Và mở đầu cho những thi phẩm phẩm trữ tình ấy, là Chợ Cát- một tác phẩm của người con vùng non nước Ninh Bình, tác giả Bình Nguyên Mảnh đất NB với thiên nhiên hữu tình, con người hào hoa
Trang 1- Kiến thức : Học sinh được bổ sung những hiểu biết về văn hoá địa phương qua
việc nắm được nội dung bài thơ Cát
- Rèn luyện kĩ năng : Tìm hiểu, sưu tầm thơ ca địa phương.
- Giáo dục : Tư tưởng nhân văn, tinh thần tự hào về văn hoá địa phương.
II Chuẩn bị :
1 Thày : Nghiên cứu, soạn bài, tranh ảnh
: sưu tầm tạp chí sách báo của địa phương
2 Trò : Đọc trước bài
III Tiến trình giờ dạy
1 ổn định tổ chức : Kết hợp trong giờ
2 Kiểm tra bài cũ:
Kiểm tra vở soạn của HS về văn bản Chợ cát
3 Bài mới.
Đặt vấn đề:
C1: Khép lại dòng văn học trung đại bác học, khuôn mẫu, mực thước từ hình tượng nghệ thuật đến cấu tứ văn bản Hôm nay, cô trò ta đến với dòng văn học lãng mạn, dạt dào cảm xúc trữ tình về quê hương, đất nước con người Và mở đầu cho những thi phẩm phẩm trữ tình ấy, là Chợ Cát- một tác phẩm của người con vùng non nước Ninh Bình, tác giả Bình Nguyên
Mảnh đất NB với thiên nhiên hữu tình, con người hào hoa thanh lịch đó trở thành đề tài, khơi gợi nguồn cảm xúc cho các thi sỹ của quê hương Ninh Bình và
Trang 2của cả những thi sỹ không phải sinh ra từ NB Nhà thơ Thanh Thản đó từng xúc động viết nên những vần thơ: Một miền đất núi NB quả là 1 vùng non nước – 1 miền thơ văn Trong giai đoạn VHHĐ VHNB đạt nhiều thành tựu rực rỡ với 1 loạt những tác giả tên tuổi như Tạ Hữu yên, Trần lâm Bình, Bình Nguyên, Kao Sơn và hôm nay chúng ta cùng nhà thơ BN về thăm chợ Cát tại vùng quê Khánh Trung – Yên Khánh NB.
C2: Chiếu clip một phiên chợ quê -> dẫn vào bài
4 Bài mới ( 33p)
Hoạt động của thày và trò Nội dung ghi bảng
GV: VHNB tự hào là 1 trong những
nền văn học địa phương ra đời sớm
nhất Cho đến nay VHNB đó có bề dày
truyền thống 1000 năm tuổi với các giai
đoạn phát triển như sau: ( máy chiếu)
? Đọc phần chú thích SGk ngữ văn địa
phương NB và cho biết vài nét về tác
giả Bình Nguyên?
HS trả lời, Gv trình chiếu chân dung và
vài thông tin về tác giả
Gv: Ông đã từng đoạt nhiều giải thưởng
của TW và địa phương Những tác
phẩm chính: Hoa thảo mộc, Trăng đợi,
Đi về nơi không chữ
? Nêu xuất xứ bài thơ?
2 Tác phẩm: - Trích trong tập thơ “ Đi
về nơi không chữ” – 2006
Trang 3đầu nằm trên bãi cát ven biển nên có
tên là Chợ Cát Chợ nằm trên đường
giao thông liên xã lại có sông Liễu
Tường liền kề ở hai phía tây và nam
nên không khí rất trong lành Chợ họp
và các ngày thứ 3, thứ 5 và chủ nhật
theo tuần lễ Có bán nhiều thóc gạo và
lơn con giống nhất là phiên chủ nhật
GV chiếu một số hình ảnh về chợ quê
GV chiếu bài thơ
Chợ Cát
Vẫn là sương gió ngày xưa
Vẫn là tiếng của nắng mưa đồng làng
Bao nhiêu cái phận mỏng tang
Bấy nhiêu cái vội cái vàng trao nhau
Sơn hào hải vị gì đâu
Mà sao kẻ trước người sau ngọt lời
GV hướng dẫn cách đọc: Đây là 1 bài
thơ trữ tình, nên khi đọc phải đọc chậm
II Tìm hiểu bài thơ:
Trang 4
rãi, thiết tha, tình cảm Cần nhấn giọng
ở điệp từ “Vẫn là”, tha thiết ở cách viết
“bao nhiêu, bấy nhiêu”, xúc động trầm
? Giải thích : sơn hào hải vị?
? Bài thơ được viết theo thể loại nào?
- Lục bát
? Phương thức biểu đạt của bài thơ?
- tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm
? Theo em, bài thơ có những nội dung
nào? Từ đó hãy xác định bố cục của bài
thơ này
- 2 Nội dung
+ Cuộc sống của người dân chợ Cát (4
câu đầu)
+ Tình người nơi chợ Cát (6 câu cuối)
? Ở 2 dòng thơ đầu tác giả sử dụng biện
pháp nghệ thuật gì? Phân tích tác dụng
của biện pháp nghệ thuật đó?
? Hai từ: sương gió, nắng mưa gợi tả
cuộc sống của người dân nơi đây ntn?
- Sương gió, nắng mưa: là hình ảnh của
sự lam lũ, vất vả của người dân quê nơi
1 Chợ Cát – phận người “mỏng tang”
- Điệp ngữ : vẫn là -> Khẳng định chợ Cát vẫn tồn tại, vẫn gắn bó với cuộc sống của người dân nơi đây
- Sương gió, nắng mưa: gợi cuộc sống của người dân lam lũ nhọc nhằn
Trang 5GV: Chỉ bằng 2 từ sương gió, nắng
mưa cũng đủ sức gợi về cuộc sống của
những người dân vùng quê nghèo này:
vất vả, lam lũ; quanh năm giãi nắng,
dầm sương, tắm mưa gội gió, và chợ
Cát bao đời nay vẫn còn, vẫn gắn bó
với quê hương KT – YK, vẫn chứng
kiến cuộc sống của con người xưa thế
và nay vẫn thế Điệp từ góp phần khẳng
định điều đó Phải chăng chợ Cát vẫn là
của riêng chợ Cát mà thôi
? Vậy nét độc đáo của chợ Cát là gì?
Chúng ta tiếp tục quan sát những dòng
thơ tiếp theo
? Có gì đặc biệt trong cách viết ở 2
dòng thơ này?
? Cách nói bao nhiêu… bấy nhiêu có ý
nghĩa gì?
- Cách nói quen thuộc của ca dao tạo
cho nhịp điệu của những câu thơ du
dương như khúc hát, song khúc hát bị
nghẹn lại không thành lời Vì sao vậy?
Chúng ta cùng xem xét tiếp ý thơ
? Em hiểu ntn về cụm từ “ cái phận
mỏng tang” ? mỏng tang thuộc loại từ
nào? Nó thường biểu hiện điều gì?
- Mỏng tang là 1 tính từ thể hiện tính
- Bao nhiêu: phận mỏng tang
-> thân phận con người mỏng manh, đáng thương
Trang 6chất bề ngoài của sự vật hiện tượng có
thể quan sát, cảm nhận được: khăn voan
mỏng tang, cánh chuồn mỏng tang…ở
câu thơ này tính từ mỏng tang đi với 1
khái niệm trừu tượng: phận người Đây
là cách dùng từ độc đáo của nhà thơ
Cách vận dụng từ này có tác dụng: gợi
về những thân phận con người, những
kiếp người mỏng manh, đáng thương,
tội nghiệp, khốn khó với cuộc sống bấp
bênh
Gv: Đúng vậy, người ta thường nói
phận bèo bọt, phận lênh đênh, phận
nghèo hèn, còn phận mỏng tang thì chỉ
có ở Bình Nguyên mới có Một từ mà
đầy sức gợi về thân phận con người của
1 phiên chợ quê nghèo
? Đối xứng với bao nhiêu cái phận
mỏng tang ấy là bấy nhiêu cái vội cái
vàng? Ở câu thơ này tác giả lại có cách
sử dụng từ ngữ độc đáo ntn?
- Vội vàng là 1 từ láy được tách ra từng
tiếng ghép với từ cái
? Cách tạo từ như vậy gợi cho em hiểu
thêm gì về phiên chợ và cuộc sống của
người dân quê nơi đây?
GV: Có lẽ vì cuộc sống mưu sinh vất vả
nhọc nhằn mà chợ Cát vẫn họp, vẫn tồn
- bấy nhiêu: cái vội, cái vàng
> phiên chợ và người đi chợ cũng vội vàng, tất bật
=> gợi về cuộc sống của 1 vùng quê nghèo với phận người vất vả lam lũ
Trang 7tại song cũng chỉ diễn ra trong vội vàng
thoáng chốc vì kẻ bán người mua tất cả
đều nhanh chóng trở về với những
mưu sinh thường ngày, với bao nỗi lo
toan, bởi cái khổ cái nghèo vẫn còn
chưa dứt Đây có lẽ là nét riêng của chợ
Cát vậy
GV: Đến đây chúng ta đó hiểu vì sao
nhịp diệu du dương của cách nói bao
nhiêu, bấy nhiêu lại khiến cho lời hát
khó cất lên tiếng hát bởi thân phận con
người mong manh, tội nghiệp Câu thơ
gợi cho người đọc chúng ta sự đồng
cảm, xót xa đến chạnh lòng
? Vậy những cái vội vàng trao nhau
trong phiên chợ ấy là gì? Chúng ta cùng
theo dõi đi hết phiên chợ để tìm và
hiểu
Gv chiếu đoạn thơ tiếp.
? Đọc tiếp những câu thơ tiếp? Nêu nội
dung?
? Theo em người dân trao đổi những gì
trong phiên chợ?
- Không hề có sơn hào hải vị
GV: sơn hào hải vị: những thứ quí hiếm
Trang 8? Mặc dù trao đổi mua bán không phải
là sơn hào hải vị song họ cư xử với
nhau như thế nào?
? Cử chỉ ngọt lời ấy cho thấy thái độ
của người trong phiên chợ ?
GV: Cách cư xử của những người trong
phiên chợ đáng quý đáng trân trọng biết
bao Không hề có những xô bồ, ồn ã,
mặc cả co kèo mà ta vẫn thường gặp ở
chợ mà ở đây người với người cư xử
đầy tình người, chân chất, thuần phác
? Mặc dự trao nhau chỉ là những sản vật
quê mùa nhưng tại sao tác giả lại gọi là
“ Những thứ vàng mười”?
- Cái quí ở đây không phải là giá trị vật
chất mà là cái tình người trao nhau Nó
quí sánh ngang bằng vàng mười
? Có ý kiến cho rằng bài thơ nhiều tình
nhân ái, nhiều nỗi niềm thân phận…? Ý
kiến của em?
Gv: Tuy chỉ là phiên chợ quê của
những người nông dân suốt đời lam lũ,
cuộc sống bấp bênh nhưng họ vẫn cư sử
với nhau đầy nhân nghĩa, chất phác,
thuần hậu, đáng quý Đúng là chất vàng
mười đáng quý, đáng trân trọng
? Đọc lại 2 câu cuối?
-> thái độ trân trọng sức lao động của mình và của người, cách cư xử đầy tình người
- Đồng xu lấm vị bùn – cái run run phận người -> nghệ thuật so sánh: khơi gợi sự
Trang 9? Cảm nhận của em về 2 câu cuối? Tác
giả sử dụng nghệ thuật đặc sắc nào?
Td?
-Tác giả sử dụng nghệ thuật so sánh:
Cuộc sống là sự chắt chiu, là sự nâng
niu, trân trọng những giá trị vật chất vô
cùng nhỏ bé Đồng xu lấm vị bùn đất
quê hương kia mang sức nặng nỗi vất
vả được ví như cái run run phận người
Nhà thơ đã rất sáng tạo đồng thời có
một trái tim giàu tình nhân ái, thổn thức
trước bao phận người Và cả chúng ta
cũng không khỏi se xót bởi cuộc sống
bấp bênh của những phận người mỏng
tang nơi đây Những câu thơ mang đậm
chất trữ tỡnh
GV chiếu lời bình của Trịnh Thanh
Sơn: Có ý kiến cho rằng bài thơ nhiều
tình nhân ái, nhiều nỗi niềm thân phận?
Ý kiến của em?
- Bài thơ đong đầy nỗi niềm nhân ái,
nỗi niềm thân phận của tác giả về phiên
chợ quê với những nét riêng, độc đáo
Cuộc sống vất vả nhưng giàu tình
người Bài thơ cũng khơi gợi trong
người đọc chúng ta niềm đồng cảm, sự
trân trọng nét đẹp tình người của quê
hương
đồng cảm, đồng tình đồng vọng
Trang 10? Em có nhận xét gì về giọng điệu của
bài thơ?Td?
- Giọng điệu thiết tha sâu lắng bởi chất
trữ tình được làm nên từ thể thơ lục bát
quen thuộc với cách ngắt nhịp bài thơ
sáng tạo, cách so sánh, cách nói của ca
dao Cả bài thơ chỉ có 1 dấu chấm duy
nhất ở dòng cuối cùng khiến cho lời thơ
như lời kể giãi bày tâm sự của tác giả -
người chứng kiến phiên chợ vùng quê
này Tình người đầy đặn, cao đẹp
? Nhắc lại những nét chính về nội dung
và nghệ thuật của bài thơ?
GV chiếu tổng kết
? Hãy viết 1 đoạn văn ngắn trình bày
cảm nhận của em về bài thơ?
II Tổng kết – luyện tập.
4 Sơ kết giờ học (5p) Đọc lại bài thơ.
5 Hướng dẫn về nhà:
Sưu tầm tiếp những tác phẩm văn học NB của các tác giả người NB
IV Rút kinh nghiệm
THAM KHẢO :
Trang 11Trong kho tàng thơ ca Việt Nam, đã có nhiều bài thơ viết về phiên chợ quê Mỗi bài đều in dấu ấn riêng độc đáo về một vùng quê nhất định Bài thơ "Chợ Cát" của Bình Nguyên cũng là một trong những bài thơ như thế Bài thơ không viết về một chợ quê chung chung mà đó là một phiên chợ quê cụ thể- phiên Chợ Cát.
Chợ Cát có gì lạ đâu? Mở đầu bài thơ vẫn là một khung cảnh rất đỗi quen thuộc:
Vẫn là sương gió ngày xưaVẫn là tiếng của nắng mưa đồng làngBao đời nay Chợ Cát vẫn thế, vẫn tồn tại, vẫn gắn bó với cuộc sống vất vả nhọc nhằn của những con người nơi đây Tất cả những nhọc nhằn lam lũ ấy được
nhà thơ giấu kín trong cái phận mỏng tang của những kiếp người Cách so sánh:
Bao nhiêu cái phận mỏng tang/ Bấy nhiêu cái vội cái vàng trao nhau đã làm nổi bật
một nét đẹp đó là tình người Có lẽ chính những cái vội vàng trao nhau ấy mà cảm
giác về nỗi vất vả nhọc nhằn của công việc, và nỗi bấp bênh của số phận con người
bỗng chốc tan biến, chỉ còn đọng lại cái tình- tình người Chợ Cát Cái tình ấy
càng được hiện hữu rõ hơn qua câu thơ tự vấn sau đây:
Sơn hào hải vị gì đâu
Mà sao kẻ trước người sau ngọt lời
Câu hỏi chỉ để hỏi thế thôi chứ tự nó đã có câu trả lời Hai chữ ngọt lời chẳng đã
nói lên tất cả đó sao? Mới hay, ngọt lời luôn là điều rất quan trọng, rất cần thiết
trong mọi quan hệ xã hội chứ đâu chỉ trong quan hệ bán mua?
Nói đến chợ là nói đến sự mua bán, đổi trao Họ bán gì, mua gì, bài thơ
không nói đến nhưng người đọc vẫn hình dung được, đó là những sản vật quen
thuộc của một vùng quê nghèo Những sản vật ấy không đáng giá nhiều về vật chất
nhưng mang đậm tình quê, tình người Đó mới chính là những thứ vàng mười quý
giá
Trang 12Nhưng ý tứ sâu xa nhất của bài thơ lại nằm ở hai câu kết:
Cầm đồng xu lấm vị bùnNhư cầm lên cái run run phận người
Đồng xu là giá trị vật chất nhỏ nhoi nhưng nó lại chứa đựng một giá trị tinh thần không nhỏ Nó mang sức nặng của nỗi vất vả nhọc nhằn Nó chứa đựng tình cảm ngọt lành, chân chất mà có lẽ có lẽ chỉ người dân quê mới có được Nhưng đó chưa phải là điều nhà thơ muốn nói Ta hãy đọc lại hai câu thơ này một lần nữa:
Cầm đồng xu lấm vị bùnNhư cầm lên cái run run phận người
Lối so sánh lại được tác giả sử dụng như là một cách để bày tỏ sự yêu mến,
cảm thông pha lẫn xót xa về số phận mỏng tang của những người nông dân nói
chung, của người dân Chợ Cát nói riêng Bài thơ đã khép lại trong niềm trăn trở,
nghĩ suy, gợi nhắc về những phận người mỏng tang như thế Về hai câu thơ này,
nhà thơ Trịnh Thanh Sơn đã có lý khi viết: "Cái run run phận người là một tổ hợp
từ cực kỳ sáng tạo, nhưng nó không được viết ra từ một trí óc thông minh và một bàn tay tài hoa mà nó được viết ra bằng một trái tim thổn thức! Đọc xong hai câu thơ ấy bất giác lòng ta cảm thấy "run run" trong một đồng cảm, đồng tình, đồng vọng"
Chỉ bằng mười câu thơ lục bát, nhà thơ đã tái hiện khá sinh động một phiên chợ Cát vừa quen, vừa lạ Quen vì hình như ta đã gặp một phiên chợ như thế ở một miền quê nào đó thuộc vùng Đồng bằng Bắc bộ Lạ vì cái tình người mộc mạc mà sâu lắng ở đây Đó chính là chất kết dính bền vững làm nên cái đặc sắc, cái riêng biệt của bài thơ Nét tiêu biểu độc đáo làm nên hồn quê của "Chợ Cát" không phải
là cảnh tấp nập bán mua nơi phố xá thị thành, mà đó chính là cái tình người, tình quê hoà quyện như một chất men say độc đáo Phải là người gắn bó máu thịt với quê hương, phải là người có tấm lòng đôn hậu Bình Nguyên mới viết được những
Trang 13câu thơ chan chứa tình người đến thế Đó chỉ là một trong rất nhiều lý do để bài thơ mãi mãi ở lại trong lòng người đọc.( Vĩnh Phúc)
TIẾT 42
Ngày soạn : 19/10/2016
TỔNG KẾT VỀ TỪ VỰNG( Từ đơn, từ phức, Từ nhiều nghĩa)
I Mục tiêu cần đạt:
- Kiến thức: tổng kết lại những kiến thức đã học về từ vựng trong chương trình Ngữ văn THCS Tích hợp với phần văn qqua các văn bản đã học, với phần TLV qua các giờ tập nói và tập viết
- Rèn kĩ năng : Hệ thống hoá các kiến thức đã học
Sử dụng vào bài viết
II Chuẩn bị:
1 Giáo viên: Nghiên cứu, soạn giáo án
2 Học sinh: Học bài cũ, làm bài tập, chuẩn bị theo hướng dẫn trong SGK
III Tiến trình lên lớp:
Trang 14Phương pháp Nội dung
VD: nhà, cây, biển, đảo, trời đất
b Từ phức là từ gồm 2 hoặc nhiều tiếng.VD: quần áo, trầm bổng, lạnh lùng, đẹp đẽ
Gồm 2 loại:
- Từ ghép: gồm những từ phức được tạo
ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa VD: điện máy, xăng dầu, máy nổrắng đen, chìm nổi, cá thu
- Từ láy: gồm các từ phức có quan hệ láy
âm giữa tiếng VD: dệp đẽ, lạnh lùng, nho nhỏ, bâng khuâng, xôn xao, xào xạc, tim tím, đo đỏ, chằm chằm, trơ trơ
2 Bài tập:
a, Xác đinh từ ghép, từ láy
+ Từ ghép: ngặt nghèo, giam giữ, bó buộc, tươi tôt, bọt bèo, cỏ cây, đưa đón, nhường nhịn, rơi rụng, mong muốn
+ Từ láy: nho nhỏ, gật gù, lạnh lùng, xa xôi, lấp lánh
b, Xác đinh từ láy tăng nghĩa và từ láy giảm nghĩa
- Giảm nghĩa: trăng trắng, đèm đẹp, nho nhỏ, lành lạnh, xôm xốp
Trang 15? Thành ngữ là gì?
VD: mẹ tròn con vuông, mặt xanh
lanh vàng, ăn cháo đá bát, chuột sa
chĩnh gạo, hàm chó vó ngựa, chó
cắn áo rách, mèo mả gà đồng, lên
vai xuống chó, đầu voi đuôi chuột,
? Thế nào là nghĩa của từ? Ví dụ
- Tăng nghĩa: nhấp nhô, sạch sành sanh, sát sàn sạt
II Thành ngữ:
1 Khái niệm:
- Thành ngữ là loại cụm từ có cáu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh.Nghĩa của thành ngữ: bắt nguồn trực tiếp
từ nghĩa đen các từ tạo nên nó; thông qua một số phép như ẩn dụ, so sánh
III Nghĩa của từ
1 nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ…) mà từ biểu thị
Trang 16HS lựa chọn cách giải thích đúng
? Thế nào là từ nhiều nghĩa và hiện
tượng chuyển nghĩa của từ
2 Cách giải thích a, hợp lí Có thể bổ sung các nét nghĩa” người phụ nữ có con do mình sinh ra hoặc con nuôi, nói trong quan
hệ với con”
- Cách giải thích b chưa hợp lí
- Cách hiểu c có sự nhầm lẫn giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển (thất bại là kinh nghiệm cho thành công)
IV Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ.
1 Từ có thể có một nghĩa hay nhiều nghĩa
- Từ một nghĩa: xe đạp, máy nổ, …
- Từ nhiều nghĩa: chân, mũi, xuân…
- Chuyển nghĩa là hiện tượng thay đổi nghĩa của từ, tạo ra từ nhiều nghĩa
- Trong từ nhiều nghĩa có:
+ Nghĩa gốc: là nghĩa xuất hiện từ đầu làm cơ sở để hình thành các nghía khác.+ Nghĩa chuyển: là nghĩa được hình thành trên cơ sở nghĩa gốc
Trang 17HS làm bài tập : giải nghĩa từ và
xác định hiện tượng nghĩa gốc hay
nghĩa chuyển
- Thông thường, trong câu, từ chỉ có một nghĩa nhất định Tuy nhiên , trong một số trường hợp từ có thể hiểu đồng thời theo cả nghĩa gốc và nghĩa chuyển
2 Bài tập:
Từ “ hoa” trong “ thềm hoa” , “lệ hoa” được dùng theo nghĩa chuyển Tuy nhiên không được xem đấy là hiện tượng chuyển nghĩa làm xuất hiện từ nhiều nghĩa, vì nghĩa chuyển này của từ hoa chỉ là nghĩa chuyển lâm thời, nó chưa làm thay đổi nghĩa của từ, chưa thể đưa vào từ điển
4 Củng cố:
GV khái quát bài học
5 Hướng dẫn học bài:
- Học bài, làm trước phần V - VI
IV Rút kinh nghiệm:
Trang 18
TIẾT 43
Ngày soạn: 20/10/2016
TỔNG KẾT VỀ TỪ VỰNG(Từ đồng âm Trường từ vựng)
1 Giáo viên: Nghiên cứu, soạn giáo án
2 Học sinh: Học bài cũ, làm bài tập, chuẩn bị theo hướng dẫn trong SGK
III Tiến trình lên lớp:
HS trình bày khái niệm
? HS so sánh với hiện tượng từ nhiều
nghĩa
V Từ đồng âm.
1 Từ đồng âm là những từ giống nhau
về âm thanh nhưng nghĩa khác xa nhau, không liên quan gì đến nhau
VD: Đường (để ăn- để đi)
- Hiện tượng từ nhiều nghĩa
- Hiện tượng từ đồng âm
Trang 19? Thế nào là từ đồng nghĩa
? HS chọn cách hiểu đúng
HS giải thích nghĩa “xuân”? Tác dụng
của việc thay thế từ “xuân” với từ “tuổi”
? Thế nào là từ trái nghĩa
HS tìm các cặp từ trái nghĩa
HS xếp từ trái nghĩa
2 a Có hiện tượng từ nhiều nghĩa
b có hiện tượng từ đồng âm
- Tác dụng:
+ Tránh lặp từ
+ Hàm ý chỉ sự tươi đẹp, trẻ trung khiến cho lời văn vừa hóm hỉnh, vừa toát lên tinh thần lạc quan, yêu đời
VII Từ trái nghĩa:
3.Cùng nhóm với “ sống - chết” có: chiến tranh- hoà bình; chẵn – lẻ
Trang 202 Sơ đồ
X Trường từ vựng:
1 Trường từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa
VD:
2 Trường từ vựng: “tắm” và “bể” cùng nằm trong trường từ vựng với “ nước” nói chung
+ Tác dụng: Tác giả dùng hai từ “tắm”
và “bể” khiến cho câu văn có hình ảnh sinh động và có giá trị tố cáo mạnh mẽ
4 Củng cố