đạo đức qua đógiúp học sinh định hướng được các giá trị đạo đức đúng đắn, hình thành niềmtin đạo đức Mặt khác quá trình GDĐĐ còn nhằm bồi dưỡng cho học sinh xúccảm và tình cảm đạo đức; chuyển hoá chúng thành những động cơ bên tronglàm cơ sở điều chỉnh hành vi đạo đức; xây dựng cho các em những hành vi vàthói quen đạo đức, hình thành văn hoá ứng xử phù hợp Đó là một nhiệm vụ rấtquan trọng của nhà trường; là yêu cầu thường xuyên của công tác giáo dụctrong mọi thời đại đồng thời cũng là đòi hỏi cấp thiết nhằm nâng cao chấtlượng giáo dục nói chung hiện nay
1.1.2 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Học sinh trường THPT có độ tuổi từ 15 - 18 tuổi (từ lớp 10 - 12) Lứatuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của
Trang 15con người, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thiếu niên sang tuổi thanh niên
và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổikhó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”
Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đangtách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (ngườitrưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt pháttriển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này Ở lứa tuổi thiếuniên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều nàyphụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống,hoạt động… của các em
Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ pháttriển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnhsống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉbận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xuthế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình,của xã hội Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn:
sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặpkhó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống Điều
đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn
Xu hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo cáchướng sau: Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biếtnhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất
ít Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâmđến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếpvới người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trongcuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn Ở một số em khác không biểu
Trang 16hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình
có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập …
Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên cómột vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạpnhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởngthành sau này Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ, trong thời kỳ này những
cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đứccủa nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổithanh niên Chúng ta, những nhà giáo dục, cần hiểu rõ vị trí và ý nghĩa củagiai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên để có cách giáo dục và đối xử đúng đắnvới các em nhằm xây dựng cho các em một nhân cách toàn diện
GDĐĐ cho học sinh là một bộ phận của quá trình giáo dục ở nhàtrường, nhằm thực hiện mục tiêu dạy học hoàn thiện nhân cách học sinh đápứng mục tiêu, yêu cầu dạy học của nhà trường phổ thông trong giai đoạn mới
Hoạt động giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kếhoạch, được chọn lọc về nội dung, phương pháp, phương tiện phù hợp đếnhọc sinh nhằm hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi vàthói quen đạo đức giúp cho học sinh biết ứng xử đúng mực trong các mốiquan hệ giữa cá nhân với xã hội, cá nhân với lao động, cá nhân với mọi ngườixung quanh và với chính mình, góp phần quan trọng trong việc hình thành và
phát triển nhân cách của học sinh Hoạt động GDĐĐ hình thành cho con
người những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức
cơ bản của xã hội Nhờ đó con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúngđắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá suy nghĩ vê hành vicủa bản thân mình Vì thế, hoạt động GDĐĐ góp phần vào việc hình thành,phát triển nhân cách phù hợp với từng giai đoạn phát triển
Hoạt động GDĐĐ đạo đức cho học sinh THPT là quá trình tác động tớihọc sinh của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho học sinh ý
Trang 17thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và cuối cùng quan trọng nhất là hình thành cho
họ thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội Song giáo dục trong nhàtrường giữ vai trò chủ đạo định hướng GDĐĐ cho học sinh là bộ phận quantrọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa
Hoạt động GDĐĐ có mục đích, có chức năng chủ yếu là giúp học sinhnhận thức đúng các yêu cầu, chuẩn mực, các giá trị đạo đức xã hội và rènluyện các thói quen, hành vi đạo đức phù hợp Dưới sự tác động tích cực củacác lực lượng giáo dục trong nhà trường, các em học sinh phải tiếp nhận cácyêu cầu, chuẩn mực, giá trị tư tưởng, đạo đức, pháp luật, hướng nghiệp,chuyển hoá thành ý thức, niềm tin, thái độ, hành vi cá nhân, trong suốt hoạtđộng GDĐĐ thì nhà giáo dục và đối tượng giáo dục luôn có mối quan hệtương tác; nhưng tác động của nhà giáo dục đóng vai trò định hướng, sự tiếpnhận và chuyển hoá có ý thức các giá trị của đối tượng giáo dục đóng vai tròquyết định sự thành công của quá trình giáo dục
Từ cách tiếp cận trên tác giả quan niệm: Hoạt động giáo dục đạo đức
cho học sinh THPT là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể giáo dục đến học sinh nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng tình cảm, hình thành thói quen, hành vi đạo đức, góp phần hình thành phẩm chất nhân cách toàn diện cho học sinh, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu giáo dục của nhà trường.
GDĐĐ cho học sinh THPT là GDĐĐ đạo đức xã hội chủ nghĩa Nângcao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinhthần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập,
có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôntrọng pháp luật Là cách thức, con đường tác động có định hướng của chủ thểquản lý tới các thành tố tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinhnhằm làm cho mọi lực lượng giáo dục nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng
Trang 18của công tác giáo dục đạo đức, tích cực tham gia vào quá trình giáo dục đạođức để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã đề ra.
Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh THPT: Giúp cho học sinh
nhận thức đúng đắn các giá trị đạo đức Trong đó mục đích quan trọng nhấtcủa GDĐĐ là tạo lập những thói quen hành vi đạo đức, biết hành động theo
lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sựtiến bộ xã hội
Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức cho học sinh THPT:
- Giáo dục ý thức đạo đức Cung cấp cho học sinh những tri thức cơ
bản về các phẩm chất đạo đức và các chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó giúp
họ hình thành niềm tin đạo đức
- Giáo dục tình cảm đạo đức Khơi dậy cho học sinh những rung động,
những xúc cảm với hiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng và có thái độđúng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội và tập thể
- Giáo dục thói quen đạo đức Giáo dục hành vi thói quen, tổ chức cho
học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động đạo đức trong học tập, trongsinh hoạt và trong cuộc sống nhằm tạo được hành vi đạo đức bên trong và từ
đó có thói quen đạo đức bền vững
Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT:
- Trang bị cho học sinh những hiểu biết và niềm tin về các chuẩn mực
và quy tắc đạo đức khi giáo dục ý thức về mục đích cuộc sống bản thân, giáodục ý thức về lối sống cá nhân, giáo dục ý thúc về các mối quan hệ trong giađình, trong tập thể và ngoài xã hội, giáo dục ý thức về cuộc sống lao độngsáng tạo, về nghĩa vụ lao động và bảo vệ Tổ quốc
- Xây dựng hành vi và thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực
xã hội, tạo lập cho học sinh ý chí đạo đức vững vàng
- Hình thành cho học sinh nhu cầu, động cơ, tình cảm đạo đức phù hợpvới nền đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa
Trang 19Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THPT: Là thành tố quantrọng của quá trình GDĐĐ, nó tác động trực tiếp đến kết quả của quá trìnhGDĐĐ cho học sinh Có các nhóm phương pháp GDĐĐ cơ bản sau: Nhómcác phương pháp hình thành ý thức cả nhân; Nhóm phương pháp kích thíchhoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của học sinh.
Trong các trường THPT, giáo dục đạo đức là hoạt động rất quan trọng,không thể thiếu, là một nội dung để xem xét đánh giá học sinh Vì vậy,GDĐĐ là nhiệm vụ, trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, Ban Giám hiệu, cácthầy giáo cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục nhằm bồi dưỡng, hình thành chohọc sinh những tri thức đạo đức, chuẩn mực đạo đức, tình cảm đạo đức trongsáng, từ đó góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh với nhữngphẩm chất đạo đức mới, tạo nền tảng cho sự phát triển sau này
1.1.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Quản lý là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, nó đã xuấthiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội Với nhiều cách tiếp cận khácnhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm QLGD như sau:
Theo Aunapuff: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là một khoa học và làmột nghệ thuật tác động vào hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con ngườinhằm đạt được những mục tiêu xác định Hệ thống đó vừa động, vừa ổn địnhbao gồm nhiều thành phần có tác động qua lại lẫn nhau” [14, tr.54]
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: "QLGD là hệthống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thểquản lý nhằm làm cho hệ vận hành đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng,thực hiện các tính chất của nhà trường, xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêuđiểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ đưa hệ giáo dục tới mụctiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [ 29, tr.22]
Trang 20Tác giả Đặng Quốc Bảo khẳng định "QLGD là hoạt động điều hành,phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theoyêu cầu phát triển xã hội" [2, tr.37].
Như vậy: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
QLGD là một bộ phận thuộc quản lý nhà nước, chịu sự chi phối bởimục tiêu quản lý nhà nước Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, nhằm tạođiều kiện cho mọi người được học tập QLGD được hiểu là sự điều hành hệthống giáo dục quốc dân, điều hành các trường học trong hệ thống giáo dụcquốc dân Theo Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt độngđiều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đàotạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [1, tr.4]
Qua các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể khái quát: Quản lý giáo
dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản
lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo
sự phát triển mở rộng về cả mặt số lượng cũng như chất lượng để đạt mục tiêu giáo dục Hệ thống giáo dục là hệ thống mở, luôn vận động và phát triển
theo quy luật chung của sự phát triển kinh tế - xã hội và chịu sự quy định củakinh tế - xã hội Vì vậy, QLGD cũng phải luôn được đổi mới, đảm bảo tínhnăng động, khả năng tự điều chỉnh và thích ứng của giáo dục đối với sự vậnđộng và phát triển chung của xã hội
Quản lý giáo dục nhân cách nói chung và quản lý GDĐĐ cho học sinhTHPT nói riêng là một nội dung quan trọng trong quản lý giáo dục ở nhàtrường THPT Quản lý hoạt động GDĐĐ trong nhà trường là hướng tới việc
Trang 21thực hiện phát triển toàn diện nhân cách cho người học, giáo dục con ngườivừa hồng, vừa chuyên Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinhTHPT là hướng tới việc phát triển những phẩm chất cần và đủ mà xã hội yêucầu đối với các em để vươn tới một nhân cách toàn diện Quản lý hoạt độngGDĐĐ cho học sinh trường THPT là một mặt, một bộ phận, một nội dung củahoạt động giáo dục, là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫnnhững thói quen, hành vi, đạo đức, phù hợp với quy luật khách quan.
Quản lý hoạt động GDĐĐ trong trường THPT không chỉ bó hẹp ở việcquản lý hoạt động GDĐĐ theo những chuẩn mực xã hội mà phải coi trọngđến hoạt động GDĐĐ, hành vi, phẩm chất, nhân cách học sinh, tôn trọngngười già, dần dần nâng lên GDĐĐ nghề nghiệp cho học sinh Đây là hoạtđộng quan trọng giúp cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trườngcũng đã có nhận thức đúng đắn về những giá trị đạo đức, phẩm chất nhâncách, cách giao tiếp, cách ứng xử và giải quyết mối quan hệ thường ngày
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh phải kết hợp một cách sáng tạoquản lý hoạt động giáo dục của chủ thể quản lý và hoạt động tự giáo dục rènluyện của học sinh Trong hoạt động tự giáo dục học sinh được coi là chủ thể
tự quản lý quá trình giáo dục của mình thông qua các hoạt động xây dựng kếhoạch tự học tập, rèn luyện, tự kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục
Quản lý hoạt động GDĐĐ phải hướng tới việc làm cho mọi lực lượnggiáo dục nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ Quản
lý hoạt động GDĐĐ bao gồm việc quản lý mục tiêu, nội dung, hình thức,phương pháp giáo dục, huy động đồng bộ lực lượng giáo dục trong và ngoàinhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ GDĐĐ, biến quá trình giáo dụcthành quá trình tự giáo dục
Từ cơ sở lý luận về đạo đức, giáo dục đạo đức cho học sinh chúng tôi
quan niệm: Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh THPT là việc làm có kế
hoạch, có tổ chức, có điều khiển của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hoạt
Trang 22động GDĐĐ cho học sinh, nhằm bảo đảm cho hoạt động GDĐĐ diễn ra đúng yêu cầu, nội dung và đạt hiệu quả cao, đáp ứng mục tiêu yêu cầu giáo dục của nhà trường.
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh thực chất là hoạt động có tổchức, có mục đích, có chỉ đạo của nhà quản lý đối với toàn bộ lực lượng giáodục trong nhà trường, để hình thành, phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin,hành vi, thói quen đạo đức và hoàn thiện phẩm chất nhân cách theo mục tiêu,yêu cầu đào tạo của nhà trường, giúp học sinh biết ứng xử đúng mực trongquan hệ hàng ngày, giữa cá nhân với tập thẻ, với mọi người xung quanh trongquá trình học tập ở nhà trường phổ thông cũng như sau này
Mục đích của quản lý GDĐĐ cho học sinh là đảm bảo cho các hoạt động
giáo dục diễn ra theo một hệ thống nhất quán, phù hợp với quy luật giáo dục,nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các tiềm lực của nhà trường và xã hội cùngtham gia vào quá trình giáo dục GDĐĐ cho học sinh là một nhiệm vụ trung tâmcủa nhà trường, đòi hỏi mọi giáo viên, mọi tổ chức lực lượng trong nhà trườngcùng phải tham gia GDĐĐ cho học sinh không phải chỉ bằng những bài giảng
về đạo đức công dân, mà phải thông qua mọi loại hình hoạt động đa dạng củanhà trường Điều đó đòi hỏi quá trình GDĐĐ cho học sinh cần phải được quản
lý, tổ chức theo một kế hoạch chung, thống nhất cho mọi lực lượng, mọi hoạtđộng Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh có nhiệm vụ huy động mọi tiềmlực và tổ chức, phối hợp các lực lượng cùng tham gia vào quá trình giáo dục.Đảm bảo cho hoạt động của các lực lượng không mâu thuẫn với nhau mà phảicùng hướng tới một mục tiêu chung của nhà trường
Nội dung quản lý GDĐĐ cho học sinh là quản lý toàn bộ các lực lượng
tham gia vào quá trình giáo dục và mọi hoạt động của các lực lượng đó.Phương thức quản lý chủ yếu là thông qua hệ thống kế hoạch giáo dục của nhàtrường GDĐĐ cho học sinh bao giờ cũng diễn ra theo những quy luật của quátrình giáo dục, người quản lý có chức năng nắm quy luật đó và đề ra các
Trang 23nguyên tắc chỉ đạo hoạt động giáo dục sao cho phù hợp với quy luật Trên cơ
sở đó, xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục cho từngloại đối tượng, dự kiến phân chia thời gian theo thời khoá biểu của từng tuần,từng tháng, từng quý, từng học kỳ đến cả năm học, cả khoá học Tức là, ngườiCBQL nhà trường phải xây dựng được kế hoạch quản lý ngắn hạn, trung hạn,dài hạn cho các hoạt động GDĐĐ học sinh THPT
Chủ thể quản lý GDĐĐ cho học sinh trong nhà trường là đội ngũ CBQL
giáo dục và các tổ chức QLGD của nhà trường, đứng đầu là Hiệu trưởng nhàtrường Chủ thể quản lý vừa là cá nhân, vừa là tập thể Mọi hoạt động của chủthể quản lý GDĐĐ cho học sinh được thực hiện dựa trên các nguyên tắc quản
lý giáo dục nhà trường, trong đó nguyên tắc tập trung dân chủ được xác định lànguyên tắc cơ bản Ở nhà trường THPT, chủ thể quản lý GDĐĐ cho học sinhcũng đồng thời là chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đó; là người vừa phải
có kiến thức về QLGD, vừa phải có hiểu biết và kỹ năng thực tiễn về GDĐĐcho học sinh THPT
Đối tượng quản lý GDĐĐ cho học sinh là các tổ chức và cá nhân tham
gia vào quá trình GDĐĐ cho học sinh Trong đó, bao gồm cả nhà trường, giađình và xã hội, nhưng chủ yếu vẫn là đội ngũ giáo viên và học sinh của nhàtrường Học sinh là đối tượng quản lý của nhà trường, của gia đình và của xãhội, nhưng học sinh lại là chủ thể quản lý quá trình tự giáo dục, tự điều khiểncác hành vi đạo đức của chính bản thân mình Đối tượng quản lý chịu sự quản
lý của chủ thể quản lý, mọi hoạt động của đối tượng quản lý phải tuân thủtheo yêu cầu của chủ thể quản lý Trên cơ sở những yêu cầu của chủ thể quản
lý, đối tượng quản lý phải chuyển hoá những yêu cầu đó thành yêu cầu củachính bản thân mình Sự tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và đối tượngquản lý là sự tác động hai chiều Đối tượng quản lý tiếp nhận những tác độngcủa chủ thể quản lý một cách có ý thức, có chọn lọc Kết quả hoạt động củađối tượng quản lý cao hay thấp phụ thuộc vào thái độ tiếp nhận các tác động
Trang 24của chủ thể quản lý có tích cực hay không Kết quả hoạt động GDĐĐ cho họcsinh THPT cao hay thấp phần lớn phụ thuộc vào thái độ tích cực của đốitượng quản lý trong tiếp nhận các tác động giáo dục của chủ thể quản lý hoạtđộng GDĐĐ.
1.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
1.2.1 Quản lý mục tiêu và kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Trong mọi hoạt động của con người, vấn đề xác định đúng và quán triệtsâu sắc mục tiêu trong quá trình thực hiện là điều kiện quyết định cho kết quảhoạt động
Quản lý mục tiêu GDĐĐ cho học sinh phải bắt đầu từ xây dựng mụctiêu một cách phù hợp Đó là những phẩm chất cần có và có thể đạt được củahọc sinh trong môi trường giáo dục nhà trường, phù hợp với đặc điểm học sinh
và điều kiện kinh tế - xã hội địa phương Khi xây dựng mục tiêu giáo dục đạođức trước hết phải quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về nguồn lực conngười, về những chủ trương phát triển giáo dục, nhất là những quan điểm vềđổi mới toàn diện giáo dục đào tạo đã được nêu trong Nghị quyết của Đảng.Trên cơ sở những tư tưởng, quan điểm cơ bản của Đảng, căn cứ quan trọngkhác trong xây dựng mục tiêu GDĐĐ phải là mục tiêu giáo dục quốc gia đãđược xác định cho từng cấp học, bậc học, được các cơ quan QLGD địa phươngtriển khai Khi cụ thể hoá mục tiêu giáo dục của mỗi trường cần phải tính đếncác điều kiện thực hiện, những đặc điểm kinh tế xã hội địa bàn để phản ánhđược nét độc đáo của địa phương, vừa thuận lợi cho tổ chức thực hiện hoạtđộng giáo dục của nhà trường Như vậy, quá trình GDĐĐ cho học sinh vừaphấn đấu đạt được các tiêu chí chung của cả nước, vừa chứa đựng những giátrị riêng, phản ánh điều kiện và đặc điểm riêng của nhà trường
Trang 25Trên cơ sở xác định và cụ thể hoá mục tiêu GDĐĐ, việc xây dựng kếhoạch thực hiện các hoạt động giáo dục là nhiệm vụ quan trọng tiếp theo củaquản lý Đây là việc xác định những nhiệm vụ, những công việc cụ thể để đạtđược mục tiêu Từng công việc, nhiệm vụ giáo dục phải xác định rõ ngườichủ trì, lực lượng tham gia, các mốc thời gian hoàn thành, điều kiện, phươngtiện bảo đảm cho các hoạt động giáo dục Trong kế hoạch cần xác định cảnhững cách thức và tiêu chí đánh giá kết quả giáo dục từng giai đoạn nóichung cũng như đánh giá mức độ hoàn thành từng công việc, nhiệm vụ.
Quản lý kế hoạch GDĐĐ cho học sinh là quản lý toàn bộ khâu thiết kế
về các hoạt động GDĐĐ của nhà trường, bao gồm dự kiến mục tiêu, nộidung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, dự kiến tổ chức lực lượnggiáo dục và điều kiện cơ sở, vật chất đảm bảo cho các hoạt động giáo dục Kếhoạch đó phải được phổ biến đến mọi cá nhân và tổ chức có liên quan
Thực hiện kế hoạch GDĐĐ là hoạt động giáo dục cơ bản trong mốiquan hệ với các hoạt động giáo dục đào tạo chung của nhà trường Thực tếcho thấy, các thầy cô thường chú trọng trang bị kiến thức, quan tâm nhiều đếnkết quả nắm kiến thức, kỹ năng theo chương trình đào tạo nhiều hơn Cùngvới nhận thức đúng yêu cầu GDĐĐ, công tác quản lý phải bố trí lực lượngphù hợp, phân công trách nhiệm rõ ràng; bảo đảm các điều kiện về môitrường tự nhiên và xã hội; bảo đảm các phương tiện, kinh phí để các hoạtđộng giáo dục diễn ra đúng kế hoạch đã xác định
1.2.2 Quản lý chương trình nội dung và hình thức, phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Quản lý nội dung, chương trình GDĐĐ cho học sinh là quản lý toàn bộ
hệ thống các kiến thức, các giá trị, chuẩn mực, các kỹ xảo, kỹ năng cần trangbị thực chất của quản lý nội dung GDĐĐ là quán triệt mục tiêu, yêu cầuGDĐĐ của nhà trường vào nội dung giáo dục, bảo đảm cho nội dung GDĐĐ
Trang 26luôn nhất quán với mục tiêu, yêu cầu giáo dục của Nhà trường Quản lý nộidung là khâu thiết kế xây dựng chương trình, nội dung và quá trình thực hiệnchương trình, nội dung GDĐĐ cho học sinh từ việc triển khai kế hoạch, chođến phân công, phân cấp tổ chức thực hiện Vì vậy, để thực hiện tốt vấn đềnày, yêu cầu đội ngũ cán bộ quản lý phải quán triệt sâu sắc kế hoạch GDĐĐ,nắm chắc mục tiêu, yêu cầu nội dung GDĐĐ và quy định về khối lượng kiếnthức cần trang bị cho học sinh theo từng năm học và từng giai đoạn.
Quản lý phương pháp, hình thức tổ chức GDĐĐ cho học sinh, để đạt
được mục tiêu GDĐĐ cho học sinh đòi hỏi nhà quản lý phải tìm ra các hìnhthức phương pháp dạy học, giáo dục tối ưu và vận dụng linh hoạt các phươngpháp, hình thức đó nhằm giáo dục nhận thức, bồi dưỡng ý thức và hình thànhthói quen, hành vi đạo đức cho học sinh Theo đó, phương pháp, hình thức tổchức GDĐĐ cho học sinh bao gồm toàn bộ những cách thức tổ chức, cáchthức thao tác và biện pháp tác động, điều khiển của chủ thể quản lý đến đốitượng quản lý bằng hệ thống công cụ, phương tiện nhằm đạt được mục tiêuquản lý đã xác định Hệ thống công cụ quản lý gồm: Điều lệ nhà trường phổthông; Quy chế GD&ĐT và chương trình, kế hoạch, nội quy của các cấp Sửdụng đồng bộ nhiều phương pháp quản lý, song cần tập trung vào ba phươngpháp chủ yếu, đó là: Phương pháp hành chính; phương pháp giáo dục, thuyếtphục, nêu gương; phương pháp kích thích bằng vật chất, tinh thần và phươngpháp kiểm tra, đánh giá
Hiệu trưởng tiến hành các hoạt động quản lý, tổ chức lực lượng GDĐĐcho học sinh trường THPT Phân công rõ ràng từng nội dung công việc đếntừng người thực hiện Sự phân công phải cụ thể về nội dung công việc, thờigian hoàn thành, chất lượng sản phẩm Xác lập cơ cấu phối hợp với các bộphận chức năng để công việc được tiến hành đồng bộ, toàn diện, đúng tiến độcủa kế hoạch chung
Trang 271.2.3 Quản lý các lực lượng tham gia vào giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Chủ thể của quá trình GDĐĐ cho học sinh trong nhà trường THPT làđội ngũ giáo viên và học sinh Quản lý lực lượng GDĐĐ cho học sinh THPT,trước hết là quản lý đội ngũ giáo viên và học sinh
Quản lý học sinh trong quá trình GDĐĐ là kiểm soát các hoạt động củahọc sinh, quản lý các mối quan hệ và kết quả chuyển hoá những chuẩn mựcgiá trị đạo đức của xã hội thành thái độ, niềm tin, thói quen hành vi đạo đứctốt đẹp của từng học sinh Thông qua các loại hình hoạt động mà xây dựng hệthống thái độ, xây dựng các mối quan hệ, bồi dưỡng các phẩm chất, các kỹ năngsống cùng nhau cho học sinh Quản lý học sinh về thực chất là quản lý việc thựchiện các nhiệm vụ của học sinh trong quá trình học tập và rèn luyện thói quen,hành vi đạo đức Để quản lý đối tượng GDĐĐ là học sinh, đòi hỏi các nhàQLGD phải sâu sát nắm chắc số lượng, chất lượng, trình độ văn hoá của từnghọc sinh, đặc điểm tâm lý, lứa tuổi để phân loại và có những hình thức, biệnpháp quản lý, giáo dục linh hoạt, mềm dẻo cụ thể và ra các quyết định quản lýphù hợp; hướng dẫn học sinh lập kế hoạch rèn luyện thói quen, hành vi đạođức; tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch; thường xuyên theo dõi, tìm hiểunhững biểu hiện tích cực và tiêu cực trong quá trình học tập và rèn luyện thóiquen, hành vi đạo đức để có sự điều chỉnh kịp thời nhằm thực hiện thống nhấtmục tiêu quản lý đã xác định, đồng thời tiến hành có nền nếp các hoạt động;
tổ chức tốt các hoạt động tự quản lý và phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáodục tạo điều kiện cho học sinh phát triển, hoàn thiện nhân cách
Tham gia quá trình GDĐĐ học sinh còn có các giáo viên bộ môn, các
tổ chức quần chúng như: Đoàn thanh niên; công đoàn, phụ nữ; Hội đồnggiáo dục , đội ngũ GVCN phải phối hợp chặt chẽ với các bộ phận, các lựclượng trong nhà trường để quản lý, giáo dục, rèn luyện thói quen, hành vi
Trang 28đạo đức cho học sinh Mặt khác, học sinh vừa là chủ thể, vừa là đối tượngquản lý; cho nên, chỉ có thể nâng cao chất lượng quản lý GDĐĐ khi họcsinh ý thức đầy đủ về vai trò của tự quản lý, giáo dục và rèn luyện thóiquen, hành vi đạo đức
Ngoài các chủ thể bên trong nhà trường là giáo viên, học sinh và các tổchức đoàn thể; quá trình GDĐĐ cho học sinh THPT còn có các chủ thể bênngoài nhà trường đó là gia đình và các tổ chức xã hội Gia đình và các tổ chức
xã hội vừa là chủ thể QLGD, vừa là môi trường GDĐĐ cho học sinh Quan hệgiữa nhà trường với gia đình và các tổ chức xã hội là quan hệ phối hợp hoạtđộng giữa chủ thể bên trong với chủ thể bên ngoài nhà trường
1.2.4 Tổ chức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Để giúp học sinh có ý thức và tích cực tự tu dưỡng rèn luyện đạo đức,công tác quản lý phải làm cho thầy cô thực sự tôn trọng nhân cách học sinh,luôn tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội và có đủ điều kiện tự thể hiện mìnhtrước tập thể Các nội dung GDĐĐ phải được phân tích kỹ càng, thấy rõnhững nội dung nhận thức lý luận cần thầy cô chỉ bảo hướng dẫn; những nộidung cần trải qua thực hành trong cuộc sống để tổ chức cho học sinh trảinghiệm Từ đó, xây dựng kế hoạch giáo dục đan xen và luân phiên giữa nângcao nhận thức với trải nghiệm hành động thực tiễn
1.2.5 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Kiểm tra và điều chỉnh trong mọi hoạt động giáo dục đều là khâu chủyếu để phát hiện kịp thời, điều chỉnh một cách hiệu quả mọi sai lệch của quátrình giáo dục đối với mục tiêu đã đề ra ban đầu Trong GDĐĐ, công tác kiểmtra đánh giá là một nhiệm vụ khó khăn của công tác quản lý vì, đánh giá thái
độ, phẩm chất của một con người là một quá trình lâu dài, thông qua nhiềubiểu hiện trong thực tiễn cuộc sống Không giống như kiểm tra, đánh giá kiến
Trang 29thức của thầy cô, đánh giá kết quả giáo dục đạo đức là đánh giá giá tiếp thôngqua những biểu hiện Do đó không thể dựa vào đánh giá chủ quan của cánhân; không thể căn cứ vào một vài biểu hiện bên ngoài đơn giản và nhất làkhông được kết luận phiến diện vội vàng Cần có chiến lược tổ chức chu đáo,
có sự phân công theo dõi thường xuyên, đồng thời có sự phân tích xem xétmỗi hiện tượng, kết luận về từng con người một cách thấu đáo Người đượcphân công kiểm tra, đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức học sinh phải đượclựa chọn, huấn luyện về kỹ năng, phương pháp đầy đủ Mặt khác, cần có biệnpháp xây dựng những tiêu chí đánh giá một cách khoa học, bảo đảm tính côngbằng, công khai và khách quan
1.3 Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Tác động từ đặc điểm tâm sinh lý học sinh trung học phổ thông
Học sinh THPT là lứa tuổi đầu thanh niên Đó là lứa tuổi từ 15 đến
19 tuổi Đến cuối thời kỳ này học sinh đã trưởng thành về thể chất, về tinhthần và tư tưởng, đủ để sống độc lập, tự quyết định tham gia tích cực vàocuộc sống xã hội Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thiếu niên sang tuổithanh niên cho nên đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT có sựgiao thoa tâm lý thiếu niên và tuổi thanh niên Vì vậy có nhiều biểu hiệnmang tính "quá độ" Thêm nữa, học sinh THPT là độ tuổi trong giai đoạnphát triển nhanh về thể lực với tâm lý, sinh lý, thời kỳ chuyển tiếp từ trẻcon sang người lớn, các em có nhu cầu mạnh mẽ về tình bạn và tình yêu.Đặc biệt các em đang tự xây dựng cho mình những quan điểm riêng vàcũng đang quyết định tương lai cho bản thân Điều đó, được thể hiện quanhững đặc điểm sau: Giàu ước mơ hoài bão; muốn sớm có nghề nghiệp ổnđịnh; có khát vọng vươn lên tìm tới cái "Chân, Thiện, Mỹ" Muốn tỏ rõvai trò người lớn, tích cực tham gia các hoạt động xã hội đặc biệt là các
Trang 30hoạt động văn, thể, mỹ; nhanh nhận thức được các chuẩn mực giá trị quytắc yêu cầu của đạo đức xã hội có ý thức chính trị xã hội rõ nét, có lýtưởng và lối sống đúng đắn, có ý thức học tập và hướng nghiệp, tích cực,
có khả năng giao lưu phong phú, phóng khoáng, hào hiệp nhiệt tình trướccông việc Muốn lao vào những thử thách và khó khăn của cuộc sống,phát triển tình cảm phong phú và đa dạng, có thái độ xúc cảm đối với cácmặt khác nhau của đời sống như tình cảm dân tộc, quốc gia, nhân loại, cólòng nhân ái, có ý thức làm việc thiện Những học sinh có xu hướng xãhội: tế nhị, vị tha có tâm hồn phong phú thường có quan hệ bạn bè rộngrãi, nhà trường là một tập thể để có thể xây dựng mối quan hệ bạn bè,quan hệ đồng chí tốt đẹp tạo các điều kiện giúp các em xây dựng tình bạnchân chính, giúp đỡ nhau học tập, tu dưỡng để cùng tiến bộ Cùng đó mốiquan hệ tình bạn khác giới thân thiết dễ chuyển sang tình yêu nam nữthanh niên trong lứa tuổi này thường mến nhau vì cùng chung lý tưởng,
xu hướng và hứng thú Căn cứ vào kết quả điều tra, các nhà giáo dục phânthành 3 nhóm tính cách khác biệt:
Một là, nhóm học sinh chậm tiến có nhận thức sai lệch; thái độ không
hợp lý và hành vi kém thích nghi một cách có hệ thống Nhận thức hành vi,thái độ của nhóm này về cơ bản ít phù hợp với những chuẩn mực (đạo đức, tưtưởng chính trị, lối sống), ít được chấp nhận của xã hội
Hai là, nhóm học sinh bình thường chiếm số đông, không có gì xuất
sắc, nhưng cũng không có gì lệch lạc
Ba là, nhóm học sinh tiên tiến có những nhận thức đúng, thái độ, niềm
tin và những biểu hiện hành vi phù hợp với các chuẩn mực, được xã hội chấpnhận và mong đợi
Tuy nhiên, ở độ tuổi này còn thường có một số biểu hiện tiêu cực sau:Định hướng chính trị mờ nhạt, niềm tin chưa vững chắc, ý thức tổ chức, kỉluật, trách nhiệm công dân chưa cao, thường mặc cảm với thế hệ hơn tuổi, mơhồ với quá khứ, có xu hướng thực dụng, đua đòi, chạy theo thị hiếu tầm
Trang 31thường, dễ bị sa đà, ngông cuồng cuốn hút vào những biểu hiện tiêu cực, phảngiá trị đạo đức xã hội Đặc biệt những học sinh có đạo đức yếu kém thường
có thói quen: vô tổ chức kỹ luật, thích gây gỗ, quậy phá, ương bướng, thích
"trêu ngươi" người khác, thiếu trung thực, thích đàn đúm và dễ mắc phảinhững tệ nạn xã hội, trộm cắp, nghiện hút
Để công tác GDĐĐ ở nhà trường đạt được hiệu quả cao, các nhà quản
lý giáo dục cần nắm được đặc điểm tâm lý lứa tuổi trên, phân tích đượcnguyên nhân và tìm ra các giải pháp phù hợp
1.3.2 Tác động từ phía giáo dục gia đình
Trong quá trình tự rèn luyện tư cách đạo đức, học sinh luôn chịu sự tácđộng của nhiều yếu tố, trong đó gia đình là nền tảng sớm nhất, tác độngthường xuyên, liên tục và lâu dài nhất xã hội là môi trường mà các em sẽ tựthể hiện và biến đổi mạnh mẽ hàng ngày Gia đình với những mối quan hệmật thiết như: quan hệ giữa cha mẹ với con cái, quan hệ với họ hàng, cách đối
xử của cha mẹ đối với các thành viên trong gia đình là nơi nuôi dưỡng các
em từ bé đến lúc trưởng thành Nếu ví tâm hồn học sinh như những trang giấytrắng thì gia đình là người ghi những nét đầu tiên trên trang giấy trắng đó vìcha mẹ là thầy cô đầu tiên của con mình Đây là cội nguồn của mọi nguồnhình thành nhân cách học sinh "Nề nếp gia phong", "Nếp nhà" là những điềurất quan trọng mà người xưa đã từng nói về giáo dục gia đình
Mặt khác kinh tế gia đình cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa cha
mẹ và con cái, có thể cha mẹ chỉ lo làm kinh tế, ít quan tâm tới quá trình pháttriển về tâm sinh lý và các yếu tố tác động đến hành vi đạo đức của con emmình, hoặc ở một số gia đình có cuộc sống kinh tế đầy đủ, con cái có biểuhiện sai lệch chuẩn mực hành vi đạo đức là do phụ huynh chỉ cung cấp tiềnnhưng lại không quan tâm đến việc học tập, đời sống tinh thần, giao tiếp xãhội của con và việc GDĐĐ thì gần như phó mặc cho nhà trường, dẫn đến tìnhtrạng nhiều học sinh không được trang bị những kỹ năng sống tối thiểu Thực
Trang 32tế, được sống trong một gia đình hạnh phúc, mọi người thương yêu quý mếnnhau, giúp đỡ nhau trong công việc gia đình và xã hội, giữ đúng tư cách củamình trong gia đình chính là một nền tảng vững chắc để nhân cách mỗi đứatrẻ được hình thành và phát triển đúng hướng.
Ở tuổi đầu thanh niên, các em có xu hướng thoát khỏi phạm vi gia đình,nhưng chính đây là lúc gia đình có vai trò nền tảng, bệ phóng hết sức quantrọng trong việc định hướng, động viên, đồng thời ngăn ngừa và giám sát quátrình phát triển về nhận thức, ý thức tình cảm và hành vi đạo đức của các em Ởlứa tuổi này các em thường mặc cảm với thế hệ cao tuổi hơn, bàng quan vớiquá khứ, có hướng thực dụng, đua đòi cái mới, chạy theo thị hiếu tầm thường,
dễ bị xa đà, ngông cuồng, bị cuốn hút vào các tệ nạn xã hội, đi ngược lại vớicác giá trị nhân văn Nếu được sự giám sát, chăm sóc chu đáo của gia đình thìnhững nguy cơ trên được ngăn chặn, đẩy lùi đáng kể Gia đình không hạnhphúc, người thân không quan tâm là một thiệt thòi lớn đối với các em Đâycũng là một trong những nguyên nhân rất cơ bản dẫn đến tình trạng sút kémđạo đức của học sinh THPT hiện nay Trong mỗi gia đình, cha, mẹ là người trụcột, nhân cách đúng mực và sự quan tâm thoả đáng là điều kiện, cơ sở quantrọng giúp học sinh THPT hình thành và phát triển hành vi đạo đức Ngày nay,một bộ phận cha mẹ thường quá bận tâm với công việc, quá coi trọng đời sốngvật chất, mải lo làm giàu, cho nên đã không có hoặc có ít thời gian, điều kiện,thậm chí không quan tâm đến GDĐĐ, lối sống cho con cái Đây chính lànguyên nhân khiến các em thâm nhập vào các tệ nạn xã hội, buông thả mình,xói mòn về đạo đức, mất định hình về nhân cách, rồi từ đó đi vào ngõ cụt
“Không có gì tác động lên tâm hồn non trẻ bằng quyền lực của sự làm gương Còn giữa muôn vàn tấm gương, không có tấm gương nào gây ấn tượng sâu sắc, bền chắc bằng tấm gương của bố mẹ và thầy giáo” (Ni-vi-cốp).
1.3.3 Tác động từ phía nhà trường
Trang 33Nhà trường là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ,
có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, là yếu tố quan trọng nhất trong việc giáodục đạo đức học sinh, đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân đáp ứngnhững yêu cầu của xã hội Với những định hướng mục tiêu GDĐĐ theonhững chuẩn mực giá trị tiến bộ, đúng đắn, với hệ thống chương trình khoahọc, các tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo phong phú, các phương tiện
hỗ trợ giáo dục ngày càng hiện đại và đặc biệt với một đội ngũ cán bộ, giáoviên, giáo viên chủ nhiệm được đào tạo cơ bản, có đầy đủ phẩm chất và nănglực sẽ là yếu tố có tính quyết định hoạt động GDĐĐ cho học sinh Theo đó, vịtrí, uy tín và việc duy trì nề nếp, kỷ cương, tổ chức thực hiện các hoạt độnggiáo dục, bầu không khí sư phạm của nhà trường có ảnh hưởng không nhỏđến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh
Trong nhà trường, đội ngũ giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng
Họ là những người trực tiếp giảng dạy, giáo dục học sinh Thầy cô giáo, đặcbiệt là thầy cô giáo chủ nhiệm có thể nắm bắt được diễn biến tâm lý phức tạpcũng như kịp thời tư vấn, uốn nắn những hành vi đạo đức của học sinh tuổimới lớn Tấm gương về nhân cách, đạo đức và năng lực của thầy cô có ảnhhưởng trực tiếp và lâu dài đến ý thức và sự rèn luyện ý thức đạo đức của họcsinh THPT
1.3.4 Tác động từ phía xã hội
Đây là môi trường mà các em sẽ tự thể hiện và biến đổi mạnh mẽ hàngngày, yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến nhận thức về chuẩn mực đạo đức
và hình thành thế giới quan và nhân sinh quan của học sinh Xã hội ở đâymuốn nói đến môi trường giáo dục rộng lớn đó là cộng đồng nơi cư trú củahọc sinh Từ xóm giềng, khu phố đến các tổ chức đoàn thể, cơ quan nhà nướcảnh hưởng không nhỏ đến việc GDĐĐ cho học sinh Nếu được sống trongmôi trường xã hội lành mạnh, một cộng đồng xã hội tốt đẹp, văn minh, một
Trang 34môi trường ít những tệ nạn xã hội thì chắc chắn hoạt động giáo dục đạo đứccho học sinh sẽ có nhiều thuận lợi Tuy nhiên, mặt trái của xã hội lại là nhữngnguồn thông tin xấu từ những hành vi giao tiếp của một bộ phận con người, từmạng internet, nhật kí điện tử (blog), trò chơi trực tuyến (game online) Ngoài
ra, ảnh hưởng của sách báo, tạp chí, phim ảnh và các chương trình truyền hìnhcũng có tác động đáng kể Các sự kiện chính trị - xã hội diễn ra hàng ngàytrong cuộc sống và các hoạt động phong trào chưa có tác động nhiều đến nhậnthức của học sinh về trách nhiệm, nghĩa vụ của người công dân và phát triểntinh thần tập thể
Như vậy, việc giáo dục đạo đức nhân cách cho thế hệ trẻ là một quátrình lâu dài liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rấtnhiều đến các mối quan hệ xã hội phức tạp Vì thế, việc giáo dục nói chung vàgiáo dục trẻ em nói riêng luôn luôn đòi hỏi có sự phối hợp, kết hợp của nhiềulực lượng đoàn thể xã hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm thực sự sâu sắc củamọi người trong xã hội Điều này đã được chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra từ lâu:
“Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài
xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn ” (Trích bài nói tại
Hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 61957 )
Tóm lại, việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội đối với việcchăm sóc giáo dục trẻ đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của nềngiáo dục xã hội chủ nghĩa Sự phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục trên,trước là để đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức cũng như hoạt động giáo dụccùng một hướng, một mục đích, một tác động tổ hợp, đồng tâm tạo sức mạnhkích thích, thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách của trẻ, tránh sự tách rời mâuthuẫn, vô hiệu hoá lẫn nhau gây cho các em tâm trạng nghi ngờ, hoang mang,
Trang 35dao động trong việc lựa chọn, định hướng các giá trị tốt đẹp của nhân cách Sựphối hợp gia đình, nhà trường, xã hội có thể diễn ra dưới nhiều hình thức Vấn
đề cơ bản hàng đầu là tất cả các lực lượng giáo dục phải phát huy tinh thần tráchnhiệm, chủ động tạo ra những mối quan hệ phối hợp vì mục tiêu giáo dục đàotạo thế hệ trẻ thành những người công dân hữu ích cho đất nước
*
* *Đạo đức và GDĐĐ là vấn đề của mọi dân tộc, mọi thời đại Giáo dụcđạo đức thực chất là sự tác động có mục đích, có định hướng của nhà giáo dụcnhằm giúp đối tượng được giáo dục chiếm lĩnh các kiến thức, kỹ năng, kinhnghiệm lịch sử xã hội về các vấn đề đạo đức; giúp người học hình thành ýthức, tình cảm và các hành vi đạo đức phù hợp với các quy tắc, chuẩn mựcđạo đức xã hội chủ nghĩa Tăng cường chất lượng GDĐĐ là nhằm góp phầnphát triển nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ, giúp các em trở thành chủ nhântương lai có đầy đủ các phẩm chất đạo đức tốt đẹp và cần thiết đáp ứng nhucầu CNH-HĐH đất nước Đồng thời, GDĐĐ là một quá trình mang tính khoahọc và nghệ thuật phức tạp đòi hỏi phải có phương pháp, phương thức tiếnhành đúng đắn Đây là một nhiệm vụ khó khăn, là trách nhiệm của toàn xã hộitrong đó vai trò của nhà trường và các cấp QLGD là then chốt
Để làm cơ sở cho các chương sau, trong chương 1 đã trình bày các kháiniệm cơ bản, chỉ ra các yếu tố tác động tới hoạt động quản lý GDĐĐ cho họcsinh ở trường THPT, xác định các nội dung giáo dục và quản lý hoạt độngGDĐĐ cho học sinh THPT Để có được những biện pháp quản lý GDĐĐ khảthi và hiệu quả thì phải có sự đánh giá đúng về thực trạng quản lý hoạt độngGDĐĐ trong nhà trường sẽ được trình bày ở chương 2 của luận văn
Trang 36Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Đặc điểm tình hình giáo dục huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
2.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội
Ba Vì là huyện bán sơn địa nằm ở phía Tây Bắc thành phố Hà Nội.Diện tịch tự nhiên 424,5 km2, dân số hơn 27 vạn người, với 3 dân tộc Kinh,Mường, Dao Đơn vị hành chính gồm 30 xã, 1 thị trấn, có 7 xã miền núi, 13
xã vùng đồi gò còn lại là các xã đồng bằng ven sông và 01 xã giữa sông
Thế mạnh kinh tế của huyện là nông nghiệp Cây lúa được trồng ở cácvùng bãi ven sông Cây công nghiệp và cây ăn quả được trồng ở các vùng đồinúi Toàn huyện hiện có 1.200 ha chè, cung cấp nguồn nguyên liệu khá ổnđịnh cho các nhà máy chế biến chè ở địa phương Ngành chăn nuôi cũng pháttriển, đặc biệt là chăn nuôi bò thịt và bò sữa Huyện đang từng bước đẩy mạnh
cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao, tăng diện tích gieo trồng lên 28.567 ha.Phát triển chăn nuôi toàn diện, đa dạng hoá vật nuôi, tăng đàn bò lên 30 ngàncon, hàng năm cung cấp 4.200 tấn sữa và 1.400 tấn thịt Quy hoạch 4 khuvành đai rau sạch có diện tích hàng chục ha Với đặc thù đồng đất chia làm bavùng là núi, bán sơn địa và đồng bằng, những năm qua, huyện Ba Vì còn đẩymạnh thực hiện các dự án chăn nuôi bò sữa, bò thịt, trồng chè, nuôi trồng thuỷsản, chăn nuôi gia súc, gia cầm… phù hợp từng vùng để khai thác thế mạnh
Trong nhiều năm qua, Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện luôn quan tâmtới sự nghiệp giáo dục đào tạo Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dụcluôn là lực lượng nòng cốt có vai trò quan trọng trong việc phát triển sựnghiệp giáo dục của địa phương Tuy nhiên do đang trong quá trình chuyểndịch, hoàn thiện cơ cấu kinh tế xã hội nên đã tác động mạnh mẽ đến đời sống
Trang 37của các tầng lớp nhân dân Chính vì vậy, Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷban nhân dân huyện Ba Vì đang từng bước cải thiện và phát triển kinh tế, xãhội, ổn định an ninh trật tự, tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống vật chất và tinhthần của người
Chính trị, tôn giáo, dân tộc: Với truyền thống đoàn kết các dân tộc, vớibản chất cần cù sáng tạo trong lao động, sản xuất và bảo vệ tổ quốc, nhân dântrong huyện được sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương, của Thành Uỷ,UBND, HĐND và các Sở ban ngành thành phố, sự đóng góp của các doanhnghiệp, Đảng bộ và nhân dân huyện Ba Vì phấn đấu thực hiện thắng lợi nghịquyết đại hội Đảng bộ huyện Ba Vì lần thứ XXI đã đề ra (2010-2015) xâydựng Ba Vì trở thành huyện phát triển của thành phố Hà Nội vững bước trêncon đường hội nhập và phát triển
2.1.2 Khái quát về các trường THPT huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội
Hệ thống giáo dục của huyện gồm 4 cấp học: Mầm non, tiểu học, THPT
và THPT Toàn huyện có 114 cơ sở giáo dục, trong đó: 36 trường mầm non,
34 trường tiểu học, 35 trường THPT (trực thuộc huyện); 07 trường THPT, 01trung tâm giáo dục Thường xuyên và 01 trường phổ thông Dân tộc Nội trú(trực thuộc Sở GD&ĐT)
Trong đó, khối THPT huyện Ba Vì quy mô trường lớp phát triển, hệthống trường THPT trong huyện có 9 trường (5 trường công lập, 1 trường phổthông dân tộc nội trú, 1 trung tâm giáo dục thường xuyên và 2 trường THPTdân lập) Phong trào thi đua “hai tốt” luôn diễn ra với tinh thần “ Mỗi thầy côgiáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo” Chất lượng giáo dục ởcác ngành học, bậc học ngày càng được nâng cao trong huyện có nhiềutrường THPT, tiểu học đạt chuẩn quốc gia Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm
2012 đạt 99,52%, THPT Đạt 99,8%, đỗ đại học và cao đẳng đạt 51,53% Sốhọc sinh đạt giải cấp thành phố năm 2013 đạt 91 em có 11 gáo viên đạt giáoviên giỏi cấp thành phố Đời sống giáo viên ngày một gia tăng Trình độchuyên môn nghiệp vụ của giáo viên ngày càng được nâng cao và chuyên sâu
Trang 38Theo đú, cỏc nhà trường luụn coi trọng số lượng và chất lượng tuyểnsinh đầu vào để nõng cao chất lượng giỏo dục Hiện nay với những trườngTHPT cú chất lượng giỏo dục tốt thỡ rất thuận lợi trong việc tuyển sinh đầuvào lớp 10 Bởi đảm bảo được tiờu chuẩn, chất lượng tốt được thể hiện bằngđiểm chuẩn xột tuyển vào trường THPT hạng cao Ngược lại, những trườngTHPT cú chất lượng giỏo dục ở mức thấp hoặc trung bỡnh thỡ rất khú cho việctuyển sinh đầu vào được thể hiện ở điểm xột tuyển đầu vào ở mức thấp so vớitrường cao Cỏc trường trong huyện Ba Vỡ tỷ lệ xột tuyển điểm chuẩn đầu vào
từ 22 điểm đến 35 điểm, trong đú ba trường THPT Ngụ Quyền - Ba Vỡ,Quảng Oai, Bất Bạt điểm xột tuyển đầu vào từ 30- 35 điểm hàng năm
Các trờng trong huyện đều có chi bộ Đảng nhà trờng Các chi bộ hoạt
động với vai trò lãnh đạo đã đa các nhà trờng phát triển theo đúng chủ trơng,chính sách của đảng, nhà nớc, giữ vững truyền thống của nhà trờng
Với đặc điểm lứa tuổi của cấp học, đoàn thanh niên trong nhà trờng là
đoàn thể lôi cuốn mạnh mẽ, đông đảo các học sinh hăng hái hoạt động họctập, rèn luyện Các trờng trong cụm đều có tổ chức đoàn thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh Với cơ cấu mỗi tập thể lớp có một chi đoàn, các chi đoàn trongtrờng tạo nên Đoàn trờng Các đơn vị đoàn trờng thực sự góp phần quan trọngtrong việc phát triển và hoàn thiên nhân cách của các em học sinh
2.2 Thực trạng giỏo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thụng huyện Ba Vỡ, thành phố Hà Nội
2.2.1 Kết quả giỏo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thụng
* Cụng tỏc lónh đạo, chỉ đạo GDĐĐ cho học sinh
Chất lượng giỏo dục đạo đức phụ thuộc khỏ lớn vào hiệu quả, kết quảcụng tỏc chỉ đạo, lónh đạo của nhà trường mà chủ yếu là vai trũ của Hiệutrưởng và sự tham mưu của cỏc bộ phận, cỏ nhõn cú liờn quan như: Bớ thư chiđoàn, phụ trỏch đội, giỏo viờn chủ nhiệm Theo bảng 1 việc chỉ đạo hoạtđộng giỏo dục đạo đức cho học sinh được nhà trường rất quan tõm thụng quahoạt động chào cờ đầu tuần (thứ bậc 1), tiếp đến là giờ sinh hoạt lớp (thứ bậc2), cụng tỏc chủ nhiệm (thứ bậc 3) và thụng qua hoạt động Đoàn - Đội (thứ
Trang 39bậc 4) Các hình thức chỉ đạo ở mức thấp và ít được quan tâm là: Các hoạtđộng phối hợp; thông qua các hoạt động chủ điểm và thông qua lập kế hoạch.
Kết quả khảo sát cho thấy có 7/10 nội dung được nhà trường chú trọng
2,5
X chiếm 70% Tuy nhiên, vẫn còn 3/10 biện pháp chưa được quan tâmchiếm 30%
* Nhận thức về GDĐĐ cho học sinh ở các trường THPT huyện Ba Vì
- Nhận thức của CBQL, giáo viên và nhân viên về GDĐĐ cho học sinh
Qua khảo sát cho thấy: Hầu hết cán bộ quản lý và giáo viên nhà trườngđều nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho họcsinh khi cho ở mức độ rất quan trọng với các nội dung: Giáo dục đạo đức đểphát triển giáo dục toàn diện cho học sinh (84.1%); Giáo dục đạo đức nhằmphát triển và hoàn thiện nhân cách cho học sinh (75.0%)…Tuy nhiên, vẫn còn
có những cán bộ quản lý và giáo viên hiểu một cách chưa đầy đủ về ý nghĩacủa công tác này khi cho một số nội dung là không quan trọng như: Giáo dụcđạo đức để học sinh có ý thức bảo vệ môi trường (11.1%); GDĐĐ để học sinh
có ý thức giữ gìn của công (11.1%)… do đó phần nào có ảnh hưởng tới quátrình triển khai, tổ chức hoạt động GDĐĐ cho học sinh của nhà trường
Về nhận thức trước tình trạng đạo đức của học sinh THPT hiện nay ởphụ lục bảng 2 đa số CBQL, giáo viên và nhân viên đều cho rằng đang sa sút,
vì thế việc tìm ra những biện pháp để quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh hiệnnay là hết sức cần thiết
Về các lực lượng tham gia trong công tác GDĐĐ cho học sinh trongnhà trường, qua thăm dò 303 ý kiến của CBQL, giáo viên, nhân viên và họcsinh phụ lục bảng 3 chủ yếu do giáo viên chủ nhiệm, Đoàn TNCS Hồ ChíMinh, lãnh đạo nhà trường Sự tham gia của giáo viên môn công dân, giáo viên
bộ môn và nhân viên nhà trường ở mức độ thấp Về phía học sinh thì điều này dễhiểu, bởi vì các em thường xuyên được giáo viên chủ nhiệm, ban giám hiệu và
Trang 40Đoàn thanh niên quan tâm nhắc nhở
Nhận thức của phụ huynh về GDĐĐ cho học sinh
Qua khảo sát: 100% phụ huynh đồng ý nội dung về GDĐĐ để học sinhtrở thành những con ngoan, trò giỏi; 82.4% phụ huynh đồng ý nội dung vềGDĐĐ là để phát triển giáo dục toàn diện cho học sinh; 80.9% phụ huynhđồng ý nội dung về GDĐĐ để tạo nên những đức tính và phẩm chất tốt đẹpcho học sinh
Cụ thế, nhận thức về tình trạng đạo đức (bảng 4) và hoạt động GDĐĐ(bảng 5) học sinh THPT hiện nay, các phụ huynh đồng ý cho rằng tình hìnhđạo đức học sinh hiện đang sa sút, vì thế việc tìm ra những biện pháp để quản
lý công tác GDĐĐ học sinh là hết sức cần thiết Như vậy, phụ huynh đã nhậnthức được tầm quan trọng của công tác GDĐĐ cho học sinh Đây là yếu tốthuận lợi cho trường trong triển khai công tác GDĐĐ học sinh
Nhận thức của học sinh về GDĐĐ cho học sinh
Hầu hết học sinh cho rằng cần và rất cần các phẩm chất mà nội dungGDĐĐ mang lại: Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và yêu chuộng hoà bình(100%); Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, lao động cần cù, sáng tạo…(77.2%);Tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng (72.0%) Đây là yếu tố quan trọng đểhọc sinh chủ động, tích cực tham gia vào quá trình giáo dục và rèn luyện đạo
đức của nhà trường
Đồng thời, để xác định tầm quan trọng của công tác GDĐĐ ở trườngTHPT, chúng tôi đã trưng cầu ý kiến của 183 học sinh THPT thuộc 09 trườngtrong huyện về quan niệm giữa đạo đức và tài năng Kết quả thu được ở phụ lụcbảng 6, phần lớn học sinh có quan niệm đúng, đối với mỗi học sinh cần phải
có tài năng nhưng cũng cần phải có đạo đức Tuy nhiên, một bộ phận học sinhquan niệm còn lệch lạc cho rằng tài năng quan trọng hơn đạo đức.Từ quanniệm đó, chúng ta thấy được sự cần thiết phải tăng cường GDĐĐ cho họcsinh, đồng thời không ngừng nâng cao kiến thức các môn khoa học và kỹnăng tương ứng cho học sinh