Trong thời kỳ này, giữ vững lời thề độc lập, cả dân tộc Việt Nam đoàn kết xung quanh Bộ Tham mưu chiến đấu của mình đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “đem tất cả tinh thần và lực lượng
Trang 1LỜI GIỚI THIỆU
Thời gian qua, Viện Sử học phối hợp với Nhà xuất bản Giáo dục đã xuất bản ba tập trong bộ
biên niên nhiều tập “Việt Nam – những sự kiện lịch sử”, gồm:
- Việt Nam – những sự kiện lịch sử (Từ khởi thủy đến 1858)
- Việt Nam – những sự kiện lịch sử (1858 – 1918)
- Việt Nam – những sự kiện lịch sử (1919 – 1945)
Nay, chúng tôi xuất bản tập tiếp theo Việt Nam – những sự kiện lịch sử (1945 – 1975) Trong thời kỳ này, giữ vững lời thề độc lập, cả dân tộc Việt Nam đoàn kết xung quanh Bộ Tham mưu chiến đấu của mình đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” tiến hành hai cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ với biết bao mất mát hy sinh nhưng vô cùng oanh liệt suốt hơn 30 năm chống lại các thế lực đế quốc xâm lược hung bạo
Từ năm 1945 đến năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đã diễn ra vô cùng quyết liệt và kết thúc vẻ vang bằng thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, giải phóng một nửa đất nước, góp phần làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới
Từ năm 1954 đến năm 1975, nhân dân miền Bắc đã ra sức lao động, sản xuất, hàn gắn các vết thương chiến tranh và xây dựng miền Bắc ngày càng vững mạnh “làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà” Trong khi đó, ở miền Nam Việt Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngang nhiên phá hoại Hiệp định Giơnevơ, ra sức khủng bố, đàn áp nhân dân miền Nam, âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng, chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam Song những âm mưu đen tối của quân xâm lược và tay sai đã bị nhân dân cả nước kiên quyết chống lại Nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng, hợp đồng tác chiến trên tất cả các mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước
Trong tập sách này, các tác giả không chỉ trình bày các sự kiện về quân sự, chính trị mà còn nêu lên nhiều sự kiện khác thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại…
Trên cơ sở các tập biên niên về thời kỳ 1945 – 1975 của Viện Sử học (đã xuất bản trong các năm 1975, 1976 và 1990), trong tập biên niên này, các tác giả Trần Quỳnh Cư, Nguyễn Hữu Đạo, Đỗ Thị Nguyệt Quang, Nguyễn Tố Uyên, Lưu Thị Tuyết Vân đã cố gắng bổ sung thêm nhiều sự kiện còn thiếu, đổi mới cách thức trình bày để tiện tra cứu, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của bạn đọc gần xa muốn tìm hiểu về lịch sử Việt Nam
Dù có thể còn những thiếu sót, song chúng tôi cho rằng Việt Nam – những sự kiện lịch sử (1945 – 1975) là một cuốn sách rất bổ ích Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn
Hà Nội, tháng 4 năm 2002
PGS, TS Trần Đức Cường
Viện trưởng Viện Sử học
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Từ 1945 đến 1975 là một thời kỳ lịch sử oanh liệt của dân tộc Việt Nam Trong ba mươi năm
đó, dân tộc Việt Nam đã lập nên nhiều chiến công hiển hách
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình; Đảng Cộng sản Việt Nam từ một đảng hoạt động không hợp pháp trở thành một đảng lãnh đạo chính quyền trong cả nước
Năm 1954, với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ, nhân dân Việt Nam đã đập tan ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp ở ba nước Đông Dương, mở đầu cho sự phá sản chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, giải phóng một nửa đất nước, đưa cách mạng nước ta bước vào một thời kỳ mới
Từ tháng 7 – 1954 đến tháng 5 – 1975 là thời kỳ đấu tranh vô cùng sôi động và phong phú của cách mạng Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước ta
đã triệu người như một, đấu tranh vô cùng anh dũng và bền bỉ để tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: giải phóng miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhằm thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh
Trải qua 21 năm vừa xây dựng vừa chiến đấu, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi hết sức to lớn và oanh liệt Với thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao
là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới với quy mô lớn, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai và kết thúc 30 năm đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc
Ba mươi năm so với toàn bộ lịch sử dân tộc quả là ngắn ngủi, những dân tộc Việt Nam đã có những bước nhảy vọt kỳ diệu Có thể nói, hầu như không ngày nào là không có những sự kiện quan trọng cần ghi lại Trên khắp đất nước, từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau tới các hải đảo xa xôi, nơi đâu cũng có những sự tích anh hùng, những chiến công vang dội, những thay đổi lớn lao
Nhằm phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập, tìm hiểu lịch sử Việt Nam hiện đại và cung cấp cho bạn đọc những sự kiện lịch sử căn bản của thời kỳ cách mạng sôi động này, năm 1975 –
1976 Viện Sử học đã xuất bản cuốn “Việt Nam – những sự kiện 1945 – 1975”, do các tác giả Lưu Văn Trác, Phạm Quang Toàn, Lê Vũ Hiển, Bùi Hữu Khánh, Cao Văn Lượng biên soạn gồm hai tập: tập I (1945 – 1964) và tập II (1965 – 1975)
Lần này, Viện Sử học tiếp tục thực hiện chủ trương sửa chữa, bổ sung, hoàn chỉnh bộ Biên niên lịch sử Việt Nam, trong đó có bộ Biên niên lịch sử Việt Nam thời kỳ hiện đại (kể từ Lễ Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 2 tháng 9 năm 1945 đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ngày 30 tháng 4 năm 1975, với tên gọi mới là “Việt Nam – những sự kiện lịch sử (1945 – 1975)”
Lịch sử dân tộc Việt Nam trong thời kỳ 1945 – 1975 có hai dòng trái ngược dòng lịch sử chính thống, cách mạng của dân tộc và dòng lịch sử đối lập, phản bội lại lợi ích của dân tộc (bao gồm cả
Trang 3nguỵ quân, nguỵ quyền tay sai đế quốc xâm lược ngoại bang) Vì khuôn khổ có hạn của cuốn sách, chúng tôi chỉ đề cập dòng lịch sử đối lập, phản bội lại lợi ích dân tộc trong chừng mực có thể Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Rất mong được bạn đọc góp ý xây dựng
CÁC TÁC GIẢ
CHỮ VIẾT TẮT
- BCHTƯ Ban Chấp hành Trung ương
- BTVTƯ Ban Thường vụ Trung ương
- BCT Bộ Chính trị
- CHDC Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
- CHLB Cộng hòa Liên bang
- CHMNVN Cộng hòa miền Nam Việt Nam
- LĐVN Lao động Việt Nam
- LLVTNDGP Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng
- MNVN Miền Nam Việt Nam
- TƯCMN Trung ương Cục miền Nam
- UBHC Ủy ban hành chính
- UBKCHC Ủy ban kháng chiến hành chính
- UBND Ủy ban nhân dân
- UBTƯ Ủy ban Trung ương
- UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Trang 4- VNCH Việt Nam Cộng hòa
- VNDCCH Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- VNGPQ Việt Nam giải phóng quân
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập
Hàng chục vạn nhân dân Hà Nội và các tỉnh lân cận tham dự cuộc mít tinh lớn tổ chức ở Vườnhoa Ba Đình (Hà Nội) Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trong đó đoạnkết nêu rõ: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gangóc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phảiđược độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnhtrọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập.Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vữngquyền tự do, độc lập ấy”
Tiếp theo, Chính phủ Lâm thời tuyên bố nhậm chức Chính phủ Lâm thời gồm 13 bộ: Ngoạigiao, Nội vụ, Thông tin – Tuyên truyền, Quốc phòng, Thanh niên, Kinh tế Quốc gia, Cứu tế xã hội, Tưpháp, Y tế, Giao thông – Công chính, Lao động, Tài chính và Quốc gia Giáo dục
Từ đó, ngày 2-9 trở thành Ngày Quốc khánh của dân tộc Việt Nam
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình (TLI002287)
Ngày 3 tháng Chín 1945
Chính phủ Lâm thời họp phiên đầu tiên
Chính phủ đã thảo luận và tán thành 6 vấn đề cấp bách nhất do Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra: 1/Phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói, mở ngay cuộc lạc quyên gạo để giúp đỡngười nghèo; 2/ Mở chiến dịch chống nạn mù chữ; 3/ Tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cửvới chế độ phổ thông đầu phiếu, soạn thảo Hiến pháp dân chủ; 4/ Mở chiến dịch giáo dục cần, kiệm,liêm, chính để bài trừ những thói hư tật xấu của chế độ thực dân để lại; 5/ Bỏ ngay thuế thân, thuế chợ,thuế đò, tuyệt đối cấm hút thuốc phiện; 6/ Ra tuyên bố tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương giáo
Ngày 4 tháng Chín
Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 4/SL tổ chức Quỹ Độc lập
Trang 5Sau cách mạng thành công, chính quyền nhân dân gặp khó khăn rất lớn về tài chính Mọi chitiêu của Chính phủ đều dựa vào dân Bởi thế, Chính phủ ra sắc lệnh tổ chức Quỹ Độc lập là nhằm huyđộng sự đóng góp của nhân dân Tiếp theo, từ ngày 17 đến 24-9, Chính phủ lại phát động “Tuần lễvàng” Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân đã quyên góp được 370 kg vàng, 20 triệu đồng cho QuỹĐộc lập và 40 triệu đồng cho quỹ Quốc phòng
Ngày 5 tháng Chín 1945
- Chính phủ Lâm thời ra Sắc lệnh số 15/SL ấn định Quốc kỳ Việt Nam hình chữ nhật, bề ngang bằng hai phần ba bề dài, nền đỏ tươi, ở giữa có sao năm cánh màu vàng tươi
- Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 7/SL thủ tiêu những luật lệ cũ cấm chợ ngăn sông
Sắc lệnh quy định, phải chống nạn chợ đen, đầu cơ tích trữ để tạo điều kiện cho buôn bán thuậnlợi, lưu thông hàng hoá dễ dàng, nhất là việc chuyên chở thóc gạo giữa các vùng trong cả nước
Ngày 7 tháng Chín 1945
- Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 11/ SL bãi bỏ thuế thân
Đây là “một thứ thuế vô lý, trái ngược với tinh thần chính thể Cộng hòa Dân chủ”, đánh vàomỗi người đàn ông từ 16 tuổi trở lên Mặc dù thứ thuế này đang chiếm 60% tổng số thuế trực thu,nhưng Chính phủ vẫn cương quyết bãi bỏ Sắc lệnh cũng đề ra những phương hướng để từng bước xâydựng chế độ thuế khóa mới theo nguyên tắc “đỡ gánh nặng cho dân và hợp với công lý”
Tiếp theo, Chính phủ ra một loạt sắc lệnh, nghị định bãi bỏ nhiều thứ thuế khác như: bãi bỏ thuếmôn bài chính tăng dưới 50 đồng và miễn hẳn số bách phân phụ thu đối với các hạng môn bài trên(Sắc lệnh số 38/SL ngày 27-9-1945); bãi bỏ thuế thổ trạch (Sắc lệnh số 15/SL ngày 30-1-1946); bãi bỏthuế xe tay, xe đạp (Nghị định số 301/TC ngày 4-4-1946); bão bỏ thể lệ bắt nông dân nộp thuế thầudầu, vừng, vỏ nhuộm…; Miễn thuế điền thổ cho những vùng bị lụt và giảm 20% trong toàn quốc(Nghị định số 19/TC ngày 26-10-1945); riêng đối với Nam Bộ và Trung Bộ, Chính phủ tạm thời đìnhchỉ việc thu thuế (Sắc lệnh số 65/SL ngày 10-5-1946)
- Thành lập Bộ Tổng tham mưu
Trong chỉ thị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: Bộ Tổng tham mưu là cơ quan tham mưu quân sự
cơ mật của đoàn thể, cơ quan đầu não của quân đội, có nhiệm vụ: “tổ chức, huấn luyện quân đội chogiỏi, tổ chức nắm địch, nắm ta rõ ràng; bày mưu kế khôn khéo; tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật,nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng”
Ngày 8 tháng Chín 1945
- Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 14 – SL quy định trong thời hạn hai tháng sẽ tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội
* Xem: 17-10-1945 và 18-12-1945
- Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ
Nha Bình dân học vụ có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc chống nạn mù chữ Một năm sau,trong cả nước, hơn một triệu người đã biết đọc biết viết
Một lớp học Bình dân học vụ (Binhdanhocvu)
Trang 6Ngày 9 tháng Chín 1945
Ngày truyền thống của bộ đội thông tin Việt Nam
Ngày 10 tháng Chín 1945
Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 27/SL thành lập Sở Thuế quan và Thuế gián thu
Tiếp theo, Chính phủ Lâm thời thành lập Nha Thuế trực thu, Nha Thuế trước bạ, công sản vàđiền thổ…
Ngày 13 tháng Chín 1945
Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 33C/SL thiết lập các Toà án quân sự
“Điều 1: Sẽ lập Toàn án quân sự ở Bắc Bộ: Tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình; ởTrung Bộ: tại Vinh, Huế, Quảng Ngãi; ở Nam Bộ: tại Sài Gòn, Mỹ Tho
“Điều 2: Tòa án Quân sự sẽ xử tất cả những người nào phạm vào một việc gì có phương hại đếnnền độc lập của nước VNDCCH; trừ phi phạm nhân là binh sĩ thì thuộc về nhà binh tự xử lấy theoquân luật”
Ngày 29-9-1945, Chính phủ ra sắc lệnh số 40/SL lập thêm tòa án quân sự ở Nha Trang Ngày13-9 trở thành Ngày truyền thống của ngành Tòa án Quân sự
Ngày 15 tháng Chín 1945
Ngày truyền thống của bộ đội Quân giới Việt Nam
Sắc lệnh thành lập phòng quân giới với hai nhiệm vụ: thu thập, mua sắm vũ khí và tổ chức cơ sởsản xuất vũ khí
Tháng Chín 1945
- Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho học sinh
Nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên của nước VNDCCH, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chohọc sinh cả nước, trong đó có đoạn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc ViệtNam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính lànhờ một phần lớn ở công học tập của các em”
- Đổi tên Việt Nam Giải phóng quân thành Vệ quốc đoàn
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chấn chỉnh, mở rộng và đổi tên VNGPQ thành VQĐ, quân độicủa nhà nước VNDCCH Thực hiện chỉ thị đó, từ một số chi đội, đại đội, với khoảng 5.000 ngườitrong những ngày Tổng khởi nghĩa, đến cuối năm 1945, VQĐ đã phát triển lên 50.000 người, gồm 40chi đội (mỗi chi đội từ 1.000 đến 2.000 người)
Ngày 20 tháng Chín 1945
Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 34/SL thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp nước VNDCCH.
Ủy ban gồm có 7 người: Hồ Chí Minh, Vũ Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến,Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu
Ngày 23 tháng Chín 1945
Nam Bộ bắt đầu kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược
Trang 7Ngày 2-9, trong lúc hàng chục vạn nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn mít tinh mừng độc lập thìnhững tên lính Pháp phản động đã nổ súng khiêu khích làm nhiều người chết và bị thương Lập tức, tự
vệ thành phố bắn trả và bắt giam một số Vu cáo chính quyền nhân dân không giữ được trật tự, phái bộAnh lệnh cho lính Nhật tước vũ khí và đòi chính quyền nhân dân giải tán các đơn vị tự vệ, cấm nhândân biểu tình Ngày 20, quân Anh thả số tù binh Pháp bị quân Nhật bắt giam từ ngày Nhật đảo chính
và đóng cửa tất cả báo chí ở Sài Gòn Ngày 21, quân Anh chiếm đóng trụ sở cảnh sát quận 3, thả tùbinh Pháp và trang bị vũ khí cho chúng, đồng thời ra lệnh thiết quân luật, cấm nhân dân không đượcbiểu tình, hội họp, đem theo vũ khí và đi lại ban đêm Tối 22, quân Anh chiếm đài vô tuyến điện Đến
0 giờ ngày 23, quân Anh làm ngơ cho quân Pháp đánh úp một loạt mục tiêu quan trọng trong thànhphố Sài Gòn
Sáng ngày 23, Xứ ủy Nam Bộ và UBND Nam Bộ họp cấp tốc ở phố Cây Mai (Chợ Lớn) chủtrương kiên quyết kháng chiến Hội nghị quyết định: tổng đình công, không hợp tác với giặc Pháp,đánh du kích, phá hoại đường giao thông tiếp tế, bao vây, tiêu hao, tiêu diệt địch Chiều 23, Sài Gòntriệt để tổng đình công, không hợp tác Công sở, xí nghiệp, cửa hàng đều đóng cửa, chợ không họp, xengừng chạy Các đơn vị Xung phong, Công đoàn, Thành niên Tiền phong lập tức chiếm lĩnh các vị tríchiến đấu, đánh trả quân Pháp xâm lược
Ảnh: Sài Gòn khói lửa 23-9-1945 (SGkhoilua)
Ngày 24 tháng Chín 1945
Trận đánh quân Pháp ở Tân Định (Nam Bộ), loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên
Ngày 26 tháng Chín 1945
- Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào Nam Bộ kháng chiến
Qua đài phát thanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vàolòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ… Thà chết tự do hơn sống nô lệ… Tôi chắc và đồngbào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhândân hiện đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà…” Cùng ngày, Chính phủLâm thời ra lời hiệu triệu kêu gọi đồng bào cả nước “Hãy ủng hộ phong trào đấu tranh oanh liệt củađồng bào Nam Bộ”
- Vệ quốc đoàn Nam tiến cùng nhân dân Nam Bộ kháng chiến
Chi đội đầu tiên, gồm 3 đại đội: Bắc Sơn, Bắc Cạn, Hà Nội đã hành quân bằng tàu hoả từ gaHàng Cỏ (Hà Nội) vào chiến đấu tại cầu Bình Lợi, Xuân Lộc (Đông Nam Bộ) Dọc đường đi, chi độiđược bổ sung thêm 2 đại đội của tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Tính đến tháng 3-1946, đã có 12 chi đội(mỗi chi đội tương đương một trung đoàn hay một tiểu đoàn) và 6 đại đội VQĐ Nam tiến
Ngày 28 tháng Chín 1945
- Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi “Sẻ cơm nhường áo”
Trong thư có đoạn: “… Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta khôngkhỏi động lòng
Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước:
Trang 8Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dânnghèo…” Tiếp sau, ngày 8-11, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ra lời kêu gọi nhân dân chống nạn đói
Cuối tháng Chín 1945
Thành lập Bộ chỉ huy mặt trận Nam Trung Bộ
Nhiệm vụ của cơ quan này là bảo đảm hành lang và bàn đạp vận chuyển trang bị, vũ khí, lươngthực… của Trung ương và các tỉnh phía bắc vào Nam Bộ, sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công củaPháp và Nhật, đưa lực lượng vào chi viện cho Nam Bộ
“kiên quyết chống lại”
- Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 41/SL bãi bỏ các công sở và các cơ quan thuộc phủ Toàn quyền Đông Dương
Trang 9- Những đội quân Nam tiến đã nhanh chóng lên đường vào Nam.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi chống nạn thất học
Lời kêu gọi có đoạn: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận củamình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phảibiết đọc biết viết chữ Quốc ngữ… Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi Vợchưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làmkhông biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biếtchữ… Phụ nữ lại càng cần phải học… để kịp nam giới, để xứng đáng mình làm một phần tử trongnước, có quyền bầu cử và ứng cử…”
- Chính phủ quyết định thành lập các chiến khu trong cả nước
Ngày 9 tháng Mười 1945
Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 50/SL quy định về việc cấm xuất khẩu ngũ cốc và các chế phẩm bằng ngũ cốc
Ngày 12 tháng Mười 1945
Thực dân Pháp nổ súng trở lại ở Nam Bộ
Bị vây chặt trong thành phố Sài Gòn, không thực hiện được ý đồ đánh chớp nhoáng, quân Phápphải xin đình chiến từ ngày 30-9 Ngày 12-10, sau khi được tăng viện thêm 1 trung đoàn bộ binh, 1tiểu đoàn cơ giới và 1 đội thủy quân mạnh, quân Pháp bắt đầu nổ súng trở lại Ngày 22, địch chiếmBiên Hòa, Thủ Dầu Một rồi Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên,Rạch Giá và cuối cùng ngày 5-2-1946 chúng tràn vào thị xã Cà Mau
Ngày 15 tháng Mười 1945
Thành lập Chiến khu IV
Chiến khu IV bao gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, ThừaThiên Cũng thời gian này, cả nước được chia thành 12 khu hành chính và quân sự (6 chiến khu ở Bắc
Bộ, 3 chiến khu ở Trung Bộ và 3 chiến khu ở Nam Bộ)
Ngày 17 tháng Mười 1945
- Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 51/SL quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử và ấn định đến ngày 23-12-1945 sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước
- Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cho Tổng thống Mỹ H.Truman
Bức điện kịch liệt phản đối việc Pháp sẽ đại diện cho nhân dân Việt Nam tại Ủy ban tư vấn đốivới khu vực Viễn Đông của Liên hợp quốc và thiết tha đề nghị Việt Nam được tham gia vào ủy bannày
- Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các UBND các bộ, tỉnh, huyện và làng
Trong thư có đoạn: “… Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lậpcũng không có nghĩa lý gì…
Trang 10Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là côngbộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳdưới quyền thống trị của Pháp, Nhật
Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh
Chúng ta phải yêu dân thì dân mới yêu ta, kính ta…”
Người còn vạch ra những lầm lỗi rất nặng nề mà nhiều người trong các cấp chính quyền đã mắcphải như: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo; đồng thời chỉ rõ: “Ai đã phạm nhữnglầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoandung”
Ngày 18 tháng Mười 1945
Trận đánh quân Pháp ở Thị Nghè (Sài Gòn), bộ đội Nam tiến và các lực lượng vũ trang địa phương loại khỏi vòng chiến đấu 500 tên địch
Ngày 20 tháng Mười 1945
Lễ xuất phát của đội Tuyên truyền xung phong lần thứ nhất
500 đội viên của đội đã nhận ủy nhiệm thư và huấn lệnh của Chính phủ Lâm thời để lên đường
Ngày 22 tháng Mười 1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ
Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ những sự thật đã và đang diễn ra tại Việt Nam, lậptrường chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và đề nghị Liên hợp quốc công nhận nền độc lập hoàn toàncủa Việt Nam Kèm theo bức thư, Người còn gửi cho Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ một số tư liệu,trong đó có bản Tuyên ngôn Độc lập, bản công bố thoái vị của cựu Hoàng đế Bảo Đại, bản tuyên bố
về chính sách đối ngoại của Chính phủ Lâm thời Việt Nam và một bức công hàm nêu rõ lập trườngcủa Việt Nam đối với các vấn đề có liên quan tới Nam Việt Nam
Ngày 23 tháng Mười 1945
Quân Pháp đổ bộ lên thị xã Nha Trang, quân dân Nha Trang anh dũng chiến đấu mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược ở miền Nam Trung Bộ
Ngày 25 tháng Mười 1945
- Hội nghị toàn xứ của Đảng bộ Nam Bộ tại Thiên Hộ (Mỹ Tho)
Tham dự hội nghị có đại biểu BTVTƯ Đảng và nhiều đại biểu đảng bộ các tỉnh, thành phố Hộinghị đặc biệt chú trọng vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang Đồngchí Tôn Đức Thắng được cử phụ trách Ủy ban kháng chiến và trực tiếp lãnh đạo các lực lượng vũtrang Nam Bộ
- Hình thành trọn vẹn hệ thống thông tin quân sự toàn quốc
Hệ thống thông tin này bao gồm phòng Thông tin Trung ương ở Bắc Bộ (đặt tại Hà Nội), phânphòng Thông tin Trung Bộ (đặt tại Huế) và phân phòng Thông tin Nam Bộ đi theo Bộ Tư lệnh Nam
Bộ
Trang 11Ngày 26 tháng Mười 1945
Chính phủ ra Nghị định số 19/NĐ giảm thuế điền thổ và miễn thuế cho nhân dân những vùng bị lụt
Ngày 28 tháng Mười 1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện văn cho Thống chế Tưởng Giới Thạch
Trong thư, nhân danh Chính phủ Lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kịch liệt phản đối việc quânAnh – Ấn giúp quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ với ý đồ tái lập sự thống trị của người Pháp đối vớiĐông Dương và đề nghị công nhân nền độc lập hoàn toàn của nước Việt Nam
Ngày 31 tháng Mười 1945
Thành lập Chiến khu III
Chiến khu III bao gồm các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, HảiNinh và thành phố Hải Phòng Ngày 31-10 trở thành ngày truyền thống của lực lượng vũ trang Quânkhu 3
Đầu tháng Mười Một 1945
Quân Pháp trở lại đánh chiếm thị xã Lai Châu
Ngày 1 tháng Mười một 1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ
Trong thư, nhân danh Hội Văn hóa Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ nguyện vọng muốngửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định thiết lập những mối quan hệvăn hóa thân thiết với thanh niên Mỹ và xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệpcũng như các lĩnh vực chuyên môn khác
Ngày 11 tháng Mười một 1945
Đảng Cộng sản Đông Dương tự ý giải tán
Thông báo của BCHTƯ Đảng nêu rõ: căn cứ vào điều kiện lịch sử; để đoàn kết nhất trí toàndân, không phân biệt giai cấp đảng phái, để tỏ rằng những đảng viên cộng sản sẵn sàng đặt quyền lợiquốc gia lên trên quyền lợi giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của Đảng cho quyền lợi riêng của Đảngcho quyền lợi chung của dân tộc, để phá tan tất những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước,BCHTƯ Đảng Cộng sản Đông Dương họp ngày 11-11-1945 nghị quyết tự động giải tán Đảng Cộngsản Đông Dương và thành lập “Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương”
Ngày 15 tháng Mười một 1945
Trường Đại học Việt Nam khai giảng khóa đầu tiên học bằng tiếng Việt
Trường gồm ban Văn khoa, lớp Chính trị xã hội, ban Khoa học, ban Y dược nha khoa, ban Mỹthuật, ban Luật học (đến năm 1946 đổi tên là ban Pháp lý) Ngoài ra, trường còn có những trường caođẳng: Công chính, Canh nông và Thú y
Ngày 19 tháng Mười một 1945
Việt Nam cách mệnh đồng minh hội, Việt Nam quốc dân đảng và Việt Nam độc lập đồng minh hội ký bản cam kết những nguyên tắc tối cao của cuộc hợp tác
Trang 12Để tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính là thực dân Pháp, hạn chế những hành động phá hoạicủa các đảng phái thân Tưởng, củng cố khối đoàn kết toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại biểu choViệt Minh đã có những cuộc tiếp xúc với đại diện của Việt Nam quốc dân đảng và Việt Nam cáchmạng đồng minh hội Ngày 19-11-1945, các đại biểu cùng ký bản cam kết về những nguyên tắc tối caocủa cuộc hợp tác giữa các bên Ngày 24-11-1945, các đại biểu ký bản “Tinh thành đoàn kết”, trong đónêu 4 điều bảo đảm cho sự đoàn kết Ngày 23-12-1945, các đại biểu ký văn bản về “Hợp tác biệnpháp” gồm 14 điều chính, bốn điều phụ kiện, trong đó nội dung chủ yếu là: 1/ Độc lập trên hết, đoànkết trên hết; thân ái, tinh thành giải quyết những vấn đề khó khăn trước mắt; nếu ai dùng vũ lực gâynội loạn sẽ bị quốc dân hắt hủi 2/ Đôi bên đều phải ủng hộ cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội và khángchiến 3/ Đôi bên đình chỉ hết thảy những việc công kích nhau bằng ngôn luận và hành động Ngoài ra,văn bản về “hợp tác biện pháp” còn đề ra những việc cụ thể như việc mở rộng Chính phủ Lâm thời đểthành lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời, cơ cấu thành phần của Chính phủ Liên hiệp Lâm thời và việcdành 70 ghế trong Quốc hội cho các đại biểu của Việt Nam quốc dân đảng và Việt Nam cách mạngđồng minh hội không phải thông qua bầu cử Ngày 24-12-1945, các đại biểu lại ký một văn bản mớivới tiêu đề “Đoàn kết”, gồm 3 điều ước được cô gọn trên cơ sở nội dung của văn bản về “hợp tác biệnpháp” ký ngày 23-12-1945
*Xem: 23-2-1946
Ngày 20 tháng Mười một 1945
- Chính phủ Lâm thời ra Thông cáo cho các điền chủ, tá điền và nông dân
Thông cáo quy định: các điền chủ phải giảm 25% tô cho tá điền trong vụ này, cho tá điền hoãn
nợ và bỏ địa tô phụ; các tá điền và nông dân có nhiệm vụ giả địa tô cho địa chủ, giữ gìn và chăm nomhoa màu, trọng quyền tư hữu của địa chủ; các UBND có nhiệm vụ trừ tiệt những hà lạm như một đôinơi đã phạm đến quyền tư hữu của địa chủ, đứng làm trung gian hoà giải giữa điền chủ và giúp đỡnông dân, bảo vệ hoa màu
- Hội nghị quân sự Nam Bộ họp ở An Phú Xã (Gia Định)
Hội nghị quyết định chia Nam Bộ thành các Khu 7, 8, 9; chỉ định các Khu trưởng; bàn các biệnpháp nhằm tăng cường củng cố các lực lượng vũ trang; xây dựng các vùng Lạc An, Đồng Tháp Mười,
U Minh làm căn cứ cho các chiến khu
Ngày 22 tháng Mười một 1945
Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 63/SL quy định chế độ tổ chức chính quyền nhân dân các cấp ở các địa phương trong cả nước
Sắc lệnh quy định cách thức tổ chức chính quyền nhân dân Theo đó, chính quyền ở mỗi xã, tỉnh
và mỗi cấp tương đương (thị xã, thành phố) sẽ thành lập 2 cơ quan: HĐND là cơ quan thay mặt chodân do phổ thông đầu phiếu bầu ra; UBCH là cơ quan vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chínhphủ, do HĐND tiến cử Riêng các cấp huyện và cấp tương đương (khu phố), cấp bộ (tương đương vớicấp kỳ cũ) thì chỉ có UBHC, mà không có HĐND Sắc lệnh còn quy định nhiệm vụ, quyền hạn củaHĐND và UBHC mỗi cấp
Trang 13*Xem: 23-1-1946, 18-2-1946, 17-11-1950
Ngày 23 tháng Mười một 1945
- Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 40/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt
Ban “có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của UBND và các cơquan của Chính phủ” (điều thứ nhất); có quyền “Đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trongUBND hay Chính phủ đã phạm lỗi trước khi mang ra HĐCP hay Toà án đặc biệt xét xử” (điều thứhai); “Tòa án Đặc biệt có ông Chủ tịch Chính phủ Lâm thời làm Chánh án và hai ông Bộ trưởng BộNội vụ và Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Hội thẩm” (điều thứ tư) Đến đầu năm 1946, các Ban Thanh tra
ở một số bộ như : Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Canh nông… và Ban Thanh tra các
xứ Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ cũng được thành lập
Ngày 25 tháng Mười một 1945
- Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”
Chỉ thị xác định một số vấn đề cơ bản về đường lối và nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân tronggiai đoạn mới Về nhiệm vụ, Chỉ thị viết: “Nhiệm vụ cứu nước của giai cấp vô sản chưa xong Giai
cấp vô sản vẫn phải hăng hái kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy Khẩu hiệu vẫn là Dân tộc trên hết – Tổ quốc trên hết” “Kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là thực dân Pháp
xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng Nhiệm vụ riêng trong nước là phải củng cốchính quyền chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân” Chỉthị còn nêu rõ những nhiệm vụ cụ thể về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính, văn hoá, ngoạigiao; hướng dẫn toàn Đảng, toàn dân chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ và xây dựng chính quyềnNhân dân
- Giải phóng thị xã Phan Rang
Sau 15 ngày bao vây, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên địch
Ngày 1 tháng Mười hai 1945
Phát hành đồng tiền Việt Nam
Bộ Tài chính ra Nghị định số 76/TC phát hành lần đầu tiên loại tiền 2 hào bằng nhôm Tiếptheo, ngày 21-1-1946, Bội Tài chính lại ra Nghị định số 156/TC phát hành đồng 5 hào Ngày 31-1-
Trang 141946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 18b/SL cho phép phát hành giấy bạc Việt Nam tại miền Nam Trung
Bộ, từ vĩ tuyến 16 trở vào Đến ngày 31-8-1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 154/SL, cho phép mở rộngviệc phát hành giấy bạc Việt Nam ra miền Bắc Trung Bộ, từ vĩ tuyến 16 trở ra Tháng 11-1946, tại kỳhọp thứ hai, Quốc hội quyết định cho phát hành giấy bạc Việt Nam trong toàn quốc
Ngày 3 tháng Mười hai 1945
Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số toàn quốc khai mạc
Lần đầu tiên, đại biểu các dân tộc ít người từ Việt Bắc, Tây Bắc đến Tây Nguyên họp mặt ở HàNội để biểu dương tình đoàn kết giữa các dân tộc Trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minhnói: “Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy độc lập càng cần đoànkết hơn nữa “Nhiệm vụ chính của các dân tộc thiểu số hiện nay phải thực hiện là: Đoàn kết hơn nữa
để chống xâm lăng Hết sức tăng gia sinh sản; Ra sức cứu giúp đồng bào dưới xuôi về nạn đói và ủng
hộ Chính phủ để kháng chiến và cứu đói Gây thân thiện giữa ta và Trung Quốc, nhất là các dân tộc ởcác miền biên giới Việt Nam và Trung Quốc”
Ngày 5 tháng Mười hai 1945
- Báo Sự thật ra số đầu tiên
Báo Sự thật, cơ quan Trung ương của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương kế tục báo
Cờ Giải phóng, cơ quan Trung ương của ĐCS Đông Dương
- Những người mácxít Đông Dương gửi thư ngỏ cho nhóm “Việt Nam” trong Việt Nam quốc dân đảng
Bức thư kêu gọi đoàn kết và đề ra nguyên tắc hợp tác giữa các đảng phái yêu nước: 1/ Đoàn kếthợp tác giữa tất cả các đoàn thể chân chính yêu nước, nhưng không đoàn kết vô nguyên tắc với bọnphản quốc 2/ Sự đoàn kết thành thực giữa các đảng phái cách mạng chỉ có thể đặt lên trên nền tảnghành động chung 3/ Cấm chỉ mọi hành động có hại cho nước, có lợi cho địch, nhất là việc gièm phacuộc kháng chiến và mạt sát Chính phủ kháng chiến
Ngày 10 tháng Mười hai 1945
Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ (mở rộng) họp tại Bình Hòa Nam, quyết định thành lập uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam
Ngày 18 tháng 12 1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 76/SL hoãn cuộc tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946
Theo đó, hạn nộp đơn ứng cử kéo dài đến hết ngày 27-12-1945 nhằm tạo điều kiện cho cuộcchuẩn bị tổng tuyển cử chu đáo hơn nữa và nhất là để các ứng cử viên có điều kiện nộp đơn và vậnđộng tranh cử
Ngày 21 tháng Mười hai 1945
Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 77/SL quy định chế độ tổ chức chính quyền ở các thị xã và thành phố trong cả nước
*Xem: 14-5-1946, 29-5-1946
Ngày 31 tháng Mười hai 1945
Trang 15Chính phủ Lâm thời ra sắc lệnh số 78/SL quyết định thành lập Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết của Chính phủ Ủy ban này gồm 41 thành viên đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chính phủ
Ngày 10-1-1946, Ủy ban họp phiên đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng ta tranh được
tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giátrị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ Chúng ta phải thực hiện ngay: 1/ Làm chodân có ăn 2/ Làm cho dân có mặc 3/ Làm cho dân có chỗ ở 4/ Làm cho dân có học hành” Tiếp theo,ngày 14-1-1946, Chính phủ Liên hiệp lâm thời lại ký sắc lệnh số 4/SL về việc cử thêm người vào Ủyban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết
1946
Ngày 1 tháng Một 1946
Thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời
Nhằm tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định tình hình bên trong để đối phóvới bọn xâm lược nước ngoài, Chính phủ lâm thời được mở rộng để thành lập Chính phủ Liên hiệplâm thời Chính phủ Liên hiệp lâm thời gồm 14 bộ: Ngoại giao, Nội vụ, Tuyên truyền và Cổ động,Quốc phòng, Thanh niên, Quốc dân Kinh tế, Cứu tế Xã hội, Tư pháp, Y tế, Giao thông Công chính,Lao động, Tài chính, Quốc gia Giáo dục và Canh nông Chính phủ Liên hiệp lâm thời “Tuyên bốchính sách” (gồm chương trình đối nội và chương trình đối ngoại) Chính phủ Liên hiệp lâm thời tồntại từ ngày 1-1 đến 2-3-1946
Ngày 6 tháng Một 1946
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I
Lần đầu tiên, mọi công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, được hưởngquyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội Hơn 90% tổng số cử tri đã đi bỏ phiếu Ngay trong vùng cóchiến tranh, đồng bào vẫn tìm cách tham gia bầu cử Kết quả, toàn dân đã bầu được 333 đại biểu Quốchội Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trúng cử với hơn 98% tổng số phiếu bầu
Ảnh: Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời sau cuộc tuyển cử đầu tiêntrong cả nước ngày 6 tháng 1 năm 1946 (TLI002288)
Ngày 14 tháng Một 1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện văn cho các ông Anđrây Grômưcô (đại diện Liên Xô), Giêm Biếcnơ (Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ), Cố Duy Quân (đại diện Trung Quốc) tại Liên hợp quốc
Nhân danh Chính phủ và quốc dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo những sự thật
về tình hình Việt Nam, yêu cầu Liên Hợp Quốc đưa vấn đề Việt Nam ra nghiên cứu, công nhận nềnđộc lập của Việt Nam và chấp nhận Việt Nam vào Liên hợp quốc
Ngày 15 tháng Một 1946
Chính phủ ra sắc lệnh số 5/SL quyết định hủy bỏ quyền quản lý và sử dụng đường sắt Hải Phòng – Vân Nam của công ty hỏa xa Vân Nam
Trang 16- Thành lập Nha Thể dục trung ương
Nha Thể dục trung ương có nhiệm vụ tổ chức, phát triển phong trào thể dục, thể thao trong cảnước
Ngày 31 tháng Một 1946
- Phát hành giấy bạc Việt Nam
Ngày 31-1-1946, Chính phủ ta phát hành giấy bạc Việt Nam ở phía Nam vĩ tuyến 16 Đến tháng
8 giấy bạc này được lưu hành ra miền Bắc Trung Bộ và cuối năm 1946 được lưu hành trong cả nước
- Chính phủ Liên hiệp lâm thời ra sắc lệnh số 18/Sl quy định thể lệ nộp lưu chiểu văn hóa phẩm
Tháng Một 1946
- Thành lập Trung ương Quân ủy
Trung ương Quân ủy có nhiệm vụ giúp BCHTƯ Đảng lãnh đạo quân đội (sau đổi thành TổngQuân ủy và từ năm 1951 gọi là Quân ủy Trung ương)
- Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp và trả lời phỏng vấn của các nhà báo
Người nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào Bây giờ phải gánhchức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác, thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnhlệnh của quốc dân ra trước mặt trận… Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao chonước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, aicũng được học hành…”
- Thành lập Phòng Nam Bộ trực thuộc Chính phủ, có nhiệm vụ theo dõi cuộc kháng chiến và tổ chức chi viện cho Nam Bộ
Ngày 18 tháng Hai 1946
Chính phủ Liên hiệp lâm thời ra sắc lệnh số 22a/SL ngày 22-11-1945 về chế độ tổ chức chính quyền các cấp ở địa phương
Trang 17- Chính phủ Liên hiệp lâm thời gửi công hàm cho chính phủ các nước Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên Xô và Anh
Bức công hàm nêu những sự thật để khẳng định sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam
có quyền được bảo vệ theo những nguyên tắc bất khả xâm phạm của Hiến chương Xan Phranxixcô,Hiến chương Đại Tây Dương và Tuyên bố mười hai điểm của Tổng thống Truman; đồng thời đề nghịcác cường quốc lớn thực hiện tất cả những bước đi thích hợp để ngăn chặn khẩn cấp cuộc đổ máu dothực dân Pháp đang gây ra ở miền Nam Việt Nam và đi tới một giải pháp cấp bách, hợp lý cho vấn đềĐông Dương
Ngày 21 tháng Hai 1946
Chính phủ ra sắc lệnh số 23/SL thành lập Việt Nam Công an vụ
Trên cơ sở hợp nhất các lực lượng liêm phóng và cảnh sát, Việt Nam Công an vụ có nhiệm vụtìm kiếm, thu thập tin tức liên quan đến sự an toàn quốc gia, đề nghị và thi hành các phương pháp đềphòng những hành động có thể làm rối trị an trong nước, truy tìm can phạm để tòa án trừng trị Ngày21-2-1946, Bộ Nội vụ ra nghị định số 121/NV quy định cơ cấu tổ chức, quyền hạn của các cơ quancông an từ cấp trung ương đến cấp tỉnh và sự liên lạc giữa các cơ quan công an với các cơ quan hànhchính, tư pháp
Tháng Hai 1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng quân và dân Nam Bộ danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”
Ngày 2 tháng Ba 1946
Quốc hội khóa I họp kỳ thứ nhất
Các đại biểu Quốc hội từ khắp các tỉnh đã về họp ở thủ đô Hà Nội Quốc hội đã thông qua danhsách 70 đại biểu của Việt Nam quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội bổ sung vàoQuốc hội không thông qua bầu cử Quốc hội công nhận Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến do Chủ tịch
Hồ Chí Minh thành lập, gồm các bộ: Ngoại giao; Nội vụ; Kinh tế; Tài chính; Quốc phòng; Xã hộikiêm Y tế, Cứu tế và Lao động; Giáo dục; Tư pháp; Giao thông Công chính; Canh nông Quốc hội bầuBan Thường trực Quốc hội, Tiểu ban dự thảo Hiến pháp, Kháng chiến uỷ viên hội và Đoàn Cố vấn tốicao Quốc hội trao cho Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến nhiệm vụ: “thực hiện triệt để sự thống nhấtcác lực lượng của Quốc hội về phương diện quân sự, tuyên truyền, hành chính, tư pháp” Chính phủ cóquyền tổng động viên nhân lực và tài sản của quốc gia theo nhu cầu của tình thế để làm cho khángchiến thắng lợi Chính phủ cũng có quyền tuyên chiến hay đình chiến sau khi đã thoả thuận với BanThường trực Quốc hội
Trang 18Ảnh: Khóa họp quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946)(Quochoidautien)
Chính phủ chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc hội bầu ra(Chinhphuchinhthuc)
Ngày 3 tháng Ba 1946
BTVTƯ Đảng ra chỉ thị “Tình hình và chủ trương”
Chỉ thị được soạn thảo trên cơ sở nghị quyết của cuộc họp BTVTƯ Đảng ngày 24-2-1946 Saukhi phân tích tình hình mọi mặt, chỉ thị nêu rõ: “Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp,không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ởđâu, mà còn hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làmnhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta” Ngày 5-3-1946, BCHTƯ Đảng họp (mở rộng) nhất trí tánthành chủ trương “hòa để tiến” của BTVTƯ Đảng
Ngày 6 tháng Ba 1946
Ký Hiệp định sơ bộ Việt – Pháp
Thực hiện chủ trương tạm thời hòa hoãn với thực dân Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng ra khỏimiền Bắc, Chính phủ Việt Nam đã ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ tại ngôi nhà
số 2 phố Lê Lai, Hà Nội (nay là Cung Văn hóa thiếu nhi Hà Nội)
Nội dung cơ bản của Hiệp định là:
1/ Nước Pháp công nhận nước VNDCCH là một nước tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội,tài chính của mình ở trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp
2/ Nước Pháp cam đoan sẽ thừa nhận kết quả của cuộc trưng cầu ý dân về việc thống nhất ba kỳ.3/Nước Việt Nam thuận để 15.000 quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay quân Tưởng và sẽrút hết sau 5 năm, mỗi năm rút 1/5
4/ Hai bên đình chỉ ngay xung đột để mở cuộc đàm phán chính thức
Do kết quả của Hiệp định mà “gần một năm hoà bình đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lựclượng căn bản”
Ngày 9 tháng Ba 1946
BTVTƯ Đảng ra chỉ thị “Hoà dể tiến”
Sau khi kí Hiệp định sơ bộ, BTVHTƯ Đảng ra chỉ thị “Hoà để tiến”, nêu rõ lý do cần phải hoàvới Pháp, phê phán những khuynh hướng sai lầm có thể nảy sinh, đề phòng thực dân Pháp bội ước, vànhấn mạnh: phải triệt để lợi dụng thời gian hòa hoãn để đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, tổ chứcquần chúng, củng cố phong trào, đào tạo cán bộ, đưa cán bộ vào gây cơ sở ở các thành phố bị chiếmđóng, tiếp tục chuẩn bị kháng chiến lâu dài…
Ngày 17 tháng Ba 1946
Mở trường Quân chính Bắc Sơn
Trường trực thuộc Trung ương Đảng và có nhiệm vụ bổ túc quân sự, chính trị cho đảng viên,hội viên Cứu quốc
Trang 19Lần đầu tiên, quyền tự do thân thể của mỗi người Việt Nam được pháp luật bảo vệ Ngày
19-3-1947, Chính phủ ra sắc lệnh số 32/SL sửa đổi điều thứ 9 trong sắc lệnh này
Chính phủ ra sắc lệnh số 41/SL quy định chế độ báo chí và xuất bản
Ngày 3 tháng Tư 1946
- Ký Hiệp định về quân tiếp phòng
Thực hiện Hiệp định sơ bộ 6-3, từ ngày 8-3 đến ngày 3-4-1946, hai bên Việt – Pháp đã bàn và
ký Hiệp định về quân tiếp phòng thay thế quân Tưởng ở miền Bắc Việt Nam Hiệp định quy định: sốquân tiếp phòng của Pháp đóng ở Hà Nội (5.000, kể cả 1.000 ở sân bay Gia Lâm), Hải Phòng (1.750),Hòn Gai (1.025), Nam Định (825), Huế (825), Đà Nẵng (225), Hải Dương (cả cầu Phú Lương, LaiKhê: 650), Điện Biên Phủ (825), các vùng biên giới (2.775) Số quân tiếp phòng của Việt Nam ở HàNội (925), Hải Dương (904), Huế (500), Phủ Lý (500), Thái Bình (500), Nam Định (500), Thanh Hóa(684), Đông Hà (684), Đồng Hới (220), Vinh (904), Đà Nẵng (904) Các tỉnh biên giới: Móng Cái,Lạng Sơn, Cao Bằng, Lao Cai, Lai Châu sẽ quy định sau Thành lập ủy ban liên lạc và kiểm soát quân
sự trung ương Việt – Pháp (gọi tắt là ủy ban liên kiểm) để theo dõi và giải quyết những vấn đề nảysinh trong quá trình thi hành Hiệp định Ngày 18-3-1946, 1.200 quân Pháp cùng với 200 quân Phápcùng với 200 xe vận tải và thiết giáp từ Hải Phòng kéo lên đóng tại một số địa điểm ở Hà Nội Trongtháng 3 và tháng 4-1946, Pháp tiếp tục đưa quân đến đóng ở những nơi quy định, trừ các vị trí trênbiên giới Việt – Trung
- Chính phủ ra sắc lệnh số 42/SL quy định thủ tục truy tố các khinh tội hay trọng tội khi phạm nhân là Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch UBHC kỳ hoặc tỉnh và đại biểu Quốc hội
- Thành Lập Ban Vận động đời sống mới Trung ương
Ban có nhiệm vụ giáo dục và vận động cán bộ, nhân dân thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính; đồngthời xóa bỏ những tư tưởng và tập quán lạc hậu của chế độ thực dân phong kiến
Ngày 10 tháng Tư 1946
Trang 20Chính phủ ra Sắc lệnh số 48/SL đặt ra “Đảm phụ Quốc phòng”
Sắc lệnh quy định những điều cụ thể nhằm huy động của cải của nhân dân đóng góp cho nhucầu kháng chiến và kiến quốc
Ngày 12 tháng Tư 1946
Khu mỏ Hồng Gai giải phóng
Trước sức ép của lực lượng vũ trang cách mạng, “Việt Nam đồng minh quân” do Vũ KimThành chỉ huy phải rút, chính quyền nhân dân được thiết lập ở khu mỏ Đến ngày 19-7-1946, Chínhphủ quyết định lập “Khu đặc biệt Hồng Gai” gồm châu Cẩm Phả và thị xã (Cẩm Phả bến, Cẩm Phả
mỏ, Hà Tu, Hà Lầm, Bãi Cháy, Hồng Gai)
Ngày 15 tháng Tư 1946
Thành lập trường Võ bị Trần Quốc Tuấn
Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (tức trường Sĩ quan Lục quân sau này) được thành lập trên cơ sởtrường Huấn luyện cán bộ Việt Nam, Trường có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan cho quân đội Ngày 26-5-
1946, Trường khai giảng tại Sơn Tây (288 học viên) Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự, tặng Trường lá cờthêu dòng chữ: “Trung với nước, hiếu với dân” và nói: “Trung với nước, hiếu với dân là một bổn phậnthiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốcgia đầu tiên của nước ta”
Ngày 16 tháng Tư 1946
Ngày truyền thống của bộ đội Quân y
Từ ngày 16 tháng Tư đến ngày 23 tháng Năm 1946
Phái đoàn Quốc hội nước Việt Nam thăm nước Cộng hòa Pháp
Phái đoàn Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm văn Đồng dẫn đầu Nhiệm vụ của phái đoànnhư lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trước khi lên đường là: “Đoàn kết, cẩn thận, làm cho nướcPháp hiểu ta để gây tình hữu nghị giữa hai dân tộc”
Từ ngày 18 tháng Tư đến ngày 12 tháng Năm 1946
Hội nghị trù bị Đà Lạt
Để chuẩn bị cho cuộc đàm phán chính thức, phái đoàn Chính phủ Việt Nam và phái đoàn Chínhphủ Pháp đã họp trù bị ở Đà Lạt Phái đoàn Việt Nam do Nguyễn Tường Tam làm trưởng đoàn TrongHội nghị, phái đoàn đã tích cực đấu tranh vạch trần âm mưu của thực dân Pháp định xóa bỏ Hiệp định
sơ bộ 6-3 để lập lại chế độ thuộc địa ở Việt Nam; đồng thời kiêm quyết giữ vững lập trường “hòa bìnhtrong tự do bình đẳng phủ hợp với Hiệp định sơ bộ 6-3 chứ không phải hòa bình trong nô lệ” Sau gầnmột tháng đấu tranh, hội nghị bế tắc vì thái độ ngoan cố của phái đoàn Chính phủ Pháp
Ngày 19 tháng Tư 1946
Đại hội dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây Cu
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi Đại hội, trong đó có đoạn: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mườnghay Mán, Giarai hay Êđê, Xêđăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam,đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Giang
Trang 21sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta… Chúng ta phải thương yêu nhau,phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung… Sông có thể cạn, núi có thể mòn,nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”
Ngày 22 tháng Tư 1946
Chính phủ ra sắc lệnh số 50/SL quy định thể thức xin lập hội (hoặc đoàn thể) của công dân Việt Nam
Ngày 29 tháng Tư 1946
Sắc lệnh quy định được hưởng lương ngày nghỉ lễ Quốc tế 1 – 5
Lần đầu tiên, ngày Hội Lao động quốc tế được công nhận là ngày Hội chính thức của người laođộng Việt Nam
Ngày 7 tháng Năm 1946
Trận tập kích phân khu Vạn Giả
Đây là trận tập kích lớn đầu tiên Phân khu Vạn Giả gồm các vị trí: Vạn Giả, Hiền Lương vàĐồn Điền (thuộc Khu V) Kết quả: ta tiêu diệt 2/3 lực lượng địch thu hơn 1.000 khẩu súng các loại
Ngày 8 tháng Năm 1946
Chính phủ ra sắc lệnh số 64/SL lập các cơ quan lao động trong cả nước
Nhiệm vụ của các cơ quan này là bảo đảm và bênh vực quyền lợi cho công nhân, dung hoàquyền lợi giữa chủ và thợ, kiểm soát việc thi hành các luật lệ ban bố về lao động, giải quyết các vấn đề
về lao động và phân phát nhân công
Ngày 14 tháng Năm 1946
Chính phủ ra sắc lệnh số 68/SL sửa đổi điều 43, 45 sắc lệnh số 77/SL ngày 21-12-1945 về việc
tổ chức chính quyền ở các thị xã và thành phố
Ngày 16 tháng Năm 1946
Chính phủ thành lập “Quỹ tham gia kháng chiến”
Để gây quỹ, Chính phủ kêu gọi mỗi người dân đóng góp một số tiền bằng 10 ngày sinh hoạt phícủa bộ đội Kết quả thu được 174 triệu đồng
Ngày 22 tháng Năm 1946
- Chính phủ ra sắc lệnh số 71/SL về Quân đội quốc gia Việt Nam
Sắc lệnh quyết định đổi tên VQĐ thành Quân đội quốc gia của nước VNDCCH Kèm theo Sắc
lệnh có bản Quy tắc Quân đội quốc gia Việt Nam quy định biên chế, tuyển binh, cấp bậc, thăng giáng
và thuyên chuyển, kỷ luật, thưởng phạt, lễ nghi của quân đội Trong quân đội có hệ thống biên chế
Trang 22thống nhất theo từng tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, đại đoàn, liên đoàn, tập đoàn,các đơn vị chuyên môn và hỏa lực trợ chiến Từ cấp trung đội trở lên có chính trị viên
Ngày 21-12-1949, Chính phủ ra sắc; lệnh số 140/SL sửa đổi một số điều trong sắc lệnh này
- Chính phủ ra sắc lệnh số 70/SL thành lập Ủy ban hộ đê trung ương
Ngày 28-5-1948, Chính phủ ra sắc lệnh số 194/SL quy định bỏ Ủy ban hộ đê trung ương và lập
Ủy ban bảo vệ đê điều các cấp
Ngày 27 tháng Năm 1946
Hội nghị Đại biểu công nhân toàn quốc
Hội nghị quyết định thành lập Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và gia nhập Liên hiệp Côngđoàn Thế giới
Ngày 28 tháng Năm 1946
Thành lập thị xã Bắc Ninh thuộc tỉnh Bắc Ninh (gồm 2 khu phố: khu Kinh Bắc và khu Vũ
Ninh)
Ngày 29 tháng Năm 1946
- Thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt)
Mục đích của Hội là đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và các đồng bào yêu nước khôngđảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước ViệtNam được độc lập, thống nhất, dân chủ và phú cường Mặt trận Việt Minh cũng trở thành một thànhviên của Hội Liên Việt Hội đã đề ra Chương trình của Hội gồm 7 mục: chính trị chung, nội chính,ngoại giao, quân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa
- Chính phủ ra sắc lệnh số 76/SL sửa đổi điều thứ 2 sắc lệnh số 77/SL ngày 21 – 12 – 1945 về việc tổ chức chính quyền ở các thị xã và thành phố
- Chính phủ ra sắc lệnh số 84/SL quy định cấm sử dụng các loại xe tay
- Chính phủ ra sắc lệnh số 84B/SL về việc đặt loại “Huân chương Quân công” để tặng thưởng những người có công trong việc giành độc lập cho đất nước
Tiếp theo, ngày 15-5-1947, Chính phủ ra sắc lệnh số 49/SL đặt “Giải thưởng Hồ Chí Minh” chongành Quân giới và sắc lệnh số 50/SL đặt loại “Huy chương Quân công”, “Huy chương Chiến sỹ”thưởng cho cá nhân, đơn vị trong quân đội, dân quân tự vệ có thành tích xuất sắc Ngày 6-6-1947,Chính phủ ra sắc lệnh số 58/SL đặt “Huân chương Sao vàng”, “Huân chương Hồ Chí Minh”, “Huânchương Độc lập” và quy định việc tặng thưởng Ngày 20-8-1948, Chính phủ ra sắc lệnh số 216/SL đặt
“Huân chương Kháng chiến”, có 3 hạng: nhất, nhì, ba
Trang 23- Báo “Sao vàng” (kế tục báo Quân Giải Phóng), cơ quan tuyên truyền huấn luyện binh sĩ của Quân ủy hội, ra số đầu tiên
Ngày 31 tháng Năm 1946
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm nước Pháp
Nhận lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Pháp với tư cách là thượngkhách của nước Pháp Trước khi lên đường, Người viết thư gửi đồng bào Nam Bộ, trong đó có đoạn:
“Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn Song chân lý đó khôngbao giờ thay đổi”
Những ngày ở nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với ĐCS, các tầng lớp nhân dân, đạibiểu Việt kiều, các nhân sĩ, trí thức và một số người đứng đầu các đảng phái ở Pháp Người ra sứctuyên truyền, làm sáng tỏ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình,nâng cao uy tín quốc tế của nước VNDCCH
- Phái đoàn Chính phủ Việt Nam đi Pháp dự đàm phán chính thức giữa hai Chính phủ Việt – Pháp
Ngày 1 tháng Sáu 1946
- Thành lập trường Lục quân trung học Quảng Ngãi
Trường đặt tại thị xã Quảng Ngãi, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban Kháng chiến miềnNam, có nhiệm vụ đào tạo, bổ túc cán bộ tiểu đội, trung đội
Ngày 20 tháng Sáu 1946
Bộ Quốc phòng ra nghị định số 49/NĐ quy định về Quân đội quốc gia
Nghị định có 7 chương, 48 điều Chương I: Quân hiệu, Phù hiệu, Cấp hiệu Chương II: Sổ sáchtuyển binh Chương III: Quân phong quân kỷ Chương IV: Công việc trong đồn trại Chương V: Côngviệc hằng ngày trong mỗi đại đội Chương VI: Vệ sinh và thứ tự Chương VII: Công tác ở địa phương
Từ 24 đến ngày 26 tháng Sáu 1946
Chi đội Trần Quốc Toản (sau đổi là trung đoàn 92) diệt phản động Quốc dân đảng ở thị xã Phú Thọ và Việt Trì
Ngày 29 tháng Sáu 1946
- Thành lập ba trung đội pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh
Đây là những trung đội pháo binh đầu tiên của quân đội Ngày 29-6 trở thành ngày truyền thốngcủa bộ đội Pháo binh Việt Nam
- Quân ta bẻ gãy cuộc tấn công của 2.000 tên địch vào Đức Hòa, phá hủy 25 xe quân sự, bắn rơi 1 máy bay, tiêu diệt nhiều địch
Cuối tháng Sáu 1946
Tây Nguyên kháng chiến anh dũng
Quân Pháp tập trung tấn công hòng mở rộng vùng chúng chiếm đóng ở cực Nam Trung Bộ vàTây Nguyên Quân dân ở Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ đã chặn đánh địch ở Buôn Hồ, Plây Cu,
An Khê, Công Tum, tiêu diệt hàng trăm tên
Trang 24Đầu tháng Bảy 1946
Quân ta tấn công giải phóng Đồng Mỏ và thị xã Lạng Sơn
Từ ngày 6 tháng bảy đến ngày 10 tháng Chín 1946
Đàm phán Việt – Pháp ở Phôngtennơblô (Fontainebleau, Pháp)
Phái đoàn Chính phủ Việt Nam do Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn, phái đoàn Chính phủPháp do Mắc Ăngđrê dẫn đầu Ngày 6-7, cuộc đàm phán khai mạc Phái đoàn Chính phủ Pháp vẫn giữnguyên những quan điểm từ Hội nghị trù bị Đà Lạt đối với những vấn đề cơ bản (chế độ chính trị,quan hệ ngoại giao của Việt Nam, sự thống nhất ba kỳ của Việt Nam…) quyết định quan hệ giữa hainước Việt – Pháp Mặt khác, Chính phủ Pháp dung túng cho bọn thực dân hiếu chiến ở Đông Dươngthực hiện từng bước chính sách lấn dần, trắng trợn phá hoại Hiệp định sơ bộ Vì thế, cuộc đàm phánphải đình chỉ vào ngày 10-9 Trước khi lên đường về nước, phái đoàn Chính phủ Việt Nam ra một bảntuyên bố Đoàn về đến Hải Phòng ngày 3-10
Ngày 12 tháng Bảy 1946
Quét sạch bọn phản động Việt Nam quốc dân đảng
Sau khi khám phá ra âm mưu của Việt Nam Quốc dân đảng và Đại Việt câu kết với thực dânPháp định làm đảo chính ở Hà Nội vào ngày 14-7-1946, Chính phủ Việt Nam ra lệnh khám xét các trụ
sở của bọn Việt gian Vụ Ôn như Hầu ở Hà Nội đã phơi trần bộ mặt bán nước, hại dân của bọn phảnquốc Ngay lập tức, những tên đầu sỏ phản động ở Hà Nội bị bắt giam Tiếp đó, các lực lượng vũ trangđược lệnh tổng truy quét bọn chúng, giải phóng một loạt các thị xã, thị trấn ở một số tỉnh biên giớiphía Bắc như Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Đồng Mỏ, Phú Thọ, Việt Trì, Vĩnh Yên, Yên Bái và Lao Cai
Từ ngày 13 đến ngày 14 tháng bảy 1946
Hội nghị UBHC toàn quốc
Hội nghị kiểm điểm, rút kinh nghiệm công việc của UBHC từ ngày giành chính quyền để tiếntới thống nhất các cơ quan trong guồng máy hành chính
Ngày 22 tháng bảy 1946
Thành lập Đảng Xã hội Việt Nam
Đảng Xã hội Việt Nam ra đời nhằm tập hợp những trí thức Việt Nam yêu nước muốn sát cánhcùng toàn dân bảo vệ thành quả Cách mạng tháng Tám, bảo vệ nền độc lập của dân tộc Cũng nhưĐảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam tự nguyện gia nhập Hội Liên hiệp Quốc dân ViệtNam
Ngày 31 tháng Bảy 1946
Hội nghị Cán bộ trung ương ĐCS Đông Dương
Vấn đề trung tâm Hội nghị thảo luận là củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất Hộinghị nhận định, từ khi phái đoàn Chính phủ Việt Nam sang Pháp để đàm phán chính thức, thực dânPháp thực hiện chính sách “Về quân sự thì khiêu khích lấn dần, về chính trị thì chia rẽ để chờ thời cơlật đổ Chính phủ ta” Hội nghị xác định đường lối cơ bản của Đảng trong giai đoạn này là thống nhất
Trang 25bên trong, tìm bạn bên ngoài, “tích cực sẵn sàng về quân sự và chính trị để đối phó với những bất trắc
có thể xảy ra”
Tháng Bảy 1946
Quân Pháp tiến công chiếm đóng Móng Cái
Quân dân ta anh dũng chiến đấu chống địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề Pháp còncho quân đổ bộ, phối hợp với lực lượng tại chỗ, đánh chiếm Hồng Gai
Ngày 10 tháng Tám 1946
Chính phủ ra sắc lệnh số 146/SL đặt những nguyên tắc căn bản cho nền giáo dục mới
Sắc lệnh nêu ba nguyên tắc căn bản: đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và theo tôn chủphụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ Sắc lệnh còn quy định: “ở tất cả các bậc học, học sinh khôngphải trả học phí và trong các kỳ thi tốt nghiệp, học sinh cũng không phải nộp một khoản nào” (điều11) “Học sinh xuất sắc mà nghèo sẽ được học bổng của Chính phủ cấp cho” (điều 12)
Đại hội Giáo giới toàn quốc lần thứ nhất
Tham dự gồm đủ đại biểu giáo giới các cấp học cả ba miền Bắc, Trung, Nam Đại hội đã thảoluận những vấn đề thuộc về ba nguyên tắc căn bản của nền giáo dục Việt Nam mới và bầu Ban chấphành Liên đoàn Giáo giới Việt Nam
Từ ngày 15 đến ngày 25 tháng Chín 1946
Đại hội toàn quốc Việt Nam Dân chủ đảng
Đây là đại hội đầu tiên của Việt Nam Dân chủ đảng Đại hội đã xét lại điều lệ Đảng, đặt kếhoạch củng cố, phát triển Đảng, ra quyết nghị tuyên bố chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và bầuBan chấp hành trung ương Đảng
Trang 26Ngày 18 tháng Chín 1946
Đơn vị cuối cùng của quân đội Tưởng rút khỏi Hải Phòng
Từ ngày 12 đến ngày 13 tháng Mười 1946
Đại hội Văn hoá cứu quốc lần thứ hai
Ngày 19 tháng Mười 1946
Khai mạc Hội nghị Quân sự toàn quốc
Hội nghị họp tại nhà số 58 phố Nguyễn Du, Hà Nội Hội nghị nhận định: “Không sớm thì muộnPháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”, đồng thời khẳng định rằng, tuy kém về
kỹ thuật, vũ khí nhưng với tinh thần dẻo dai, bền bỉ ta nhất định sẽ thắng Hội nghị quyết định tăngcường công tác Đảng, công tác chính trị trong VQĐ, đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng vũ trang
để sẵn sàng chiến đấu Đây là hội nghị quân sự lớn nhất của Đảng từ sau khi giành được chính quyền
Ngày 20 tháng Mười 1946
Thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Ngày 23 tháng Mười 1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho các chiến sĩ và đồng bào miền Nam
Sau khi ở Pháp về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi các chiến sĩ và đồng bào miềnNam Trong thư Người viết, có câu: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ,
là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”
Từ ngày 28 tháng Mười đến ngày 9 tháng Mười Một 1946
Quốc hội khóa I họp kỳ thứ hai Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tham dự kỳ họp có 290 đại biểu Quốc hội Quốc hội thảo luận và thông qua những chủ trươngcấp bách để chuẩn bị kháng chiến Quốc hội triệt để tín nhiệm chủ tịch Hồ Chí Minh, Người công dânthứ nhất, và tín nhiệm Chính phủ mới do người thành lập Chính phủ mới bao gồm 12 bộ: Ngoại giao,Nội vụ, Quốc phòng, Kinh tế, Tư pháp, Tài chính, Giáo dục, Canh nông, Giao thông, Lao động, Y tế
và Bộ Cứu tế Quốc hội đã thảo luận và ngày 9-11 bỏ phiếu thông qua Hiến pháp với tuyệt đại đa sốphiếu thuận, trừ 2 phiếu chống Đây là hiến pháp chính thức đầu tiên của nước VNDCCH Hiến pháp
đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập, dân tộc Việt Nam có đủ mọi quyền tự do Hiếnpháp cũng chính thức xác nhận các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Việt Nam, chính thức côngnhận nữ giới có quyền bình đẳng với nam giới trên mọi phương diện Quốc hội bầu Ban Thường trựcgồm 18 vị và ngày 11-11-1946, Ban Thường trực Quốc hội bầu ra Ban Thường vụ gồm 5 vị
Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông quan ngày9-11-1946 (Hienphapdautien)
Tháng Mười 1946
- Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị về việc củng cố căn cứ địa Việt Bắc
Người cử cán bộ lên Việt Bắc chuẩn bị mọi mặt cho việc di chuyển các cơ quan lãnh đạo củaĐảng và Nhà nước, các xí nghiệp, kho tàng máy móc khi cần Đến nửa đầu tháng 11 – 1946, trung
Trang 27ương Đảng thành lập Đội công tác đặc biệt gồm đại biểu các ngành quân sự, an ninh, chính quyền,đoàn thể… đi nghiên cứu đường di chuyển, vị trí đặt các cơ quan, xí nghiệp, kho tàng lên Việt Bắc
Chính phủ lập Quỹ Mùa đông binh sĩ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng áo, tư trang và lương của mình cho bộ đội Các tầng lớp nhândân, các đoàn thể cứu quốc cũng quyên góp được nhiều vải, quần áo, chăn, màn, áo trấn thủ do mộtcửa hàng ở phố Hàng Trống (Hà Nội) may bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong quân đội
- Mở đợt hoạt động quân sự làm hậu thuẫn cho việc xây dựng chính quyền ở Tây Nguyên
Kết quả, 53 xã thuộc An Khê, Cheo Reo khôi phục được UBND
Ngày 5 tháng Mười một 1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ”
Công việc khẩn cấp là “Kháng chiến và kiến quốc Một mặt phá hoại, một mặt kiến thiết Pháhoại để ngăn địch, kiến thiết để đánh địch… Ta phải hiểu và phải cho dân hiểu rằng: Cuộc kháng chiến
sẽ rất gay go cực khổ… Ta kiên quyết chống chọi cho qua giai đoạn “chớp nhoáng” đó, thì địch sẽxẹp, ta sẽ thắng… Cố rán sức qua khỏi mùa đông lạnh lẽo, thì ta sẽ gặp mùa xuân… Dù phải rút khỏicác thành phố, ta cũng không cần Ta sẽ giữ tất cả thôn quê… Ta địa thế tốt, lực lượng nhiều hơn, nhấtđịnh kháng chiến được mấy năm, đến thắng lợi” Chỉ thị viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cơ
sở vững chắc cho đường lối kháng chiến của cả nước sau này
Ngày 14 tháng Mười một 1946
Chính phủ phát hành Công phiếu kháng chiến
Kết quả thu được 283 triệu đồng, trong đó phần lớn dành cho ngân sách quốc phòng
Ngày 17 tháng Mười một 1946
Cuộc chiến đấu lại tiếp tục trên khắp chiến trường miền Nam
Sau một thời gian ngừng bắn theo tinh thần Tạm ước 14-9, ngày 17-11, quân Pháp đánh raTrung Hưng (Nam Bộ) Quân ta đã tiêu diệt và phá hủy 7 xe vận tải của địch
Ngày 18 tháng Mười một 1946
Bộ Quốc phòng quy định tiêu chuẩn ăn và sinh hoạt phí cho bộ đội
Mỗi quân nhân được hưởng 180 đồng tiền ăn và 5 đồng tiền phụ cấp tiêu vặt trong một tháng
Ngày 20 tháng Mười một 1946
Quân dân Hải Phòng, Lạng Sơn anh dũng đánh trả quân Pháp
Quân Pháp bội ước, tập trung hải, lục, không quân đánh phá cảng Hải Phòng; đồng thời vô cớ
nổ súng chiếm đóng thị xã Lạng Sơn Quân dân Hải Phòng và Lạng Sơn đã chiến đấu quyết liệt, gâycho chúng nhiều thiệt hại Ngày 27-11, các đơn vị ta rút ra ngoài thị xã Lạng Sơn và ngày 28-11, quândân Hải Phòng cũng rút ra khỏi thành phố, lập phòng tuyến tiếp tục chiến đấu, ngăn chặn địch
Trang 28Đại hội bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự và bầu Ban Lãnh đạo hội Đến đạihội lần thứ ba (1965), Hội Hồng thập tự Việt Nam đổi tên là Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
Ngày 24 tháng Mười một 1946
Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất
Dự kiến họp từ 24-11 đến ngày 1-12, nhưng do Pháp tăng cường khiêu khích, gây tình hình rấtcăng thẳng, nên Đại hội chỉ họp trong 1 ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và nói chuyện với Đạihội Đại hội đã bầu Ủy ban Văn hoá toàn quốc và các tiểu ban nghiên cứu về văn hoá, tìm đường lốimới cho công việc sáng tác
Ngày 25 tháng Mười một 1946
- Chính phủ ra sắc lệnh số 265/SL sáp nhập tỉnh Quảng Yên (gồm cả khu vực Hồng Gai) vào chiến khu XII
- Tiến công sân bay Cát Bi
Kết quả, quân ta phá hủy kho đạn, kho xăng của địch ở sân bay và lấy được bản kế hoạch đánhchiếm Hải Phòng của Bộ Chỉ huy quân Pháp
- Cả nước chia thành 12 khu hành chính và quân sự:
Khu I : Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phúc Yên
Khu II: Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu Khu III: Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương
Khu IV: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên
Khu V: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Công Tum, Gia Lai
Khu VI: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Lâm Viên, Đồng NaiThượng
Khu VII: Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Sài Gòn
Khu VIII: Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre
Khu IX: Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá
Khu X: Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên
Khu XI: Hà Nội
Khu XII: Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Ninh, Hồng Gai, Quảng Yên
Trang 29Mỗi khu có Khu ủy, Ủy ban Kháng chiến, Khu trưởng phụ trách quân đội Chính phủ quyết địnhgiải thể UBHC Bắc Bộ, UBKC miền Nam Việt Nam, thành lập UBKC miền Nam Trung Bộ, UBKCNam Bộ
*Xem: 25-1-1948
- Tổng di chuyển các cơ quan, xí nghiệp, kho tàng, máy móc
Để chuẩn bị sẵn sàng kháng chiến, theo chủ trương của Đảng và Chính phủ, quân dân các tỉnhBắc Bộ và Trung Bộ đã tiến hành cuộc tổng di chuyển các cơ quan, kho tàng, máy móc về các vùngcăn cứ ở nông thôn, rừng núi và lên chiến khu Việt Bắc Các cơ sở ở Nam Bộ cũng tiếp tục chuyểnvào các khu căn cứ Đến tháng 4-1947, chỉ tính từ Liên khu VI trở ra, cán bộ, chiến sĩ, công nhânngành Quân giới đã chiếm được khoảng 39.400 tấn máy móc, nguyên vật liệu Hàng vạn tấn lươngthực và 2 vạn tấn muối dự trữ ở Văn Lý (Nam Định) cũng được chuyển vào các khu an toàn Nhờ cókết quả của cuộc tổng di chuyển, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ViệtNam có những cơ sở vật chất ban đầu rất quan trọng
- Thành lập Ủy ban bảo vệ, Ban Chỉ huy và Đảng uỷ Mặt trận Hà Nội
Ngày 3 tháng Mười hai 1946
- Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam tổ chức tại Hà Nội
- Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển đến ở và làm việc tại làng Vạn Phúc (Hà Đông)
Ngày 13 tháng Mười hai 1946
Hội nghị các khu trưởng (từ Khu IV trở ra) họp tại Hà Đông
Hội nghị quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng: “… tranh thủ khả năng hòa bình, nhưngphải chuẩn bị cấp tốc để tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện và trường kỳ” Hội nghị rút kinhnghiệm các cuộc chiến đấu ở Hải Phòng, Lạng Sơn, Nam Bộ và đề ra kế hoạch thực hiện “vườn khôngnhà trống”
Ngày 17 tháng Mười hai 1946
- Thành lập Ban Liên lạc đặc biệt
Ban Liên lạc đặc biệt trực thuộc Văn phòng Bộ Quốc phòng, có nhiệm vụ: chuyển công văn từcác cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc Phòng – Tổng chỉ huy về các chiến khu, các tỉnh
và các trung đoàn độc lập thuộc Bộ, Tổ chức của Ban gồm lực lượng chạy chân, xe đạp và mô tô Mỗichiến sĩ được phát một thẻ bài “hỏa tốc” dùng để đi các phương tiện giao thông theo chế độ ưu tiênđặc biệt
- Đánh bại cuộc tiến công của 2.000 quân Pháp vào Củ Chi
Kết quả: các chi đội 6, 11, 12 đã phá hủy 20 xe, diệt 500 tên địch Đây là trận đánh có quy môtập trung, đạt hiệu suất chiến đấu cao, gây tiếng vang lớn
Ngày 17 và ngày 18 tháng Mười hai 1946
Trung ương Đảng họp và quyết định phát động toàn quốc kháng chiến
Ngày 17, quân Pháp nổ súng gây hấn ở Hà Nội: bắn vào trụ sở tự vệ, gây ra vụ thảm sát đẫmmáu ở phố Hàng Bún, phố Yên Ninh Ngày 18, nhiều lần chúng gửi tối hậu thư đòi chiếm trụ sở Bộ
Trang 30Tài Chính, tước vũ khí của tự vệ, chiếm Sở Công an Hà Nội… và đe dọa “đến sáng ngày 20 – 12,những điều đó không được chấp nhận thì quân Pháp chuyển sang hành động” Trong tình hình đó,BTVTƯ Đảng và BCHTƯ Đảng mở rộng đã họp trong 2 ngày 17 và 18 tại làng Vạn Phúc (Hà Đông),quyết định phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đồng thời đề ra nhữngvấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến
Ngày 19 tháng Mười hai 1946
Toàn quốc kháng chiến
Sáng 19, BTVTƯ Đảng điện cho các mặt trận và các chiến khu: “Giặc Pháp đã hạ tối hậu thưđòi tước khí giới của quân đội, tự vệ, công an ta Chính phủ đã bác bức tối hậu thư ấy Như vậy chỉtrong vòng 24 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng Chỉ thị của Trung ương: “Tất cả sẵn sàng”.Buổi chiều, Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp hạ lệnh cho các lực lượng vũ trang: “Giờ chiến đấu đãđến!”
20 giờ ngày 19, các lực lượng vũ trang nhân dân Hà Nội cùng các thành phố có quân Phápchiếm đóng (một số nơi muộn hơn) nhất loạt nổ súng chiến đấu Toàn quốc bước vào cuộc khángchiến chống thực dân Pháp xâm lược
Ngày 20 tháng Mười hai 1946
- Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúngquyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịulàm nô lệ
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ
là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng, ai cógươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thựcdân Pháp cứu nước
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định vềdân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”
- Chính phủ ra sắc lệnh số 1/SL về việc thành lập Ủy ban bảo vệ tại các khu quân sự, các đơn
vị hành chính từ cấp tỉnh trở xuống
Trang 31Sắc lệnh quy định rõ thành phần, quyền hạn và phương thức hoạt động của Ủy ban bảo vệ.Ngày 19-3-1947, Chính phủ ra sắc lệnh số 34/SL sửa đổi điều 2 và ngày 28-3-1947 ra sắc lệnh số38/SL sửa đổi điều 1 của sắc lệnh này
Ảnh: Bút tích Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch tháng 12 năm 1946
(TLI002295)
Ngày 22 tháng Mười hai 1946
BTVTƯ Đảng ra chỉ thị Toàn dân kháng chiến
Bản Chỉ thị vạch rõ: “Mục đích: đánh phản động thực dân Pháp xâm lược, giành thống nhất vàđộc lập; tính chất: trường kỳ kháng chiến, toàn diện kháng chiến; chính sách: đoàn kết chặt chẽ toàndân, thực hiện toàn dân kháng chiến, đoàn kết với Miên, Lào và thân thiện với các dân tộc yêu chuộng
tự do hòa bình, liên hợp với nhân dân Pháp chống phản động thực dân; cách đánh: triệt để dùng dukích, vận động chiến, bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài, phá hoại nhiều hơn bắn, triệt để làm chiđịch đói khát, què, mù, điếc, câm, tiêu hao, mỏi mệt, chán nản Vừa đánh vừa vũ trang thêm, vừa đánhvừa đào tạo thêm cán bộ”
Tiếp theo, Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh đã viết một loạt bài để giải thích đường lối kháng
chiến của Đảng (những bài này đăng liên tiếp trên báo Sự thật, sau đó xuất bản thành tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi)
Bìa tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của Trường Chinh
Ngày 30 tháng Mười hai 1946
Quân ta chặn đánh một đoàn tàu hỏa địch ở Đồng Phan (Quảng Nam), loại khỏi vòng chiến
đấu 300 tên, phá hủy hoàn toàn đoàn tàu
Ngày 31 tháng Mười hai 1946
- Chính phủ ra sắc lệnh số 5/SL thành lập Ủy ban tản cư, di cư
Ủy ban tản cư, di cư có hệ thống từ cấp Trung ương đến các tỉnh, phủ, huyện và làng Các ủyban này có nhiệm vụ lên kế hoạch, triển khai thực hiện việc tản cư và di cư Ngày 12-1-1947 , Ủy bantản cư, di cư Bắc Bộ được thành lập
- Thành lập Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc
Ủy ban gồm 41 thành viên, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chính phủ và có nhiệm vụ nghiêncứu một kế hoạch thiết thực để kiến thiết đất nước về mặt kinh tế, tài chính, hành chính, xã hội, vănhóa… Ngày 10-1-1947, Ủy ban họp phiên đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và nói chuyện vớihội nghị
Cuối năm 1946
Tổ chức các công binh xưởng
Để tiến hành kháng chiến chống Pháp, tính đến cuối năm 1946, cả nước đã tổ chức được nhiềucông binh xưởng, nhất là ở các vùng tự do và các chiến khu Riêng Liên khu V, ta đã tổ chức 10xưởng với tổng số công nhân trên 1.000 người Trong đó, Quảng Nam có các xưởng Phan Đăng Lưu,
Trang 32Nho Báng; Quảng Ngãi có các xưởng Phan Điệt, Từ Nhai, Lý Văn Bé; Bình Định có các xưởngHoàng Hoa Thám, Quang Trung; Phú Yên có xưởng Đoàn Ngọc Lan; Khánh Hòa có xưởng CaoThắng; Ninh Thuận có xưởng Hòn Dơ Các loại vũ khí, các xưởng sản xuất được chủ yếu là lựu đạn,súng ngắn, súng tiểu liên Sten, súng kiểu bắn chim 12 ly, dao, kiếm các loại…
1947
Ngày 6 tháng Một 1947
Thành lập Trung đoàn Thủ đô
Các đơn vị VQĐ, tự vệ, công an xung phong của Liên khu I (khu vực quận Hoàn kiếm ngàynay) chính thức làm lễ thành lập trung đoàn Lúc đầu, trung đoàn mang tên “Trung đoàn Liên khu I”
và được biên chế thành ba tiểu đoàn: 101, 102 và 103 với số quân gần 2.000 người Hội nghị quân sựtoàn quốc lần thứ nhất quyết định tặng danh hiệu “Trung đoàn Thủ đô” cho trung đoàn
Từ ngày 12 đến ngày 16 tháng Một 1947
Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ nhất
Hội nghị họp tại Chúc Sơn (Chương Mỹ, Hà Tây), Hội nghị nhận định: “Rồi đây được tiếp viện,địch sẽ đánh chiếm các đường giao thông, mở rộng các vùng chúng chiếm đóng ra khắp nơi” Hội nghịchủ trương phát động chiến tranh du kích với lối đánh tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch; triệt để tiêu hao,tiêu diệt sinh lực địch; triệt để tiêu thổ kháng chiến, phá hoại đường sá, nhà cửa, làm vườn không nhàtrống, xây dựng các đội đặc biệt như đội cảm tử diệt xe tăng, đội đánh địa lôi… để ngăn chặn bướctiến của địch “Nhiệm vụ chính lúc này là bảo toàn chủ lực và duy trì sức chiến đấu của bộ đội”
Ngày 13 tháng Một 1947
Ngày truyền thống “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”của lực lượng vũ trang Hà Nội
Tối 13-1, tại rạp Tố Như, đội quyết tử của trung đoàn Liên khu I, đã làm lễ tuyên thệ “Quyết tửcho Tổ quốc Quyết sinh” Nhân dịp Tết Đinh Hợi, ngày 27-1, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán
bộ, chiến sỹ Trung đoàn Thủ đô, trong đó có đoạn về các chiến sỹ quyết tử quân: “Các em là đội cảm
tử Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dântộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt,Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em.Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó đề truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời
về sau”
Ngày 17 tháng Một 1947
Trận đánh quân Pháp trên đèo Hải Vân (Đà Nẵng)
Quân Pháp từ Nam Ô đánh lên đèo Hải Vân và đổ bộ lên Lăng Cô, cố khai thông con đườngqua đèo để tiếp viện cho đồng bọn đang bị vây đánh trong thành phố Huế Trong ba ngày chiến đấu,quân dân Đà Nẵng đã tiêu diệt hơn 200 lính Âu – Phi, biến đèo Hải Vân thành mồ chôn giặc Pháp
Ngày 25 tháng Một 1947
Trận tập kích sân bay Gia Lâm
Trang 33Trung đội pháo binh chiến khu X tăng cường cho mặt trận Hà Nội đã tháo rời pháo, hành quânchiếm lĩnh trận địa cách sân bay 400 m, bắn 15 phát, phá hủy 2 máy bay khu trục
Ngày 1 tháng Hai 1947
Bộ Tổng Tham mưu ra “Huấn lệnh về du kích vận động chiến”
Huấn lệnh xác định: “Trong cuộc chiến tranh này, để thắng địch, chiến thuật của ta phải là dukích vận động chiến… ở tiền phương, bộ đội phải luôn thay đổi sự bố trí, chiến thuật phải linh độngsẵn sàng đối phó với sự chuyển biến của mặt trận… ở hậu phương, phải tẩy trừ hình thức dồn đống;trái lại, các bộ đội phải luôn luôn lưu động tập kích, thường vận động tụ tản”
Ngày 3 tháng Hai 1947
- Chính phủ ra sắc lệnh số 14/SL thành lập Nha Tín dụng sản xuất
Nha trực thuộc các bộ Canh nông, Tài chính và Kinh tế, có hệ thống tổ chức ở khắp các tỉnh.Nhiệm vụ của Nha là giúp vốn cho nhân dân phát triển sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, đồngthời hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn, làm hậu thuẫn cho chính sách giảm tức và hướng dẫn nhândân đi vào con đường làm ăn tập thể Từ năm 1947 đến năm 1951, với hơn 300 triệu đồng tiền Tàichính cho vay, Nha đã giúp nông dân (ở các vùng đã được tạm cấp ruộng đất, vùng căn cứ địa, vùng bịchiến tranh tàn phá, vùng mới được giải phóng và cả các vùng du kích) mua thêm một số trâu bò, nông
cụ, phân, giống, làm thuỷ lợi, khai phá đất hoang, phát triển chăn nuôi; đối với thủ công nghiệp, đãgiúp đỡ các ngành dệt vải, kéo sợi, làm đường, ép dầu, sản xuất nông cụ…
- Chính phủ ra sắc lệnh số 12/SL về chế độ kiểm duyệt, in, phát hành báo chí và các loại ấn phẩm
Ngày 14 tháng Hai 1947
Trận đánh ở chợ Đồng Xuân (Hà Nội)
Đây là trận đánh lớn nhất ở Liên khu I, diễn ra trong điều kiện so sánh lực lượng địch hơn hẳn
ta Trận đánh tiêu biểu cho khí phách kiên cường và sự kết hợp giữa lòng quả cảm với trí thông minhsáng tạo của các chiến sĩ “Quyết tử Thủ đô” Cuối cùng, tuy địch chiếm được chợ và dãy nhà số chẵnphố Hàng Thiếc, nhưng chúng đã phải trả giá đắt với hơn 200 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu
Ngày 15 tháng Hai 1947
Hội nghị Chính trị viên toàn quốc lần thứ nhất
Trang 34Thành phần tham dự gồm các Chính trị ủy viên khu và Chính trị viên trung đoàn trở lên Hộinghị xác định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong quân đội, đặt hệ thống tổ chức Đảng trongquân đội từ Tổng Quân ủy đến mỗi chi bộ; đặt mối quan hệ giữa hệ thống Đảng trong quân đội và cácđịa phương; củng cố quân đội chủ lực và chấn chỉnh tổ chức dân quân; tổ chức hệ thống chính trị viên
từ trên xuống dưới, đào tạo cán bộ quân sự và ra báo Vệ Quốc quân làm cơ quan giáo dục toàn quân.Hội nghị còn đề ra 12 điều kỷ luật dân vận và 10 nhiệm vụ công tác chính trị viên trong quân đội
Ngày 16 tháng Hai 1947
- Trận đánh quân Pháp tại Tầm Vu (Cần Thơ), tiêu diệt hoàn toàn đoàn xe địch (có tên Trung tá chỉ huy) và thu toàn bộ vũ khí
- Chính phủ ra sắc lệnh số 17/SL lập Nha Khẩn hoang, Di dân
Đến ngày 2-3-1948, Chính phủ ra sắc lệnh số 145/SL giao nhiệm vụ cho Nha Khẩn hoang, dân
tổ chức việc di dân đi khai thác và phục hồi vùng đất hoang hoá thuộc quyền sở hữu của Nhà nước
Ngày 17 tháng Hai 1947
Kết thúc 60 ngày đêm chiến đấu oanh liệt của quân dân thủ đô Hà Nội
Trong thời gian này, quân dân Thủ đô đã tiêu diệt và bắt sống hơn 2.000 tên địch; phá hủy 22 xetăng và xe thiết giáp; 31 xe vận tải; bắn rơi 1 máy bay, bắn hỏng 7 chiếc khác; bắn chìm 2 ca nô Đây
là kết quả diệt địch lớn nhất trên toàn quốc trong những tháng đầu cả nước kháng chiến Sau khi hoànthành xuất sắc nhiệm vụ tiêu hao, tiêu diệt địch và giam chân một lực lượng lớn quân đội Pháp ở HàNội, được lệnh cấp trên, đêm 17-2, Trung đoàn Thủ đô bí mật vượt vòng vây địch, rút qua sông Hồngsang vùng tự do Phúc Yên một cách an toàn
Ảnh: Cảm tử quân trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp (TLI000027)
Ngày 28 tháng Hai 1947
Chính phủ ra sắc lệnh số 27/SL ấn định thể thức và chế độ trực thu trong thời kỳ kháng chiến
Tháng Hai 1947
- Cuộc kháng chiến lan rộng từ thành phố về nông thôn
Từ ngày Toàn quốc kháng chiến, quân dân ta bao vây đánh địch trên khắp các mặt trận Toàn bộquân Pháp ở thành phố Vinh bị tiêu diệt và bị bắt sống; ở Bắc Giang, Bắc Ninh quân địch phải rútchạy; ở Hà Nội, Nam Định, Huế, Đà Nẵng, quân địch bị vây hãm, tiêu hao, tiêu diệt nhiều Sau khiđịch có thêm nhiều viện binh, quân ta chủ trương “không đánh trận địa với địch, không đương đầu vớihỏa lực mạnh của địch” và “tránh mũi dùi chủ lực của địch để bảo toàn chủ lực và duy trì sức chiếnđấu của bộ đội ta “nên đã rút ra ngoài thành phố sau thời gian vây hãm 60 ngày ở Hà Nội, 90 ngày ởNam Định, 50 ngày ở Huế và 25 ngày ở Đà Nẵng Cuộc kháng chiến lan rộng về các vùng nông thôn
- Thống nhất tên gọi các lực lượng nửa vũ trang là dân quân
Các lực lượng dân quân do chính quyền địa phương chỉ đạo và chia ra: dân quân du kích cónhiệm vụ đánh giặc giữ làng, dân quân tự vệ đảm nhận công tác hậu phương Bộ Quốc phòng ra thông
tư quy định tổ chức tất cả công dân từ 18 tuổi đến 45 tuổi vào dân quân
Trang 35Ngày 1 tháng Ba 1947
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi các đồng chí Bắc Bộ
Người nhắc nhở các cán bộ, đảng viên phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm, như: địaphương chủ nghĩa, đầu óc bè phái, quân phiệt, quan liêu, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lốibàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa
Ngày 2 tháng Ba 1947
Chính phủ ra sắc lệnh số 27B/SL quy định về việc cấp đất công hoang cho công dân trên 18 tuổi
Từ ngày 6 đến ngày 12 tháng Ba 1947
Quân dân Nam Định thắng lớn trong trận chặn đánh quân tiếp viện
Hòng cứu nguy cho bọn bị vây chặt trong thành phố Nam Định từ ngày Toàn quốc kháng
chiến, thực dân Pháp huy động một số quân lớn từ Hà Nội kéo xuống Quân dân Nam Định đã dũngcảm chặn đánh địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên
Ngày 8 tháng Ba 1947
Trận phản công ở Ô Môn (Nam Bộ)
Địch tập trung quân đánh vào vùng căn cứ, ta tổ chức phản công, loại khỏi vòng chiến đấu 400tên
Ngày 10 tháng Ba 1947
Báo Vệ quốc quân ra số đầu tiên
Sau khi ra số báo đầu tiên, ngày 27-3, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Báo: “Vệ quốc quân là
quân đội của nhân dân, để bảo vệ đồng bào Giữ gìn Tổ quốc Báo Vệ quốc quân là cốt để nâng cao
tinh thần và kỷ luật của bộ đội”
Ngày 16 tháng Ba 1947
Chính phủ ra sắc lệnh thành lập Ngoại thương cục
Sắc lệnh định rõ cơ cấu tổ chức của Cục và thể thức về ngoại thương Ngày 17-7-1946, Bộ Kinh
tế ra Nghị định số 112/BKT quy định nhiệm vụ của Cục là tổ chức việc nhập hàng thông qua một sốcửa khẩu như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Lao Cai, Hà Giang, Diêm Điền, Quất Lâm, Thanh Hóa
Ngày 20 tháng Ba 1947
Thành lập Cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng – Tổng chỉ huy
Ngày 21 tháng Ba 1947
Quân dân các vùng Vân Đình (Hà Đông), thị xã Phủ Lý và Nho Quan (Ninh Bình) thắng lớn.
Tại vùng Vân Đình và thị xã Phủ Lý, quân dân ta đã chặn đánh địch nhiều trận, tiêu diệt hơn
800 tên Tại Nho Quan, ta đã bắn rơi 3 máy bay (1 chiếc bị bắn rơi ở Miếu Môn bằng súng trường),phá hủy 7 xe cơ giới khi địch tập trung hơn 5.000 quân từ Nam Định và Hà Đông đánh vào hòng lùngphá các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ
Tháng Ba 1947
Trang 36Chính phủ quyết định đổi tên Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia thành Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ Việt Nam
Cũng trong Quyết định này, Chính phủ còn quyết định thành lập các ban chỉ huy Tỉnh đội,Huyện đội, Xã đội thuộc ủy ban Kháng chiến các cấp Đến đây, lực lượng vũ trang Việt Nam bắt đầu
có sự phân biệt rõ: bộ đội chính quy, du kích địa phương thoát ly sản xuất (bộ đội địa phương) và dânquân tự vệ không thoát ly sản xuất
Ngày 14-4-1948, Chính phủ ra sắc lệnh đổi Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự
vệ Việt Nam thành Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam
Từ ngày 3 đến ngày 6 tháng Tư 1947
Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng
Đây là hội nghị đầu tiên của Trung ương Đảng từ khi Trung ương rút khỏi Thủ đô lên căn cứ địaViệt Bắc để chỉ đạo cả nước kháng chiến Hội nghị phân tích tình hình thế giới và trong nước, phântích cuộc kháng chiến của ta và đề ra những chủ trương, chính sách về chính trị, quân sự, kinh tế, vănhóa nhằm thực hiện “ toàn dân đoàn kết, kháng chiến lâu dài” Hội nghị khẳng định: “Kháng chiếnnhất định thắng lợi” Hội nghị cũng quyết định một số nhiệm vụ cần kíp như: “1/ Đối với bộ đội: nắmvững và rèn luyện… làm cho bộ đội ta xứng đáng là bộ đội cách mạng của nhân dân… 2/ Chiến lược,chiến thuật:… cương quyết chuyển sang du kích vận động chiến, giành quyền chủ động về chiếnthuật… cương quyết chuyển sang du kích vận động chiến, giành quyền chủ động về chiến thuật… 3/Vận động dân quân: cấp tốc xúc tiến việc tổ chức, huấn luyện và võ trang, lãnh đạo dân quân… 4/ Căn
cứ địa: tổ chức căn cứ địa ở miền rừng núi và đồng bằng 5/ Quân giới:… chế tạo các vũ khí phá xetăng, chặn ca nô (bazôka, mìn địa lôi) và vũ khí thô sơ… 6/ Quân lương: Thực hành việc bộ đội thamgia sản xuất”
Ngày 19 tháng Tư 1947
Thành lập Xí nghiệp cơ khí Trần Hưng Đạo
Đây là xí nghiệp cơ khí đầu tiên của ngành công nghiệp quốc doanh Việt Nam do Ban Kinh tếTrung ương Đảng thành lập ở Việt Bắc (nay là Công ty cơ khí Trần Hưng Đạo)
Ngày 25 tháng Tư 1947
- Chính phủ ra Sắc lệnh số 45/SL thành lập Tòa án binh tối cao
- Quân dân Kiến An chặn đánh nhiều trận, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên Pháp khi chúng đánh vào thị xã
- Đội biệt động Quảng Trị đội kích vị trí Dương Lộc, tiêu diệt 300 tên
Tháng Tư 1947
- Chế tạo thành công súng bazôka
Việc nghiên cứu, chế tạo đã được thực hiện ở xưởng quân giới Giang Tiên (Thái Nguyên) từgiữa năm 1946 Sau đó, kỹ sư Trần Đại Nghĩa trực tiếp nghiên cứu và chỉ đạo chế tạo thành côngbazôka theo mẫu của Mỹ (kiểu ATM6A1), cỡ 60 ly, dài 1,27 mét, nặng 11 kg, có thể vác vai, bắnkhông giật, cự ly bắn hiệu quả từ 50 đến 60 mét, xa nhất 300 mét Đạn bazôka là đạn lõm chống tăng
Trang 37Ngày 3-3, bazôka được sử dụng để diệt xe tăng Pháp tại Sơn Lộ, chùa Trầm (Hà Đông) Cũng thờigian này, các cơ sở quân giới còn nghiên cứu, chế tạo được một số vũ khí chống tăng cỡ nhỏ (AT),súng phóng lưu, cối 51 ly…
Tháng Tư và tháng Năm 1947
Quân dân cả nước đẩy mạnh chống càn và đánh giao thông.
Tại Bắc Bộ: tiểu đoàn 60 (Khu II) phá chiến dịch đường số 6 của địch Quân và dân làng CựNẫm (Quảng Bình) đánh bại cuộc càn lớn của địch, được tuyên dương là “Làng chiến đấu kiểu mẫu”.Tại Trung Bộ: trung đoàn 81 phục kích diệt 40 tên địch ở Suối Ván; sau đó, diệt 4 xe quân sự, 35 tênđịch tại Lăng Ông Tiểu đoàn 193 (trung đoàn 108) diệt một đoàn xe quân sự, thu nhiều vũ khí tại đèoHải Vân Tại Nam Bộ: bộ đội Khu VIII diệt một đoàn xe vận tải quân sự ở Giồng Dừa; bộ đội Khu IXdiệt 6 xe vận tải, hơn 100 lính Pháp, thu nhiều vũ khí ở Tầm Vu (Rạch Giá)
Ngày 16 tháng Năm 1947
Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ nhất (tổ chức tại Tuyên Quang)
Ngày 22 tháng Năm 1947
Trận phục kích đánh Pháp thắng lớn ở đèo Hải Vân (Đà Nẵng), tiểu đoàn 19 diệt gọn một đoàn
xe vận tải 10 chiếc, 1 đại tá và 2 đại uý Pháp phải đền tội
Ngày 24 tháng Năm 1947
Khai mạc Hội nghị Dân quân du kích toàn quốc lần thứ nhất
Hội nghị quyết định, các tổ chức dân quân tự vệ và du kích vốn là những tổ chức vũ trang quầnchúng do Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể Cứu quốc xây dựng trước đây trở thành một bộ phậntrong các lực lượng vũ trang Nhà nước, do các cơ quan quân sự địa phương chỉ huy Chủ tịch Hồ ChíMinh gửi thư cho Hội nghị: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nàocũng phải tan rã”
Cuối tháng Năm 1947
Thành lập Đội Liên lạc Vô tuyến điện 59
Đội Liên lạc Vô tuyến điện 59 trực thuộc Phòng Thông tin Liên lạc quân sự, có nhiệm vụ bảođảm liên lạc vô tuyến điện từ Bộ Tổng Chỉ huy và Bộ Tổng Tham mưu tại căn cứ Việt Bắc đi cả nước
Trang 38Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ ba
Hội nghị đề ra kế hoạch hoạt động để “phá sự chuẩn bị tiến công mùa đông của địch” Đồngthời gấp rút “bồi dưỡng, chấn chỉnh bộ đội, củng cố căn cứ địa kháng chiến Tích cực chuẩn bị tácchiến trong thu đông”
Ngày 26 tháng Bảy 1947
Chính phủ ru sắc lệnh số 67/SL cho phép UBHC Nam Bộ phát hành công trái (lần thứ hai)
Ngày 27 tháng Bảy 1947
Ngày Toàn dân giúp đỡ thương binh và gia đình liệt sĩ
Tháng 6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong năm làm Ngày thương binh
để nhân dân có dịp tỏ lòng biết ơn, yêu mến thương binh Thực hiện chỉ thị, Hội nghị cán bộ họp ởPhú Minh (Đại Từ, Thái Nguyên) nhất trí lấy ngày 27-7-1947 làm “Ngày Toàn dân giúp đỡ thươngbinh và gia đình liệt sỹ” (gọi tắt là ngày thương binh liệt sỹ) Trong Ngày Thương binh liệt sỹ được tổchức lần đầu tiên này, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thương binh chiếc áo do Hội Phụ nữ Cứu quốc biếu
và một tháng lương cùng tiêu chuẩn bữa ăn của Người Từ đó, ngày 27-7 hằng năm trở thành Ngàythương binh liệt sỹ
Trang 39- Chính phủ ra sắc lệnh số 83/SL thành lập Viện Huân chương
- Chính phủ ra sắc lệnh số 86/SL thành lập Việt Nam Quốc gia Ngân hàng
Ngày 20 tháng Chín 1947
Chính phủ ra sắc lệnh thưởng những gia đình có 3 con trở lên tòng quân
Hình thức thưởng: thưởng bằng tiền, hoặc thưởng danh dự (tặng một bằng danh dự, hoặc biệtđãi ở các địa phương trong các cuộc họp công cộng)
Ngày 25 tháng Chín 1947
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào tham gia “Mùa đông binh sĩ”
Trong thư gửi Cụ Chủ tịch ủy ban trung ương “Mùa đông binh sĩ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Đồng bào ta đã giúp nhiều lần Lần này, mặc dầu hoàn cảnh khó khăn, nhưng tôi rất mong đồng bàocũng ra sức giúp, để chiến sĩ khỏi lạnh lùng và đủ ấm áp để ra sức xung phong diệt địch…”
Ngày 27 đến ngày 29 tháng Chín 1947
Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ tư
Hội nghị nhận định: “Bắc Bộ sẽ là chiến trường chính, nếu địch không mạo hiểm thì đánh đồngbằng, nếu mạo hiểm thì chúng sẽ đánh Việt Bắc” Hội nghị chủ trương nắm vững bộ đội, giữ gìn chủlực, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, bảo vệ căn cứ; thực hiện phối hợp giữa các khu và phối hợpchiến lược toàn quốc, phá tan âm mưu lập nguỵ quyền của địch; kiên quyết thực hiện đánh du kíchchiến và vận động chiến, “dùng đơn vị đại đội để hoạt động trên chiến trường của mỗi địa phương”,
“tập trung từng tiểu đoàn chủ lực cơ động đánh vận động chiến”, “tránh phòng ngự chính diện, bộ độiphải ở lại sau lưng địch, hóa chỉnh vi linh, hóa linh vi chỉnh, hóa trang lẫn vào dân khi cần”, “… Baogiờ cũng lấy bảo tồn lực lượng chứ không phải giữ đất làm chủ”
Ngày 7 tháng Mười 1947 đến ngày 22 tháng Mười hai
Chiến dịch Việt Bắc
Kế hoạch tiến công Việt Bắc do Xalăng (Salan), Tư lệnh chiến trường Bắc Đông Dương vạch ra
và được Chính phủ Pháp phê chuẩn tháng 7 – 1947 Âm mưu của cuộc tiến công này, như lời Vallytuyên bố, là Pháp “sẽ chơi ván bài cuối cùng”nhằm phá tan cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt bộđội chủ lực của Việt Minh, lập nguỵ quyền toàn quốc, kết thúc chiến tranh và đặt lại ách thống trị thựcdân trên toàn bộ nước Việt Nam ; đồng thời nhằm khoá chặt biên giới Việt – Trung, ngăn chặn mốiquan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Trung Quốc
Ngày 7 – 10, quân Pháp bắt đầu tiến công Việt Bắc Ngay tối hôm đó, TVTƯ Đảng điện cho cáckhu ủy thông báo tình hình và ra lệnh cho các khu ủy, quân khu ủy chỉ huy bộ đội đánh mạnh để chia
Trang 40xẻ lực lượng địch, phá kế hoạch tiến công của chúng Ngày 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọiquân dân ra sức tiêu diệt địch Cùng ngày, Bộ Tổng Chỉ huy hạ quyết tâm chiến dịch và ra nhật lệnhkêu gọi quân dân anh dũng chiến đấu Ngày 15, BTVTƯ Đảng lại ra chỉ thị “Phải phá tan cuộc tấncông mùa đông của giặc Pháp”
Thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn, với 12.000 binh sĩ (có 2 binh đoàn tinh nhuệ nhất),
40 máy bay, 800 xe cơ giới do Trung tướng Xalăng trực tiếp chỉ huy chia thành 3 hướng tiến côngViệt Bắc Về phía ta, để phản công đánh bại địch, Bộ Tổng Chỉ huy đã huy động các trung đoàn 147,
165 (chủ lực của Bộ); 72, 74, 121 (của Khu I), 11, 36, 59, 98 (của Khu XII); một tiểu đoàn pháo binh
và trung đoàn Sông Lô (của Khu X); năm tiểu đoàn độc lập (của Bộ, Khu I, Khu XII); các binh chủng
và lực lượng du kích của các địa phương
Chiến dịch diễn ra trong 2 đợt (đợt I: từ 7-10 đến 20-11; đợt II: từ ngày 21-11 đến 22-12) Cácđơn vị của ta thực hiện “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” và đánh du kích, đánh vận động trên cácđịa bàn, trọng điểm là các mặt trận Đường số 3, Đường số 4, Sông Lô, bẻ gãy các mũi tiến công đườngkhông, đường bộ, đường thủy của các binh đoàn đổ bộ đường không, binh đoàn bộ binh thuộc địa,binh đoàn hỗn hợp bộ binh thuộc địa, lính thủy đánh bộ cùng lực lượng dự bị của Pháp, gây cho địchtổn thất lớn: bắn rơi tại chỗ máy bay chở viên Tham mưu phó quân viễn chính Pháp ở Đông Dương,thu tài liệu kế hoạch chiến dịch của địch (9-10); phục kích ở bản Sao, đèo Bông Lau (30-10); bắn tàuchiến, ca nô tại Khoan Bộ (23-10), Đoan Hùng (24-10), La Hoàng (20-11); Khe Lau (10-11)… trênsông Lô; tập kích đồn Phủ Thông (30-11); phục kích tại đèo Giàng trên đường số 13 (15-12)… Ngày 22-12, quân dân ta tổ chức duyệt binh mừng chiến thắng tại thị xã Tuyên Quang Cũngngày hôm đó, đám tàn quân Pháp bại trận vượt qua cầu Đuống về Hà nội
Trong chiến dịch Việt Bắc, quân Pháp bị bắt 270 tên, bị thương hơn 3.000 và hơn 3.000 tênkhác chết Các đơn vị ta đã bắn rơi 16 máy bay, phá huỷ 255 xe cơ giới, 100 khẩu pháo, cối; bắn chìm
11 tàu chiến và ca nô; thu được hàng chục tấn vũ khí, quân trang, quân dụng
Chiến thắng Việt Bắc đã làm phá sản chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp,đưa cuộc kháng chiến của quân dân Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới
Ngày 8 tháng Mười 1947
Trận tập kích thị xã Ninh Hòa (Nam Trung Bộ), loại khỏi vòng chiến đấu 450 tên địch
Tháng Mười 1947
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn “Sửa đổi lối làm việc”
Cuốn sách được dùng làm tài liệu tu dưỡng tư tưởng đạo đức và tác phong cho cán bộ, đảngviên Nội dung của cuốn sách gồm 6 phần lớn: 1/ Phê bình và sửa chữa 2/ Mấy điều kinh nghiệm.3/Tư cách và đạo đức cách mạng 4/Vấn đề cán bộ 5/Cách lãnh đạo 6/ Chống thói ba hoa
Ngày 1 tháng Mười một 1947
Chính phủ ra sắc lệnh số 102/SL cho Nam Bộ phát hành một số loại tín phiếu có giá trị như giấy bạc Việt Nam