1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

12 biên niên lịch sử việt nam 1858 1918

275 583 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 275
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triều đình hạ lệnh cho quan lại các tỉnh Nam Kỳ được phép tiếp nhận những người tình nguyện gia nhập quân đội chính quy để đi chống giặc Pháp; cho phép nhân dân Nam Kỳ chế tạo, rèn đúc b

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Từ nửa cuối thế kỷ XIX, trên đất nước Việt Nam đã diễn ra một mâu thuẫn đối kháng lớn mang tính thời đại: mâu thuẫn giữa một bên là chủ nghĩa thực dân Pháp, với một bên là dân tộc Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị

Trong suốt 87 năm - từ khi tiếng súng xâm lược của liên quân thực dân Pháp - Tây Ban Nha nổ ở bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) ngày 1-9-1858, đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) - quá trình vận động của cả hai mặt đối lập của mâu thuẫn đó đã để lại biết bao nhiêu sự kiện thuộc mọi lĩnh vực như: chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học kỹ thuật, pháp luật, tổ chức cai trị hành chính, v.v

Chúng tôi không có tham vọng ghi lại tất cả những sự kiện đó, mà chỉ cố gắng sưu tầm, hệ thống hóa một số sự kiện chủ yếu thuộc các lĩnh vực nêu trên

Về cách thể hiện sự kiện, có mấy điểm dưới đây cần trình bày trước để bạn đọc rõ:

1 Có sự kiện bao hàm trong nó nhiều vấn đề chúng tôi đã tách ra thành từng vấn đề riêng, lập thành một sự kiện độc lập để việc tra cứu thêm phần hiệu quả

Ví dụ: Ngày 27-9-1897, vua Thành Thái ra dụ về việc "Tổ chức lại Chính phủ Nam triều"; đây là một sự kiện có tính chất tổng hợp; nhưng trong sự kiện tổng hợp này lại đề cập đến một số vấn đề

cụ thể như "Bãi bỏ Hội đồng Phụ chính", "Tổ chức lại Hội đồng Cơ mật", v.v Chúng tôi đã tách những vấn đề cụ thể đó ra để lập thành từng sự kiện độc lập

2 Ngược lại, có những sự kiện diễn ra trong những ngày, tháng, năm khác nhau, nhưng lại thuộc chung một vấn đề, một chủ thể, thì trong điều kiện có thể, chúng tôi lại gộp lại thành một cụm sự kiện Cụm sự kiện sẽ góp phần làm cho bạn đọc nắm được nguyên nhân, quá trình diễn biến của sự kiện được nêu Mặt khác, cụm sự kiện cũng tránh được tình trạng dàn trải những sự kiện thuộc cùng

1

Trang 2

một chủ thể mà khi để chúng đứng độc lập thì chúng ít có tác dụng gợi ý về tính quy luật phát triển của sự việc.

Ví dụ: Ngày 19-3-1913, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập Hội đồng hàng tỉnh ở Bắc

Kỳ Đấy là một sự kiện Song, chúng tôi đã đưa vào sự kiện này những sự kiện có liên quan đến tổ chức tiền thân của Hội đồng hàng tỉnh Bắc Kỳ với những tên gọi khác nhau ở những năm 1886,

1898, 1907, 1908

3 Nhìn chung, chúng tôi không dừng lại ở chỗ mô tả sự việc, sự kiện một cách đơn giản như:

"Ngày 13-4-1909, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định về nhân công người bản xứ làm tại các đồn điền nông nghiệp ở Nam Kỳ" mà, đứng trên góc độ của người làm công cụ tra cứu giúp cho các nhà nghiên cứu - và trong điều kiện có thể - chúng tôi đã cố gắng đưa vào sự kiện này nội dung cơ bản của nghị định

Trong lần xuất bản này của bộ Việt Nam - những sự kiện lịch sử thì giai đoạn 1858 - 1918 ghi chép những sự kiện từ đầu tháng 9-1858 đến cuối tháng 12-1918, mà lần xuất bản trước đây chia làm hai tập khổ nhỏ( ) Chúng tôi đã sửa chữa, đính chính, và đặc biệt là bổ sung được phần Sách dẫn Song, tuy đã có phần Sách dẫn này, nhưng chúng tôi vẫn xin được bảo lưu mục chỉ dẫn bạn đọc

"xem thêm" (tại cuối mỗi sự kiện) những ngày, tháng, năm của những sự kiện khác có liên quan Điều này giúp bạn đọc tiếp cận được vấn đề một cách nhanh chóng sâu và gọn hơn, theo từng chuyên đề

Ví dụ: ở sự kiện thành lập "KHO NGHĨA THƯƠNG" (12-1859) thì bên dưới có ghi "xem" ngày tháng năm của sự kiện thành lập "KHO XÃ THƯƠNG" (6-1865)

Trong khi biên soạn, chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn như: nguồn tài liệu rất phong phú song tản mạn, không tập trung; nội dung, diễn biến của một số sự kiện được thể hiện khác nhau ở những nguồn tài liệu khác nhau; ngày tháng năm Âm - Dương lịch khá phức tạp v.v Để khắc phục những khó khăn trên nhằm tiếp cận đến độ chính xác tối đa có thể của từng sự kiện (cả về ngày tháng năm, lẫn nội dung), chúng tôi đã cố gắng xử lý, đối chiếu so sánh những tư liệu thu thập được theo

hướng: những sự kiện thuộc lĩnh vực nào, đều gắng tìm đọc những sách chuyên ngành về lĩnh vực

ấy, như về chính trị, quân sự, kinh tế, pháp luật, công chính v.v Và, nhiều khi lấy tư liệu lưu trữ làm cơ sở để lựa chọn, xác minh

Nhân dịp sách được xuất bản, chúng tôi xin chân thành cảm ơn bạn đọc, cảm ơn Ban lãnh đạo Viện

Sử học Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục cùng các bạn đồng nghiệp trong và ngoài Ban Lịch sử cận đại Việt Nam, cảm ơn ông Dương Trung Quốc là người đã bổ sung phần ảnh cho tập sách này

Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm 1998

DƯƠNG KINH QUỐC

1858

1 tháng Chín 1858

Mở đầu cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược Quân dân ta đã dũng cảm đương đầu với súng đạn, chiến thuyền của liên quân thực dân Pháp - Tây Ban Nha khi chúng nổ súng tấn công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng)

- Sau khi cùng Chính phủ Trung Hoa ký kết Hiệp ước Thiên Tân ngày 27-6-1858, Chính phủ thực dân Pháp điều động Rigôn Đờ Giơnuiy (Rigault De Genouilly), thiếu tướng hải quân Pháp, sang xâm lược Việt Nam

- Ngày 30-8-1858, chiến hạm Pháp đến đóng tại đảo Hải Nam để hội quân cùng chiến hạm Tây Ban Nha do đại tá Landarốt (Lanzarote) chỉ huy Ngày 31-8-1858, 13 chiến thuyền của liên quân Pháp - Tây Ban Nha đến ngoài khơi vịnh Đà Nẵng thả neo

2

Trang 3

- Trong giai đoạn đầu của cuộc vũ trang xâm lược này, tính tới Hiệp ước 5-6-1862, Bộ Hải quân và Thuộc địa của đế quốc Pháp đã phải cử những viên tướng sau đây sang chiến trường Việt Nam:

1 Rigôn Đờ Giơnuiy: Thiếu tướng Tổng chỉ huy lực lượng hải quân Pháp trên vùng Biển Đông; được phong làm Phó Thủy sư Đô đốc ngày 9-8-1858, trước khi lên đường sang Việt Nam, giữ chức Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh tại Việt Nam từ ngày 1-9-1858 đến ngày 1-11-1859

2 Pagiơ (Page): Thiếu tướng hải quân, thay Rigôn Đờ Giơnuiy giữ chức Tổng chỉ huy lực lượng hải quân Pháp trên vùng Biển Đông và kiêm Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh đánh chiếm Việt Nam từ 1-11-1859 đến ngày 15-5-1860

3 Sacne (Charner): Phó Thủy sư Đô đốc; ngày 4-2-1860 được phong làm Tổng chỉ huy lực lượng hải quân Pháp trên vùng Biển Đông, ngày 15-5-1860 chính thức nhận bàn giao của tướng Pagiơ và kiêm giữ luôn chức Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh xâm lược Việt Nam cho tới ngày 29-11-1861

4 Bôna (Bonard): Thiếu tướng hải quân; ngày 8-8-1861 được phong chức Tổng chỉ huy lực lượng hải quân Pháp trên vùng Biển Đông; ngày 29-11-1861 nhận bàn giao của Sacne và kiêm giữ chức Tổng tư lệnh lực lượng viễn chinh tại Việt Nam; ngày 5-6-1862 ký Hiệp ước với Triều đình Huế tại Sài Gòn; ngày 25-6-1862 được phong làm Phó Đô đốc và nắm quyền thống trị ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa theo tinh thần Hiệp ước 5-6-1862 Ngày 30-4-1863 chuyển giao quyền hành cho Đô đốc Đờ La Grăngđie (De La Grandière)

Tháng Chín 1858

Trần Nhật Hiển, đội trưởng doanh Kỳ Vũ, một võ quan cấp thấp của Triều đình Huế, đã hiến mật kế

để chống đánh giặc Pháp Triều đình chấp thuận; cho thi hành: làm dây xích sắt chắn ngầm ngang các dòng sông và các cửa biển Thuận An, Tư Hiền; dùng thuyền nhỏ phục kích tại những nơi hiểm yếu

Tháng Chín - Tháng Mười 1858

Quân và dân tỉnh Quảng Nam dùng sọt tre, thùng gỗ chứa đất, đá lấp dòng sông Vĩnh Điện để ngăn chặn đường tiến của giặc Pháp Dòng sông bị lấp, thế nước sẽ dồn về cửa biển Đại Chiêm, do đó mạn hạ lưu sẽ cạn, thuyền giặc không thể vào được; quân dân ta chỉ còn lo tập trung phòng bị mặt đường bộ

Trang 4

Quân dân ta đánh bại quân Pháp ở cửa biển Nam Thọ, tịch thu một chiếc thuyền sam bản của giặc.

10 tháng Hai 1859

Chiến thuyền của liên quân Pháp - Tây Ban Nha trên đường hành quân từ Đà Nẵng vào Sài Gòn đã

từ ngoài khơi nã đại bác vào các pháo đài của quân triều đình ở khu vực Vũng Tàu

17 tháng Hai 1859

Thực dân Pháp mở cuộc tấn công quy mô vào thành Sài Gòn Các đồn, bảo, các pháo đài bảo vệ thành Sài Gòn từ xa, liên tiếp thất thủ: pháo đài Phúc Thắng, bảo Lương Thiện (Biên Hòa), đồn Phúc Vĩnh, đồn Danh Nghĩa (Gia Định) Cửa biển Cần Giờ do Đề đốc Gia Định là Trần Trí chia quân đóng giữ, cũng lọt vào tay giặc Quân giặc theo đường sông tiến áp sát tỉnh thành và đổ bộ công phá thành Thành vỡ Án sát Lê Tứ tự vẫn theo thành; Hộ đốc Vũ Duy Ninh rút khỏi thành, đến thôn Phúc Lý, huyện Phúc Lộc, cũng thắt cổ tự vẫn; Đề đốc Trần Trí, bố chánh Vũ Thực và lãnh binh Tôn Thất Năng đem tàn quân rút về bảo Tây Thái huyện Bình Long

17 tháng Hai 1859

5.800 nông dân Gia Định dưới sự chỉ huy của Trần Thiện Chính (cựu tri huyện) và Lê Huy (cựu suất đội) đã chủ động tập hợp nhau lại, xông ra chống đánh giặc Pháp để bảo vệ quân triều đình rút lui an toàn về bảo Tây Thái Dân chúng nô nức đem tiền, gạo giúp cho quân của Trần Thiện Chính

18 tháng Hai 1859

Quân Pháp kéo vào chiếm đóng Sài Gòn, tỉnh thành của Gia Định lúc bấy giờ

Sau khi tỉnh thành Gia Định thất thủ, triều đình điều 1500 quân chính quy từ ba tỉnh Bình Định, Bình Thuận, Khánh Hòa (mỗi tỉnh 500 quân) vào phòng giữ Biên Hòa; còn việc phòng thủ ba tỉnh

đó giao cho dân dõng địa phương đảm nhiệm

Về phía Pháp thì, ngày 6-3-1859 chúng ra lệnh phá hủy tỉnh thành, đốt hết kho tàng, dinh thự rồi rút

ra ngoài thành đóng giữ ở pháo đài phía nam để tránh quân triều đình tấn công đánh chiếm lại tỉnh thành Sau đó, ngày 20-4-1859, Rigôn Đờ Giơnuiy giao quyền cho đại tá hải quân Giôrêghibery (Jauréguiberry), còn hắn lại trở ra Đà Nẵng tính việc tấn công Huế Tháng 12-1859 Giôrêghibery trở lại đóng chiếm tỉnh thành Sài Gòn và mở rộng việc chiếm đóng ra khu vực Chợ Lớn

Tháng Hai 1859

Triều đình Huế lo việc phòng thủ kinh đô: xây đắp công sự, lập nhiều lớp phòng tuyến ở cửa Thuận

An và dọc theo đường sông tiến vào Huế

Tháng Hai 1859

4

Trang 5

Triều đình hạ lệnh cho quan lại các tỉnh Nam Kỳ được phép tiếp nhận những người tình nguyện gia nhập quân đội chính quy để đi chống giặc Pháp; cho phép nhân dân Nam Kỳ chế tạo, rèn đúc binh khí và tổ chức các đoàn hương dõng để tự bảo vệ nhà cửa, làng xã; cho phép sĩ phu Nam Kỳ chiêu

mộ nghĩa quân lập thành đội ngũ để tự đi đánh giặc hoặc đi theo quân thứ của triều đình để chống giặc

6 tháng Ba 1859

Triều đình điều quân Vĩnh Long và Định Tường đến chùa Mai Sơn, lũy Lão Sầm thuộc địa hạt Gia Định để mưu chiếm lại tỉnh thành Gia Định Quân Pháp tấn công chùa Mai Sơn (thôn Phú Giáo) Quân triều đình rút về Vĩnh Long Quân Pháp phá hủy tỉnh thành và rút ra ngoài đóng

* Xem: 1-1860

Tháng Ba 1859

Triều đình ra lệnh cho các tỉnh từ Bình Định trở vào Nam phải tuyển tất cả những người nào biết nghề thuốc, đặc biệt là biết chữa các loại vết thương do gươm giáo súng đạn gây ra, để đưa vào quân thứ Định Tường - Biên Hòa chữa cho binh lính; mỗi tháng cấp 2 quan tiền và 1 phương gạo.Tháng Ba 1859

Nguyễn Tán, lãnh binh đạo Quảng Trị, làm "ngựa gỗ", hòm gỗ chặn ngang các cửa biển Việt An và Tòng Luật để phòng, chống giặc

"Ngựa gỗ" là đoạn gỗ dài 6 thước, có đóng 3 chân, mỗi chân dài 3 thước, dùng làm chướng ngại vật cản đường quân địch

- Ngày 20-4-1859: Rigôn Đờ Giơnuiy từ Sài Gòn ra Đà Nẵng và quyết định mở chiến dịch này

- Ngày 18-6-1859: quân giặc xin đình chiến (để chờ viện binh): triều đình chấp nhận (để củng cố các tuyến phòng thủ)

Ngày 14-9-1859: tám trung đội viện binh của địch tới Đà Nẵng; ngày 15-9-1859, Pháp bội ước, mở đợt tấn công phá hủy toàn bộ tuyến phòng thủ thứ hai của triều đình

5

Trang 6

- Ngày 19-10-1859: Thiếu tướng hải quân Pagiơ (Page) từ Pháp tới Đà Nẵng thị sát và quyết định tiếp tục tấn công vào các tuyến phòng thủ của quân triều đình trên toàn bộ triền sông Huế Ngày 18-11-1859, tuyến phòng thủ cuối cùng bị quân giặc phá hủy.

Tháng Năm 1859

Hoàng Văn Hiến, tượng mục Vũ Khố, được giao nhiệm vụ chế đúc súng đồng

Tháng 11 đúc xong: Nòng súng dài 7 thước, gồm 3 đến 4 đoạn nối với nhau bằng đường xoáy trôn ốc; đường kính của nòng: 2 tấc 3 phân

Tháng Năm 1859

Triều đình đề ra một số biện pháp để quản lý số giáo dân ở Gia Định đã bị giặc dụ dỗ làm tay sai cho chúng: Bắt giam cha mẹ vợ con của những kẻ đã thực sự làm tay sai cho giặc và buộc họ phải gọi chúng về; đối với bọn cường hào, đầu mục theo đạo, phải quản thúc chặt không cho chúng tự do

đi lại; sáp nhập người già, phụ nữ, trẻ con đã theo đạo và có thái độ trông chờ quân Pháp vào các xã thôn không có người theo đạo để tiện quản lý; ngăn chặn không cho dân đạo tiếp xúc liên hệ với Pháp; đối với dân theo đạo đã bỏ đạo ra thú thì cho phép xã sở tại được nhận về để quản thúc, nhưng với điều kiện xã ấy phải ở xa nơi Pháp đóng chiếm (trường hợp xã ở gần đồn binh Pháp thì không được nhận mà phải chuyển giao cho các xã ở xa đồn binh Pháp nhận quản thúc hộ)

Lê Chí Tín, Đoàn Thọ, Tôn Thất Thường, Tôn Thất Dao, Nguyễn Hào)

Trang 7

Tháng Tám 1859

Quy định thể thức niêm phong ống văn thư chạy trạm: các công văn giấy tờ phải cho vào hai lần phong bì, mỗi lần phong bì đều phải dán kín và đóng dấu vào đường dán, bỏ phong bì vào một ống tre nhỏ (loại khô, chắc chắn, một đầu có mấu kín), bịt miệng ống bằng 2,3 lần giấy và đóng dấu bảo đảm lên trên chỗ miệng ống giáp nhau, buộc dây rồi dán giấy lên trên lần nữa, bỏ ống tre nhỏ đó vào một ống tre khác, dán kín miệng ống tre thứ hai, đánh dấu, lấy dây buộc chặt lại và dán keo lên trên

Trang 8

600 quan: miễn 12 năm; 700 quan: miễn 14 năm; 800 quan trở lên: được cấp hàm tòng cửu phẩm; 1.200 quan trở lên: được cấp hàm chánh cửu phẩm.

bổ cho quan tước; tỉnh nào thi hành chậm trễ hoặc thi hành trái với dụ này sẽ chiếu theo quân luật trị tội

* Xem thêm: 5-1859

Tháng Mười Một 1859

Bắt đầu dùng "ống phun lửa" để phòng thủ và chống đánh giặc Pháp

- Tháng 1-1856 (tháng Chạp năm Ất Mão): "đuốc hỏa chiến" được chế tạo lần đầu tiên và đã được đem ra thí nghiệm ở trường bắn

Tháng Mười Hai 1859

8

Trang 9

Tự Đức ra dụ cho các xã thôn lập "Kho Nghĩa thương" Kho Nghĩa thương là kho chứa thóc riêng của xã, do xã quản lý, nhằm giúp những người nghèo thiếu trong xã bằng hình thức phát không hoặc cho vay Thóc kho Nghĩa thương do dân xã tùy tâm tự nguyện ủng hộ bằng tiền để mua thóc, hoặc trực tiếp góp bằng thóc, hoặc thu số "thóc sương" (tức thóc trả công cho tuần canh hàng năm, mỗi mẫu mấy đấu tùy theo lệ làng).

Dụ này thoạt tiên cho thi hành ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi Tháng 5-1860, riêng Quảng Nam đã có 24 xã lập được kho Nghĩa thương (phủ Thăng Bình: 6 xã; phủ Điện Bàn: 2 xã; huyện Quế Sơn: 3 xã; huyện Hà Đông: 13 xã) Tháng 12-1860 ở Bình Định có 3 thôn lập Nghĩa thương để trợ giúp cho dân trong thôn và ngoài ra còn giúp cho cả các thôn lân cận, kết quả tốt Tháng 4-1862 cho mở rộng việc lập kho Nghĩa thương ra các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình

* Xem: 6-1865 (lập "Kho xã thương") 12-1867

- Thấy vậy, Pagiơ ra lệnh tấn công, nhổ cừ, tràn vào sông và đổ bộ đánh chiếm khu vực chùa Mai Sơn

Mười một khoản của Pháp đề ra là:

1 - Hai bên chấm dứt mọi xung đột, ký kết hòa hiếu với nhau

2 - Sứ thần của Pháp được sử dụng đường bộ để đi từ Đà Nẵng vào kinh đô Huế

3 - Nước Nam đặt quan hệ ngoại giao với nước nào, thì nước Pháp cũng coi nước đó là bạn

4 - Triều đình Huế phải khoan tha, không được trả thù những người đã cộng tác với Pháp

5 - Pháp sẽ rút quân, ngay sau khi hòa ước này được hai bên ký kết;

6 - Triều đình Huế không được bắt giữ, xét hỏi và xâm phạm đến tài sản của những người theo đạo Gia Tô một cách vô cớ; trường hợp giáo dân làm bậy thì chiểu luật trị tội;

7 - Đối với giáo sĩ người Pháp phạm tội, triều đình phải giao cho nước Pháp xử lý, chứ không được đem giết hoặc đóng gông, khóa, trói

8 - Không được ngăn cản hoặc yêu sách ngoại lệ đối với thương thuyền của nước Pháp đến các cửa biển thông thương buôn bán;

9 - Triều đình Huế cấp cho Tây Ban Nha một bản Hòa ước;

10 - Cho giáo sĩ Pháp được tự do đến những xã có dân theo đạo để giảng đạo;

11 - Cho người Pháp đến bờ biển lập phố thông thương buôn bán

* Xem: 2-1860

9

Trang 10

Tháng Giêng 1860

Hoàn thành bộ sách "Khâm định nhân sự kim giám"

Sách này bắt đầu khởi thảo từ năm Tự Đức thứ X (1857); cuối năm Tự Đức thứ XII (1859) thảo xong

Sách gồm 483 quyển, chia làm 8 đề mục: luân thường, hình thể, phẩm hạnh, cảnh ngộ, ngôn ngữ, văn học, võ lược, nghệ thuật

Tháng Giêng 1860

Triều đình khuyến khích dùng hàng nội hóa, hạn chế dùng hàng của Trung Quốc và của Tây

phương để tiết kiệm tiền; ra lệnh cho các phường dệt lụa, dệt vải ở Hà Nội sản xuất nhiều để triều đình mua dùng

Tháng Hai 1860

Đình thần hội bàn về bản Hòa ước 11 điều khoản do Pháp đưa ra hồi tháng 1-1860

Chấp nhận 5 điều khoản đầu Bổ sung vào điều 6: số dân theo đạo không được tăng thêm; ai già chết thì thôi, không được bổ sung người khác Bổ sung vào điều 7: giáo sĩ Pháp một khi phạm tội và

đã được triều đình tha thì không được ở lại nơi cũ; trường hợp tái phạm, dụ dỗ người khác, sẽ bị trị tội theo pháp luật của nước Nam Bổ sung vào điều 8: thương nhân người Pháp khi mua bán xong phải đi ngay, không được ở lại lâu, và phải tôn trọng luật pháp của nước Nam Về điều 9: giao cho thống đốc quân thứ Gia Định cấp cho Tây Ban Nha một bản hòa ước Về hai điều khoản 10 và 11: cương quyết không chấp nhận: nếu Pháp phản đối, ta quyết đánh giữ

- Lúc bấy giờ, Napôlêông III đã có ý định rút hết quân khỏi Việt Nam vì thấy công cuộc xâm lược gặp nhiều khó khăn, thiệt nhiều người của Song hoàng hậu Ơgiêni (Eugénie), Tổng giám mục Pari (Paris) và Hầu tước Bộ trưởng Bộ Hải quân Satsơlu Lôba (Chasseloup Laubat) đã cương quyết chủ trương xâm lược Việt Nam đến cùng Do đó triều đình Pháp vẫn để lại một lực lượng chiếm đóng ở Sài Gòn Lực lượng này gồm 800 lính Pháp, 200 lính "Tagal" (Phi Luật Tân), đặt dưới sự chỉ huy của đại tá hải quân Đariet (D'Ariès), với sự hỗ trợ của quan năm Tây Ban Nha Palanca Guttierê (Palanca Guttierez)

10

Trang 11

Tháng Ba 1860

Tiến sĩ Phạm Văn Nghị, Đốc học tỉnh Nam Định, đã chủ động mộ được hơn 300 thân biền binh dõng kéo vào quân thứ Quảng Nam đánh giặc (Khi tới Huế, thì quân Pháp đã rút khỏi Đà Nẵng Tự Đức bắt phải trở về Nam Định)

Tìm hiểu thêm về Phạm Văn Nghị

http://www.danang.gov.vn/dpdn/Street_info.asp?ID=177

Tháng Ba 1860

Tiến sĩ Doãn Khuê, tạm thay Phạm Văn Nghị giữ chức Đốc học Nam Định, đã cùng các viên giáo thụ, huấn đạo, tri phủ, tri huyện tỉnh Nam Định đứng tên làm tờ tấu gửi Tự Đức để kịch liệt phản đối việc nghị hòa với giặc Pháp

Phạm Văn Nghị và Doãn Khuê đều là người Nam Định

Bá Khanh (cháu cựu trấn thủ Nguyễn Văn Tín); Ngô Bảo (cháu vệ úy Ngô Thành)

* Xem: 10-1865

Tháng Tám 1860

Triều đình cử Nguyễn Tri Phương giữ chức Tổng thống quân vụ vào Nam chỉ huy quân thứ Gia Định, tổ chức việc đánh Pháp

Trước triều đình, Nguyễn Tri Phương đã vạch rõ âm mưu của giặc và đề xuất biện pháp chống địch

Về phía địch, Nguyễn Tri Phương nhận định: Nam Kỳ là nơi thóc gạo, sản vật nhiều, tàu bè buôn bán rất có lợi, giặc Pháp biết đã lâu và cũng có ý đồ đánh chiếm đã lâu; hiện nay tỉnh thành Gia Định đã lọt vào tay chúng; chúng đã đặt đồn, đắp lũy, lập phố xá, chiêu tập thuyền buôn người Thanh, người Kinh, đánh thuế kiếm lời; chúng câu kết với bọn côn đồ Trung Quốc, bọn Hán gian

để gây thêm vây cánh; chúng thiết lập quan chức, tập hợp xã thôn, công khai tổ chức chiếm đóng lâu dài; các sông lớn như Vũng Cù, bến Lật, Đồng Cháy đều là đường giao thông huyết mạch, đường chuyển vận binh lương, giấy tờ quan báo của nhiều tỉnh, đều bị chúng phong tỏa đưa thuyền đến đóng giữ; các ngòi, nhánh, sông nhỏ như Phong Giang, Lò Vôi, Ba Khâm, Thủ Thừa, Thủ Đoàn, Trà Câu, v.v chúng cũng đều cho thuyền sam bản đi lại thăm dò vẽ đồ bản Bởi vậy, âm mưu cướp Nam Kỳ của chúng đã rõ ràng: "Như thế không còn nói đến hòa nghị được nữa Ta chỉ nên chuyên một mặt đánh và giữ" Về biện pháp chống giặc, Nguyễn Tri Phương đề nghị: quân số phải huy động từ 15 nghìn đến 20 nghìn; không nên tụ quân ở một nơi, mà chia quân thành ba đạo: một đạo chính đóng tại đồn Phú Thọ, chỗ quân thứ Gia Định hiện đóng; một đạo đóng ở phủ hạt Tân An; một đạo đóng ở tỉnh hạt Biên Hòa Phải phòng thủ các đường sông, ngòi lớn nhỏ Phải vừa đóng và giữ, dần dần đắp thêm đồn lũy tiến sát đến chỗ địch đóng quân Phải trang bị từ 20 đến 30

cỗ súng loại lớn, đường kính nòng từ 2 tấc 9 phân trở lên

Tìm hiểu thêm về Nguyễn Tri Phương

Trang 12

Các sách tham khảo gồm 200 bản: 12 bản Hoàng triều bang giao; 14 bản Phong Nhã thống biên; 80 bản Đại Nam văn uyển thống biên; 3 bản Gia Định Tam Gia thi; 3 bản Hoàng Việt văn tuyển; 1 bản Ninh Tĩnh thi tập; 1 bản Hoàng các di văn; 3 bản Sứ trình Nhật vịnh; 5 bản Phẩm Vị cổ kim thi gia thanh ứng; 6 bản Trích Diệm thi; 1 bản Lê triều chư lăng bi ký; 1 bản Báo Quang viện thi; 1 bản Liễu Am di tập; 1 bản Cổ thi sao tập; 1 bản Mộng Dương thi tập; 1 bản Việt sự tỏa ký; 3 bản Viên trai thi văn; 1 bản Lê triều ứng chế; 6 bản Quần hiền phú tập; 3 bản Sơn cư nhã thuật; 1 bản Tiền Lê tấu nghị; 2 bản Ức Trai từ lệnh; 1 bản Ngự chế Quỳnh Uyển Cửu ca; 1 bản Minh Lương Cẩm tú thi tập; 1 bản Cố Lê từ hàn; 6 bản Toàn Việt thi tập; 2 bản Minh Đô thi tập; 1 bản Việt thi tục biên; 2 bản Lê Quế Đường thi tập; 2 bản Chuyết Trai thi văn; 1 bản Tiền Lê trí sĩ thi tập; 1 bản Lã Đường thi tập; 1 bản Long Sơn thi tập; 1 bản Tào Khê thi tập; 1 bản Đoàn - Phan - Trần tam gia thi; 1 bản Ngôn chí thi tập; 1 bản cổ kim bang giao bị lãm; 1 bản Hải Sơn Bùi Cận thi tập; 1 bản Nhị Khê thi tập; 1 bản Lạc Sơn thi tập; 1 bản Giới Hiên thi tập; 1 bản Kỳ Ngọc Vũ gia thi tập; 1 bản Trường Phái Bắc hành; 1 bản Tồn Am Tấu tư; 1 bản Danh thần chương sớ; 1 bản Quảng Nam sao lục thi vịnh; 12 bản Hà Nội sao lục tồn am nguyên tập; 7 bản Lập trai nguyên tập.

Việc cử Phạm Thế Hiển giữ chức này là thể theo đề nghị của Nguyễn Tri Phương hồi tháng 8-1860, trước khi Nguyễn Tri Phương vào Nam

1861

Tháng Giêng 1861

Định lệ cho các xã, thôn, hương, ấp, lý, hàng năm được phép tổ chức lễ "Hương ẩm tửu" (tức lễ uống rượu trong làng) trong các ngày tết, ngày lễ lớn như: xuân tế, thu tế, hội ước, tiết lệ Quy định

rõ chỗ ngồi theo "nhân tước" (sắc, bằng) và theo "thiên tước" (tuổi tác) tại đình làng

- Gian chính giữa đình, chia làm 2 bên trái và phải Những người thuộc ngành văn có hàm thất phẩm trở lên, những giám sinh, ấm sinh, tú tài đã có hàm bát phẩm, cửu phẩm, chia nhau ngồi bên trái (nếu phẩm, bậc ngang nhau, thì ai nhiều tuổi ngồi trên) Những người thuộc ngành võ từ suất đội trở lên, những người thi đỗ cử nhân (kể cả văn lẫn võ) trở lên mà không có phẩm hàm, đều ngồi bên phải (phẩm, bậc ngang nhau, thì người nhiều tuổi hơn sẽ ngồi trên)

- Gian bên trái đình là chỗ ngồi của những người tuổi từ 70 trở lên; những người theo ngạch võ có hàm thất phẩm trở xuống như đội trưởng; những người theo ngạch văn như các nhân viên tạp lưu có hàm bát phẩm, cửu phẩm; các viên thiên hộ, bá hộ được hàm bát phẩm, cửu phẩm; các cai tổng; các giám sinh, ấm sinh, tú tài, viên tử chưa có phẩm hàm; các viên thiên hộ, bá hộ quyên (tức do quyên

12

Trang 13

tiền mà được); các binh lính được miễn sai, miễn dao (cấp bậc ngang nhau thì người nhiều tuổi ngồi trên).

- Gian bên phải đình dành cho những người dưới 70 tuổi và lý trưởng, xã dân Ai nhiều tuổi ngồi trên

Tháng Giêng 1861

Quân Pháp cho 4 chiếc thuyền đến cửa biển Bân Côn và 5 chiếc đến cửa biển Ngao Châu (đều thuộc hải phận tỉnh Vĩnh Long) để do thám Triều đình tăng cường củng cố canh giữ các cửa biển Đại Hải và Tiểu Hải (thuộc Định Tường)

7 tháng Hai 1861

Phó Đô đốc Sacne (Charner) điều quân từ chiến trường Trung Quốc sang Sài Gòn Tổng số binh lính và sĩ quan gồm 2.200, trong đó có 800 lính Tagal (Phi Luật Tân) Ngoài ra còn có thêm 600 người Trung Quốc được chúng tuyển mộ ở Quảng Đông đưa sang chiến trường Việt Nam

Ngày 25-10-1860, Pháp và Trung Quốc ký hiệp ước đình chiến

25 tháng Hai 1861

Đại đồn Chí Hòa thất thủ Nguyễn Tri Phương trúng đạn bị trọng thương Tán lý Nguyễn Duy, tán tương Tôn Thất Trĩ tử trận Quân triều đình rút về cố thủ ở thôn Tân Tạo, huyện Tân Long, phủ Tân Bình (tức tỉnh lỵ tạm thời của Gia Định)

- Đại đồn Chí Hòa đã bị quân Pháp mở nhiều đợt tấn công, từ tháng 4-1860, song đều bị quân triều đình do Tôn Thất Hiệp chỉ huy đánh lui Tháng 8-1860 Nguyễn Tri Phương thay Tôn Thất Hiệp và trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng và củng cố chiến lũy Chí Hòa

- Đêm 23-2-1861 thực dân Pháp mở đợt tấn công quy mô vào Đại đồn Chí Hòa Suốt 2 ngày 2 đêm quân ta đã chiến đấu rất dũng cảm, gây nhiều tổn thất cho giặc: quan năm Tây Ban Nha Palanca, cùng 4 sĩ quan cao cấp, 30 sĩ quan, 121 hạ sĩ quan và 1.805 liên quân xâm lược bị giết tại trận

28 tháng Hai 1861

Tỉnh lỵ mới của Gia Định thất thủ; quân triều đình rút về phòng thủ Biên Hòa Các tuyến đường dẫn tới Định Tường và Biên Hòa đều được phòng bị: quân dân hợp lực chuyển vận gỗ, đất đá lấp các sông, lạch; cấm đò ngang; lập đồn đặt súng; chia quân mai phục; tại các vùng ven biển thuộc các tỉnh đạo Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hòa, đều cho lập đồn, đặt súng, đóng quân; chuyển 2.000 quân ở Quảng Nam vào bổ sung cho Biên Hòa; huy động hương dõng và cho luyện tập để sung vào lực lượng dự bị

Chiến dịch tấn công của địch vào tỉnh lỵ mới Gia Định bắt đầu từ ngày 26-2-1861, sau khi Chí Hòa thất thủ

* Xem: 1-1860

24 tháng Ba 1861

Phó đô đốc Sacne (Charner) ký nghị định chính thức thành lập 4 trung đội lính ngụy đầu tiên ở Nam

Kỳ, mở đầu một cách quy mô chính sách dùng người Việt đánh người Việt Với 4 trung đội này, chúng đưa 2 về đóng ở Gia Định và 2 đóng ở Mỹ Tho để thay thế số lính đồn điền mộ cũ trước kia của các tỉnh

- Thực ra, tiền thân của 4 trung đội lính ngụy này là 2 trung đội lính tập mà tướng Rigôn đờ

Giơnuiy đã tổ chức ở Đà Nẵng từ năm 1859, bao gồm tuyệt đại bộ phận là dân theo đạo Thiên Chúa

đã bị chúng dụ dỗ vào lính Một trong hai trung đội do Giơnuiy thành lập đó, đã được Sacne sử dụng trong chiến dịch hạ đồn Chí Hòa (23-25/2/1861)

- Tháng 8-1861: Sacne giải thể toàn bộ binh lính đồn điền mộ từ trước và thay vào đó là số lính ngụy do chúng tuyển lựa, đào tạo để làm công cụ đàn áp phong trào kháng chiến của quân dân ta

13

Trang 14

- Ngày 4-2-1862: Bôna (Bonard) ký nghị định cho thành lập 3 tiểu đoàn lính ngụy ở Nam Kỳ (nghị định này có hiệu lực từ ngày 1-3-1862).

- Ngày 2-12-1879: Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập trung đoàn lính ngụy thứ nhất ở Nam Kỳ

- Ngày 7- 7-1903: Toàn quyền Đông Dương ra nghị định (chiểu theo Sắc lệnh ngày 26-5-1903 của Tổng thống Pháp) thành lập trung đoàn lính ngụy thứ hai ở Nam Kỳ

* Xem: 12-5-1884 (thành lập đơn vị ngụy binh ở Bắc Kỳ)

- Đối với những người ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hòa mà mộ người hoặc đưa người thân gia nhập quân thứ Định Tường - Biên Hòa, đều cho

áp dụng mức thưởng như trên

- Đối với những người ở chính Gia Định, vì tình hình có khó khăn, nên thể lệ thưởng cũng như trên, nhưng cho tăng thêm một trật

Trước đó, Trần Xuân Hòa đã từng mộ quân đánh Pháp Ông thường dùng chiến thuật phục kích để tiêu diệt sinh lực địch, và đã có 6 trận thắng lớn, giết nhiều lính Pháp mà lính "ma-tà" (dân theo đạo,

đi lính cho Pháp, được Pháp phiên chế thành các đơn vị riêng gọi là đơn vị lính "ma-tà") Do thành tích đó, ông được triều đình thưởng cho hàm Thị độc học sĩ Tháng 7-1862, ông được truy tặng hàm Quang lộc tự khanh và được nhân dân Quảng Trị lập đền thờ ngang hàng với Phan Văn Đạt

12 tháng Tư 1861

Tỉnh thành tỉnh Định Tường (tức Mỹ Tho) thất thủ Quân triều đình rút về Vĩnh Long

14

Trang 15

Từ ngày 17-3-1861 quân Pháp đã cho chiến thuyền thả neo đóng chiếm vụng Cù Úc và hải phận các cửa biển Đại Hải, Tiểu Hải thuộc tỉnh Định Tường Ngày 29-3-1861 chúng bắt đầu nổ súng tấn công các đồn tiền tiêu, như: Tân Hương, Tĩnh Giang, Cai Lộc.

Tháng Năm 1861

Quyết định của triều đình giảm bớt mức lương hàng năm của các hoàng thân, cung tần, của các người phục dịch trong cung cấm, và của các quan văn, võ từ tòng tam phẩm trở lên để lấy số tiền, gạo đó chi vào việc quân nhu

Triều đình Huế ra lệnh tăng cường quản lý nghiêm ngặt số dân theo đạo: Đối với dân theo đạo Gia

Tô - không kể già, trẻ, trai, gái; không kể đã bỏ đạo hay chưa bỏ đạo - đều phải thích chữ vào mặt

và chia ghép đến ở các xã thôn không có người theo đạo để tiện việc quản thúc; đối với những giáo dân đầu sỏ, hung ác, phải giam giữ cẩn thận; trường hợp quân Pháp - Tây Ban Nha kéo quân đến vùng có dân đạo ở, thì lập tức phải đem giết hết dân đạo Nơi nào không làm tròn việc này, sẽ chiểu quân luật trị tội

21 tháng Chín 1861

Phó thủy sư đô đốc Sacne (Charner) ký nghị định mở trường Trung học Pháp - Việt đầu tiên ở Nam

Kỳ, mang tên Trường Bá Đa Lộc Đây là trường đào tạo cán bộ văn hóa đầu tiên của thực dân Pháp Tốt nghiệp sẽ bổ đi dạy các trường tiểu học

29 tháng Chín 1861

Tờ "Le Bulletin Officiel de l'Expédition de la Cochinchine" (Công báo của cuộc viễn chinh xứ Nam Kỳ), xuất bản bằng chữ Pháp và đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thống đốc Nam Kỳ, ra số đầu tiên

Trang 16

Trương Định chiêu mộ nghĩa binh chống Pháp ở Gia Định.

- Trương Định người huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, là con Lãnh binh Trương Cầm Khi đó Trương Định giữ chức phó quản cơ Gia Định Vì chiêu mộ được hơn 6 nghìn nghĩa binh, phiên chế thành 6 cơ và đã chiến đấu chống đánh giặc Pháp kịch liệt, có hiệu quả nên Tự Đức thăng làm Quản

cơ, rồi sau đó lại cho giữ chức Phó Lãnh binh

- Tới tháng 3-1862: Tự Đức cho Trương Định kiêm chức Tổng chỉ huy đầu mục Gia Định (tức toàn

bộ số quân mộ nghĩa ở Gia Định) Trương Định đóng đại bản doanh ở xứ Gò Thượng (thuộc huyện Tân Hòa); số nghĩa quân được phiên chế thành 18 cơ Từ căn cứ, Trương Định điều động nghĩa quân đi tấn công quân Pháp, cướp súng giặc mang về trang bị cho nghĩa quân và làm mẫu chế đúc thêm súng mới

- Tháng 8-1862, sau khi đã ký hiệp ước với giặc, Tự Đức hạ lệnh cho nghĩa quân đình chỉ mọi cuộc tấn công và điều Trương Định về Phú Yên Thấy vậy, nhân dân ứng nghĩa ở Gia Định, Định Tường, Biên Hòa đã tập hợp nhau lại, đồng thanh tôn Trương Định lên làm Đại đầu mục (Tổng chỉ huy lực lượng kháng chiến) và kiến nghị về triều đình xin tiếp tục đánh giặc Đình thần hội bàn cho rằng việc miền Bắc đương có khó khăn, miền Nam chưa có cơ hội, và cử Phan Thanh Giản vào "hiểu dụ" Trương Định và nghĩa quân Trương Định nhất quyết không chịu về Phú Yên nhận chức mới Triều đình liền cách chức Phó Lãnh binh của Trương Định

- Tháng 11-1862: Phan Thanh Giản lại xin Tự Đức ra sắc chỉ gọi Trương Định về và giải tán nghĩa binh của ông Trương Định cương quyết chống lệnh triều đình và cùng với binh dân ứng nghĩa của Nam Kỳ lục tỉnh tiếp tục kháng chiến chống đánh giặc Pháp

Tự Đức truy tặng Phan Văn Đạt hàm tri phủ, trật tòng ngũ phẩm, và cho dân lập miếu thờ, sau nâng lên thành đền thờ; Lê Cao Dũng được truy tặng hàm suất đội, trật tòng lục phẩm bá hộ Ngoài ra,

Tự Đức còn làm thơ ca ngợi hai ông và cho sao lục gửi về các tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên; sai Quốc sử quán nghiên cứu tiểu sử hai ông để biên soạn thành truyện

Tháng Mười 1861

Triều đình cho dân nội tịch và ngoại tịch bên Lương được nhận phần ruộng tịch thu của dân theo đạo Gia Tô để cày cấy Hoa lợi chia đôi: hưởng một nửa, còn nửa kia Nhà nước thu để nuôi số dân theo đạo đương còn bị giam giữ

Thực dân Pháp đánh chiếm đảo Côn Lôn (tức Côn Đảo)

- Ngày 1-3-1862: Bôna (Bonard), Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định thiết lập nhà tù Côn Đảo

16

Trang 17

- Ngày 5-6-1862: Triều đình Huế ký hiệp ước nhường hẳn Côn Đảo cho Pháp.

10 tháng Mười Hai 1861

Chiến thắng của quân dân ta trên sông Vàm Cỏ Đông, tại địa phận thôn Nhật Tảo, đốt cháy chiếc pháo hạm "Espérance" (Hy Vọng) của giặc Pháp, giết nhiều địch và làm chết đuối nhiều tên khác Trận này do Quyền quản binh Nguyễn Văn Lịch (tức Nguyễn Trung Trực) chỉ huy

- Tham gia trận này còn có: các phó quản binh Hoàng Khắc Nhượng, Võ Văn Quang, quản toán Nguyễn Học, lương thần Hồ Quang và 59 quân cảm tử (quân chiến tâm) Nghĩa quân phân tán trên các thuyền nhỏ, giả làm thuyền buôn, áp sát tới tàu địch và bất thần nhảy lên tiêu diệt địch Sau khi

đã làm chủ được chiến trường, nghĩa quân lấy búa phá tàu giặc, nhưng không phá được, nên nổi lửa đốt rồi rút lui Có 4 nghĩa quân hy sinh Sau thất bại này, thực dân Pháp đưa quân đến tàn phá, đốt cháy thôn Nhật Tảo để trả thù.(1)

- Ngày 27-10-1868: Nguyễn Trung Trực bị thực dân Pháp xử chém công khai tại Rạch Giá Trước khi hy sinh, ông đã để lại một lời nói nổi tiếng; "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây"

Cuối tháng Mười Hai 1861

Triều đình cử Thượng thư bộ binh Nguyễn Tri Phương làm Đổng Suất quân vụ Biên Hòa, và Thị lang Bộ Binh Tôn Thất Cáp làm phụ tế quân vụ Biên Hòa, trực tiếp vào Nam Kỳ tổ chức đánh giặc

- Do lệnh này (và các lệnh trước đó), nguyên tỉnh Nam Định đã có hơn 4.800 giáo dân bị giết

Nguyễn Đình Chiểu viết bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

- Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (Đồ Chiểu) sinh ngày 1-7-1822 (Tức 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ) tại Gia Định; mất ngày 3-7-1888 (tức 24 tháng 5 năm Mậu Tý) tại Bến Tre

- Trận Cần Giuộc diễn ra vào ngày Rằm tháng 11 năm Tân Dậu, tức ngày 16-12-1861 Trong trận này tuy binh lính và sĩ quan Pháp bị tiêu diệt nhiều, nhưng nghĩa quân Việt Nam cũng bị hy sinh một số lớn

- Có tài liệu cho biết trận này do Thống quân Bùi Quang Diệu chủ động kéo quân đến tấn công quân Pháp ở làng Đa Phước, huyện Cần Giuộc

- Tài liệu khác cho biết: Lực lượng nghĩa quân ở Tân An và Cần Giuộc lúc đó do một thủ lĩnh tên là

Là (thường gọi là Cai tổng Là) chỉ huy; được tin ngày 14-12-1861, Pháp sẽ kéo quân tới đánh Tân

17

Trang 18

An và Cần Giuộc, thủ lĩnh nghĩa quân Gò Công lúc bấy giờ là Trương Định đã đem quân đến hợp lực cùng nghĩa quân của Cai tổng Là và chủ động tấn công đồn Cần Giuộc trước Bùi Quang Diệu

là người thay mặt Đỗ Quang, Tuần phủ Gia Định, đọc bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" tại buổi lễ truy điệu các nghĩa sĩ đã hy sinh trong trận Cần Giuộc

Mức chuộc như sau đối với tội phạm giam (tức tội đồ): 1 năm: chuộc bằng 60 hộc thóc; 1 năm rưỡi:

80 hộc; 2 năm: 100 hộc; 2 năm rưỡi: 120 hộc; 3 năm: 140 hộc Đối với tội bị đày đi xa (tức tội lưu):

xa 2 nghìn dặm: chuộc 180 hộc thóc; xa 2 nghìn rưỡi dặm: 220 hộc; xa 3 nghìn dặm: 260 hộc Đối với những người bị kết án xử tử nhưng đã được giảm xuống mức tội lưu, hay tội quân (tức phát vãng làm việc quân), thì mức chuộc là 300 hộc thóc Trường hợp không có thóc mà nộp bằng tiền thì phải quy tiền thành thóc, với giá 3 quan tiền kẽm một hộc, (Người nào đã ở tù được nửa năm, cho giảm bớt 20 hộc )

Tháng Hai 1862

Triều đình ra lệnh cho các tỉnh thần tìm người biết tiếng Pháp để sử dụng

Nguyễn Trọng, người Nghệ An, đã có lần sang Pháp, và Nguyễn Văn Thự, dân đạo (đang bị cầm tù

ở Lạng Sơn), đã được quan tỉnh Nghệ An, Lạng Sơn thu xếp đưa về kinh để sát hạch và sử dụng

Tháng Hai 1862

Bãi bỏ Nha Đê chính Chuyển giao việc trông nom, sửa đắp đê điều cho các quan sở tại

Nha Đê chính là cơ quan của Nhà nước, chuyên trông coi về đê điều của cả nước Khi bấy giờ, quan Hiệp lý Đê chính Nguyễn Tư Giản xin làm một số việc như: xây cửa cống, đắp, sửa đê, khơi sông Song Tự Đức không cho làm và còn bãi bỏ Nha Đê chính, chuyển Nguyễn Tư Giản sang làm tham biện quân vụ Hải Yên (Hải Dương - Hưng Yên)

1 tháng Ba 1862

Thiết lập nhà tù Côn Đảo, nhà tù đầu tiên của thực dân Pháp trên đất Việt Nam

* Xem: 9-12-1861, 10-1-1892

23 tháng Ba 1862

Quân Pháp chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ nhất)

Sau khi chiếm được tỉnh thành tỉnh Định Tường (12-4-1861), ngày 19-4-1861 quân Pháp đưa 5 tàu chiến xâm nhập vào các nhánh sông thuộc địa phận tỉnh Vĩnh Long để điều tra, dò xét Ngày 20-3-

1862, chúng đưa 10 chiếc tàu chiến tiến vào khu vực đồn Vĩnh Tòng thả neo và cho hơn một nghìn

18

Trang 19

quân đổ bộ lên bờ đắp đồn, lũy Ngày 21-3-1862, chúng nổ súng tấn công đồn Vĩnh Tòng và Thanh

Mỹ Quân trong thành dũng cảm chiến đấu liền trong 2 ngày Đêm 22-3-1862, quân ta phóng hỏa đốt hết dinh thự, kho tàng, rồi rút khỏi thành về đóng ở bảo Vĩnh Trị

(Tức ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất, Tự Đức năm thứ 15)

Triều đình Huế ký (Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị" tại Sài Gòn với Pháp và Tây Ban Nha

- Đại diện triều đình Tự Đức: chánh sứ Phan Thanh Giản và phó sứ Lâm Duy Hiệp - Đại diện Pháp: Bôna (Bonard) Thiếu tướng hải quân, Phó đô đốc, Tổng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha - Đại diện Tây Ban Nha: Guttierê (Guttierez), Đại tá, Chỉ huy trưởng quân đội viễn chinh Tây Ban Nha tại Nam Kỳ

- Hiệp ước gồm 12 điều khoản Nội dung chủ yếu là: Ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và đảo Côn Lôn hoàn toàn thuộc chủ quyền của Pháp; các loại thương thuyền và chiến thuyền của Pháp có quyền tự do vận chuyển trên sông Cửu Long và các chi nhánh của sông này; triều đình nước Nam không được tự ý cắt đất giảng hòa với bất cứ nước nào nếu như chưa được nước Pháp ưng thuận

- Tháng 3-1863 Hiệp ước này mới được Napôlêông III phê chuẩn Ngày 16-4-1863, Bôna và

Guttierê mang Hiệp ước ra Huế để Tự Đức ký

19

Trang 20

Vì Việt Nam không dùng đồng đôla, nên quy định 1 đôla bằng 0,72 lạng bạc Như vậy mỗi năm triều đình phải trả 288 nghìn lạng bạc.

5 tháng Sáu 1862

Trên giấy trắng mực đen, triều đình Huế ký điều khoản nhận với giặc trách nhiệm truy lùng, bắt giữ

và giao nộp cho giặc tất cả những ai có hành động chống đối chính quyền Pháp mà ẩn náu trong các vùng thuộc triều đình cai trị (điều 9 Hiệp ước)

5 tháng Sáu 1862

Thực dân Pháp ra điều kiện: sẽ trả lại tỉnh thành Vĩnh Long cho triều đình Huế, một khi triều đình Huế chấm dứt được các cuộc khởi nghĩa chống đối Pháp ở các tỉnh Gia Định, Định Tường, và phải gọi tất cả các thủ lĩnh nghĩa quân trở về, tuyệt đối không còn bóng dáng một ai tại 2 tỉnh đó nữa Triều đình Huế đã chấp nhận (điều 11 Hiệp ước)

25 tháng Sáu 1862

Mở đầu chế độ võ quan trực tiếp cai trị ở Nam Kỳ cả về mặt dân sự và quân sự Bôna (Bonard), Thiếu tướng hải quân Pháp được phong làm Phó thủy sư Đô đốc và là viên võ quan đầu tiên được triều đình Pháp cử sang trực tiếp cai trị những tỉnh Nam Kỳ mà chúng đã đánh chiếm được, theo Hiệp ước 5-6-1862

- Trong nhiệm kỳ của mình (từ 25-6-1862 đến 30-4-1863), Bôna đã sử dụng hàng ngũ chánh phó tổng, chánh phó lý để tổ chức bộ máy cai trị ngụy quyền Bên cạnh đó, Bôna đã lựa chọn và đào tạo một số sĩ quan thực dân Pháp và phong cho chúng danh hiệu "Thanh tra công việc bản xứ"

(Inspecteur des Affaires Indigènes) để chúng trực tiếp chỉ đạo các quan lại ngụy quyền Những viên

"Thanh tra công việc bản xứ" đầu tiên là: Gugia (Gougeard), Brie đơ Lin (Brière de I'Isle), Ôbarê (Aubaret), Philat (Philastre), Riơniê (Rieunier), Pôlanh Vian (Paulin Vial), Hacmăng (Harmand), Luyrô (Luro)

Chế độ võ quan cai trị Nam Kỳ này kéo dài 17 năm tính tới tháng 7 năm 1879 (trong sử sách

thường gọi là thời kỳ Đô đốc), với những tên võ quan chính như:

4 - Pharông (Faron), Thiếu tướng thủy quân lục chiến, kế tục Ôhiê từ 11-12-1869 đến 8-1-1870

5 - Bá tước Đơ Coocnuyliê - Luyxinie (Comte de Cornulier - Lucinière), Thiếu tướng hải quân, Tổng chỉ huy các lực lượng hải quân Pháp trên vùng Biển Đông, thay Pharông từ ngày 8-1-1870 đến 31-3-1871

6 - Đuyprê (Dupré), Phó Thủy sư Đô đốc, Tổng chỉ huy lực lượng quân viễn chinh, thay thế Bá tước Đơ Coocnuyliê - Luyxinie từ ngày 1-4-1871 đến 16-3-1874

7 - Kran (Krantz), Thiếu tướng hải quân, Tổng chỉ huy các lực lượng hải quân Pháp trên vùng Biển Đông, thay Đuyprê từ 16-3-1874 đến 30-11-1874

8 - Đuyperê (Duperré), Thiếu tướng hải quân kế tục Kran từ 1-12-1874 đến 15-10-1878

9 - Bá tước Laphông (Comte Lafont), Thiếu tướng hải quân, Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, kế tục Đuyperê từ ngày 16-10-1878 đến ngày 6-7-1879 (Ngày 7-7-1879: Lơ Miarơ đơ Vile (Le Myre

de Vilers) sang thay, mở đầu chế độ văn quan cai trị Nam Kỳ)

* Xem: 13-5-1879

20

Trang 21

Tháng Bảy 1862

Triều đình Huế ra lệnh tha những giáo dân đã bị giam giữ hoặc đưa an trí và trả lại tài sản, ruộng vườn cho họ, trừ những người nào hiện còn thông đồng với Pháp thì quan lại địa phương phải có trách nhiệm tra xét, trị tội

Tháng Tám 1862

Chỉ huy lực lượng viễn chinh của Tây Ban Nha cử một phái đoàn do một viên giám mục dẫn đầu đến đưa thư xin được tự do truyền đạo từ Nghệ An, Hà Tĩnh trở vào Nam Triều đình Huế không cho

Trước đó, Pháp và Tây Ban Nha đề nghị: từ Hà Nội, Nam Định trở vào Nam do giáo sĩ Pháp truyền đạo; từ Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, Quảng Yên trở ra Bắc do giáo sĩ Tây Ban Nha phụ trách truyền đạo Triều đình Huế đã bác bỏ

Tháng Tám 1862

Triều đình Huế cử phái bộ sang Pháp để thương lượng xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Phái bộ do Thủy sư đô đốc Võ Phẩm làm khâm sai chánh sứ, Trần Đình Túc làm phó sứ, Đỗ Đệ và Hồ Quang làm bồi sứ

Tháng Chín 1862

Triều đình Huế điều động tướng lĩnh ra Bắc để bình định miền Tây Bắc: Nguyễn Tri Phương giữ chức Tổng thống quân vụ Tây Bắc; Thừa Thiên phủ doãn Phan Đình Tuyển giữ chức Tán lý quân thứ Tây Bắc; Chưởng Vệ quyền chưởng doanh Thần cơ Tôn Thất Tuệ, giữ chức Đề đốc quân thứ Tây Bắc; Phó lãnh binh Bình Thuận Phạm Hán và Hiệp quản Hoàng Mân giữ chức Đốc binh quân thứ Tây Bắc

Hai trận công đồn thắng lợi liên tiếp trong 2 ngày 17 và 18-12-1862 này của nghĩa quân Gò Công

đã làm cho thực dân Pháp hoảng sợ Bôna phải khẩn cấp xin viện binh Phó thủy sư đô đốc Giôret (Jaurès) được lệnh điều từ Thượng Hải một nửa tiểu đoàn lính Angiêri và một tiểu đoàn lính châu Phi sang chiến trường Nam Kỳ; ngoài ra còn có 800 lính do phía Tây Ban Nha điều từ Mani

(Manille) tới để cùng phối hợp với Bôna đàn áp phong trào kháng chiến của nhân dân Nam Kỳ, đặc biệt là nhằm chuẩn bị tấn công vào căn cứ Gò Công của nghĩa quân Trương Định

1863

13 tháng Giêng 1863

Thực dân Pháp khánh thành Sở Bưu điện Sài Gòn

21

Trang 22

29 tháng Ba 1863

(Tức 11 tháng Hai, năm Quý Hợi, Tự Đức thứ 16)

Nguyễn Trường Tộ trình Tự Đức bản Điều trần về vấn đề tôn giáo

Ngoài ra còn có hàng loạt Điều trần khác, như:

- Điều trần về việc phái người đi du học nước ngoài, đề tháng 6 năm Bính Dần (cuối tháng 7 đầu tháng 8-1866);

- Điều trần về sáu điều lợi, đề ngày 23 tháng Bảy năm Bính Dần (tức 1-9-1866);

- Điều trần về thời sự, đề ngày 25 tháng Bảy năm Bính Dần (tức 3-9-1866);

- Điều trần về 8 điều cấp cứu (Tế cấp bát điều), đề ngày 20 tháng Mười năm Đinh Mão (tức 1867);

15-11 Điều trần về việc nên giao thiệp với nước ngoài ("Giao thông dự nghi bẩm minh") đề ngày 19 tháng Hai năm Mậu Thìn (tức 12-3-1868);

- Điều trần về việc tu chỉnh võ bị, đề ngày 2 tháng Năm năm Tân Mùi (tức 19-6-1871);

- Điều trần về tình thế phương Tây, đề ngày 2 tháng Tám năm Tân Mùi (tức 16-9-1871);

- Điều trần về việc học tập để trữ nhân tài ("Học tập trữ tài trần thịnh tập"), đề tháng Chín năm Tân Mùi (tức khoảng nửa cuối tháng 10 - nửa đầu tháng 11-1871);

18 tháng Tư 1863

Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp, hầu tước Đờ Satsơlu Lôba (Chasseloup Laubat) gửi điện chỉ thị cho Thiếu tướng hải quân, quyền chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp tại Nam Kỳ Đờ La Grăngđie (De La Grandière) phải cấp tốc đặt quan hệ với Campuchia để chống Việt Nam

Đờ La Grăngđie liền cử Đại úy hải quân Đuđa đờ Lagrê (Doudart De Lagrée) sang Uđông gặp Nôrôđôm đệ nhất

Tháng Năm 1863

(Tức tháng 4 Quý Hợi, Tự Đức năm thứ 16)

22

Trang 23

Tự Đức ra dụ cấm thân nhân các phi tần ở nội đình trở lên không ai được dự vào việc chính trị trong triều đình.

Dưới thời Thiệu Trị cũng đã có dụ cấm những người thuộc họ ngoại nhà vua không ai được dự vào việc triều chính Lúc đó, Tổng đốc Định An là Nguyễn Đình Tân được triều thần đề nghị rút về giữ chức Chính khanh (cố vấn); nhưng Tự Đức không chấp nhận vì Nguyễn Đình Tân là bố đẻ của phi Nguyễn Đình Thị

Tháng Sáu 1863

Giáo sĩ Tây Ban Nha (lấy tên Việt Nam là Hắc Nho) tập hợp dân đạo và bọn thổ phỉ người Việt, người Trung Quốc, đi hai chiếc tàu lớn và hơn 200 chiếc thuyền nhỏ theo đường sông Bạch Đằng tấn công lũy Nhất Tự ở Hà Nam (lúc đó thuộc Quảng Yên), phá đê đưa chiến thuyền vào để mưu chiếm Hà Nam, nhưng đã bị quân dân ta đánh bại

Quân của triều đình dưới sự chỉ huy của Lê Quang Tiến, Thủy đạo Thống chế Hải Yên (Hải Dương

- Quảng Yên), và Bùi Huy Phan, Hộ lý tuần phủ, đã phối hợp với dân binh địa phương dưới sự điều khiển của: tú tài Vũ Đức Mậu, quyền suất Nguyễn Sĩ, Nguyễn Huy Lương, bá hộ Bùi Huy Lộc, huấn đạo Yên Hưng Nguyễn Trọng, và tri huyện hưu trí Nguyễn Huy Bích

- Cùng đi với phái đoàn còn có 9 người do chính quyền thực dân ở Nam Kỳ cử, trong đó có Trương Vĩnh Ký Có tài liệu cho biết phái đoàn khởi hành ngày 21-6-1863, đến thủ đô Pari ngày 13-9-1863.Tháng Bảy 1863

Quan Cơ mật viện Trương Đăng Quế, sau khi đã về hưu, dâng sớ đề nghị một số biện pháp trị nước như sau:

1 - Chọn dùng người có tài Vua chỉ nên nắm đại cương chứ không nên ôm đồm làm mọi việc thay cho các quan 2- Cấp huyện rất gần với dân Do đó quan lại cấp huyện phải là người có kinh

nghiệm Khi bổ nhiệm các tôn sinh, ấm sinh, giám sinh, không nên đưa về làm hậu bổ ở các tỉnh ngay vì họ chưa từng trải việc cai trị, mà nên đưa về tập sự một - hai năm ở các bộ, các viện để họ làm quen với công việc chính trị Sau đó Bộ Lại phải xét xem người nào có khả năng làm chính trị được mới bổ dụng về cấp huyện 3 - Vì tài chính của triều đình quá eo hẹp, bởi vậy nên cho những người có tội được chuộc tội bằng tiền, tùy theo mức tội 4 - Muốn cho quan lại được thanh liêm, không gì bằng giảm số người làm việc và tăng lương cho những người còn được giữ lại làm việc Nhưng muốn giảm bớt số người thì trước hết phải giảm bớt số việc: mà muốn giảm việc thì phải dùng các quan lại giỏi

Trang 24

giải quyết mọi sự xung đột xảy ra giữa người Pháp và người Campuchia Campuchia cắt đứt quan

hệ với Việt Nam và Thái Lan

tú tài, những sĩ nhân, tuổi từ 50 trở lên, có học thức, có đạo đức, được mọi người tôn trọng Trường hợp làng nào không có những người đạt tiêu chuẩn ấy thì phải chọn người nhiều tuổi, thuần hậu, thực thà, biết điều hay lẽ phải để giao cho giữ chức Hương thân

Tháng Hai 1864

Quy định số lính phục dịch cho các quan lại cấp tỉnh: Tổng đốc được sử dụng 30 người; Tuần phủ:

20 người; Đề đốc: 20; Bố chính: 10; Án sát: 10; Chánh Lãnh binh: 5; Phó lãnh binh: 5; Quản vệ: 2; Quản cơ: 2; Hiệp quản: 2; Thành thủ úy: 2

Tháng Ba 1864

Triều đình cho phép các tỉnh thuộc "Tả trực kỳ" (tức các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hòa) được thành lập đội quân mang tên "Đội quân thiên thiện" (nghìn việc tốt) đặt dưới sự quản lý của các quân thứ

Toàn bộ số tù phạm bị giam ở các cơ thuộc các tỉnh (binh lính của các tỉnh phạm tội bị giam; những

tù phạm ở các nơi bị phát lưu đi làm việc quân) được phân làm 3 loại: loại già yếu, 60 tuổi trở lên, được tha cho về quê quán làm ăn sinh sống; loại mạnh khỏe được dồn thành "đội quân Thiên thiện"

24

Trang 25

Tổng cộng mỗi tỉnh đạo đều có: 1 chánh quản đạo, 1 phó quản đạo, 2 bát phẩm thư lại, 2 cửu phẩm thư lại, 16 vị nhập lưu thư lại.

Tháng Tư 1864

Triều đình khuyến khích việc mộ dân lập thành thôn, xã, để khai khẩn ruộng hoang Quy định cụ thể mức thưởng cho những người đứng ra chiêu mộ Cụ thể như sau:

A) Đối với địa bàn từ Nghệ An trở vào đến Bình Thuận

1) Những người bình thường mà chiêu mộ được từ 20 đến 30 dân, khẩn hoang được từ 50 đến 60 mẫu: sẽ được miễn ra lính và miễn đóng thuế thân suốt đời; mộ được 40-50 dân, và khai khẩn được trên dưới 100 mẫu: sẽ được thưởng thủ tòng cửu phẩm bá hộ và cho giữ chức lý trưởng thôn ấy; mộ được 100 dân, và khai khẩn được 200 mẫu: sẽ được thưởng thụ chánh cửu phẩm bá hộ và cho kiêm lãnh chức lý trưởng các thôn ấy; mộ được 150 dân, và khai khẩn được trên dưới 300 mẫu: sẽ được thưởng thụ tòng bát phẩm bá hộ và cho giữ chức cai tổng

2) Những người nguyên là thí sai cai tổng mà chiêu mộ được 50 dân và khai khẩn được 100 mẫu: sẽ được giữ chức cai tổng chính thức; mộ được 100 dân và khai khẩn được 200 mẫu: sẽ được thưởng thụ chánh cửu phẩm bá hộ, và cho giữ chức cai tổng; mộ được 150 dân, và khai khẩn được 300 mẫu: sẽ được thưởng thụ tòng bát phẩm bá hộ, và cho giữ chức cai tổng

3) Những người đã có phẩm hàm: Chiểu theo số dân mộ được và số ruộng khẩn hoang được mà gia tăng phẩm trật dần lên

B) Đối với địa bàn từ Thanh Hóa trở ra Bắc:

1) Những người bình thường mà mộ được 70 đến 80 dân và khai khẩn được 200 mẫu: sẽ được thưởng thụ tòng cửu phẩm bá hộ và cho giữ chức lý trưởng thôn ấy; mộ được 130 dân, và khai khẩn được 300 mẫu: sẽ được thưởng thụ chánh cửu phẩm bá hộ, và cho kiêm lãnh chức lý trưởng các thôn; mộ được 200 dân, và khẩn hoang được 200 mẫu: sẽ được thưởng tòng bát phẩm bá hộ, và cho giữ chức cai tổng

2) Những người nguyên là thí sai cai tổng mà mộ được 100 dân, và khai khẩn được 200 mẫu: lập tức được bổ thụ cai tổng; mộ được 150 dân và khai khẩn được 300 mẫu: sẽ được thưởng chánh cửu phẩm bá hộ, kiêm giữ chức cai tổng; mộ được 200 dân, khai khẩn được 400 mẫu: sẽ được thưởng tòng bát phẩm bá hộ và cho giữ chức cai tổng

25

Trang 26

3) Những người đã được phẩm hàm: cứ mỗi lần mộ thêm được 50 dân và khẩn thêm được 100 mẫu, đều được gia tăng thêm một trật Ai không muốn làm tổng lý thì cũng chiểu lệ thưởng thụ cho chức hàm.

Tháng Năm 1864

Quy định về quyền sở hữu số ruộng đất mới khẩn hoang được Đối với người tự bỏ của, bỏ công để khẩn hoang, thì số ruộng khai khẩn được bao nhiêu sẽ được ghi vào sổ là ruộng tư và người đó được toàn quyền sở hữu Đối với người vay tiền của Nhà nước để khẩn hoang, thì số ruộng khai khẩn được bao nhiêu sẽ phải chia làm ba phần: 1 phần làm ruộng tư; 2 phần làm ruộng công

* Xem: 8-1864

Tháng Năm 1864

Nguyễn Trung Thành (giữ chức Quản đạo Phú Yên) viết sớ gửi Tự Đức phản đối quyết định của triều đình bắt tất cả các loại thuyền buôn lớn nhỏ phân ra từng loại nộp bạc để triều đình lấy tiền thuê tàu Pháp bình định vùng biển miền Đông - Bắc Ý kiến phản bác của Nguyễn Trung Thành gồm hai điểm chính: 1) Không nên tin rằng Pháp đã thực sự giao hòa để mà ỷ lại vào sự giúp đỡ của Pháp; 2) Ta có binh sĩ trong tay mà không dùng để dẹp giặc, mà lại đi thu bạc để thuê người nước ngoài làm việc đó thì hỏi còn trị nước làm sao được Sau đó, ông đề ra biện pháp: Hải phận thuộc tỉnh nào, tỉnh đó chịu trách nhiệm bình định nơi đó là chính; tỉnh láng giềng phải có nhiệm vụ hỗ trợ một khi được yêu cầu; riêng Phú Yên, tuy là một tỉnh nhỏ, quân ít, nhưng Phú Yên sẵn sàng tình nguyện điều 100 quân và 3 chiếc thuyền ra khơi tiễu phỉ

Viêc triều đình ra quyết định thu bạc để thuê tàu Pháp này là do gợi ý của Bố chánh Quảng Nam Đặng Huy Trước Tuy có lời can gián của Nguyễn Trung Thành, nhưng triều đình vẫn phái bá hộ Luân đi liên hệ với Pháp để thuê tàu Song bị Pháp từ chối không cho thuê, nên quyết định này mới

bị phá sản không thi hành được

Tháng Sáu 1864

Triều đình cho lập hộ dệt nhiễu ở Khánh Hòa để cung cấp nhiễu cho triều đình dùng Quy định: ai đứng ra mộ thợ lập hộ, sẽ được thưởng hàm thí sai tòng cửu phẩm; khi nào sản xuất có kết quả, sẽ cho bổ thụ

26

Trang 27

(Procureur général) Tổng biện lý đặt dưới quyền chỉ đạo của Thống đốc Nam Kỳ gouverneur de la Cochinchine) 2) Hệ thống tòa Nam án: chuyên xét xử người Việt và người châu Á

(Lieutenant-cư trú tại Nam Kỳ; do các quan cai trị thực dân chủ tỉnh phụ trách; xét xử theo thể chế của triều Nguyễn lúc bấy giờ Các quan chủ tỉnh trực thuộc Giám đốc Nha Nội chính (thành lập ngày 9-11-1864) Dùng thuật ngữ (Anhđigiêna" (Indigénat) tức "tư cách người bản xứ" để chỉ chế độ tư pháp đối với người "bản xứ"

Cần biết rằng, từ năm 1862 đến trước Sắc lệnh này, việc xét xử đều do giới cầm quyền quân sự nắm; chưa có quan tòa chuyên nghiệp Các viên thanh tra công việc bản xứ chịu trách nhiệm xét xử người Việt, dựa trên những thể chế cũ của Việt Nam Từ Sắc lệnh ngày 25-7-1864, có một số điểm cần lưu ý sau:

- Tòa Nam án xét xử người Việt vi phạm luật dân sự và thương mại Song, những vụ xảy ra giữa người Việt với người Âu, hoặc những vụ người Việt vi phạm luật pháp của "chính quốc" (tức luật pháp của nước Pháp được ban hành ở thuộc địa), đều do tòa Tây án xét xử

- Người Việt phạm tội hình, trên nguyên tắc vẫn do Tòa Nam án xét xử Song, những tội hình nghiêm trọng lại do Thống đốc hoặc viên chức do Thống đốc chỉ định, xét xử

- Riêng tòa Tây án Sài Gòn có quyền xét xử bất kể vụ gì xảy ra trong phạm vi thành phố và vùng phụ cận của thành phố, và bất kể người phạm pháp thuộc quốc tịch nào Tòa Đại hình Sài Gòn (Tribunal Griminel) sẽ xét xử các trọng tội do người Việt gây ra đối với người Âu trong phạm vi Sài Gòn

- Tất cả các vụ có tính chất chính trị, như khởi nghĩa chống đối chính quyền của Pháp, đều chuyển qua Tòa án binh (Conseil de Guerre) xét xử

Hệ thống tư pháp theo Sắc lệnh ngày 25-7-1864 tồn tại cho đến ngày 25-5-1881, ngày chính thức bãi bỏ các Tòa Nam án Những bộ luật của Pháp được lần lượt ban bố ở Nam Kỳ:

- Ngày 21-12-1864: Thống đốc Nam Kỳ cho công bố ở Nam Kỳ toàn bộ Bộ Luật pháp của nước Pháp

- Ngày 6-3-1877: Tổng thống Pháp ra sắc lệnh cho áp dụng bộ Hình luật của nước Pháp vào Nam

Kỳ và các thuộc địa của Pháp

- Ngày 3-10-1883: Tổng thống Pháp ra sắc lệnh cho thi hành ở Nam Kỳ một số điều khoản trong bộ Dân luật của nước Pháp

* Xem: 23-8-1871; 10-2-1873; 25-5-1881; 28-2-1890; 6-1-1903; 11-10-1904

3 tháng Tám 1864

(Tức đêm mồng 2 tháng 7 năm Giáp Tý)

Bắt đầu tiến hành cuộc bạo động ở kinh thành Huế nhằm giết Khâm sứ Pháp cùng Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành và đàn áp các giáo dân xung quanh vùng phụ cận kinh thành để phản đối việc triều đình ký hòa ước với Pháp Cuộc bạo động do Nguyễn Văn Viện, một người dân bình thường tỉnh Bình Định, khởi xướng, với sự tham gia của một số người trong dòng họ Tôn Thất, như: tri huyện Hương Trà Tôn Thất Thanh, hộ vệ thân binh Tôn Thất Thừa, v.v Nhưng vì thiếu tổ chức, quân nội ứng bên trong thành không kịp phối hợp hành động với quân bên ngoài thành theo như kế hoạch đã định, nên quân bên ngoài tuy đã lọt vào nội thành rồi nhưng buộc phải rút lui ngay

Do đó, việc bại lộ Những người tham gia cuộc tổ chức bạo động đều bị triều đình trừng trị

Cuộc vận động bạo động này được tiến hành từ tháng 7-1864 Nguyễn Văn Viện đã bí mật tới kinh

đô Huế gặp con của Phú Bình Công Miên Áo là Hồng Tập và nói rõ biện pháp của mình là "Không phiền đến binh đao, mà lui được tàu của Tây dương; không phải chém giết, mà dân giáo phải bỏ đạo" Hồng Tập đồng ý và được bầu làm "minh chủ" Sau đó một số người trong thành cũng hưởng ứng, Tôn Thất Thừa và một số người khác nhận nhiệm vụ bắn pháo hiệu làm nội ứng ở trong thành Trong đêm khởi sự (3-8-1864) số quân được chia làm 4 đạo: 1 đạo vào thành, 3 đạo phục ở ngoài

và chia nhau đến phục ở các làng có nhiều dân theo đạo như Kim Lung, An Truyền, An Vân, An

27

Trang 28

Hòa Nhưng khi đạo quân có nhiệm vụ vào thành đã lọt được vào đồi thì không thấy pháo hiệu nên lại rút ra Cuộc bạo động không thành Triều đình xử chém, bêu đầu Nguyễn Văn Viện và Hồng Tập (sau khi bắt đổi sang họ mẹ là họ Vũ, tức Vũ Tập) Tôn Thất Thanh, Tôn Thất Thừa đều bị tước bỏ họ Tôn Thất và chuyển sang họ mẹ, thành Trần Thanh, Chu Thừa, và đều bị xử chém Khi

bị chém, Vũ Tập đã nói: "Vì tức giận về hòa nghị mà bị tội, xin chớ khép vào tội bội nghịch"

Tháng Tám 1864

Triều đình cho phép sử dụng tù phạm vào việc khẩn hoang ruộng đất và quy định quyền sở hữu đối với số ruộng đất do tù phạm khai khẩn được đó Cụ thể: Những tù phạm về tội quân, tội lưu, sau khi đến chỗ bị phát vãng, sẽ do quan sở tại chịu trách nhiệm giam giữ, quản lý; chính quyền địa phương

sẽ lựa chọn trong số tù phạm đó những người đã hối cải và giao cho tổng lý địa phương cho đi khẩn hoang, nhưng vẫn bị quản lý chặt chẽ Sau 3 năm, ai khẩn hoang thành ruộng được từ 3 đến 5 mẫu,

sẽ được tha giảm tội trước và được sáp nhập vào xã thôn sở tại, do tổng lý nơi đó cai quản; số ruộng

đã khai khẩn được, cho nhận làm quản nghiệp; nếu ai muốn trở về quê hương, sẽ cho về, và số ruộng đã khai khẩn được sẽ giao lại cho tổng lý sở tại cày cấy nộp thuế

đi lính, miễn làm tạp dịch, v.v Ai không muốn nhận việc tặng trật, sẽ được cấp một "đạo lục chỉ" trong đó ghi rõ là "có làm việc nghĩa" Ngoài ra, ai có bố mẹ đã mất, nhưng khi sống không có phạm tội gì, thì người đó có thể bỏ tiền ra để xin triều đình truy tặng phẩm hàm cho bố mẹ Các mức giảm tội gồm: được phục hồi phẩm trật, được xóa bỏ lệnh đình chỉ việc thăng cấp, được giảm bớt số roi, số trượng bị phạt đánh, v.v

Tháng Mười 1864

Đặt "Ty Nam - Bắc chuyển vận sứ", chịu trách nhiệm quản đốc việc vận chuyển từ Nam ra Bắc và

từ Bắc vào Nam Bộ máy quản lý ty gồm: 1 chánh chuyển vận sứ, 1 phó chuyển vận sứ (lấy trong

số quan võ hàm nhị phẩm và tam phẩm), 2 viên tham biện (lấy trong số quan văn hàm tứ phẩm), 1 lang trung

Đến tháng 9-1868: bãi bỏ "Ty Nam - Bắc chuyển vận sứ"; chuyển giao việc vận chuyển cho quan tỉnh sở tại trông coi

Tháng Mười 1864

Triều đình sửa đổi lại chính sách đối với dân theo đạo Gia Tô: bãi bỏ lệnh cưỡng bức giáo dân bỏ đạo; tha cho số giáo dân đang bị tù đầy; xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa dân lương và dân giáo trong vấn đề thuế khóa và ruộng đất

Tháng Mười 1864

(Tức tháng 9 năm Giáp Tý, Tự Đức năm thứ 17)

28

Trang 29

Tự Đức quyết định chọn sơn phận xã Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên làm nơi xây dựng "sinh phần" cho mình và đặt tên là "Vạn Niên Cát Địa" hay "Khiêm Cung".

- Nhân dân xã Dương Xuân Thượng do đó bị đuổi khỏi miền núi để kéo xuống miền duyên hải, bỏ nghề đốn củi chuyển sang nghề chài lưới và lập thành xã Dương Xuân Hạ

- Tháng 12-1864 (tức tháng 11 năm Giáp Tý): khởi công xây Khiêm Cung 2.000 binh lính được huy động đến làm ngày đêm Đến tháng 5-1866: bổ sung thêm 1.000 binh lính nữa, và ra lệnh trong tháng 9-1866 (tức tháng Tám năm Bính Dần) phải hoàn thành Nhưng tháng 9-1866 nổ ra cuộc khởi nghĩa tại kinh đô để phản đối việc xây dựng Khiêm Cung (Cuộc khởi nghĩa do Đoàn Hữu Trưng, Đoàn Tư Trực lãnh đạo)

- Tháng 9-1867 (tức tháng Tám năm Đinh Mão): hoàn thành việc xây dựng Khiêm Cung

* Xem 16-9-1866

Ảnh1 : Cổng lăng Tự Đức - Huế (LangTuDuc)

Ảnh 2 : Khiêm Lăng (KhiemLang)

Nha Nội chính gồm 3 ban: 1) Ban Tổng thư ký: chịu trách nhiệm liên hệ với các viên thanh tra công việc bản xứ; phụ trách công tác mật vụ, cảnh sát, giáo dục, tôn giáo 2) Ban Hành chính: phụ trách việc lập ngân sách, công chính, tài chính và nhân sự 3) Ban Canh nông, Thương mại và Kỹ nghệ: phụ trách thêm cả việc xét xử người bản xứ

Ngày 29-10-1887: Tổng thống Pháp ra sắc lệnh bãi bỏ chức Giám đốc của Nha Nội chính; chuyển giao quyền hành của giám đốc sang tay Thống đốc Nam Kỳ

* Xem: 21-4-1869

Tháng Mười Một 1864

Định lệ cưới xin trong dân gian: từ lễ vấn danh đến khi cưới, định kỳ hạn là 6 tháng; tiền nộp cheo: người giàu nộp 1 quan 2 tiền; người trung lưu nộp 6 tiền; người nghèo nộp 3 tiền; người ở làng khác đến, phải nộp gấp đôi

Tháng Mười Một 1864

Triều đình cho ban bố lại lệnh cấm bán ruộng công làm ruộng tư; nếu làng xã nào, vì có việc công khẩn cấp, thì lý trưởng phải hội họp bàn định và chỉ được đem ruộng công để cầm cố chứ không được bán đứt, và thời gian cầm cố không được quá 3 năm

* Xem: 12-1871; 7-1873

29

Trang 30

Tháng Mười Một 1864

Triều đình cho các phủ, huyện, châu ở gần các tỉnh, đạo, được lập Sở Dưỡng tế để thu nhận và nuôi những người tứ cố vô thân không nơi nương tựa Hàng tháng cấp cho mỗi người được nuôi đó 1 quan tiền và 15 bát gạo

Tháng Mười Một 1864

Đặng Huy Trước, Bố chánh Quảng Nam, đề xuất việc thu thuế bằng hiện vật đối với các hộ làm nghề nghiệp, và cho các nhà dệt cửi lĩnh tiền để mua nguyên vật liệu về dệt các mặt hàng rồi đem nộp hàng cho nhà nước

Tháng Mười Một 1864

(Tức tháng 10 năm Giáp Tý, Tự Đức thứ 17)

Sĩ tử ba trường thi Hương Hà Nội, Nam Định và Thừa Thiên công khai phản đối mạnh mẽ việc triều đình ký hòa ước với Pháp Hình thức phản đối của các sĩ tử gồm: hò reo ầm ỹ, không chịu vào thi; đòi hoãn kỳ thi; công khai bàn luận việc chính trị, đặc biệt ở Thừa Thiên, các sĩ tử đã viết những điều phản đối lên giấy rồi đem dán khắp nơi, cả trên tường và cửa trường thi Trường thi Hà Nội phải hoãn đến ngày hôm sau mới thi được

Một số người khởi xướng đã bị triều đình bắt và trị tội, như: Phạm Gia Tự bị phạt trượng và 3 năm

tù giam; Nguyễn Danh Án bị phạt trượng (hai người này thuộc trường thi Hương Hà Nội); Đỗ Văn Định và Nguyễn Huy Đạt (đều thuộc trường thi Hương Nam Định) bị phạt trượng

Tháng Mười Hai 1864

Triều đình giao cho Thủy sư và Vũ khố tuyển chọn 8 người phái đi theo tàu thủy của Pháp để học lái và sửa chữa Cử viên ngoại lang Hoàng Văn Xưởng và cai đội Lê Văn Mân giữ chức chánh và phó quản Mỗi người, mỗi ngày được cấp 1 quan 5 tiền

Tháng Mười Hai 1864

Cho lập hộ khai khoáng ở hai thôn trang Điển Lộc và Phú Lễ, thuộc tỉnh Quảng Bình Hộ gồm 38 người, trong đó có 12 người là dân đinh địa phương, và 26 người là binh đinh được triều đình cho rút về làm nghề khai mỏ Quy định mỗi năm mỗi người phải nộp thuế 100 cân sắt sống

Trang 31

Thống đốc Nam Kỳ ra quyết định bắt đầu đánh thuế các loại ghe, thuyền vận chuyển trên các sông, rạch ở Nam Kỳ.

(Tức tháng Giêng năm Ất Sửu, Tự Đức thứ 18)

Tự Đức hạ lệnh cấm nhân dân ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, không ai được chiêu mộ nghĩa binh chống đánh Pháp nữa; quan lại các cấp tỉnh, phủ, huyện phải có trách nhiệm bắt giữ những người vi phạm lệnh này; những ai cố tình che giấu hoặc chứa chấp những người mộ nghĩa và nghĩa binh, đều bị trị tội

Lúc đó Đờ La Grăngđie phái người vào kinh đô Huế để bàn về những điều khoản của Hiệp ước năm

1862 Thực dân Pháp cương quyết không nhượng bộ và hơn thế nữa còn bắt triều đình Huế phải hạ lệnh cho các tỉnh cấm việc mộ quân Trước thái độ đó, triều đình Huế đã hội bàn và cuối cùng quyết định: bãi bỏ hẳn việc xin Pháp cho chuộc lại ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa; hoàn toàn chấp thuận Hiệp ước đã ký từ ngày 5-6-1862; giao cho quan lại ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên sao toàn văn Hiệp ước đó và dán khắp nơi để nhân dân 3 tỉnh đều biết (vì từ trước, Hiệp ước này vẫn không được công bố ở Nam Kỳ); hạ lệnh cấm mộ nghĩa Theo Tự Đức, hành động như vậy

sẽ làm cho "dân ba tỉnh ấy không còn vin cớ vào đâu để bạo động nữa"

Tháng Hai 1865

Bắt đầu cho chế xe tát nước bằng trâu kéo, phỏng theo cách thức của Pháp Sở Đốc công chịu trách nhiệm chế tạo 27 cỗ để đưa cho các tỉnh từ Phú Yên, Bình Định đến Nghệ An, Thanh Hóa làm mẫu chế tạo thêm

đó, cứ 40 cân lấy 1 cân

Riêng năm 1865 đã thu được 382.200 quan tiền thuế thuốc phiện: Nam Định 24.000 quan; Bình Thuận 20.000; Thừa Thiên và Bình Định 19.000; Hà Nội 17.000; Hải Dương 10.600; Quảng Nam 6.000; Quảng Ngãi 6.000; Sơn Tây 4.800; Thanh Hóa 3.000; Phú Yên 2.000; Hưng Yên 1.300; Hưng Hóa 1.000; Ninh Bình 1.000; Lạng Sơn 800; Quảng Yên 800; Cao Bằng 600; Quảng Bình 300;

Ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên thu được 264.000 quan

Sở dĩ 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên tiền thuế thu được nhiều hơn các tỉnh khác là vì muốn cho tương xứng với mức thu thuế của Pháp ở ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (90.000 đôla, tương đương 450.000 quan, với giá hối đoái lúc bấy giờ là 1 đôla = 5 quan)

Tháng Hai 1865

31

Trang 32

Nghĩa quân, dưới sự chỉ huy của Phan Trung, tập trung hoạt động ở Phan Rang (Bình Thuận) Thực dân Pháp hoảng sợ, yêu cầu quan tỉnh Bình Thuận giải tán nghĩa quân và bắt giao Phan Trung cho chúng xử lý Triều đình một mặt ra lệnh cho Phan Trung rút quân đi nơi khác, một mặt phái người

đi gặp Pháp để dàn xếp

Phan Trung người Phan Thiết (Bình Thuận) Hồi tháng 9-1861 đã chiêu mộ được 2 nghìn nghĩa binh ở Gia Định (khi đó ông là tùy phái Gia Định), lập thành 2 cơ, cùng với hơn 6.000 nghĩa quân của phó quản cơ Gia Định lúc bấy giờ là Trương Định và 2.000 nghĩa quân của tri phủ Phúc Tuy, Gia Định Nguyễn Thành Ý, họp binh đánh Pháp nhiều trận Từ sau Hòa ước 1862, Phan Trung còn nhiều lần ra vào các địa phận vùng rừng núi Gia Định, Định Tường, Biên Hòa để tiêu diệt quân Pháp và bọn lính ma-tà (dân đạo đi lính cho Pháp) Giặc Pháp rất hoảng sợ và căm tức, song không làm gì được ông Khi ông chuyển nghĩa binh đến Phan Rang hoạt động, ông mang hàm Hàn lâm viện thị giảng học sĩ và giữ chức tri huyện

*Xem: cuối 9-1866

Tháng Ba 1865

Đặt Ty doanh điền của liên tỉnh Vĩnh Long - An Giang để khẩn hoang và khuyến khích việc làm ruộng Số nhân viên lại dịch của Ty gồm: 1 tư vụ, 3 bát phẩm, 3 cửu phẩm, 8 vị nhập lưu, cùng 20 binh lính của Vĩnh Long, và 10 bính lính của An Giang Chi phí do tỉnh Vĩnh Long đài thọ

Tháng Năm 1865

Triều đình cho huy động 3.000 nhân công khơi sông Vĩnh Định (tỉnh Quảng Trị) để phục vụ cho việc chuyên chở thương mại và thủy nông Mỗi người mỗi tháng được cấp 3 quan tiền và một phương 15 bát gạo

Tháng 8-1865 khơi xong Tự Đức phái Nguyễn Bỉnh và Nguyễn Đức Đạt đến khám nhận và dựng bia kỷ niệm

Tháng Năm 1865

Bắt đầu định lệ (theo đề nghị của Phủ Tôn nhân) 3 năm một lần sát hạch các tôn sinh học ở Quốc

Tử Giám, ai không đủ tư cách sẽ đuổi khỏi trường

Tháng Năm 1865

Hội nghị đình thần mật bàn việc chuyển dời tỉnh thành Hà Tiên về xứ Súc Chăn, hạt Ba Xuyên, tỉnh

An Giang, theo đề nghị của Thị lang Bộ Công Lê Đình Đức Hội nghị quyết định: phái binh lính đến đấy bí mật đào hào, đắp lũy, xây dựng dinh thự, kho tàng, xưởng chế binh khí và làm đường sá theo đúng quy cách của một tỉnh thành, chuẩn bị trước cho việc di chuyển tỉnh thành

- Ngay từ tháng 3-1865, Lê Đình Đức đã đề nghị chuyển thành tỉnh Hà Tiên về Ba Xuyên (An Giang) và đề nghị dùng nơi này để tập hợp dân chúng, chiêu gọi những người mộ nghĩa trước kia ở Vĩnh Long, Gia Định, Định Tường, Biên Hòa trở về tụ tập tại đó và cho đổi họ tên để tránh sự chú ý của Pháp Song triều đình không chấp thuận, cho làm như vậy tuy có đúng nhưng e Pháp phát hiện

ra sẽ kiếm cớ gây sự

- Đến tháng 5-1865, Lê Đình Đức lại đề nghị một lần nữa và trình bày rõ ý của mình là: hạt Ba Xuyên thuộc tỉnh An Giang là nơi giàu có trù phú nhất về giạo và muối, so với các tỉnh khác; Pháp lăm le chiếm đánh nơi đó, trong khi Campuchia cũng dựa vào Pháp để quấy rối vùng này, Hà Tiên tất bị cô lập; nếu giữ được nơi này, sẽ bảo vệ được Hà Tiên, vì hai nơi này tiếp giáp nhau, khi hữu

sự có thể hỗ trợ nhau nhanh chóng

- Ngoài ra, Lê Đình Đức còn đề nghị thêm: lấy 2 huyện Long Xuyên và Kiên Giang (nơi ruộng đất mầu mỡ, nhiều muối gạo) của tỉnh Hà Tiên, cùng với các hạt Ba Xuyên, Vĩnh Định, Phong Thịnh, Phong Phú thuộc tỉnh An Giang để hợp thành phủ An Biên (tỉnh An Giang); giao đảo Phú Quốc cho

An Giang cai quản

32

Trang 33

Tháng Năm 1865

Triều đình ra lệnh bắt nhân dân phải sử dụng tiền đồng; hạn chế dần việc dùng tiền kẽm, nhất là đối với nhân dân các tỉnh Hà Tĩnh trở ra Bắc Biện pháp cụ thể: mọi việc như chi phát lương bổng, nộp thuế, thuê mướn người, mua bán hàng hóa, đều phải ưu tiên dùng tiền đồng; trường hợp tiền đồng thiếu mới được dùng tiền kẽm chi thêm cho đủ

Khi bấy giờ có tình trạng nhân dân vẫn quen dùng tiền kẽm, và thường hạ giá tiền đồng Theo quy định 1 đồng tiền đồng loại nặng 1 đồng cân 5 phân phải ăn 10 đồng tiền kẽm; song trong nhân dân thì 1 đồng tiền đồng loại đó chỉ ăn có 3 hoặc 4 đồng tiền kẽm thôi

* Xem 3-1861; 11-1872

Tháng Năm 1865

Triều đình cho tuyển mộ các thợ đúc, thợ làm súng, thợ máy đá ở hai tỉnh An Giang và Hà Tiên để lập "Cục Các thợ"; tỉnh An Giang phải cung cấp mỗi hạng thợ 15 người, tỉnh Hà Tiên 10 người Cử hai viên Tượng mục ở Vũ khố đến hướng dẫn đào tạo

Tháng Năm 1865

(Tức tháng 5 Ất Sửu, Tự Đức thứ 18)

Bắt đầu mở khoa thi Võ tiến sĩ Quy định chương trình, điều lệ cụ thể về thi Hội Võ và thi Đình Võ Cho 3 năm mở một khóa, vào các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất Ấn định thi Hội Võ mở vào ngày mồng 2 tháng 5 âm lịch; thi Đình Võ mở vào ngày 15 tháng 6 âm lịch (nếu gặp tháng 5 nhuận thì thi Đình Võ mở vào ngày 15 tháng 5 nhuận âm lịch) Lấy năm Ất Sửu (1865) làm khóa thi Võ tiến sĩ đầu tiên

Ngày mồng 2 tháng 5 năm Ất Sửu (tức ngày 26-5-1865) bắt đầu thi Hội Võ; ngày 15 tháng 5 nhuận

Ất Sửu (tức ngày 7-7-1865), bắt đầu thi Đình Võ Trong khoa thi Võ tiến sĩ đầu tiên này (1865), lấy đỗ: Vũ Văn Đức (đệ nhị giáp Võ tiến sĩ xuất thân), Vũ Văn Lương (đệ tam giáp đồng Võ tiến sĩ xuất thân); 6 người đỗ Võ phó bảng là: Đặng Văn Tú, Hà Văn Mão, Phan Văn Quát, Lê Khắc Đoài, Nguyễn Đặng Đính, Đỗ Văn Chiếu

Tháng 11-1865: định lệ bổ dụng vào ngạch quan cho những người thi đậu Võ tiến sĩ và Võ phó bảng

Tháng Sáu 1865

(Tức tháng 5 năm Ất Sửu, Tự Đức thứ 18)

Tự Đức ra dụ cho phép các làng xã được trích ruộng công cày cấy, thu hoa lợi để lập "Kho Xã thương" "Kho Xã thương" để tương trợ giúp đỡ những người nghèo túng trong xã Cụ thể: tất cả xã nào có 100 mẫu ruộng công trở lên, cho trích 10 phần trăm số ruộng công đó và giao cho xã dân cùng làm; thu hoạch được bao nhiêu, đem gộp với số thóc do dân xã tự nguyện quyên góp, lập sổ ghi rõ ràng và chứa vào kho riêng; đặt một chức "Hương chính" để trông nom kho này Hương chính phải lựa chọn trong số những người có của, có sức, công bằng, ngay thẳng Hằng năm, số lượng xuất ra nuôi binh đinh hoặc chu cấp cho người nghèo bao nhiêu, Hương chính có nhiệm vụ lập thành 2 bản danh sách: một bản đưa lên phủ, tỉnh lấy chữ phê rồi giữ lại xã; một bản để lưu tại phủ, tỉnh, để phủ, tỉnh tư vào bộ Ngoài ra, khi gạo cao, Hương chính có quyền cho xuất gạo kho để bán lấy tiền; và khi gạo rẻ lại xuất tiền mua thêm gạo tích trữ cho kho; cũng có thể cho vay lấy lãi

để phát triển kho Nếu ai khuyến khích, đôn đốc việc lập và quản lý kho xã thương được tốt khiến cho trong xã không có ai bị chết đói, sẽ được phủ, tỉnh xét tư lên bộ để thưởng Ngược lại, ai xâm phạm tài sản của kho, sẽ bị tịch thu gia sản, bắt bồi thường chỗ thiếu hụt và bị trị tội thật nặng

33

Trang 34

Việc lập "Kho Xã thương", có nơi đem lại kết quả tốt, song có nơi vì chưa khắc phục được một số khó khăn nên đã xin bãi bỏ:

- Năm 1867: tỉnh Ninh Bình bị bão lụt, mùa màng thiệt hại nặng; kho thóc Xã thương đã xuất ra 1 vạn 600 hộc cho dân vay (trong khi đó Nhà nước xuất 1 vạn 5 nghìn hộc để bán cho dân)

- Tháng 7-1868: Trần Ngọc Lý, quan đạo Quảng Trị xin bãi bỏ kho Xã thương (và đã được triều đình chuẩn y) với lý do: địa thế Quảng Trị cao, đất xấu; dân nghèo phần lớn làm nghề đốn củi;

"ruộng Xã thương" do đó ít người chịu đứng ra cày cấy; nếu có ai đứng ra đảm nhận thì cuối cùng cũng phải lấy nhân lực ở dân, lấy dụng cụ của dân; do đó dân nghèo làm việc nọ sẽ phải bỏ việc kia;

vả lại, khi thu hoạch, trừ mọi chi phí, số còn lại không được bao nhiêu; hơn nữa, trong khi thừa hành nhiều tệ nạn đã phát sinh Lý do này được Bộ Hộ xét và tâu lên Tự Đức Cuối cùng, triều đình quyết định: tùy từng nơi, nếu xét thấy không có lợi thì cho thu lại "ruộng Xã thương" để quân cấp cho xã dân

- Tháng 12-1868: Quan phủ Thừa Thiên cũng đề nghị bãi bỏ "ruộng Xã thương", với lý do: mỗi khi đến kỳ cày cấy, gặt hái, thu cất lại đùn đẩy nhau; huống chi thường gặp mất mùa, thuế lệ không khỏi phải bồi thường, đối với dân thấy nhiều điều không tiện; vậy xin giao trả 2.978 mẫu ruộng Xã thương cho xã để xã quân cấp lại cho xã dân - Đề nghị này đã được Tự Đức chuẩn y

Việc thành lập Nha Doanh điền này là do đề nghị của Nguyễn Văn Phương, người Bình Thuận Sau khi điều tra, ông thấy các hạt Thuận Lai, Chu Thỗn, Đồng Mới (thuộc tỉnh Bình Thuận), Hòa Mã, Hòa Tân, Hòa Quân (thuộc tỉnh Khánh Hòa), Đồng Cụ, Quan Đế (thuộc tỉnh Phú Yên), ruộng đất

bỏ hoang còn nhiều nên đề nghị cho tổ chức khai khẩn Nguyễn Văn Phương đã đến Quảng Nam, Quảng Ngãi chiêu mộ được 1.000 người (cả nam lẫn nữ), quyên được hơn 7 vạn quan tiền và hơn 2 nghìn hộc thóc, và cho chuyển cả vào Bình Thuận để tiến hành khai khẩn Bình Thuận trước tiên.Tháng Bảy 1865

Triều đình cử Tổng đốc Vĩnh Long là Trương Văn Uyển đi thu thập của cải của ba tỉnh Vĩnh Long,

An Giang và Hà Tiên (được hơn 10 nghìn đồng bạc, 10 vạn quan tiền và hơn 50 nghìn hộc thóc) để chuyển đến Gia Định và thương lượng với Pháp cho quy thành bạc trừ vào tiền bồi thường chiến phí hàng năm cho Pháp theo Hiệp ước 1862

Tháng Tám 1865

Trương Văn Uyển lại được lệnh của triều đình đi thu thập được hơn 920 lạng vàng (trong số này có

2 pho tượng Phật Campuchia bị đem nấu đúc thành đĩnh vàng, lạng vàng), hơn 2.220 lạng bạc và 10.500 đồng bạc của ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên để đem đi Gia Định nộp cho Pháp khấu vào tiền bồi thường chiến phí

34

Trang 35

Tháng Tám 1865

Bộ Hộ và Nội vụ phủ tiến hành kiểm xét, thu thập tất cả các loại đồ dùng làm bằng bạc, bạc khối, bạc đĩnh, tổng cộng được 72 nghìn lạng, trị giá bằng 10 vạn đồng bạc, để đem nộp cho Pháp, trừ vào số bạc bồi thường chiến phí

Khi bấy giờ thực dân Pháp yêu sách rằng: nếu triều đình Huế hết bạc để bồi thường thì phải giao nốt

ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên để trừ vào số bạc còn thiếu Bởi vậy triều đình phải vơ vét các vật dụng bằng bạc để đem nộp cho chúng Phó đô ngự sử Lê Đình Đức đề nghị cho đem những vật dụng bằng bạc đó phá ra đúc thành bạc đĩnh, bạc lạng rồi hãy đem nộp cho Pháp để khỏi lộ rõ

sự túng quẫn của triều đình khiến Pháp có dịp lấn dần Song Tự Đức không nghe

Tháng Tám 1865

Cho lập 9 "hộ nghề nghiệp" ở tỉnh Quảng Nam, bao gồm: hộ dệt sa, trừu, lụa, vải và hộ làm đường cát Quy định số hộ được thành lập cho mỗi loại nghề Quy định số người cho mỗi hộ (hộ đinh) và

số thuế hiện vật cả năm của mỗi hộ đinh

Chín "hộ nghề nghiệp" là: 1 hộ dệt sa mỏng nam: 50 người, mỗi người nộp thuế năm 1 tấm dài 12 thước, khổ 6 tấc; 1 hộ dệt lụa loại tốt: 25 người, mỗi người nộp thuế năm 15 thước, khổ 6 tấc; 3 hộ dệt lụa loại vừa: mỗi hộ 33 người, mỗi người nộp thuế năm 20 thước khổ 6 tấc; 1 hộ dệt vải trắng:

100 người, mỗi người nộp thuế năm 2 tấm, mỗi tấm dài 30 thước, khổ 6 tấc; 1 hộ dệt sa mỏng trơn:

50 người, mỗi người nộp thuế năm 1 tấm dài 18 thước, khổ 6 tấc (50 người này là do rút bớt ngạch lính của 5 thôn Nam An, Đông Phú, Khương Đông, Phú Trường và giáp Lộc Đông để lập hộ); 1 hộ dệt trừu hoa nam: 33 người, mỗi người nộp thuế năm 1 tấm dài 18 thước, khổ 6 tấc (33 người này là

do rút bớt ngạch lính của thôn Ngọc Sa để lập hội); 1 hộ làm đường cát: 50 người, mỗi người nộp thuế năm 40 cân đường Hộ trưởng được cấp hàm cửu phẩm; hộ đinh được miễn tạp dịch

Tháng Chín 1865

Định mức thuế cả năm đối với người Minh Hương (người Trung Quốc sang trú ngụ tại Việt Nam):

1 lạng, hoặc 2 lạng bạc thực, tùy theo loại giàu, nghèo

Tháng Mười 1865

(Tức cuối tháng Tám năm Ất Sửu, Tự Đức thứ 18)

Chiếc tàu lớn bọc đồng đầu tiên nhờ Pháp mua tại Hương Cảng đã đến cửa biển Thuận An thả neo, sau hơn 4 ngày đêm đi đường Triều đình đặt tên tàu này là "Mẫn Thỏa khí cơ đại đồng thuyền" Tàu dài 11 trượng 2 thước 3 tấc, rộng 1 trượng 6 thước 9 tấc, trọng tải trên dưới 30 vạn cân, trị giá 97.200 lạng bạc (bằng 135 nghìn đồng bạc, mỗi đồng bạc nặng 7 đồng cân 2 phân bạc) Ngoài ra, triều đình mua thêm một số phụ tùng của tàu, trị giá 20 nghìn đồng bạc (tương đương 14.400 lạng bạc)

- Tháng 4 - 1865 (tháng ba Ất Sửu): triều đình cử viên Ngoại lang bộ Công là Hoàng Văn Xưởng đến nhờ Pháp và cùng phái viên Pháp đi Hương Cảng mua tàu Mua xong Hoàng Văn Xưởng thuê người lái tàu về Số người thuê gồm: 1 chủ bán tàu, 1 hoa tiêu hạng nhất (lương tháng 300 đồng), 1 hoa tiêu hạng nhì (lương tháng 200 đồng), 1 hoa tiêu hạng ba (lương tháng 150 đồng), 3 thợ máy người Âu (1 hạng nhất, lương tháng 200 đồng, 2 hạng nhì, lương tháng 150 đồng); ngoài ra thuê thêm 34 người (Mã Lai, Trung Quốc) phụ việc, lương tháng 12 đồng một người

- Sau khi đã có tàu, triều đình lựa một số hoa tiêu và thợ máy (người Âu và Trung Quốc) ở lại để thuê họ hướng dẫn, đào tạo thủy thủ Việt Nam, trong thời hạn 1 năm; lương tháng, tùy theo công việc, trả từ 30 đồng đến 300 đồng Ngoài ra, giao cho Bộ Binh lựa chọn 1 quản đốc, 2 suất đội và

100 lính thủy khỏe mạnh, cho miễn mọi khoản tạp dịch để chuyên học Trong số này tuyển một số làm thường trực trên tàu: 1 quản đốc, 2 suất đội và 40 binh đinh Mỗi năm cấp 2 bộ quần áo Số binh đinh mỗi tháng thay phiên một nửa Biện lý Hoàng Tuấn Tích được cử làm quản đốc

* Xem: 6-1866, 5-1870

35

Trang 36

Tháng Mười 1865

(Tức tháng 9 năm Ất Sửu, Tự Đức thứ 18)

Bắt đầu mở lệ tập ấm cho cháu các quan viên văn võ Song chỉ có cháu các quan văn võ có công hoặc đã được thờ ở đền Hiền Lương mới được cho tập ấm Đối với quan văn - võ từ chánh nhị phẩm đến chánh nhất phẩm, sẽ cho 2 người cháu được tập ấm, bổ dụng; từ chánh tam phẩm đến tòng nhị phẩm, sẽ cho một người cháu (không cứ là trưởng hay thứ) được tập ấm, cấp tiền cho vào học ở Quốc Tử Giám

Tháng Mười Một 1865

Triều đình cho lập Nhà Thủy học để đào tạo người lái tàu, thuyền đi biển, theo lời đề nghị của Phạm Phú Thứ Ở Kinh đô, giao cho Thủy sư đề đốc, hay Hiệp lý; ở các tỉnh, giao cho lãnh binh chịu trách nhiệm tuyển lựa những người am hiểu về các mặt như: xem chiều gió, trông khí tượng,

sử dụng được địa bàn, phân biệt được phương hướng, quen thạo đường biển chỗ nào nông, sâu, hiểm trở hay dễ đi, v.v để đào tạo

Tháng Mười Một 1865

Mở một khoa thi đặc biệt mang tên "Khoa Nhã sĩ" để lựa chọn người có tài Khoa thi kéo dài trong

15 ngày; chia làm 3 kỳ, mỗi kỳ 5 ngày Ai đỗ 3 kỳ đầu này mới được vào kỳ Phúc hạch Cả 4 kỳ này đều do vua ra đầu bài và trực tiếp chấm Ai đỗ cả 4 kỳ sẽ được tặng một chiếc khánh bằng vàng tía có khắc chữ "Kinh Tế Hiển Dương" (tỏ tài kinh bang tế thế), được cấp mũ, áo, cờ biển cùng mọi thủ tục như đối với người đỗ tiến sĩ Những người dự thi do Quốc Tử Giám, Kinh Doãn và các quan tỉnh, chiểu theo dụ tháng 4-1865 của Tự Đức, lựa chọn trong số các liêu thuộc, thân sĩ, (không cứ có khoa mục hay không có khoa mục) người nào học rộng, tao nhã, có kiến thức, có đạo đức, được giới sĩ phu kính phục, lập danh sách đề cử lên Bộ Lại và Bộ Lễ, không hạn chế số người

"Khoa Nha sĩ" duy nhất này lấy đỗ 5 người (trong số 16 người dự thi):

1 - Đặng Văn Kiều, cử nhân, người huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ đầu khoa, được Tự Đức cho thăng thụ hàm thị giảng học sĩ, lãnh án sát và được bổ dụng ngay

2 - Nguyễn Phiên, cử nhân, người huyện Sơn Minh, Hà Nội

3 - Nguyễn Văn Trang, cử nhân, người huyện Gia Lộc, Hải Dương, học sinh Quốc Tử Giám

4 - Phạm Duy Đôn, cử nhân, người huyện Minh Chính, Quảng Bình

5 - Ngô Đức Bình, tú tài, học sinh Quốc Tử Giám

Tháng Mười Một 1865

Bãi bỏ lệ cho quyên nộp của được bổ tổng lý, thư lại, thông lại ở các tỉnh

36

Trang 37

Trước đây, vì cần cứu chẩn khẩn cấp cho dân bị đói nên triều đình cho định lệ này, thể theo đề nghị của Nguyễn Bá Nghi, tổng đốc Sơn Tây Nhưng quá trình cho áp dụng lệ này, đã nảy sinh nhiều tệ tham nhũng, nên lại cho bãi bỏ Hơn nữa, nạn đói kém đã giảm bớt.

Tháng Mười Một 1865

Tự Đức mật bàn với hai đại thần Đoàn Thọ và Trần Tiễn Thành âm mưu đem ba tỉnh Vĩnh Long,

An Giang, Hà Tiên, nộp cho Pháp để đổi lấy 3 tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường Thậm chí nếu Pháp không chịu, có thể giao thêm cho Pháp cả tỉnh Định Tường nữa Song bọn Đoàn Thọ và Trần Tiễn Thành không dám ủng hộ âm mưu đó vì sợ nhân dân phẫn nộ, sợ "không lấy gì để cố kết được lòng người" trong khi Pháp đang lăm le đánh chiếm Vĩnh Long, An Giang

Tháng Mười Một 1865

(Tương ứng tháng 10 năm Ất Sửu, Tự Đức thứ 18)

Triều đình bình định xong cuộc khởi loạn của Tạ Văn Phụng ở Bắc Kỳ; xử chém 35 người tại pháp trường Bắc Dã; lập đàn tế các chiến sĩ trận vong tại ngay pháp trường; mổ bụng lấy tim gan của 6 tội phạm đầu sỏ làm đồ tế, còn thủ cấp cho đem đi bêu tại các tỉnh Hải Dương, Quảng Yên

Sáu tội phạm đầu sỏ là: Nguyễn Văn Niên, dân đạo người Thanh Hóa, tự xưng là Sư phụ, chủ mưu;

Tạ Văn Phụng dân đạo, người huyện Thọ Xương, Hà Nội, tự nhận là dòng dõi nhà Lê (nên đổi tên

là Lê Văn Phụng hoặc Lê Bảo Phụng), tự xưng là minh chủ; Nguyễn Đình Ước, người huyện Nghiêu Phong, tỉnh Quảng Yên, chỉ huy Trung quân; Lê Bá Đức, người châu Tiên Yên, tỉnh Quảng Yên, chỉ huy Tả quân; Vy Xuân, người phủ Hải Ninh, tỉnh Quảng Yên, chỉ huy Hữu quân; Phan Văn Khương, người phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, chỉ huy Hậu quân

Tháng Mười Hai 1865

Thành lập Nhà Chăn tằm ở Thái Thường Tự để cung cấp cho triều đình Cử một nhân viên Bộ Lễ đứng ra chuyên trách (có thể là 1 viên chủ sự, hoặc 1 tư vụ bát phẩm, hoặc 1 thư lại cửu phẩm) Hàng năm bắt đầu nuôi vào tháng Hai âm lịch; tháng Tám âm lịch thu hoạch Mọi chi phí và dụng

cụ chăn tằm, do nhà nước cấp Mỗi tháng nuôi trứng tằm một lần Mỗi năm phải nộp 40 cân tơ sống

Nhà chăn tằm này có bãi trồng dâu riêng Lấy 15 mẫu đất của 5 doanh Vũ Lâm làm bãi trồng dâu, phái binh lính đến trồng Khi hái dâu, Bộ Binh cử 1 đội trưởng phụ trách 20 lính đến hái Hái xong,

để lại 5 người để coi giữ nhà tằm Về chuyên môn chăn tằm, giao cho phủ Thừa Thiên chịu trách nhiệm thuê 2 người có chuyên môn trông nom, hàng tháng cấp cho mỗi người 3 quan tiền và 1 phương gạo Sản phẩm thu được đều đưa vào kho của Nhà nước

Tháng Mười Hai 1865

37

Trang 38

Bắt đầu đặt chức Điển học ở mỗi đạo Hà Tĩnh, Quảng Trị, Phú Yên Điển học phụ trách việc học ở cấp đạo (cũng như Đốc học phụ trách việc học ở cấp tỉnh) Điển học mang hàm tòng lục phẩm và cấp bậc tương đương như quan cai trị của đạo.

Bắt đầu thành lập các đội, vệ lính thủy Quy định: đối tượng tuyển lựa; các môn huấn luyện; định

kỳ sát hạch tiêu chuẩn thưởng phạt Về đối tượng: tuyển trong số lính thủy ở Kinh, ở các tỉnh, và dân vùng ven biển mạnh khỏe, am hiểu nghề sông nước, cứ 100 người chọn lấy 30 người dồn thành đội, vệ và cho miễn mọi tạp dịch để được chuyên rèn luyện Trong số đã tuyển lựa đó, lại chọn ra những ai có kinh nghiệm chiến đấu ở mặt nước cho làm quản suất để huấn luyện những người khác

Về các môn huấn luyện có: chèo thuyền, cầm lái, bơi lặn, xem gió, chiến đấu trên nước, và các môn

kỹ thuật bắn súng điểu sang, múa khiên, sử dụng giáo mác, v.v Binh lính được cấp gạo, tiền để luyện tập Về sát hạch và thưởng phạt: hàng năm, vào tháng 10 âm lịch, ở kinh đô do Bộ Binh cùng

đô sát, thủy sư; ở tỉnh do quan tỉnh cùng lãnh binh hội lại sát hạch, phân loại cấp cho thêm tiền Ngoài ra, 3 năm một lần (vào những năm Dần, Tỵ, Thân, Hợi) cho tổng sát hạch một lượt để phân loại, để bạt chức vụ; ai kém, thải về

Tháng Mười Hai 1865

Cho thành lập các đội, các vệ những người giỏi nghề sông nước và lấy tên là các đội, vệ Thiện Thủy Cho tuyển chọn trong số ngoại đinh khỏe mạnh thuộc các xã thôn vùng ven biển để phiên chế thành đội, vệ Thiện Thủy

Ai mộ được 1 vệ (tức 500 người), được bổ làm Quản cơ, ai mộ được 1 đội (tức 50 người) được bổ làm suất đội

Tháng Giêng 1866

Cấm thuyền buôn của thương nhân Trung Quốc không được đến mua gạo ở hai cửa biển An Hải và Nghiêu Phong, thuộc tỉnh Quảng Yên Cho phép thuyền buôn của thương nhân Trung Quốc được đến mua gạo ở cửa biển Trà Lý, thuộc tỉnh Nam Định, nhưng phải nộp thuế: cứ 1.000 cân, nộp 3 lạng bạc Lệ này bắt đầu cho áp dụng từ tháng Giêng năm Bính Dần (2-1866)

Tính đến hết năm Mậu Thìn (1868), số thuyền buôn của thương nhân Trung Quốc vào mua gạo ở địa hạt Nam Định có 26 chiếc, ở địa hạt Hải Dương có 4 chiếc Tổng số gạo chịu thuế là 1.364.260 cân Tổng số tiền thuế thu được là hơn 4.092 lạng bạc

38

Trang 39

Tháng Tư 1866

Pháp cử phái viên đi tàu ra cửa Thuận An đưa thư đòi triều đình Huế phải giao nốt ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên cho chúng, và hứa nếu được như vậy, chúng sẽ không đòi số bạc bồi thường chiến phí còn thiếu và sẽ giúp triều đình bình định vùng biển Triều đình cử Phan Thanh Giản vào Gia Định thương lượng xin được giữ nguyên hòa ước đã ký năm 1862

Tháng Tư 1866

Triều đình cho tuyển 20 người của hai tỉnh Vĩnh Long, An Giang, (tuyển trong số các thuộc viên, học trò, thợ, nhanh nhẹn tháo vát và khéo tay) để đưa đến Gia Định cho học các nghề như: đúc luyện sắt, đúc súng lớn, chế tạo đạn, lựu đạn, đóng tàu thủy, làm đồng hồ, làm dây đồng (phục vụ cho ngành dây thép, bưu điện) và một số loại máy móc khác Học viên được cấp phát quần áo và lương thực, thuê người Pháp hướng dẫn lương bổng do tỉnh Vĩnh Long đài thọ

Tháng Tư 1866

Hai tỉnh An Giang và Hà Tiên chiêu mộ được 1.646 dân đinh, lập thành 149 thôn, ấp và khai khẩn được 8.333 mẫu Tỉnh Vĩnh Long chiêu mộ được 600 dân đinh lập thành 41 xã thôn, và khai khẩn được 2.700 mẫu

Tháng Năm 1866

Pháp cho thuyền buôn vào cửa biển Thi Nại, tỉnh Bình Định, vi phạm điều 5 Hiệp ước 5-6-1862.Điều 5 Hiệp ước 1862 chỉ quy định có 3 cửa khẩu: Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên, là thuyền buôn Pháp - Tây Ban Nha có thể ra vào buôn bán theo lệ nộp thuế

- Ngày 12-3-1868: Gacniê được cử làm trưởng đoàn khảo sát sông Cửu Long, vì Đuđa đờ Lagrê chết Gacniê tiếp tục đi Thượng Hải, và từ Thượng Hải về thẳng Sài Gòn Tới Sài Gòn ngày 29-6-

1868 Từ đó giới cầm quyền thực dân quyết định bãi bỏ kế hoạch khảo sát dòng Cửu Long mà chuyển sang kế hoạch nghiên cứu khảo sát tuyến đường sông Hồng, từ bờ biển qua Bắc Việt Nam

để thâm nhập vào Vân Nam, Trung Quốc

7 tháng Sáu 1866

39

Trang 40

Nghĩa quân của Võ Duy Dương (tức Thiên Hộ Dương) và của Trương Tuệ (con Trương ĐỊnh) phối hợp với nghĩa quân Campuchia do A Xoa lãnh đạo, tấn công đồn binh Pháp ở Tây Ninh, diệt nhiều địch, trong đó có 2 sĩ quan Pháp.

Quân Pháp phải cố thủ trong đồn chờ viện binh

- Tháng 9-1867, Tự Đức ra một đạo dụ bãi bỏ Ty Bình chuẩn, với lý do: trước đây cần đặt ra là vì thấy việc chi phí cần nhiều tiền; nay thấy quá trình hoạt động của Ty gây nhiều phiền phức cho dân, gần như tranh lợi với dân, nên bãi bỏ đi

* Xem: 11-1868

Tháng Sáu 1866

Chiếc tàu bọc đồng lớn thứ hai mua ở Hương Cảng cập bến cửa Thuận An, sau 3 ngày đêm đi đường Triều đình đặt tên là "Thuận Tiệp khí cơ đại đồng thuyền" Tàu sản xuất năm 1864, dài 9 trượng 3 thước 6 tấc, rộng 1 trượng 6 thước, sâu 8 thước 3 tấc; trọng tải khoảng 40 vạn cân, thân bọc đồng, có hai tầng, 1 ống khói, 2 cột buồm Khí cụ kèm theo tàu gồm: 6 khẩu đại pháo, 15 khẩu điểu sang, 5 khẩu mã sang, v.v Tổng giá tiền là 134.300 đồng bạc, bao gồm các khoản: tiền mua tàu; tiền thuê hoa tiêu, thủy thủ, tiền than củi, vật liệu, phụ tùng Tàu do hoa tiêu người Pháp lái về, với sự hỗ trợ của 3 chánh khán tiêu người Anh và 38 thủy thủ, thợ máy người nước ngoài Sau khi

có tàu, triều đình cử Biện lý Bộ Lễ là Nguyễn Văn Thúy làm quản đốc tàu, và cho lưu hoa tiêu ngời Pháp cùng 3 chánh khán tiêu người Anh ở lại Việt Nam trong thời hạn 1 năm để đào tạo, hướng dẫn cho thủy thủ Việt Nam Lương tháng trả từ 250 đồng trở xuống

40

Ngày đăng: 20/06/2016, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w