Nhằm tạo ra một tầng lớp “thượng lưu bản xứ” phục vụ chính sách cai trị có tính chất mị dân, đáp ứng cho công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp thông qua một số trí thức, quan lại
Trang 1Quan báo bằng chữ Quốc ngữ ra số đầu tiên tại Hà Nội.
Đây là tờ công báo ra hàng tháng do Phủ Thống sứ xuất bản bằng chữ Quốc ngữ đểcung cấp cho các công sở, quan lại và bộ máy tổng lý ở Bắc Kỳ Quan báo đăng tảicác công văn của Phủ Toàn quyền, Thống sứ và Nam triều có liên quan đến Bắc
Kỳ Việc biên soạn tờ báo do Phủ Thống sứ tổ chức và ngân sách Bắc Kỳ đài thọ
Thành lập Công ty sản xuất chất nổ của Pháp ở Viễn Đông (Compagnie franÇaise
d'Explosifs en Êxtrême - Orient)
Công ty chuyên sản xuất các loại chất nổ phục vụ công nghệ và quân sự, với sản lượng thiết kế (nhà máy đóng tại Phúc Xá, Hà Đông) là 150 tấn/năm; có số vốn nguyên thủy 225.000 frăng
15 tháng Giêng 1919
Khánh thành Nhà thương chữa mắt Hà Nội
Toàn quyền Đông Dương Anbe Xarô (Albert Sarraut) chủ toạ lễ khánh thành một bệnh viện chuyên khoa mắt đầu tiên ở Đông Dương
Trang 2Tháng Giêng 1919
Thành lập Hãng AVIAT (Entreprise Générale de Travaux A.Aviat).
Trụ sở đặt tại Hà Nội, chuyên thực hiện việc xây cất các công trình lớn (như mở rộng Nhà Bưu điện Trung ương, Phủ toàn quyền Đông Dương, Nhà Ngân hàng Đông Dương ) sử dụng thường xuyên từ 500 đến 1.000 nam công nhân và từ 200 đến 400 nữ công nhân Từ ngày 1-5-1919, Hãng thành lập một Xưởng sửa chữa và bảo dưỡng ô tô (Garage AVIAT) sử dụng từ 100 đến 120 công nhân Chính tại đây
đã nổ ra cuộc bãi công nổi tiếng trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam vào ngày 28-5-1929
*Xem: 28-5-1929
Thống sứ Bắc Kỳ ra Nghị định cho phép lập Hội Khai trí tiến đức.
Nhằm tạo ra một tầng lớp “thượng lưu bản xứ” phục vụ chính sách cai trị có tính chất mị dân, đáp ứng cho công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp thông qua một số trí thức, quan lại đã vận động thành lập Hội Khai trí tiến đức (Association pour la Formation Intellec tuelle et Morale des Annamite- gọi tắt là AFIMA) Dưới
danh nghĩa một tổ chức văn hoá, Hội Khai trí tiến đức thu hút số đông các quan lại
trong bộ máy Nam triều, công chức trong bộ máy chính quyền thực dân, giới tư
sản, địa chủ và tầng lớp trí thức nhằm mục đích: “Dùng các cách chánh đáng và
do chính phủ kiêm đốc truyền bá trong quốc dân An Nam học thuật và tư tưởng của Đại Pháp, khuyến khích người dân làm việc đạo đức cùng là bảo trì cho quyền lợi người Pháp, người Nam trong trường kinh tế” (Điểm 1 của điều lệ hội) (1) “gây mối liên lạc giữa các bậc thượng lưu Tây – Nam, dung hoà hai cái văn hoá Đông –
Tây và cử động cho chủ nghĩa Pháp – Việt đề huề”(Nam phong, số 206).
-Chú Thich 1 Xtv: Điều lệ Hội: Nam Phong, số 10 (1-1919), tr 161-164.
Chánh mật thám Macty (Louis Marty) được bầu làm Chủ tịch Hội Hội đồng quản trị gồm các nhân vật như: Hoàng Trọng Phu, Thân Trọng Huề, Phạm Quỳnh Ngày 27-4, Hội Khai trí tiến đức ra mắt tại Văn Miếu với sự chủ toạ của Toàn quyền Đông Dương Xarô đã nói rõ mưu đồ chính trị của chính quyền thực dân
trong việc cho thành lập tổ chức này là: “Trong một nước, thế nào cũng phải có một bọn thượng lưu Tôi thành tâm muốn cho bọn thượng lưu An Nam càng ngày càng được rộng quyền mà giúp chúng tôi trong mọi việc” (Diễn văn trước khi rời
Đông Dương, 5-1919) Trong hơn một phần tư thế kỷ tồn tại, nó thực sự là một công cụ thống trị và nô dịch văn hoá của thực dân Thông qua tổ chức này và cơ
quan ngôn luận của nó (tờ Nam phong), chính quyền thực dân cố tạo ra một tầng
lớp “thượng lưu” và một thứ “chủ nghĩa quốc gia” phù hợp với chính sách thống trị
và khai thác thuộc địa nhằm đối phó với phong trào cách mạng của nhân dân Việt Nam đang phát triển sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Sau ngày Cách mạng tháng tám (1945) thành công, Hội Khai trí tiến đức đã bị Nhà nước cách mạng ra lệnh giải tán bằng một sắc lệnh ngày 24-9-1945
Trang 3và căn cứ thuỷ phi cơ Nhà Bè.
Một số mốc lịch sử phát triển ngành hàng không ở Đông Dương:
- Tết năm 1791, Giám mục Pinhô đờ Bêhen (Pigneau de Béhaine) cho thả quả
khinh khí cầu (montgolfière) đầu tiên trên bầu trời Sài Gòn để gây thanh thế cho
Nguyễn Ánh
- Năm 1793, trong trận công hãm quân Tây Sơn ở thành Quy Nhơn, viên sĩ quan pháo binh Pháp Puymanen (Olivier de Puymanel) gợi ý giúp Nguyễn Ánh sử dụng một quả khinh khí cầu để từ cao ném chất cháy vào trong thành quân Tây Sơn
- Ngày 12-4-1884, trong trận đánh chiếm thành Hưng Hoá, đại uý Arông (Aron) đãdùng quả kinh khí cầu “Viêcgi” (Virgie) bay ở độ cao 300m làm đài quan sát hướng dẫn cho pháo binh bắn phá đối phương
- 10 giờ 30 sáng ngày 10-12-1910, lần đầu tiên một chiếc máy bay xuất hiện trên
bầu trời Việt Nam Viên phi công Van Đen Booc (Van Den Borg) đã hạ cánh xuống Sài Gòn trên một phi cơ kiểu Farman Sau sự kiện này, năm 1911, Toàn quyền Đông Dương đã cử một phái viên về Pháp nghiên cứu việc đưa ngành hàng không phục vụ các nhu cầu của thuộc địa
- Năm 1913, một phi công người Nga là Cumenxki (Koumensky) đã sử dụng
trường đua ngựa Hà Nội để hạ cánh chiếc máy bay đầu tiên xuống Bắc Kỳ Sau đó
thực dân đã sử dụng những chiếc máy bay do các phi công nghiệp dư (amateur) vào các chuyến bay dọc biên giới Việt-Trung để thị uy sức mạnh của Pháp ở Đông Dương với nhà cầm quyền Trung Quốc Cũng từ năm 1913, Toàn quyền Đông Dương Xarô đã có ý sử dụng ngành hàng không vào những mục đích quân sự, nhưng phải đến năm 1916, ý định này mới được thực hiện bằng việc cử viên phi công chuyên nghiệp Uyntơrơbe (Wintrebert) nghiên cứu đề án xây dựng ngành hàng không quân sự ở Đông Dương
- Ngày 13-1-1917, sân bay đầu tiên được xây dựng ở Vị Thuỷ.
- Ngày 9-7-1917, những chiếc máy bay quân sự đầu tiên được chở bằng tàu biển
- Từ ngày 25 đến 30-9-1917, lần đầu tiên những chiếc máy bay này, theo yêu cầu
của Đại tá Becgiê (Berger) chỉ huy quân Pháp ở Thái Nguyên, tham gia phối hợp
Trang 4với lực lượng bộ binh hành quân đàn áp những binh lính Việt Nam nổi dậy ở Thái Nguyên Nhưng do những máy bay này quá cũ nên phải bỏ dở cuộc hành quân trở
về căn cứ
- Ngày 6-4-1918, Toàn quyền Đông Dương thành lập Sở Hàng không dân sự.
- Tháng 7-1918, căn cứ phi đoàn được chuyển từ Vị Thuỷ về Thái Hà ấp (ngoại vi
Hà Nội) và sau đó được xây dựng thành sân bay Bạch Mai
- Ngày 30-1-1919, những chiếc máy bay kiểu mới, nhãn hiệu “Bréguet” được trang
bị cho Đông Dương lần đầu tiên bay biểu diễn trên bầu trời Hà Nội.
- Ngày 7-2-1919, lần đầu tiên thực hiện việc chụp ảnh từ trên máy bay và công
việc này từ đó trở thành một nhiệm vụ quan trọng của ngành hàng không nhằm phục vụ công tác điều tra, lập bản đồ khai thác thuộc địa
- Ngày 25-9-1919, nhân dịp Hội đồng Tư vấn Trung Kỳ họp ở Huế, thực dân Pháp cho hai máy bay vào miền Trung để biểu diễn sức mạnh của “Nhà nước bảo hộ”, nhưng một trong hai chiếc đã gặp nạn và rơi xuống sông Cả Đó cũng là tai nạn
hàng không đầu tiên được ghi nhận ở Đông Dương.
- Ngày 20-11-1919, thực hiện chuyến bay đầu tiên bằng thuỷ phi cơ (hydravion)
Hoàng đệ Purachatra thăm Đông Dương.
Cuộc viếng thăm nhằm củng cố những kết quả của cuộc thương lượng ngoại giao
về vấn đề biên giới và quan hệ giữa Đông Dương và Xiêm được ký kết từ năm
1907, như Xarô đã nói trong buổi chiêu đãi ngày 24-3-1919 là “tăng cường sự đồng tâm hiệp lực gây nên những công cuộc ích lợi cho việc giao hiếu giữa hai nước” Nhưng thực chất mục tiêu quan trọng là tăng cường sự câu kết đàn áp
phong trào cách mạng của nhân dân Đông Dương và nhân dân Xiêm, trong đó có cộng đồng Việt kiều đang sinh sống và hoạt động yêu nước ở Xiêm
Trang 5mạng của giai cấp công nhân các nước trên thế giới đã thành lập Quốc tế III (Quốc
tế cộng sản) Sự ra đời của tổ chức cách mạng này đã mang lại cho sự nghiệp cách mạng vô sản và giải phóng dân tộc trên thế giới sức mạnh chiến thắng với khẩu
hiệu “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại!” Quốc tế Cộng sản cũng đã trở thành hậu thuẫn vững chắc cho cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh
đạo trực tiếp của đảng của giai cấp vô sản Việt Nam mà Đảng Cộng sản Đông
Dương là một chi bộ của Quốc tế Cộng sản Tháng 5-1943, Quốc tế Cộng sản
tuyên bố tự giải tán sau khi đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
*Xem: 15-5-1943
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cho phép tờ Trung Bắc tân văn ra hàng ngày – tờ nhật báo đầu tiên và duy nhất ở Bắc và Trung Kỳ.
Sau tờ Đông Dương tạp chí ngừng hoạt động, tờ Trung Bắc tân văn do nhóm
Snêiđơ (Schneider) (chủ nhiệm) và Nguyễn Văn Vĩnh (chủ bút), ra số 1 ngày 1915; lúc đầu ra hàng tuần vào ngày chủ nhật; từ tháng 10-1915 ra một tháng 2 kỳ sau đó nâng lên 3 kỳ Đây là tờ báo ra hàng ngày duy nhất phát hành rộng ở Bắc vàTrung Kỳ Chính quyền thực dân khai thác tờ báo như một diễn đàn chính trị xã hội phục vụ cho chế độ thuộc địa, nhưng nó cũng trở thành một diễn đàn quan trọng thu hút nhiều cây bút nổi tiếng đương thời trên các lĩnh vực văn hoá Tờ báo tồn tại đến tháng 4-1941 mời đình bản (tổng cộng 7265 số, được coi là một trong những tờ báo ra được nhiều số nhất) Sau khi Nguyễn Văn Vĩnh mất (5-1936), người kế tục là Nguyễn Văn Luận và Phạm Huy Lục
7-1-Cùng với Trung Bắc tân văn, sau đó ở Bắc Kỳ còn các tờ Thực nghiệp dân báo(x 12-7-1920) và Khai hoá (x 15-7-1921).
*xem: 1-9-1919
18 tháng Tư (1) 1919
Tôn Đức Thắng tham gia cuộc binh biến của Hạm đội Pháp ở Hắc Hải.
Ngay sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, 14 nước đế quốc đã câu kết với nhau tiến hành cuộc thập tự chinh tấn công nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới Ngày 16-4-1919, một hạm đội Pháp gồm nhiều tàu chiến đã tiến vào Hắc Hải chuẩn bị nổ súng tấn công thành phố Xêvatxtôpôn của nước Nga Xô viết
Ngày 18-4, thuỷ thủ và binh lính trên chiến hạm Phơrăngxơ (France) tuyên bố
chống lệnh chiến đấu của chỉ huy và đưa ra khẩu hiệu “Không chiến tranh với nước Nga! Quay trở về Tulông ! (cảng xuất phát của hạm đội) Tôn Đức Thắng khi
đó đang là một thuỷ thủ của chiến hạm đã tham gia phản chiến và được cử là ngườikéo lá cờ đỏ biểu thị thái độ phản đối sự can thiệp đối với nước Nga Xô viết Cho đến ngày 20-4, cuộc binh biến lan rộng toàn hạm đội buộc chỉ huy phải điều hạm đội trở về căn cứ(1) Việc Tôn Đức Thắng tham gia sự kiện này là một biểu hiện đẹp
đẽ của tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng
Nga(2)
Trang 6
-Chú thích 1 Theo sách La révolte la Mer Noire (Cuộc nổi dạy ở Hắc Hải) của
André Marty do Cục xuất bản của Đảng Cộng sản Pháp xuất bản năm 1929 thì cuộc biểu tình này nổ ra lúc 8 giờ sáng 20-4-1919 trên hai chiến hạm France và
Jean Bart (Tạp chí Lịch sử Đảng số 6-1984, tr 68-70)
1,2 Tôn Đức Thắng sinh ngày 20-8-1888 tại Mỹ Hòa Hưng, Bình Thạnh, Long Xuyên (nay là An Giang) Năm 1906, ông lên Sài Gòn làm công nhân, năm 1912 tham gia lãnh đạo cuộc bãi công của học sinh Trường kỹ nghệ và xưởng Ba Son Cuối năm 1912, ông làm thủy thủ qua Pháp, bị động viên vào quân đội, tham gia binh biến Hắc Hải nên bị thải hồi làm công nhân hãng xe Rơnôn (Renault) Năm
1920, ông về Sài Gòn tham gia lãnh đạo cuộc bãi công nổi tiếng ở Ba Son (x
8-1925), tham gia tổ chức và lãnh đạo kỳ bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, sau vụ án Bácbiê (x.8-12-1928) ông bị đày ra Côn Đảo, cho tới Cách mạng
tháng Tám 1945 thành công, được đón trở về tiếp tục tham gia giữ nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (1969), ông là
người kế tục chức Chủ tịch nước cho đến khi qua đời (30-8-1980) Đồng chí Tôn Đức Thắng, người chiến sĩ kiên cường, mẫu mực, NXB Sự thật, H 1962)
Ảnh: Tôn Đức Thắng (TonDucThang)
Khoa thi cuối cùng của nền thi cử truyền thống.
Ngày 28-12-1918, Khải Định ra dụ bãi bỏ khoa cử ở Trung Kỳ và qui định rằng khoa thi cuối cùng sẽ được tổ chức vào năm 1919(1)
Ngày 1-4-1919, khoa thi Hội cuối cùng được tổ chức, ngày 28-4 công bố kết quả Ngày 15-5-1919 khoa thi Đình cuối cùng được tổ chức, với đề thi bàn về hai chữ
“Văn Minh” của Khải Định Khoa thi cuối cùng này đã chọn được 7 ông Nghè (Tiến sĩ) và 16 Phó bảng Tuy nhiên theo Toà Khâm sứ thông báo thì những người
đỗ trong khoa thi này tuy vẫn còn giữ được những danh hiệu học vị cũ nhưng sẽ không có giá trị trong việc bổ nhiệm vào quan trường Với khoa thi này, nền khoa
cử truyền thống hoàn toàn kết thúc
Danh sách các Tiến sĩ và Phó bảng cuối cùng của nền khoa cử cũ:
- 7 Đệ tam giáp đồng tiến sĩ: Nguyễn Phong Gi (Thanh Hoá), Trịnh Hữu Thăng (Nam Định), Lê Văn Kỷ (Hà Tĩnh), Nguyễn Cao Tiêu (Thanh Hoá), Bùi Hữu Hưu (Thừa Thiên), Vũ Khắc Triển (Quảng Bình) và Dương Thiệu Tường (Hà Đông)
- 16 Phó bảng: Nguyễn Xuân Đàm (Hà Tĩnh), Bùi Hữu Thứ (Thừa Thiên), Chu Văn Quyền (Thừa Thiên), Mai Chiểu (Thanh Hoá), Phạm Đình Long (Quảng Nam), Đặng Văn Oánh (Nghệ An), Trần Nguyên Trinh (Nghệ An), Lê Nguyên
Trang 7Lượng (Quảng Trị), Nguyễn Hà Hoằng (Quảng Nam), Hà Văn Đại (Hà Tĩnh), Lê Viết Tạo (Thanh Hoá), Nguyễn Tấn (Nghệ An), Nguyễn Ngọc Hoàng (Khánh Hoà), Nguyễn Cư (Quảng Bình), Đặng Văn Hướng (Nghệ An), Hoàng Yên (Thừa Thiên).
bản một tờ công báo chuyên ngành (Journal Judiciaire de l’Indochine).
Lễ “Hưng Quốc khánh niệm” lần đầu được tổ chức tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
Ngày 30-5-1919, theo âm lịch là ngày 2-5 Ngày này năm Nhâm Tuất (1802), Gia Long làm lễ đăng quang Khải Định ra dụ chọn ngày 2-5 âm lịch hàng năm làm
ngày “quốc hội” cho toàn xứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ, được coi là “Hưng Quốc khánh niệm tiết” Ngày 30-5-1919, lần đầu tiên ngày lễ này được tổ chức.
Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam (Revendications du Peuple Annamite) ký tên Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Vecxay (Versailles) được công bố trên báo chí.
Nhân lúc các nước thắng trận triệu tập một cuộc hội nghị để chia lại thế giới sau
chiến tranh, họp tại Vecxay (ngoại vi thủ đô nước Pháp), một bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam được gửi tới đại biểu của một số nước tham dự hội nghị, đồng thời được công bố trên các tờ báo L’ Humanité (Nhân đạo) và Journal du Peuple (Nhật báo dân chúng) của Đảng Xã hội Pháp Bản yêu sách được ký tên Nguyễn
Ái Quốc, thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước(1)
-Chú thích: 1 Nhóm này gồm một số Việt kiều yêu nước sổng ở Pháp, hạt nhân là: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh
Nội dung yêu sách gồm 8 điểm yêu cầu chính phủ Pháp: Ân xá chính trị phạm – Cải cách pháp lý – Tự do báo chí và tư tưởng – Tự do lập hội và hội họp – Tự do
cư trú ở nước ngoài và xuất dương – Tự do học tập và mở mang trường học – Thay đổi chế độ sắc lệnh bằng đạo luật – Có đại diện người bản xứ trong nghị viện Pháp(1)
Nhận xét về văn kiện này, Bộ Nội vụ Pháp khẳng định : “Qua cuộc điều tra về sự
tuyên truyền trong các giới Việt Nam ở Pari ủng hộ bản Yêu sách của nhân dân
Trang 8Việt Nam có thể rút ra kết luận rằng hiện nay linh hồn của phong trào đó chính là
Nguyễn Ái Quốc”(2)
Sự kiện này gây ra một tiếng vang lớn, là dấu hiệu của một bước chuyển biến lịch
sử của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam từ nay gắn liền với tên tuổi
Nguyễn Ái Quốc
Ảnh: Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam do Nguyễn A'i Quốc gửi đến Hội nghị Versailles (TLI002251)
(Âm lịch: Tháng Năm, Kỷ Mùi).
Phan Bội Châu gặp phái viên của Toàn quyền Đông Dương tại Hàng Châu.
Sau những phút bi quan và thối chí dẫn đến việc viết Pháp – Việt đề huề chính kiến thư gửi Toàn quyền Đông Dương Xarô, Phan Bội Châu tìm cách về nước hoạt
động
Tháng Năm (âm lịch), Toàn quyền Đông Dương Xarô cử phái viên sang Hàng Châu (Trung Quốc) dụ dỗ Phan Bội Châu tuyên bố thủ tiêu ý chí hoạt động cách mạng và cộng tác với chính quyền thuộc địa Cuộc gặp gỡ này đã giúp Phan Bội Châu nhận rõ bản chất của kẻ thù và sai lầm trong ảo tưởng “đề huề” với giặc, để
từ đó ông lại tiếp tục tìm kiếm con đường hoạt động cứu nước dưới những ảnh hưởng của biến động cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam
*Xem: 23-6-1924
Cuộc nổi dậy của binh lính ở Bình Liêu chấm dứt.
Bình Liêu là một đồn lính nằm án ngữ con đường từ Tiên Yên (Móng Cái) qua Quảng Đông (Trung Quốc) Binh lính đóng ở đây gồm người Việt, người Hán, một
số dân tộc ít người và Hoa kiều Từ ngày 14-11-1918, tại đây đã bùng nổ một cuộc binh biến chống lại sĩ quan Pháp Cuộc nổi dậy lan rộng ra khắp vùng Đông Bắc, thu hút nhiều binh lính và nhân dân địa phương tham gia Lực lượng nổi dậy hoạt động ở vùng ven biên giới và thường rút sang đất Trung Quốc để tránh sự đàn áp của thực dân Pháp Mặc dầu đưa ra mục tiêu chống thực dân Pháp và có lúc lấy danh nghĩa của vua Thành Thái (đã bị Pháp truất ngôi), nhưng đằng sau sự kiện này còn có sự khuyến khích và tài trợ của các thế lực quân phiệt ở Lưỡng Quảng (Trung Quốc), cũng như của đế quốc Đức lúc này đang đối địch với Pháp trong cuộc chiến ở châu Âu Các lực lượng nổi dậy tiếp tục hoạt động cho tới giữa năm
1919 thì tàn lụi Sau khi bị tổn thất nặng nề, những người nổi dậy đã tìm cách rút lực lượng sang bên kia biên giới Những cuộc giao tranh lẻ tẻ cuối cùng với quân
Trang 9Pháp được ghi nhận vào ngày 20-6-1919 và cuộc Khởi nghĩa Bình Liêu hoàn toàn
chấm dứt Cuộc nổi dậy này một mặt phản ánh tinh thần chống áp bức của binh lính nguỵ trong bộ máy quân đội thực dân ở Đông Dương, mặt khác, nó cũng phản ánh mâu thuẫn giữa thực dân Pháp với mưu đồ của các thế lực quân phiệt Trung Quốc được sự khuyến khích của đế quốc Đức đối với Đông Dương
Thuỷ thủ tàu biển Sácno (Sharnhort) bãi công tại bến cảng Hải Phòng.
Sácno là một tàu biển nước ngoài đang được sửa chữa tại cảng Hải Phòng Do giá
cả sinh hoạt cao, thuỷ thủ trên tàu bãi công đòi chủ tăng trợ cấp Cuộc bãi công bùng nổ và giành được thắng lợi đã có ảnh hưởng lớn đến ý thức đấu tranh của giai
cấp công nhân Việt Nam Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc
cho biết cuộc bãi công này còn có mục đích chống lại việc Pháp đưa lính tập Việt Nam sang đàn áp nhân dân Xyri(1) và tờ Công luận (Opinion) xuất bản tại Sài Gòn
ngày 2-3-1920 đánh gía: “Từ cuộc bãi công của thuỷ thủ tàu Sácno ở Hải Phòng thì mỗi lần có tàu vào đậu ở hai bến cảng (Hải Phòng và Sài Gòn) đều có sự đấu tranh sôi nổi của công nhân”
-Chú thích: 1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1 – NXB Sự thật, Hà Nội 1983, tr 334.
Phong trào vận động “Tẩy chay Khách trú”.
Sự vươn lên của giai cấp tư sản Việt Nam nói chung, đặc biệt là ở Nam Kỳ sau chiến tranh đã vấp phải sự cạnh tranh gay gắt của các thế lực thương nhân Hoa kiều (Khách trú), nhất là trên lĩnh vực mua bán, xay xát lúa gạo Tháng 8-1919, nhân có vụ một số cửa hàng cà phê của Hoa kiều ở Sài Gòn tự ý tăng giá và có thái
độ miệt thị đối với khách người Việt đã làm bùng nổ và ngày càng lan rộng một
phong trào “Tẩy chay Khách trú” (còn gọi là đế chế Bắc hoá) Lúc đầu giới thương
nhân người Việt phản ứng lại bằng cách tự mở quán cà phè và hô hào người Việt Nam không vào các quán của Hoa thương, sau đó phong trào lan rộng ra nhiều lĩnhvực khác, hô hào không tiêu thụ hàng hoá của Hoa kiều, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động kinh tế của người Việt Nam
Ngày 30-8-1919, tờ Tribune Indigène (Diễn đàn bản xứ) xuất bản ở Sài Gòn đăng
bức thư của một Hoa thương ký tên là Lý Thiên gửi các báo ở Nam Kỳ sỉ nhục người Việt Nam và thách đố phong trào tẩy chay Bức thư đã gây ra sự phẫn nộ dữ dội Phong trào “Tẩy chay Hoa thương” trở nên sôi động và lan rộng ra cả nước Cùng ngày, trong một cuộc diễn thuyết trước đông đảo cử toạ ở Sài Gòn, Nguyễn
Chánh Sắt chủ bút tờ Nông cổ mín đàm đã lên tiếng hô hào người Việt Nam hùn vốn để thành lập một tổ chức kinh doanh gọi là An Nam thương cuộc công ty với
số vốn ban đầu khoảng 100.000 đồng, đầu tư vào việc xây dựng các kho tàng, mua sắm các phương tiện vận tải, cơ sở xay xát để cạnh tranh với tư sản Hoa kiều trong việc thu mua và xuất cảng lúa gạo trực tiếp với chính quyền hoặc với các thương nhân nước ngoài mà xưa nay tư sản Hoa kiều lũng đoạn Phong trào lan rộng ra cả nước, đặc biệt là ở các thành phố tập trung đông Hoa kiều ở Bắc Kỳ như
Trang 10Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định Tác động phong trào một mặt tạo thành cuộc vận động mở mang các hoạt động kinh tế, mặt khác kích thích một tinh thần dân tộc có phần nào cực đoan Lúc đầu, thái độ của chính quyền thực dân là lợi dụng để hướng phong trào quần chúng vào những mục tiêu không có ảnh hưởng đến nền thống trị thuộc địa Nhưng đến cuối năm 1919, sợ phong trào vượt quá ý đồ của giới cầm quyền, trong kỳ họp của Hội đồng Chính phủ Đông Dương, Quyền Toàn
quyền Đông Dương Môngghiô (Monguillot) đã đánh giá: “cuộc tranh thương với người Khách thật ra là một việc bạo động khinh xuất”, sau đó đưa ra những biện
pháp ngăn cấm phong trào phát triển
Phản ánh hiện tượng này ở Bắc Kỳ, tờ Nam phong (9-1919) đã mô tả: “Các tin tức
trong Nam Kỳ truyền ra ngoài Bắc, người Bắc Kỳ hưởng ứng, ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định cũng thi nhau tẩy chay Nhất là ở Hà Nội, trong mấy ngày này, những phố Hàng Buồm, Hàng Ngang là nơi Khách trú buôn bán nhiều, người ta đi lại như nước chảy, ai nấy khuyên nhau không nên mua đồ hàng Khách, đừng nên
ăn ở các hàng cao lâu khách Hiệu Khách trong mấy ngày phải đóng cửa buổi tối Thành phố bày ra một cảnh tượng rất mới lạ Về sau, nhân có học sinh xung đột với cảnh sát mà quan thành phố phải yết thị cấm không được tụ họp đông người ở ngoài phố, sợ phương hại đến cuộc trị an “Đánh giá ý nghĩa của sự kiện này, báo cáo chính trị của Phủ Toàn quyền năm 1919 viết: “Phong trào tẩy chay xảy ra ở SàiGòn này tuy rằng quá trớn, nhưng cũng có ý nghĩa rằng tư tưởng đã đổi mới, mới đây ít năm thì người Nam Kỳ chẳng những không thích mà còn sợ cái việc buôn bán, bây giờ thì họ thấy thương mại là quan trọng cho họ và họ cần phải cố gắng trên cái hướng này Những người chủ chốt trong vụ tẩy chay này (ở Bắc Kỳ) nói chung là thuộc vào hạng thương gia giàu có, hạng thầu khoán lớn”
*Xem: 7-9-1919, 20-8-1927
“Học báo” ra số đầu tiên tại Hà Nội.
Học báo ra số 1 ngày 1-9-1919 do Trần Trọng Kim làm Chủ bút được sử dụng như
cơ quan hướng dẫn cho hệ thống giáo dục của thực dân Pháp ở Bắc Kỳ và Trung
Kỳ theo đường hướng của chính sách cải cách giáo dục được Toàn quyền Đông Dương Xarô đưa ra từ năm 1918
Lễ hạ thủy tàu “Bình Chuẩn” của Công ty Bạch Thái Bưởi tại Hải Phòng.
Tàu Bình Chuẩn là một tàu thủy chạy bằng hơi nước có trọng tải 600 tấn, chuyên dùng để chạy tuyến đường ven biển từ Hải Phòng tới các tỉnh Trung Kỳ, do Xưởngđóng tàu của Công ty Bạch Thái Bưởi tự đóng lấy (trước đó xưởng này đã đóng được tàu trọng tải 100 tấn: tàu “Đinh Tiên Hoàng” (1914) ; 200 tấn: tàu “Gia Long” (1916) Việc đóng tàu Bình Chuẩn dài 46m, rộng 7,2 m, cao 3,6m, động cơ
400 mã lực, đương thời là một sự kiện có tiếng vang rất lớn, được coi như biểu tượng của “phong trào chấn hưng thương trường” của giới tư sản Việt Nam, tiếp sau vụ “đế chế Bắc hoá” Vào thời gian đó, hoạt động của Công ty Bạch Thái Bưởi
và doanh nghiệp của nó phản ánh tiềm lực của giai cấp tư sản Việt Nam mới hình thành sau chiến tranh và đang cố vươn lên trên lĩnh vực kinh tế
Trang 11Cho đến năm 1919, Bạch Thái Bưởi đã có trong tay một công ty chuyên kinh doanh ngành giao thông đường thủy gồm một đội tàu 25 chiếc chạy trên sông và biển, 20 sà lan, một cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu với 1.500 công nhân tại Hải Phòng Ngoài ra, Bạch Thái Bưởi còn kinh doanh trên một số lĩnh vực khác như nhà in, xay xát gạo và sau đó còn khai thác một số mỏ than Bạch Thái Bưởi là
“đối thủ” tiêu biểu của giai cấp tư sản Việt Nam trong cuộc “tranh thương” với tư sản Hoa kiều Sau này, sự phá sản của Công ty Bạch Thái Bưởi phản ánh bản chất non yếu của giai cấp tư sản bản xứ trong nền kinh tế thuộc địa ở Việt Nam
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tổ chức lại “Đông Dương Kinh tế cục”
(Agence Économique de l’Indochine en France)
Cơ quan này được thành lập theo một Nghị định đề ngày 11-5-1918, nhưng để phù hợp với tình hình sau chiến tranh, văn bản ngày 1-10-1919 đã cải tổ lại; đặt trụ sở tại Pari bao gồm nhiều bộ phận: văn phòng, quản trị, kế toán, kinh tế, khoa học, tư liệu và nghiên cứu, thư viện, du lịch Giám đốc của cơ quan do Toàn quyền Đông Dương chỉ định, với các thành viên gồm đại diện cho các xứ trong Liên bang ĐôngDương, là những viên chức cao cấp của các cơ quan thương mại, canh nông hoặc
kỹ nghệ của mỗi xứ Hoạt động của nó có quan hệ chặt chẽ với Tổng cục thuộc địa của Chính quốc (Agence Générale des Colonies dans la Métropole) Việc thiết lập
cơ quan này nhằm đáp ứng cho việc tăng cường và mở rộng công cuộc khai thác thuộc địa ở Đông Dương sau chiến tranh, thu hút sự đầu tư của các giới tư bản chính quốc
Môrixơ Long (Maurice Long) được phong chức Toàn quyền Đông Dương.
Long chính thức nhậm chức Toàn quyền Đông Dương kể từ ngày 20-2-1920 (trước
đó Quyền Toàn quyền Đông Dương là Môngghiô giữ nhiệm vụ này trong thời gian
từ ngày Xarô về Pháp 22-5-1919 cho đến ngày 19-2-1920) Sau đó, Long chết bệnh trên đường trở về Pháp tại Côlôngbô (Xri Lanca) ngày 15-1-1923 khi chưa hết nhiệm kỳ Người thay thế là Galăng (Gallen) nhận nhiệm vụ từ ngày 18-11-
1920 đến 31-3-1921 và Bôđoanh (Baudoin) thay thế từ ngày 15-4-1922 đến 1923
Khánh thành trường thể dục đầu tiên ở Đông Dương.
Trường huấn luyện thể dục thể thao đầu tiên theo phương pháp Âu Tây do NguyễnQuý Toản chủ trương được thành lập tại Hà Nội (thường gọi là Trường dốc Hàng Gà) và được sự bảo trợ của chính quyền thực dân
Trang 12Chính phủ Đông Dương ký Thoả ước (convention) xác nhận chức năng của Ngân hàng Đông Dương là cơ quan phát hành giấy bạc và là ngân hàng ngoại thương của Chính phủ Đông Dương.
Ngay từ khi mới thành lập, theo sắc lệnh 21-1-1875, Ngân hàng Đông Dương tuy
là ngân hàng tư nhân nhưng nó được hưởng đặc quyền phát hành giấy bạc với thờihạn 20 năm Sắc lệnh 20-2-1888 kéo dài thời hạn này thêm 10 năm nữa Sắc lệnh16-5-1900 của Tổng thống Pháp giao thêm cho nó chức năng ngân khố của ĐôngDương để phát hành và thu hồi giấy bạc, đồng thời gia hạn thêm đặc quyền pháthành cho đến 20-1-1920
Bằng một “thoả ước” được ký đúng vào ngày đặc quyền phát hành hết hạn, Chínhphủ Pháp đã dành cho Ngân hàng Đông Dương một đặc quyền lớn hơn và chắcchắn hơn: ngoài chức năng phát hành giấy bạc, ngân khố, nó còn được đảm nhiệmchức năng ngân hàng ngoại thương cho Chính phủ Đông Dương từ ngày 27-3-
1920 Do đó tất cả vốn ngoại tệ, các kim loại quý (vàng, bạc ) của Chính phủĐông Dương đều ký gửi tại ngân hàng này Thoả ước này góp phần vào việc đápứng những hoạt động ngoại thương ngày càng lớn sau chiến tranh Đồng thời, vớisắc lệnh này, quyền lực của giới tư bản tài chính càng được tăng cường, mà trênthực tế, nhiều quan chức chóp bu của chính quyền Đông Dương cũng là thành viêncủa Ngân hàng Đông Dương (1), nói cách khác, “Việt Nam thật là thuộc địa củaNgân hàng Đông Dương” (2)
*Xem: 27-3-1920
-Chú thích: 1 Nếu số lãi suất của ngân hàng Đông Dương năm 1900 là 1.131.000frăng Thì năm 1928 là 56.000.000 frăng và năm 1939 là 111.371.000 frăng, sốvốn khi mới thành lập là 3 triệu frăng Thì năm 1931 đã lên tới 120 triệu frăng
Trang 13Kết quả điều tra dân số của Nam Kỳ
Đến ngày 15-2-1920, dân số toàn Nam Kỳ là 3.915.613 người, tăng 27% so vớinăm 1901 (tăng 298.529 người) Cụ thể dân số của các tỉnh: (Xem bảng trang 20)
Cuộc bãi công của thủy thủ các tàu biển của Pháp đậu tại bến cảng Sài Gòn.
Thời gian này, trên bến cảng Sài Gòn có một số tàu biển của Pháp đang thả neo
Do giá sinh hoạt trên đất liền cao, thủy thủ của 8 chiếc tàu buôn: Manơhem(Meneheim), Mênet (Ménès), Sácno (Sharnhort), Aphêna (Afénas), Nâyđenphen(Neidenfels), Bơrigaya (Brixgaya), Đô đốc Cantôm (Amiral Canteaume) và
Buênôt Airét (Buénos Airés) đã cử đại biểu đòi giám đốc Sở thủy thủ phụ cấp đắt
đỏ Yêu sách không được chấp nhận, nên ngày 8-3-1920 tất cả 226 thuỷ thủ tuyên
bố bãi công Bọn chủ đuổi các thủy thủ bãi công lên bờ và số người này được một
số người Pháp có cảm tình với cuộc bãi công bố trí cho ở tạm một gara ôtô tại SàiGòn Trong suốt thời gian cuộc bãi công nổ ra (cho đến ngày 18-3), những ngườibãi công liên tiếp tổ chức các cuộc biểu tình chống giới chủ và được sự đồng tìnhmạnh mẽ của nhân dân Sài Gòn, nhất là giới viên chức và lao động Hội “Nhữngviên chức Sở Bưu điện Sài Gòn” quyên tiền ủng hộ những người đấu tranh Một
“Uỷ ban tổ chức Bữa cháo cộng sản” (Comité de la Soupe Communiste) đượcthành lập lo giúp đỡ việc ăn uống cho những thủy thủ bãi công Ngày 13-3, toànthể những người bãi công tổ chức một cuộc mít tinh, ra nghị quyết cảm ơn nhữngngười ủng hộ họ và hô vang các khẩu hiệu “Sự giải phóng người lao động dongười lao động muôn năm!”, “Tổng công hội muôn năm!” Ngày 18-3, bọn chủphải nhượng bộ, thủy thủ bãi công đã tổ chức một cuộc tuần hành trên đường phố
Sài Gòn và kéo tới đập phá toà soạn báo Impartial (Vô tư) vì đã đăng bài thoá mạ
cuộc bãi công
Sự kiện này có tiếng vang lớn, đã tác động mạnh mẽ tới phong trào công nhân vàcác tầng lớp nhân dân Việt Nam, đặc biệt là ở Sài Gòn, bởi những hình thức đấutranh và khẩu hiệu cách mạng mới mẻ của nó
*Xem: 12-1920
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tuyên bố thi hành “chế độ lưu hành cưỡng bức” (cours forcé) tờ giấy bạc Đông Dương.
Trang 14Để thu được nhiều lợi nhuận và lợi dụng đặc quyền phát hành giấy bạc, Ngân hàngĐông Dương đã cho lưu hành lượng giấy bạc quá lớn dẫn đến một cuộc khủnghoảng tài chính do tình trạng lạm phát nghiêm trọng vào những năm 1919 – 1920.Mặc dầu luật pháp (Sắc lệnh 16-5-1900) chỉ cho phép tổng mức giấy bạc phát hànhkhông vượt quá 3 lần so với tổng số kim khí quý và ngoại tệ tồn quỹ, nhưng năm
1920, tỉ lệ đó đã leo đến mức 12,6 lần
Do đó, dân chúng đổ xô đến ngân hàng đòi đổi tiền lấy kim khí quý, dẫn Ngânhàng Đông Dương đến mối đe doạ bị phá sản Để bảo vệ cho giới tư bản tài chính,Toàn quyền Đông Dương Long (Maurice Long) vội ban hành Nghị định ngày 27-
3-1920 tuyên bố chế độ lưu hành cưỡng bức giấy bạc Đông Dương Văn bản quy
định giá cưỡng bức thống nhất trên toàn Đông Dương kể từ ngày 28-3-1920 là 1đồng Đông Dương ăn 15 frăng (mặc dầu thực tế thấp hơn nhiều, thí dụ vào tháng6-1920, 1 đồng Đông Dương chỉ ăn 8 frăng) Chính quyền thực dân lại cho phépNgân hàng Đông Dương được lưu hành thêm 25 triệu đồng ngoài khối lượng đãphát hành và miễn cho Ngân hàng Đông Dương từ nay không phải chuyển trả bằngkim khí quý cho những người mang giấy bạc đến đổi Bằng văn bản pháp lý này,thực dân đã trút gánh nợ của Ngân hàng Đông Dương lên đầu dân bản xứ, đồngthời vẫn bảo vệ được tồn quỹ kim khí quý và ngoại tệ của bọn trùm tư bản tàichính
Việc làm này một lần nữa phản ánh bộ máy chính quyền thực dân phục vụ lợi íchcủa tập đoàn tư bản tài chính, tiêu biểu là Ngân hàng Đông Dương, và chính nhờbiện pháp này Ngân hàng Đông Dương chẳng những đã thoát khỏi cơn khủng
hoảng mà còn tiếp tục thu được những món lời lớn hơn Chế độ “lưu hành cưỡng bức” đồng bạc Đông Dương tồn tại cho đến ngày 31-12-1921 mới bãi bỏ.
Cách tổ chức Hội đồng Tư vấn Trung Kỳ cũng giống như ở Bắc Kỳ (thành lập theo
Nghị định ngày 19-3-1913) bao gồm hai loại nghị viên: do bầu cử và do chínhquyền chỉ định Nghị viên do bầu cử được lựa chọn theo tỉ lệ 20.000 dân/1 đại biểu
và 50 thương gia/1 đại biểu (ở Bắc Kỳ: 500 thương gia/1 đại biểu) Các nghị viênđược chỉ định chủ yếu là đại biểu của các dân tộc ít người, cũng có thể do ngườiViệt thay mặt Nhiệm kỳ của hội đồng là 3 năm và mỗi năm có một phiên họp toànthể
Chức năng của Hội đồng Tư vấn Trung Kỳ là “giúp vua liên hệ được với nguyện
vọng của dân chúng”, tuy nhiên nó chỉ có quyền “tư vấn” phát biểu những vấn đềđược hỏi ý kiến, hơn nữa cái gọi là “nguyện vọng của dân chúng” trước khi đưa raHội đồng bàn bạc để đề đạt lên nhà vua đều phải được Khâm sứ Trung Kỳ xem xét
và cho phép Với Nghị định 24-2-1926, cơ quan này được đổi tên thành Viện Nhân dân đại biểu Trung Kỳ (Chambre des Représentants du Peuple de l’ Annam).
*Xem: 19-3-1913, 24-2-1926, 3-7-1933
Trang 155 tháng Sáu 1920
Thành lập Công ty nghiên cứu và khai thác mỏ Đông Dương (Socíeté d’Études et
d’Exploitation Minières de l’Indochine)
Công ty vô danh có số vốn nguyên thuỷ 100.000 frăng, 1943: 30 triệu frăngchuyên thăm dò và khai thác các mỏ ở Đông Dương
Thành lập Xưởng in thạch, bản khắc và bản kẽm tại Sài Gòn (Atelier de
Lithographite, Héliogravure et Zincogravure)
Xưởng được xây dựng tại Sài Gòn chủ yếu phục vụ cho những yêu cầu kỹ thuậtcủa Sở Địa bạ và Hoạ đồ (Service du Cadastre et Topographie – thành lập theo sắclệnh ngày 27-6-1914 và được Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định ban hànhngày 25-7-1914), có nhiệm vụ tiến hành việc đo đạc và lập dựng các bản đồ chi tiếtvới tỉ lệ từ 1/10.000 tới 1/4.000, đặc biệt chú trọng vào các diện tích canh tác ởđồng bằng Nam Kỳ, Bắc Kỳ và một số đô thị Công việc này được tiến hành do cácnhà chuyên môn ngành đo đạc và sự trợ lực của lực lượng hàng không trong việcchụp ảnh từ trên không
Thành lập xưởng cơ khí Cay – Ninh và Công ty (Ateliers de Constructions
Mécaniques Cay, Ninh et Compagnie)
Công ty đặt trụ sở tại Hà Nội, có số vốn 24.000 đồng, sử dụng gần 100 công nhân,trong đó có quá nửa là Hoa kiều
Tờ “Thực nghiệp dân báo” xuất bản tại Hà Nội ra số đầu.
Là tờ “nhật báo thông tin kinh tế, thương mại, kỹ nghệ và nông nghiệp” ra đời theogiấy phép của Toàn quyền Đông Dương ngày 6-6-1920 do một số nhà tư sản lớnchủ trương như Nguyễn Hữu Thu, chủ xưởng đóng tàu và thầu khoán ở Hải Phòng,Bùi Đình Tá, Bùi Huy Tín là những tài chủ lớn ở Hà Nội, Giám đốc chính trị là
Mai Du Lân Báo ra được đến tháng 6-1935 thì đình bản Tờ Thực nghiệp dân báo cùng với tờ Khai hoá (của Bạch Thái Bưởi, ra từ năm 1921) được coi là tiếng nói
của giới tư sản, điền chủ ở Bắc Kỳ đang vươn lên sau chiến tranh Trên tờ báo này,cũng còn thấy tiếng nói của một số tầng lớp tiểu tư sản, học sinh, trí thức có tinhthần dân tộc mà sau này tham gia vào tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng
*Xem: 15-7-1921
Tổng thống Pháp ra sắc lệnh tổ chức lại Hội đồng Thuộc địa tối cao (Conseil
Superieur des colonies)
Cơ quan này đã được thành lập do một sắc lệnh ký từ ngày 19-10-1883 nhưng chođến sau Chiến tranh thế giới thứ nhất hầu như không hoạt động Theo yêu cầu của
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Xarô (A Sarraut), Tổng thống Pháp ra sắc lệnh ngày
30-9-1920 khôi phục lại cơ quan này Hội đồng Thuộc địa tối cao gồm 3 bộ phận:
Trang 161 Thuộc địa cao đẳng hội nghị (Haut Coseil Colonial): gồm các Bộ trưởng Bộ
Thuộc địa cũ, các Toàn quyền thuộc địa cũ và đại biểu các Bộ Ngoại giao, Lụcquân, Hải quân Cơ quan này có chức năng hoạch định những chính sách chungđối với các thuộc địa
2 Thuộc địa Lập pháp hội nghị (Conseil des Législations Coloniales) do Bộ
trưởng Bộ Thuộc địa cử ra để nghiên cứu các vấn đề hành chính và chính trị đốivới các thuộc địa
3 Thuộc địa Kinh tế hội nghị (Conseil Économique Colonial) gồm đại biểu của
các thuộc địa cử ra cùng các nghị viên thuộc địa ở Hạ nghị viện Pháp và một số cơquan kinh tế của nhà nước có liên quan đến các thuộc địa Thành viên của cơ quannày do Bộ trưởng Bộ Thuộc địa cử ra Đối với Đông Dương, ngoài mang quy chế
“thuộc địa”, Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Campuchia cũng được cử mỗi xứ một đại biểutham dự Cuộc bầu cử đầu tiên vào ngày 2-3-1924 đã bầu ra đại diện của Bắc Kỳ,Trung Kỳ và Campuchia đều là của người Pháp (Forest, De Monpezat và Outrey)
và Quý Phú, sử dụng khoảng 4.000 thợ gia công
Cùng với Công ty bông Bắc Kỳ (Société Cotonnière du Tonkin, thành lập
5-9-1912, với số vốn 5 triệu frăng), Công ty dệt và xuất khẩu Pháp – Nam là những cơ
sở kỹ nghệ dệt, lớn nhất ở Đông Dương đương thời
Thành lập Công ty than Ăngtơraxit Bắc Kỳ (Société Anthracite du Tonkin).
Với vốn nguyên thủy 5 triệu frăng đặt trụ sở tại Pari, do trùm tư bản A.R Phôngten(Fontaine) làm Chủ tịch, công ty khai thác các mỏ than Mạo Khê, Tràng Bạch;năm 1925, sử dụng 1.565 công nhân mỏ và 250 thợ công nhật Sản lượng khai thác
là 53.000 tấn than Ăngtơraxit/năm; năm 1924 chỉ sử dụng 974 thợ mỏ và 250 thợcông nhật, nhưng khai thác hơn 85.000 tấn Sản phẩm chủ yếu xuất khẩu sangHồng Công, Thượng Hải và Xiêm (Thái Lan)
Hợp nhất hai công ty Quảng Hưng Long và Liên Thành.
Sự hợp nhất dưới hình thức "quyền đại diện" của hai công ty tiêu biểu cho giới tưsản dân tộc miền Bắc (Quảng Hưng Long, thành lập năm 1907) và miền NamTrung Kỳ, Nam Kỳ (Liên Thành, lập năm 1906, năm 1920 có số vốn 93.200 đồngvốn là cơ sở kinh tế của các chiến sĩ Đông Du) được coi là hoạt động tiêu biểu cho
ý thức liên kết của giai cấp tư sản Việt Nam mới hình thành
Tờ “Nam Kỳ kinh tế báo” ra số đầu tiên tại Sài Gòn.
Trang 17Là tờ báo chuyên về kinh tế, do Nguyễn Thành Út, một điền chủ ở Long Xuyênlàm Chủ nhiệm, phản ánh tiếng nói của giai cấp tư sản bản xứ đang vươn lên trênthị trường kinh tế sau chiến tranh Báo đình bản ngày 21-2-1924.
d’Altitude du Langbian et du Tourisme dans le Sud-Annam) Đứng đầu thành phố
là một viên đại diện của Toàn quyền Đông Dương kiêm Đốc lý, sau đó được đặtdưới sự chỉ đạo của Toà Khâm sứ Trung Kỳ, và từ năm 1936 được bầu một Hộiđồng thành phố
Phần đất còn lại của tỉnh Lâm Viên tách thành tỉnh Đồng Nai Thượng, đặt tỉnh lị ở
Di Linh (Djiring), từ Nghị định ngày 14-9-1928 tỉnh lị chuyển về Đà Lạt; đến Nghịđịnh ngày 8-1-1941 và 14-7-1942 thì lập lại tỉnh Lâm Viên, bao gồm cả thành phố
Đà Lạt, do đó tỉnh lị của Đồng Nại Thượng lại trở về Di Linh
*Xem: 1-11-1899
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập Trường Thương mại Đông Dương (École de Commerce de l’Indochine).
Trường đặt tại Hà Nội với chương trình học 2 năm Từ năm 1922, tại Sài Gòn thiết
lập Trường thương mại thực hành (École d’Application Commerciale) mà những
học sinh tốt nghiệp ở Hà Nội sẽ tiếp tục theo học và thực tập 1 năm nữa tại những
cơ sở thương mại Từ Nghị định ngày 25-8-1925, chương trình thực hành được đưa
ra áp dụng tại Trường Thương Mại Đông Dương đặt tại Hà Nội, và với chương 3 năm đó, Nghị định ngày 28-9-1928 nâng lên thành Trường Cao đẳng thương mại Đông Dương.
Với nghị định ngày 7-4-1926, trường đặt thêm Khoa Bưu chính và Điện báo
(Section des Postes et Télégraphes) chuyên đào tạo những nhân viên tiếp nhận điệnbáo (receveur) người bản xứ cho ngành bưu điện
Nghị định ngày 7-4-1926 lại thành lập thêm tại trường khoa Điện báo vô tuyến (Section Radiotélégraphie) nhằm cung cấp những kỹ thuật viên cao cấp cho Sở Vô tuyến điện (Service Radiotélégraphique) Như vậy, đến năm 1926, Trường có 3
khoa, nhưng số lượng đào tạo rất hạn chế và dành nhiều cho học sinh người Pháp.Niên khoá 1929 – 1930, trường có 53 học sinh, trong đó có 30 học sinh khoaThương mại
Trang 18Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định phê chuẩn đạo dụ của Khải Định về việc phát hành một loại tiền đồng mang niên hiệu Khải Định lưu hành ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Loại tiền đồng này phát hành nhằm khắc phục tình trạng thiếu các loại tiền nhỏ lưuhành trên thị trường (như các loại tiền đồng hoặc kẽm mang niên hiệu Gia Long,Minh Mạng, Tự Đức) Một đồng tiền Khải Định ngang giá bằng 6 đồng tiền kẽm
(thường gọi là trinh Khải Định).
30 triệu frăng, 1927: 66 triệu frăng, 1929: 96 triệu frăng, 1945: 49 triệu frăng
từ bỏ lập trường vô sản để theo đuổi giai cấp tư sản, hoặc đi theo Quốc tế III, conđường mà Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra Mùa thu năm 1920, Nguyễn Ái
Quốc được đọc tác phẩm Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin và nhận thấy: “Đây là con đường giải phóng cho chúng ta”(1)
-Chú thich: 1 Hồ Chí Minh Tuyển tập, Tập II, NXB Sự thật, H 1980, tr 175.
Do vậy, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp tại thành Phố Tua(Tours), Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ởĐông Dương, kêu gọi giai cấp công nhân và những người cách mạng Pháp hãy ủng
hộ sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam và các dân tộc thuộc địa khác.Cùng với những chiến sĩ tiên tiến trong Đảng Xã hội, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếután thành việc Đảng gia nhập Quốc tế III (1) và trở thành người Cộng sản Việt Namđầu tiên, thuộc thế hệ lớp đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Pháp
Ảnh: Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua 12 – 1920(TLI002253)
-Chú thích: 1 Vài tháng sau, nhóm đa số tán thành gia nhập Quốc tế III(3208/1022) đã ly khai khỏi Đảng Xã hội Pháp và đến cuối năm 1921 mới chính
Trang 19thức mang tên Đảng Cộng sản Pháp (theo Le Congrès de Tours Science Social,
Năm học sinh Trường Bổn quốc (Chasseloup Laubat) ở Sài Gòn bãi khoá.
Sự kiện này đã gây ra tiếng vang lớn làm giới thực dân hoảng hốt Tờ Impartial
(Vô tư) bình luận: “Cuộc bãi khoá của học sinh là kết quả của cuộc bãi công củathủy thủ (x 8-3-1920) Bọn thủy thủ đã nêu lên một tấm gương xấu mà kẻ khác noitheo một cách quá mau lẹ và trung thành Lần này chúng nó (chủ nghĩaBônsêvich) mò đến những con người dễ uốn nắn nhất, dễ sai khiến nhất, dễ tuyêntruyền cách mạng nhất mà chúng nó muốn biến thành những lãnh tụ tin tưởng nhấtsau này Từ những con người, người ta muốn biến thành những hạt xấu, người tamong rằng những mầm non sẽ nẩy nở gây thành cái tai hoạ không chứa nổi, cái taihoạ sẽ đưa đến chỗ tiêu diệt xã hội ngày nay”
Thành lập Hãng cơ khí và xay xát Quảng Đại Long (Maison Kwoang Dai Long.
Atelier de Construction Mécanique et Rizerie)
Hãng đặt trụ sở tại Hạ Lý (Hải Phòng) Xưởng cơ khí sử dụng 80 công nhân Hoakiều và 130 công nhân Việt Nam Xưởng xay xát sử dụng khoảng 100 công nhânViệt Nam (số liệu năm 1925)
Thành lập Nhà máy gạch Giêm.
Nhà máy xây dựng tại Thái Hà ấp (Hà Đông), khai thác đất ở Bắc Ninh, chuyênsản xuất gạch (công suất 1,8 triệu viên/năm), ngói (540.000 viên/năn), gạch hoa vàcác loại vật liệu xây dựng khác, vốn cố định là 100.000 đồng, sử dụng 120 côngnhân
Thành lập trường Quốc học Vinh (Collége Vinh).
Đây là trường trung học đầu tiên được xây dựng dành cho học sinh của 4 tỉnh BắcTrung Kỳ (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, và Quảng Bình)
1921
Thành lập Công ty bột màu và sơn kim loại Pháp (Standart Société franÇaise de
Couleurs et Peintires Métalliques)
Công ty đặt trụ sở tại Hà Nội, nhà máy tại Gia Lâm (Bắc Ninh) chuyên sản xuấtcác loại bột màu, sơn công nghệ và sơn kim loại, sở hữu 800 ha đồn điền ở ThanhHóa để trồng nguyên liệu
Trang 201 tháng Giêng 1921
Thành lập Nhà hàng Buốcgoanh Mépphơrơ (Établissements Bourgoin Meiffre).
Công ty vô danh, có số vốn 850.000 frăng đặt trụ sở tại Hà Nội, chuyên kinh doanhxuất nhập hàng hóa, đặc biệt là vải sợi và hàng may mặc
Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Xarô (A.Sarraut) trình bày dự luật khai thác thuộc địa
Cựu Toàn quyền Đông Dương, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, đã trình bày trước Quốchội Pháp bản dự luật khai thác thuộc địa, trong đó có phần trình bày về ĐôngDương
Đây chính là kế hoạch vơ vét về mặt kinh tế của các thuộc địa cho chính quốc sau
Chiến tranh thế giới mà ở Đông Dương thường được gọi là Kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ hai.
Nghị định này được bổ sung bằng các Nghị định ngày 10-2-1922, 25-5-1927,
16-1-1929 thành lập cơ quan này, đứng đầu là viên Giám đốc cảnh sát và an ninh(Directeur de la Police et de la Sreté générale), bao gồm 3 bộ phận:
1 Cục vấn đề đối ngoại (Service des Affaires Extérieures) phụ trách các vấn đề
liên quan đến mối quan hệ của Đông Dương với nước ngoài trên cơ sở chính sáchcủa nước Pháp đối với Viễn Đông và Thái Bình Dương, cũng như các vấn đề liênquan đến luật pháp quốc tế
2 Cục các vấn đề bản xứ (Service des Affaires Indigènes) phụ trách các vấn đề
liên quan đến hành chính và chính trị của người bản xứ
Trang 213 Sở Tình báo và An ninh trung ương (Service central de Renseignements et de
Sreté générale) bao gồm 4 bộ phận: Thu thập tin tức chính trị – Kiểm soát nướcngoài và dân ngụ cư, chủ yếu là Hoa kiều – An ninh tư pháp, căn cước và cácphòng giám định cảnh sát (Laboratoire de police) – Tổ chức cảnh sát đô thị và anninh
*Xem: 23-5-1915, 28-6-1917
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập các cơ quan trực thuộc Văn phòng Phủ Toàn quyền.
Bao gồm: Ban chỉ đạo nhân sự (La Direction du Personnel) phụ trách theo dõi các
vấn đề nhân sự thuộc các loại đối tượng khác nhau (người bản xứ, chính quốc,ngoại kiều, kiểm soát các nhà báo )
Cục Pháp chế và Hành chính (Service de Légéslation et d’Administration
générale) gồm hai văn phòng: phụ trách các vấn đề pháp luật, hành chính, xuất bảnphẩm định kỳ, thư viện và một văn phòng phụ trách các vấn đề pháp lý và hànhchính liên quan đến kinh tế
Cục hòa giải và Kiểm soát hành chính (Service du Contentieux du Contrôle
Administratif)
Thành lập Nhà máy diêm A-chi và công ty (Manufacture d’Allumettes A-chi et
Compagnie)
Nhà máy của Hoa kiều đặt tại Hà Nội có số vốn 30.000 đồng, sử dụng 190 nam và
435 nữ công nhân (năm 1925)
Trong thời gian này, Bắc Trung Kỳ còn một nhà máy xẻ gỗ và sản xuất diêm nữa ởThanh Hóa (Société des Scieries et fabrique d’Allumettes) đặt tại Hàm Rồng, có sốvốn 1.000.000 frăng
*Xem : 10-11-1922
Thành lập Công ty Hưng Ký (Hungky et Compagnie).
Công ty của tư sản Việt Nam chuyên sản xuất gạch ngói và vật liệu xây dựng, đặttrụ sở tại Hà Nội và nhà máy có công suất 3 triệu viên/năm ở Yên Viên (BắcNinh), có số vốn nguyên thủy: 20.000 đồng, 1924: 50.000 đồng, sử dụng khoảng
300 công nhân (năm 1924)
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cải tổ Sở Lâm nghiệp (Service des Forêts).
Với văn bản này (được bổ sung hoàn chỉnh bằng Nghị định 19-9-1924), Sở Lâmnghiệp được thiết lập trên toàn Đông Dương (trừ Lào) Cũng như các sở chăn nuôi,nông nghiệp, về phương diện kỹ thuật chịu sự kiểm soát và phối hợp hoạt động bởi
Tổng thanh tra nông lâm súc Chức năng của sở chủ yếu là tổ chức thực hiện và
giám sát những quy chế về quản lý, khai thác và trồng rừng Hệ thống các quy chếnày chủ yếu liên quan đến việc phân loại và bảo vệ rừng Theo con số điều tra vàotháng 7-1930, ở Bắc Kỳ có 345.000 ha, Trung Kỳ: 877.900 ha và Nam Kỳ:
Trang 22653.000 ha rừng Về hệ thống tổ chức, Sở Lâm nghiệp có đại diện của mình ở mỗi
xứ mà người đứng đầu đặt dưới sự chỉ đạo của thủ hiến mỗi xứ Một tổ chức kiểmlâm được lập ra để quản lý rừng theo sự phân chia thành các lâm khu(cantonnement forestier) và phân khu (division) Bắc Kỳ được chia thành 6 khu: 1
Khu sông Hồng gồm 4 phân khu ở các tỉnh Yên Bái, Lào Cai (trung tâm là Yên Bái) 2 Khu sông Lô gồm 5 phân khu thuộc các tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang là trung tâm 3 Khu sông Đà có 1 phân khu thuộc tỉnh Hòa Bình 4 Khu sông Thương lấy trung tâm là phủ Lạng Thương có 5 phân khu thuộc Bắc Giang và Thái
Nguyên, và khu Trung tâm gồm 6 phân khu trung tâm là Hà Nội và các tỉnh Vĩnh
Yên, Phú Thọ 5 Khu Tây Nam trung tâm là Quảng Yên gồm 4 phân khu ở Quảng Yên, Hải Dương 6 Khu Tây lấy trung tâm là Móng Cái với 4 phân khu thuộc tỉnh
Quảng Yên và Đạo quan binh số 1
Trung Kỳ có các khu: Thanh Hóa (5 phân khu), Bến Thủy (6 phân khu), Hà Tĩnh (4 Phân khu), Đồng Hới (3 phân khu), Huế (4 phân khu), Đà Nẵng (5 phân khu), Nha Trang (2 phân khu), Phan Thiết (3 phân khu) và Langbian (2 phân khu) Nam
Kỳ có các khu: Bạc Liêu (3 phân khu), Bà Rịa (3 phân khu), Biên Hòa (5 phân khu), Trung tâm (Sài Gòn: 2 phân khu), Châu Đốc (4 phân khu), Tây Ninh (7 phân khu) và Thủ Dầu Một (2 phân khu).
Thành lập Công ty vô danh phát triển thương mại và kỹ nghệ ở Nga và các xứ phụ cận (Socíeté anonyme pour Développement du Commerce et de l’Industrie en
Russie et Pays Limitrophes-Compagnie OPTORG)
Công ty thành lập từ 17-10-1909 nhưng bắt đầu đặt trụ sở hoạt động ở ĐôngDương từ tháng 6-1921 có các chi nhánh tại Sài Gòn, Đà Nẵng, Hà Nội, HảiPhòng, Vân Nam, Phnôm Pênh, Thượng Hải, Angiêri , số vốn nguyên thủy 3 triệufrăng 1920: 20 triệu frăng, 1929: 50 triệu frăng, 1940: 33,75 triệu frăng Công tytham gia hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực: thương mại, kỹ nghệ, tàichính ở các nước Viễn Đông, chuyên nhập vào Đông Dương các loại vải sợi,thuốc lá ; lãi năm 1937: 3,22 triệu frăng, 1940: 12,7 triệu frăng
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập Ban chỉ đạo các cơ quan kinh tế toàn Đông Dương (Direction des Services Economiques de l’Indochine).
Trang 23Cơ quan này trực thuộc Phủ Toàn quyền và trực tiếp chỉ đạo các cơ quan kinh ténhư Cơ quan nghiên cứu các vấn đề kinh tế (Service des Sffaires économiques),
Cơ quan Thương mại hàng hải (Service de la Marine Marchande, lập ngày 1927), Cục Du lịch và tuyên truyền Đông Dương (Of-fice Indochinois duTourisme de la Propagande - lập ngày 3-4-1928), Ban Tổng thanh tra hầm mỏ và
8-9-kỹ nghệ (In-spection générale des Mines et de l’Industrie - lập ngày 26-8-1929) vv
Ngày 15-4-1924, Toàn quyền Đông Dương thay thế cơ quan này bằng Ban chỉ đạocác vấn đề kinh tế (Direction des Affaires Economiques), nhưng đến ngày 22-9-
1927 lại ra Nghị định tái lập
*Xem: 21-12-1911
Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định chia tỉnh Cần Thơ thành 5 quận.
Trước kia, Cần Thơ thuộc huyện Phú Phong, phủ Ba Xuyên, tỉnh Châu Đốc cũ.Sau khi Pháp chiếm, Cần Thơ thuộc khu (arrondissement) Trà Ôn (gồm Phong Phú
và một phần tỉnh Vĩnh Long cũ); từ 1-1-1900, theo Nghị định ngày 20-12-1899 thìđổi thành tỉnh (province) Cần Thơ; năm 1913 lập các quận: Châu Thành (tỉnh lỵ),Cầu Kê, Ô Môi, Rạch Gòi (năm 1917 đổi thành Phụng Hiệp) Nghị định ngày 10-7-1921 chia thành 5 quận: Châu Thành, Cầu Kê, Ô Môn, Phụng Hiệp và Trà Ôn.Các Nghị định tiếp theo như 26-12-1932 của Thống đốc, 10-2-1933, 6-4-1933 củachủ tỉnh chia lại thành: Cái Băng (tỉnh lỵ), Ô Môn, Phụng Hiệp, Cái Vồn (1934 đổilại là Trà Ôn), và Cầu Kê Về căn bản, hệ thống hành chính này tồn tại cho đếnnăm 1945
*Xem: 18-12-1928
Tờ “Khai hóa nhật báo” ra số đầu.
Là tờ báo của nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi, xuất bản tại Hà Nội, do một sốnhà báo có tiếng như Hoàng Tích Chu, Đỗ Thận tổ chức thực hiện Tờ báo tậptrung phản ánh nguyện vọng của tầng lớp tư sản và tiểu tư sản bản xứ, tồn tại được
Tạp chí “Hữu thanh” ra số đầu tại Hà Nội.
Báo của Hội Trung Bắc công nông tương tế, ra một tháng hai kỳ với sự cộng tác
của nhiều nhà báo, chính khách đương thời Chính trên số báo ngày 1-9-1924 đã
Trang 24đăng bài viết Chánh học cùng tà thuyết của Cụ nghè Ngô Đức Kế, mở ra cuộc
tranh luận về Truyện Kiều với Phạm Quỳnh
số địa phương thuộc tỉnh Hà Đông với sự trợ giúp đắc lực của Tổng đốc HoàngCao Khải, ngày 12-8-1921, Thống sứ Bắc Kỳ ra Nghị định về việc tổ chức bộ máy
quản lý cấp xã ở Bắc Kỳ Đây là văn bản đầu tiên thực dân can thiệp một cách có
quy mô vào bộ máy làng xã truyền thống ở Bắc Kỳ Theo đó, việc quản trị cấp xãđược giao cho một Hội đồng tộc biểu (Conseil Administratif Communal) do nhữngdân “đinh” trong làng xã (nam giới từ 18 tuổi trở lên) bầu ra từ những người “cótài sản trong làng xã” (điều 2) Số lượng và các nhiệm kỳ các thành viên hội đồngđược quy định tuỳ theo quy mô mỗi làng, đứng đầu là chánh và phó hương hội.Hội đồng này sẽ chọn ra lý trưởng, phó lý và những trương tuần để thừa hànhnhững quyết nghị của hội đồng và thay mặt làng xã trong mối quan hệ với chínhquyền cấp trên Theo nội dung của Nghị định này, Công sứ Pháp đứng đầu tỉnhthông qua các tri huyện hoặc tri phủ, để nắm chặt cả về nhân sự và hoạt động củaHội đồng tộc biểu; đồng thời có quyền bác bỏ các quyết định, thậm chí khi cầnthiết còn có quyền giải tán các hội đồng này Đây là bước đầu tiên của một chủtrương quan trọng mà thực dân sẽ đẩy mạnh trong nhiều năm tới quá trình nhằmngày càng nắm chặt tổ chức và hoạt động của các làng xã Chủ trương này đươngthời gọi là “cải lương hương chính” được tiến hành ở khắp 3 kỳ, nhưng với nhữngbiện pháp khác nhau Riêng ở Bắc Kỳ sau đó còn 2 lần “cải lương hương chính”khác căn cứ theo các Nghị định ngày 25-2-1927, và 23-5-1941
Ghinê đã thành lập tại Pari Hội Liên hiệp thuộc địa, “đoàn thể của những người
dân bản xứ ở tất cả các thuộc địa” Hội đã ra lời tuyên ngôn và cho xuất bản tờ LeParia (Người cùng khổ) Ngày 22-5-1922, Hội được nhà cầm quyền Pháp chínhthức thừa nhận như một tổ chức chính trị hoạt động công khai theo đạo luật năm
1901 Phiên họp đầu tiên của Hội được triệu tập vào ngày 9-10-1921 Ngay khimới thành lập, Hội đã có gần 100 hội viên là những người yêu nước của các dântộc thuộc địa sống trên đất Pháp Hội có 4 tiểu tổ trong đó có một “tiểu tổ ĐôngDương” Tổng thư ký Hội là Môngnecvin (Monnerville), sau đó là Luật sư
Trang 25Blôngcua (Bloncourt) Nguyễn Ái Quốc tham gia Ban chấp hành, đóng vai trò
quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Hội Điều lệ Hội nhấn mạnh đoàn kết là sức mạnh và mục tiêu của nó là bằng các hình thức đấu tranh công khai như báo
chí, nghị trường để lên án chủ nghĩa thực dân và đoàn kết các dân tộc thuộc địatrong sự nghiệp giải phóng Lời tuyên ngôn đã nhấn mạnh: “Đứng trước chủ nghĩa
tư bản và chủ nghĩa đế quốc lợi ích của chúng ta thống nhất Các bạn hãy nhớ lờihiệu triệu của Các Mác: Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại!”
Hội hoạt động cho đến cuối năm 1925 đầu năm 1926 đã góp phần quan trọng vàoviệc xây dựng tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân các dân tộc thuộc địa vớinhân dân và giai cấp vô sản Pháp, trong một mặt trận chung chống chủ nghĩa đếquốc nhằm thức tỉnh quần chúng, huấn luyện đào tạo cán bộ cho phong trào giảiphóng dân tộc ở các thuộc địa Pháp, và thông qua những hoạt động của Hội truyền
bá tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin đến các dân tộc thuộc địa, trong đó cóĐông Dương
50 đồng Đông Dương để thu về 6.180.000 đồng Khác những lần trước chỉ báncông trái bằng đồng frăng, lần này cho phép thu về bằng đồng Đông Dương, kể cảtiền bằng bạc và phát hành cả trong người bản xứ (trước đó chủ yếu trong giới tưbản chính quốc), sau thời hạn 30 năm sẽ hoàn trả gấp đôi (tức 100 đồng ĐôngDương) Trong thời gian 30 năm đó, người mua có thể dùng công trái ký quỹ vay
Ngân hàng Đông Dương (với trị giá còn 80% giá gốc nhưng chỉ phải trả ½ mức lãi
tức là 6% năm) Cuộc công trái được mở ra từ ngày 5-3 đến 20-3-1922 với sự hỗtrợ đắc lực của bộ máy tuyên truyền thực dân cũng như bộ máy hành chính thựcdân và Nam triều Nhờ đó, chính quyền thực dân đã thu được số tiền là 10.289.000đồng (vượt dự kiến ban đầu), cụ thể: Nam Kỳ: 5.343.250 đồng, Bắc Kỳ: 2.596.000đồng, Trung Kỳ: 1.267.750 đồng, Campuchia: 913.450 đồng, Lào: 92.600 đồng,Quảng Châu Loan: 45.800 đồng, ngoại quốc: 24.600 đồng
Cuộc mở công trái này như chính quyền thực dân chủ trương “là một cuộc thửnghiệm một phép tài chính riêng để xem sau này có thể trông cậy được ở các nhà
tư bản bản xứ mà tổ chức mọi việc công lợi về nông thương bản xứ được không?”
(Trung Bắc tân văn, 21-1-1922) đã trở thành cuộc mở công trái lớn nhất từ trước
đó, cũng lần đầu tiên thu được bằng đồng bạc Đông Dương và phát hành trongngười bản xứ Chính quyền thực dân đã huy động được một số tiền lớn đầu tư vàoviệc hoàn thành tuyến đường sắt xuyên Đông Dương (ngoài đoạn Vinh – Đông Hà,lúc này còn các tuyến Đà Nẵng – Nha Trang) Cũng trong vụ này, thông qua chính
quyền thực dân, Ngân hàng Đông Dương đã tìm được một số tiền rất lớn, đặc biệt
là thu hồi nhiều đồng bạc quý (bạc đúc) để cứu vãn tình hình lạm phát tiền giấy,
Trang 26tăng thêm tồn quỹ kim khí và thu được món lãi khổng lồ Từ đó, việc phát hànhcông trái đã trở thành một thủ đoạn thường xuyên của chính quyền thực dân và
Ngân hàng Đông Dương (thí dụ, chỉ tính 6 đợt phát hành công trái trong các năm
1931-1937 đã thu được 1.649.000 frăng)
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thành phố Nam Định.
Nam Định được hưởng quy chế của thành phố cấp III được thành lập một Hộiđồng gồm 4 người Âu, 4 người Việt, do viên Chủ tịch (Công sứ) đứng đầu vàThống sứ Bắc Kỳ chỉ định
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập lại tỉnh Phú Yên.
Trước đó, theo cơ cấu hành chính của Nam triều thì Phú Yên là 1 tỉnh Từ Nghịđịnh ngày 27-3-1890 của Toàn quyền Đông Dương, chức công sứ bị bãi bỏ và PhúYên bị sát nhập với Bình Định thành tỉnh Bình Phú do Công sứ Quy Nhơn caiquản Nghị định ngày 25-11-1899 lập lại tỉnh Phú Yên, nhưng đến Nghị định 9-2-
1913 thì lại đổi thành Đại lý Phú Yên (hay Đại lý Sông Cầu) do Công sứ BìnhĐịnh cai quản, đặt tỉnh lỵ tại Sông Cầu Nay đặt lại tỉnh Phú Yên và đơn vị hànhchính này được duy trì cho đến năm 1945
Vở kịch nói Việt Nam đầu tiên được đưa lên sân khấu (1)
Những biến đổi trong xã hội, trong đó có sự thành hình tầng lớp cư dân đô thị cũngnhư ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đã kích thích một tầng lớp trí thức, nghệ
sĩ Việt Nam muốn xây dựng một nền nghệ thuật theo hướng hiện đại Ngày
5-5-1921, một số người hâm mộ nghệ thuật đã tập hợp lại trong một tổ chức nghệ thuật
lấy tên là hội “Uẩn Hoa” Một phong trào sáng tác những thể loại văn nghệ hiện
đại trong đó có bộ môn kịch nói được hình thành
Tháng 9-1921, tạp chí Hữu thanh đã đăng kịch bản vở kịch nói 3 hồi Chén thuốc độc của Vũ Đình Long và ngày 22-10-1921, lần đầu tiên vở kịch này đã được Bắc
Kỳ công thương đồng nghiệp ái hữu hội đưa lên công diễn trên sân khấu Nhà hát
lớn Hà Nội Thành công của vở kịch đã được dư luận đương thời ghi nhận như sựkiện ra đời một nền kịch nói riêng, một nền sân khấu hiện đại nói chung
-Chú thích: 1 Trong lịch sử môn kịch nói ở Việt Nam còn ghi nhận một số sự kiệntrước đó: Chủ nhật 25-4-1920, một số nghệ sĩ nghiệp dư do Hội Khai trí tiến đức
Trang 27chủ trì đã công diễn trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội vở kịch Người bệnh tưởng (La malade imaginaire) của Môlie (Molière) Đây là lần đầu tiên một vở kịch nói
được trình diễn bằng Quốc ngữ (theo bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh) Tiếp đó,
một số vở kịch của nước ngoài khác cũng được dịch và trình diễn: Trưởng giả học làm sang (1921), Tây sương ký (1922 – do Vũ Đình Long dịch)…
Thành lập Ủy ban Danh thắng (Commission des Sites).
Cơ quan này có chức năng tư vấn cho Toàn quyền Đông Dương những vấn đề liênquan đến việc bảo tồn và khai thác các danh lam thắng cảnh cũng như di tích nghệthuật trên toàn Đông Dương Hoạt động của nó đặt dưới sự chỉ đạo của viên Toàn
quyền với sự tham gia của các cơ quan chức năng như: Sở Du lịch và Tuyên truyền, Thanh tra nông lâm súc, Trường Viễn Đông bác co
*Xem : 17-1-1924
21 tháng Mười một 1921
Thành lập Công ty vô danh Khế ước vận tải đường biển (Services Contractuels des
Messageries Maritimes)
Công ty có số vốn 60 triệu frăng được thành lập trên cơ sở một thỏa ước giữa
Chính phủ Pháp và Công ty vận tải đường biển (Compagnie Messagerie Maritime) ngày 29-12-1920 Theo đó, Công ty vận tải đường biển sẽ chuyển cho Công ty Khế ước quyền quản lý và khai thác một đội tàu biển gồm 66 chiếc, có tổng trọng tải
480.000 tấn, với sức chở 49.000 tấn, khai thác các tuyến đường biển ở ĐôngDương và nối Đông Dương với nước ngoài
Công ty vận tải đường biển được thành lập từ năm 1852, với tên gọi ban đầu là Công ty vận tải Hoàng gia (Messageries Impériales) thường được gọi là “Hãng
Đầu Ngựa”, do biểu tượng được vẽ trên tàu của Hãng Từ năm 1860, hãng này đã
có mặt ở Việt Nam cùng với các đơn vị viễn chinh thực dân và đã thực hiện nhữngchuyến vận tải đường sông chuyên chở binh lính và hàng hóa Năm 1872, Hãng đãthực hiện những chuyến tàu chạy bằng hơi nước ở Nam Kỳ, thiết lập tuyến đường
Trang 28ven biển thường xuyên nối Sài Gòn với Hải Phòng; năm 1882, thiết lập nhữngchuyến đường sông chạy bằng xà-lúp (chaloupes) Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội -Nam Định, Sài Gòn - Phnôm Pênh Sau đó, Hãng còn đảm nhiệm khai thác cáctuyến hàng hải quốc tế từ Đông Dương đi Macxây (Pháp), Yôkôhama (Nhật Bản),Vlađivôxtôc (Nga)
*Xem : 28-6-1922
Thành lập Hội Địa lý Hà Nội (Société de Geographie d’ Hanoi).
Hội được thành lập do sự vận động của Giám đốc Trường Viễn Đông bác cổ(EFEO) Lu-i Phinô (Louis Finot) nhằm mục đích đẩy mạnh việc nghiên cứu về địa
lý, lịch sử, khảo cổ và dân tộc học ở các nước ven biển vùng Viễn Đông, đặc biệt
là Đông Dương Ngay sau khi thành lập, Hội đồng đã tập hợp được 150 hội viên lànhững học giả lớn về Đông phương học Tháng 11-1930, Hội đã vận động thiết lập
một tổ chức mới – đó là Nhóm những người bạn của Hà Nội cổ (Section des Amis
du Vieux Hanoi) tương tự như Hội Đô thành hiếu cổ ở Huế (Association des Amis
du Vieux Hué)
Thành lập Công ty kỹ nghệ xuất khẩu Viễn Đông (Société Industrielle
d’Exportation en Extrême – Orient)
Công ty có số vốn nguyên thủy 600.000 frăng, 1924: 2 triệu frăng, chuyên kinhdoanh các công cụ nông nghiệp, mỏ, xây dựng, cơ khí, thiết bị điện và các sảnphẩm kim khí
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định ban hành bộ luật mới áp dụng cho Bắc Kỳ.
Đây là những cố gắng đầu tiên của thực dân Pháp trong việc xây dựng hệ thốngpháp chế ở Bắc Kỳ Sau khi bãi bỏ Nha Kinh lược (1897), tức là trên thực tế,quyền lực của triều đình Huế ở Bắc Kỳ bị thủ tiêu, việc xét xử của tòa án Nam
triều được giao cho một Hội đồng tái thẩm (commission derevision) duyệt trình Thống sứ Bắc Kỳ Từ năm 1901, thực dân ra sắc lệnh đặt ra Hội đồng thượng thẩm
(commission d’Appel) gồm 3 người Pháp và 2 người Việt Nam chuyên xét xử các
vụ án của người bản xứ ở Bắc Kỳ Năm 1905, có sắc lệnh bãi bỏ các hình phạt cũ(như: suy, trượng, giảo, lăng trì ) thay bằng các hình thức án mới như tử hình, khổsai, phạt giam Năm 1913, Toàn quyền Xarô (Sarraut) đã đặt vấn đề sửa đổi mộtcách có hệ thống các bộ luật cũ ở Bắc Kỳ và năm 1917, Khải Định đã ra dụ về việc
san định lại các bộ luật: Pháp viện biên chế , Luật Dân sự Thương sự tố tụng, Luật Hình sự tố tụng và Luật Hình Sau đó, Toàn quyền Long đã thành lập một cơ quan
gồm các viên quan người Pháp và Việt Nam để nghiên cứu việc biên soạn Ngày 11-1921 đã ban hành Nghị định đầu tiên về việc áp dụng bộ Dân luật (Code civill
9-1er Livre) nhằm đưa ra thử nghiệm thí điểm tại tỉnh Hà Đông sau 5 năm hoàn chỉnh
sẽ áp dụng trên toàn Bắc Kỳ
Trang 29Ngày 2-12-1921, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định ban hành văn bản 4 bộluật áp dụng cho Bắc Kỳ, bao gồm:
– Luật pháp viện biên chế (Code d’Organisation des Juridictions Annamites), gồm
37 điều luật, chia làm 9 chương về cơ cấu, tổ chức, thẩm quyền và hoạt động củacác cấp toà án (sơ cấp, đệ nhị và đệ tam cấp)
– Luật dân sự, Thương sự tố tụng (Code de Procédure civile et commerciale) gồm
37 điều luật, chia thành 4 chương về cách thức tố tụng, cách thức chấp hành án,các thủ tục, các quy tắc chung liên quan đến việc xử án Bộ luật này được thamkhảo những kinh nghiệm đã được thực dân Pháp thử nghiệm áp dụng ở Marốc
– Luật Hình sự tố tụng (Code de Procédure pénale) gồm 211 điều luật, chia làm 13
chương về việc vận dụng và cách xét xử các tội hình sự
– Luật Hình (Code Pénal) gồm 328 điều, chia thành 30 chương về những nguyên
tắc xét xử, các tội danh và hình phạt Nó chủ yếu được xây dựng trên những nội
dung cơ bản của bộ Luật Gia Long cũ kết hợp với pháp luật của nước Pháp.
Các bộ luật trên sẽ chính thức áp dụng bắt đầu từ ngày 01-5-1922, tuy nhiên, quanhiều lần hoãn, 4 bộ luật trên bắt đầu được áp dụng từ 1-1-1923
*Xem : 19-5-1929, 1-4-1931, 21-10-1936
Thống chế Giophrơ (Maréchal Joffre) sang thăm Đông Dương.
Vốn là một sĩ quan trong quân đội viễn chinh Pháp đã từng tham gia các cuộc hànhbinh đàn áp cuộc khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hóa) vào những năm 1886 – 1887,đến cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất Giophrơ đã trở thành Thống chế, nổi tiếng
vì những trận đánh ở chiến trường Mácnơ (Marne)
Sau chiến tranh, Chính phủ Pháp cử Giophrơ dẫn đầu một phái đoàn đi thăm Nhật
để đáp lễ việc vua Nhật Hirô Hitô sang thăm Pháp Phái đoàn này cũng tiến hànhviếng thăm Đông Dương, Xiêm và Trung Quốc Ngày 9-12-1921, Giophrơ tới SàiGòn: từ 13 đến 19-12 thăm Campuchia; từ 21 đến 28 thăm Xiêm; từ Băng Cốc trở
về Đà Nẵng và tới Huế ngày 1-1-1922, ra tới Hà Nội ngày 6-1 và rời vịnh Hạ Longngày 11 sang Nhật
phải thành lập một Ban Nghiên cứu các vấn đề thuộc địa của Đảng Năm 1922, cơ
quan này được thành lập và Nguyễn Ái Quốc là ủy viên
Thành lập Công ty vô danh thực phẩm tươi sống thuộc địa (Les Vitalements
Coloniaux)
Trang 30Công ty có trụ sở và các cơ sở chế biến tại Pari, số vốn 1,5 triệu frăng, chuyên kinhdoanh những sản phẩm lương thực, thực phẩm, rau quả nhiệt đới tại các thuộc địa,đặc biệt là ở Đông Dương.
Sở Lưu trữ và Thư viện Trung ương, quy định bắt buộc tất cả các nhà in sách báo phải nộp mỗi ấn phẩm 2 bản trong đó một bản được lưu ở Thư viện Trung ương
Hà Nội (sau này được gọi là Thư viện Paxkiê) và một bản lưu trữ tại Thư viện
Quốc gia Pháp ở Pari Từ năm 1922 trở đi, tất cả các xuất bản phẩm ở Đông
Dương đều được lưu trữ và ghi rõ trong tập Danh mục ấn phẩm (Liste des
Imprimés)
*Xem : 29-11-1917
Thành lập Công ty than chì Đông Dương (Société des Graphites de l’Indochine).
Công ty vô danh có số vốn 1 triệu đồng, có cơ sở khai thác mỏ ở Nậm Si (Lào Cai)
và nhà máy tuyển luyện ở Hạ Lý (Hải Phòng):
Xưởng Ba Son đóng xong và cho chạy thử tàu “Anbe Xarô”.
Tàu biển dài 85m, rộng 12m, độ mớm nước 5,9m, trọng tải 3.100 tấn, sức máy1.100 mã lực Đây là chiếc tàu biển lớn nhất và trang bị hiện đại đầu tiên đượcđóng ở Đông Dương Trước đó, ngành đóng tàu ở Đông Dương ghi nhận các sựkiện: 7-1919 tại Hải Phòng hạ thủy một tàu vỏ gỗ trọng tải 900 tấn, 500 mã lực (doHãng Robert – Guérin – Théard, sau đổi thành Société Anonyme de ConstructionMécanique, gọi tắt là STACINDO) Cùng năm 1919, Hãng Pooxê (ÉtablissementPorchet) hạ thủy cũng tại Hải Phòng tàu Vécđoong (Verdun) trọng tải 600 tấn và 2tàu 1.200 tấn để dùng vào tuyến đường biển Sài Gòn – Băng Cốc, Sài Gòn – GiaVa
*Xem : 7-9-1919
Báo “Le Paria” ra số đầu tiên tại Pari (1)
Tờ báo do Hội Liên hiệp thuộc địa chủ trương, xuất bản bằng tiếng Pháp, doNguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Là “Diễn đàn của các dân tộc thuộc
Trang 31địa”, sau đó đổi thành “Diễn đàn của vô sản thuộc địa”, tờ Le Paria tồn tại cho đến
tháng 4-1926, tổng cộng ra được 38 số Với nội dung chống chủ nghĩa thực dân,kêu gọi đoàn kết các dân tộc thuộc địa, đặc biệt là với nhiều bài viết đặc sắc của
Nguyễn Ái Quốc, việc xuất bản Le Paria “là một vố đánh vào thực dân” (2) Tờ Le Paria được bí mật chuyển về Đông Dương và các thuộc địa thực sự đã làm tròn
mục tiêu tôn chỉ của tờ báo là “vũ khí chiến đấu với sứ mạng đã rõ ràng là giảiphóng con người” (Lời kêu gọi nhân báo ra số đầu)
Ảnh: Báo Le Paria (Người cùng khổ) do Nguyễn Ái Quốc sáng lập nǎm 1922 (TLI002255)
-Chú thích: 1 Albert Sarraut – La mise en valeur des colonies franÇaises, Paris
1923, p 20
Thành lập Công ty vô danh Các công trình lớn ở Viễn Đông (Société Anonyme des
Grands Travaux d’Extrême- Orient)
Công ty đặt trụ sở tại Hải Phòng, có số vốn 1 triệu frăng
Công ty đã tham gia xây dựng một số công trình lớn ở Đông Dương như: Nhà máyđiện, hệ thống kè ở Cẩm Phả, các công trình đầu mối của hệ thống thủy nông sôngCầu, cầu bê tông trên các tuyến đường Đông Hà – Vinh, mở rộng nhà máy điện HàNội
Trang 3229 tháng Tư 1922
Lễ sách lập Nguyễn Vĩnh Thụy làm Đông cung Hoàng Thái Tử.
Ngày chánh lễ được tổ chức tại Huế (tức 2-4 âm lịch) ít ngày trước khi Khải Địnhsang Pháp dự Hội chợ Mácxây Ngay sau khi trở thành người kế vị, Vĩnh Thụymới lên 10 tuổi được trao cho viên Khâm sứ Sáclơ (Charles) đưa qua Pháp đào tạo
*Xem : 8-1-1926, 23-8-1945
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cho phép thành lập Hội Thanh niên Việt Nam (Foyers de la Jeunesse Annamite).
Người sáng lập tổ chức này là một viên quan thực dân Mônet (Paul Monet) được
sự tài trợ của một số công ty tư bản ở Đông Dương mà tiêu biểu là Hãng rượuPhôngten (Fontaine) Đứng đầu tổ chức này, Đồng Chủ tịch là Thống sứ Bắc KỳMôngghiô (Monguillot) và Hoàng Cao Khải, Chánh mật thám Mácti (Marty) đượcbầu làm Chủ tịch danh dự Ngày 6-10-1922, Hội chính thức ra mắt tại Hà Nội, với
cơ quan ngôn luận là tờ Việt Nam Thanh niên tạp chí, in song ngữ Pháp – Việt ra
số đầu ngày 1-7-1922 được Khải Định tài trợ Mục tiêu thành lập tổ chức nàynhằm tranh thủ tập hợp các tầng lớp thanh niên (chủ yếu là trí thức, học sinh) phục
vụ cho chính quyền thực dân và lôi kéo họ ra khỏi ảnh hưởng của các phong tràoyêu nước Sau đó, Hội Thanh niên Việt Nam sáp nhập và trở thành một bộ phận
của Hội Khai trí tiến đức.
*Xem : 5-2-1919
Vua Khải Định lên đường sang Pháp.
Ngày 13-3-1922, Khải Định ra châu dụ nêu rõ mục đích chuyến “ngự giá” quaPháp: “Nhằm chúc mừng nước Đại Pháp về sự thắng trận và tỏ những giao hảo vớinước Đại Pháp hơn một trăm năm nay”
Ngày 20-5-1922, Khải Định xuống tàu “Porthos” từ Đà Nẵng lên đường sangPháp Cùng đi có Nguyễn Hữu Bài, Bửu Phong, Bửu Trác, Nguyễn Hữu Tiến, TháiVăn Toản và Khâm sứ Trung Kỳ Paxkiê Cũng trên chuyến tàu này, Khải Định đưaĐông cung Hoàng Thái tử Vĩnh Thụy qua Pháp du học Ngày 22-5, tàu đến SàiGòn và ngày 25-5 lên đường qua Pháp Ngày 21-6, Khải Định tới Mácxây; ngày24-6 đi tàu hỏa tới Pari, yết kiến Tổng thống Pháp Milơrăng (Millerand)
Ngày 10-8, Khải Định thăm Hội chợ Thuộc địa Mácxây, ngày 11-8, xuống tàu
“Angers” trở về nước Cùng thời gian này, một phái bộ Bắc Kỳ qua Pháp tham dựHội chợ gồm: Tuần phủ Cao Bằng Vi Văn Định, Tri phủ Trần Lưu Vị thay mặtgiới quan lại, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn thay mặt Hội đồng tư vấn HoàngKim Bảng thay mặt giới thương gia, Nguyễn Hữu Tiệp thay mặt giới canh nông vàPhạm Quỳnh thay mặt Hội Khai trí tiến đức
Đây là lần đầu tiên một ông vua của triều Nguyễn đi ra nước ngoài và sự kiện này
đối với thực dân Pháp nhằm quảng cáo cho công cuộc chinh phục và khai hóathuộc địa của chúng ở Đông Dương đúng vào dịp đang tổ chức Hội chợ Thuộc địa;còn đối với Nam triều, như Khải Định nói rõ: “Vì tấm lòng ghi ân nhớ nghĩa củaquả nhân đối với nước Pháp rất nặng sâu nên quả nhân đã trái hẳn cái tục di truyền
Trang 33nghìn năm cũ mà khởi giá ra khỏi bờ cõi nước nhà, ngự đến nước Pháp để cảm tạmột nước rất đáng tôn kính Ngày này quả nhân mới đem Đông cung Hoàng Thái
tử thác cho nước Pháp giáo dục, là cốt để sau này cái vận mệnh hai nước Việt được gắn bó với nhau như một vậy” (Đáp từ đọc trước Tổng thống Pháp tạiPari)
Pháp-*Xem : 18-6-1922, 15-7-1922
Vở kịch “Con rồng Tre” (Le Dragon de Bambou) của Nguyễn Ái Quốc được công diễn tại Pháp.
Vào dịp vua Khải Định sang Pháp dự Hội chợ Thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã sáng
tác vở kịch Con rồng tre với nội dung đả kích bọn phong kiến bù nhìn bán nước;
tóm tắt như sau: “Có những cây tre thân hình quằn quẹo, những người chơi đồ cổlấy về đẽo gọt thành con rồng Nó là một đồ chơi Là con rồng nhưng thật ra chỉ làkhúc tre Là một khúc tre nhưng lại hãnh diện có tên và hình dáng con rồng Tuyvậy chỉ là một quái vật vô dụng” (1)
-Chú thích: 1 Trần Dân Tiên – Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Sự thật, Hà Nội, 1975, tr 45
Vở kịch đã được Câu lạc bộ ngoại ô (Club du Faubourg), nơi Nguyễn Ái Quốc
thường xuyên sinh hoạt, dàn dựng và công diễn tại Gacsơ, vùng ngoại ô Pari vàongày hội hằng năm của báo L’ Humanité (Nhân đạo) 18-6-1922, tức là 6 ngàytrước khi Khải Định đặt chân đến Pari
Những bài báo của Nguyễn Ái Quốc viết vào dịp này như Lời than vãn của Bà Trưng Trắc (L’Humanité, 24-6-1922), Sở thích đặc biệt (Le Paria 1-8-1922), Kính gửi đức ông Khải Định, Hoàng đế An Nam, Vĩnh biệt VVC (Journal du Peuple, 9-8- 1922), Vực thẳm thuộc địa (L’Humanité, 9-1-1923), Vi hành (L’Humanité 19-2- 1923), cùng với bức thư Thất điều trần (x 15-7-1922) và bài báo Vị hoàng đế An Nam ở Pháp của Phan Châu Trinh (1) đã tạo nên một chiến dịch công kích chuyến
đi Pháp của vua bù nhìn Khải Định
-Chú thích 1 Bài báo này được lưu trữ tại Pháp không ghi rõ ngày tháng và nơi
công bố (theo Thu Trang – Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911 – 1925, Paris, NXB Đông Nam Á, 1982, tr 153) Ngoài ra còn bài Khải Định chuồn, ký tắt là U.L.
Thống sứ Bắc Kỳ gửi thông tư cho Chủ tịch các phòng thương mại Hà Nội và Hải Phòng yêu cầu nên thi hành lệ nghỉ ngày chủ nhật.
Trang 34Lệ nghỉ ngày chủ nhật đã được áp dụng cho công nhân viên chức các sở tư nhân ởNam Kỳ từ 1907, nhưng cho đến năm 1922 vẫn chưa được áp dụng ở Bắc Kỳ.Thông tư của Thống sứ Bắc Kỳ phải thừa nhận: “Vấn đề nghỉ ngày chủ nhật là yêucầu chính đáng của người làm công mà ta phải chịu thôi” và cho rằng việc bắt làmngày chủ nhật “tất nhiên sẽ làm cho những người bị thiệt thòi phải yêu sách và cóthể kích động họ đòi hỏi chính quyền áp dụng ở thuộc địa những luật lệ lao động
mà nếu áp dụng hoàn toàn luật lao động ở xứ này thì điều đó sẽ sinh ra nhiều taihại ”Sau các cuộc đấu tranh sôi nổi của giai cấp công nhân, đặc biệt là các cuộcbãi công của Hãng LUCIA ở Hà Nội (5-1909) và Ba Son ở Sài Gòn (1912), vănbản này cho thấy chính quyền thực dân và giới chủ phải tìm mọi cách đối phó nguy
cơ đương đầu với phong trào công nhân Việc chính quyền thực dân phải đặt vấn
đề áp dụng lệ nghỉ chủ nhật ở Bắc Kỳ vừa là sự đối phó của giới chủ, vừa phản ánhthắng lợi quan trọng của công nhân viên chức Tuy nhiên, lệ này chỉ được thựchiện ở những sở lớn, còn nhiều cơ sở kinh doanh nhỏ của giới chủ Việt Nam vàHoa kiều cũng như của tư bản Pháp vẫn chưa áp dụng Phải tới năm 1937, phongtrào đấu tranh của quần chúng mới xóa bỏ hoàn toàn lệ buộc làm cả ngày chủ nhật
Thành lập Công ty kỹ nghệ và lâm nghiệp Đông Dương (Société Industrielle et
foresti ère de l’Indochine)
Công ty có số vốn 1 triệu frăng, với 12.000 ha rừng ở Thanh Hóa, có nhà máy chếbiến gỗ và nhà máy điện ở Hàm Rồng cung cấp điện cho tỉnh lỵ Thanh Hóa, ngoài
ra còn sản xuất bột giấy
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định sáp nhập cảng sông Chợ Lớn vào thương cảng Sài Gòn Hệ thống các công ty vận tải đường biển ở Đông Dương.
Cảng Sài Gòn là cảng biển lớn nhất và quan trọng nhất ở Đông Dương, đồng thời
cũng là cảng đầu tiên được hưởng quy chế cảng tự quản (port autonome) theo một
sắc lệnh ký ngày 2-1-1914 và được hoàn chỉnh bằng Nghị định ngày 23-1-1917.Ngày 28-6-1922, cảng Sài Gòn được mở rộng bằng việc sáp nhập hệ thống cảngsông Chợ Lớn tạo thành hệ thống giao thông đường thủy và cửa khẩu hoàn chỉnhđặc biệt đối với việc vận chuyển và xuất cảng gạo của toàn bộ Nam Kỳ vàCampuchia Cảng Chợ Lớn cũng là một cảng sông có quy mô lớn nhất, dài 12kmdọc theo hai “kênh Trung Hoa” (Arroyo Chinois) nối Chợ Lớn với Sài Gòn và làđầu mối của hệ thống đường sông chằng chịt khắp Nam Kỳ và nối với Campuchia.Việc điều hành cảng Sài Gòn được trao cho một Hội đồng quản trị gồm 18 thànhviên người Pháp và người Việt đại diện các cấp chính quyền thực dân, các cơ quankinh tế và đại diện các Công ty kinh doanh có liên quan đến xuất nhập khẩu của tưbản Pháp, Hoa kiều và Việt Nam Hội đồng này đặt dưới quyền chỉ đạo của Chủtịch phòng Thương mại Sài Gòn, Nhờ những điều kiện hết sức thuận lợi về địa lý
và hệ thống trang thiết bị ngày càng được tăng cường, cảng Sài Gòn trở thành bếncảng có tầm quan trọng hàng đầu của nền kinh tế Đông Dương (số tàu ra vào cảngnăm 1937 là 86.065 chiếc với tổng trọng tải 8.192.043 tấn; năm 1939, số tàu là
Trang 355.169 chiếc với tổng trọng tải hơn 10 triệu tấn; số gạo xuất khẩu trung bình hàngnăm qua cảng Sài Gòn là hơn 1,3 triệu tấn).
Hoạt động vận tải đường biển nối liền cảng Sài Gòn và các cảng khác của ĐôngDương với các cảng nước ngoài gồm các công ty:
– Công ty Vận tải biển (Compagnie des Messageries Maritimes hay còn gọi là
Hãng Đầu ngựa) hoạt động trên các tuyến Sài Gòn – Mácxây – Hải Phòng –Yôkôhama – Vlađivôxtôc
– Công ty Vận tải hợp nhất (Compagnie des Chargeurs Réunés) hoạt động trên các
tuyến Sài Gòn – Hải Phòng – Lơ Havrơ – Mácxây – Boócđô
– Công ty Vận tải biển Đông Dương (Société Indochinoise) hoạt động trên các
tuyến Sài Gòn – Băng Cốc – Hải Phòng – duyên hải Trung Kỳ – Xingapo –Xurabaya
– Công ty Vận tải ven biển Trung Kỳ (Compagnie Côtière de l’Annam) tức Hãng Denis Frères là hãng tàu thủy hoạt động sớm nhất ở Đông Dương khai thác các
tuyến đường ven biển và nối với các tuyến đường sông nội địa
– Công ty Tàu biển và vận chuyển Sài Gòn (Compagnie Saigonnaise de Navigation
et Transport) khai thác tuyến đường sông nối các tỉnh Nam Kỳ, Phnôm Pênh,Batđamboong và Lào với cửa biển Ngoài ra còn có một số hãng nhỏ của ngườiViệt Nam và Hoa kiều ở Đông Dương
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập lại tỉnh Phan Rang.
Tỉnh Phan Rang (còn gọi là Ninh Thuận) thành lập theo Nghị định ngày 20-5-1901nhưng đến Nghị định 9-2-1913 thì bị sáp nhập một phần vào Khánh Hòa, một phầnvào Bình Thuận, nay được lập lại
*Xem : 20-5-1901
Phan Châu Trinh viết “Thất điều trần” gửi Khải Định.
Tháng 4- 1911, sau khi được thả khỏi nhà tù Côn Đảo, Phan Châu Trinh qua Pháp
và tại đây ông trở thành một nhân vật có uy tín tập hợp các lực lượng yêu nướctrong giới Việt kiều và có quan hệ khá gắn bó với Nguyễn Ái Quốc Bức thư nàyđược Phan viết tại Mácxây, nơi diễn ra Hội chợ Thuộc địa và vào lúc Khải Địnhđang có mặt dự khai mạc hội chợ Bức thư mở đầu bằng lời lên án đanh thép
“Chính phủ Nam triều lâu nay quen thói chuyên chế, chỉ cầu vinh thân phì gia mộtmình, thấy ai nói đến cải cách thì ghét như cừu thù, coi nhân dân như cỏ rác ”Bức
Trang 36thư chĩa mũi nhọn vào Khải Định và nêu ra “7 tội đáng chém” là: Tôn bậy quânquyền – Lạm hành thưởng phạt – Thích chuộng những việc quỳ lạy – Xa xỉ quá độ– Ăn bận không phải lối – Chơi bời vô độ – Chuyến đi Tây này có một sự ámmuội” Bức thư kết thúc bằng lời cảnh cáo quyết liệt: “Chớ ví bằng thói cũ khôngchừa, choán cái ngôi chí tôn ra cái ngôi chuyên chế, hãm chìm quốc dân xuống cáivực sâu hang thẳm đời đời thì Trinh này sẽ tố cáo với quốc dân và thương thuyếtvới chính phủ Pháp lãnh mệnh hai mươi lăm triệu đồng bào Việt Nam cùng với bệ
hạ tuyên chiến một trận kịch liệt: (1)
-Chú thích: 1 Xtv: Nghiên cứu Lịch sử, số 66 (1981), tr 15-21, 31.
Mặc dầu chính kiến của Phan Châu Trinh qua bức thư này vẫn chưa tiến hơn mộtbước nào so với bức thư gửi Toàn quyền Đông Dương Bô (Beau) năm 1907,nhưng lời lẽ bức thư đã góp phần tố cáo bộ mặt phản dân hại nước, sự hủ bại củaKhải Định cũng như toàn bộ Nam triều mà thực dân Pháp đang muốn tô vẽ
Thành lập Công ty sản xuất đồ sứ Nguyễn Bá Chính.
Trước đó là Hãng Hợp Lợi của tư sản Việt Nam chuyên sản xuất đồ gốm sứ, có số
vốn 130.000 đồng có nhà máy ở Thanh Trì và các cơ sở khai thác đất cao lanh ởHải Dương, Hòa Bình, sử dụng khoảng 200 công nhân (năm 1925), công suất hàngnăm 500.000 bát và 200.000 sản phẩm khác
Thành lập Sở nghiên cứu hải dương học và nghề cá (Service Océanegrphique des
Pêches)
Cơ quan này (đương thời gọi là Sở Hải dương ngư nghiệp) đặt dưới quyền chỉ đạo
trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương chuyên nghiên cứu khoa học với mục đích:thăm dò sinh vật biển ở bán đảo Đông Dương, tiến hành các công trình khảo cứunhằm phát triển nghề cá, dựng bản đồ vùng đáy biển, ven bờ và thềm lục địa(plateau continental), nghiên cứu quy luật vận động của các luồng nước và sự di cưcủa các sinh vật biển có liên quan đến nghề cá Theo văn bản ngày 1-12-1929, cơ
quan này được đổi tên thành Viện Hải dương học Đông Dương (Institut
Océanographique de l’Indochine), đặt trụ sở và cơ sở nghiên cứu ở Nha Trang.Vốn đầu tư năm 1930 là 200.000 đồng, 1931 : 175.000 đồng
Thành lập Ngân hàng thương mại và kỹ nghệ Pháp – Hoa (Banque Franco –
Chinoise pour le Commerce et l’Industrie)
Công ty vô danh (trước đó mang tên Société FranÇaise de Gérance de la BanqueIndustrielle de Chine) có số vốn nguyên thủy 10 triệu frăng
Trang 37Ban hành sắc lệnh thống nhất quy chế hoạt động của Phòng Hỗn hợp Thương mại
và Canh nông (Chambre mixte de Commerce et Agriculture).
Cũng như các phòng canh nông , phòng thương mại ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ, Phòng hỗn hợp thương mại và canh nông được thiết lập ở các địa phương Trung Kỳ, Lào
và Campuchia Ở Trung Kỳ đặt 2 trụ sở: tại Đà Nẵng (bao gồm các tỉnh Trung Kỳtrừ Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh) được thành lập theo Nghị định 4-5-1897,một trụ sở đặt tại Vinh (gồm 3 tỉnh còn lại của Trung Kỳ) thành lập theo Nghị định30-10-1925 Tại Đà Nẵng, cơ quan này có 14 đại biểu Pháp và 4 bản xứ đại diệncho các ngành thương mại và kỹ nghệ, một số lượng tương đương đại biểu chongành canh nông; tại Vinh, có 7 đại biểu người Pháp và 3 bản xứ Chức năng của
cơ quan này là thảo luận và đề đạt những ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề kinh
tế cho chính quyền địa phương
22 đến 25 tháng Mười 1922
Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội II Đảng Cộng sản Pháp họp tai Pari.
Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã được cử vào Đoàn Chủ tịch phiên họp ngày 23-10 donhững đóng góp tích cực của Người cùng một số đồng chí khác Đại hội đã thôngqua một nghị quyết nêu rõ: những người cộng sản Pháp phải đặt vấn đề thuộc địalên hàng đầu và phải ghi vấn đề đó vào chương trình nghị sự của Hội nghị toàn
quốc sắp tới của Đảng Đại hội cũng nhất trí đưa ra Lời kêu gọi do Ban Nghiên cứu Thuộc địa của Đảng thảo ra làm văn kiện Đại hội (văn kiện này đăng trên tờ Le Paria ngày 1-11-1922).
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định giao cho Sở Nhập cư (Services de L’ Immigration) chịu trách nhiệm thực hiện các quy chế giám sát (Règlement de police) đối với những ngoại kiều là người châu Á.
Từ các nguồn di dân có từ trước cũng như do nhu cầu nhân công, đặc biệt đối vớiviệc khai thác các tỉnh Nam Kỳ, số người châu Á đến ngụ cư và làm việc ở ĐôngDương ngày càng đông, chủ yếu là người Trung Quốc và sau đó là người Ấn Độ Việc giám sát hành chính các đối tượng này trước đó do cơ quan cảnh sát các địaphương chịu trách nhiệm và các quy chế giám sát cũng do các địa phương quyđịnh Ở Nam Kỳ quy chế đầu tiên ban hành bằng Nghị định ngày 16-10-1906 vàđược bổ sung, hoàn chỉnh nhiều lần Quy chế này dựa trên nguyên tắc cơ bản làquản lý nhân sự thông qua các “bang” (congrégation), tức là những tổ chức tập hợptheo nguồn gốc quê quán đối với Hoa kiều (như các bang: Quảng Đông, TriềuChâu, Phúc Kiến, Hải Nam ) hoặc đối với người Ấn Độ thuộc Anh, người Ấnvùng Hinđuxtan, người Ấn theo đạo Hồi, hoặc theo đạo Phật thì tập hợp theo cácgiáo phái tôn giáo, ngoài ra còn có những tổ chức thích hợp theo tập quán dân tộcđối với người Giava, Mã Lai, Arập Đứng đầu các “bang” này là các “bangtrưởng”, những người này được cộng đồng mình bầu ra và chịu sự giám sát củanhà cầm quyền Họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những thành viên trong “bang” củamình trong các nghĩa vụ như kinh doanh, thuế khóa và an ninh Những người châu
Á thuộc đối tượng này khi tới Đông Dương phải trình diện ngay như làm giấy phép
cư trú, giấy phép lên bờ, lập thẻ căn cước Quy chế này là cơ sở để ban hành một
Trang 38số văn bản khác áp dụng cho Campuchia (15-11-1919), Bắc Kỳ (12-11-1912),Trung Kỳ (25-9-19285)
Từ Nghị định ngày 27-10-1922, cơ quan chuyên trách vấn đề này được giao cho
Sở Nhập cư Liên quan đến việc sử dụng nhân công gốc người châu Á có Quy chế
lao động ban hành theo Nghị định ngày 25-10-1927
*Xem : 25-10-1927
Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định chuẩn y đạo dụ ngày 25-10-1922 của Khải Định về việc thành lập “Nam triều Cao đẳng học đường”.
Sau khi chấm dứt khoa thi cuối cùng (1919), nguồn cung cấp quan lại cho Nam
triều chủ yếu dựa vào Trường Hậu bổ (Hà Nội), nơi đào tạo những người khoa cử
cũ học thêm chương trình Pháp – Việt Song do số người có vốn học cũ ngày càng
ít, nên Trường Hậu bổ Hà Nội phải đóng cửa, học sinh Trung Kỳ không có trườngtheo học và Nam triều mất nguồn đào tạo quan lại Do đó, ngày 25-10-1922, Khải
Định ra đạo dụ thành lập “Nam triều Cao đẳng học đường (École des Hautes
Études du Gouvernement Annamite) Sau khi được Toàn quyền Đông Dương raNghị định chuẩn y (3-11), ngày 24-11-1922 trường khai giảng khóa đầu tiên.Trường được giao cho Thượng thư Bộ Học đứng đầu với các chức năng:
– Đào tạo quan lại cho Nam triều: những học sinh người Trung Kỳ sau khi đã tốt
nghiệp trường Pháp Chính sẽ học thêm 3 năm nữa và khi tốt nghiệp được bổ làm
tri huyện
– Bảo tồn Nho học: trong khi việc học chữ Hán bị bãi bỏ trong chương trình giáodục, nhà trường tiếp tục dạy chữ Hán cho học viên và coi như một bộ môn chínhthức
– Khảo cứu và bảo tồn phong tục dân gian
Chương trình học gồm các môn Lịch sử, Địa lý, Hán văn, Lễ chế và Mỹ thuật các
nước Á Đông Nam triều Cao đẳng học đường được duy trì cho đến năm 1925 thì
Công ty đặt trụ sở và có nhà máy diêm ở Bến Thủy, một nhà máy diêm ở Hà Nội(vốn là Hãng Manufacture d’Allumettes A- Chi của tư sản Hoa kiều thành lập ngày9-5-1921), một nhà máy điện có công suất 3.550 KW cấp điện cho các nhà máytrong khu vực Vinh – Bến Thủy – Trường Thi và hệ thống đèn điện dân dụng (1), sửdụng 110 công nhân Ngoài ra còn có nhà máy cưa và chế biến gỗ, năm 1925 đượctrang bị 40 máy cưa, hàng năm chế biến 25.000m3 go , sử dụng 400 công nhân bản
xứ và 7 kỹ thuật viên Pháp
Trang 39-Chú thích: 1 Năm 1922, ở Vinh có khoảng 230 ngọn đèn công cộng, 550 ngọn đèn
tư gia; ở Bến Thủy có 130 đèn công cộng, 280 đèn tư gia
Đoàn xiếc Việt Nam của nghệ sĩ Tạ Duy Hiển biểu diễn ra mắt tại Hà Nội.
Từ những năm đầu của thế kỷ XX, đã có một số gánh xiếc nước ngoài như Anh,
Mỹ, Trung Hoa đến biểu diễn ở nước ta (như các gánh Bostock, Hamrston,
Rodéo ) Cuối năm 1921, tại Sài Gòn đã xuất hiện nhóm Xiếc Tân Việt Nam của
Ăngđrê (André) Thận nhưng mới chỉ có một số tiết mục biểu diễn kết hợp với cácgánh tuồng hoặc cải lương, chưa thành chương trình độc lập Cũng từ năm 1921,tại Hà Nội đã hình thành một nhóm nghệ sĩ xiếc hoạt động và tập luyện dưới sự chỉđạo của Tạ Duy Hiển Ngày 15-12-1922, Đoàn xiếc Việt Nam của Tạ Duy Hiểncông diễn buổi đầu tiên tại Hà Nội Với nhiều tiết mục xiếc người và xiếc thú, với
tinh thần xây dựng một nền xiếc dân tộc, sự ra đời của Đoàn xiếc Việt Nam được
ghi nhận như cái mốc khởi đầu nghệ thuật xiếc hiện đại Việt Nam Cho đến trước
Cách mạng tháng Tám 1945, còn xuất hiện một số đoàn xiếc có tiếng như Xiếc Long Tiên của Phạm Xuân Trang, Xiếc Đại Nam của Lưu Khánh Vân ở Hà Nội, Xiếc Việt Hòa ở Nghệ Tĩnh, Xiếc Trần Đại Thu ở Thanh Hóa, Xiếc Nguyễn Hữu Thu ở Huế, Ảo thuật Á Đông ở Nam Kỳ v.v…
1923
Thành lập tổ chức Tâm tâm xã (Tân Việt Thanh niên đoàn).
Tâm tâm xã là tổ chức của một nhóm người Việt Nam yêu nước (1) thành lập ởQuảng Châu (Trung Quốc) với tôn chỉ “Liên hiệp những người có trí lực trongtoàn dân Việt Nam, không phân biệt ranh giới, đảng phái, miễn là có quyết tâm hysinh tất cả và tự ý về quyền lợi cá nhân, đem hết sức mình tiến hành mọi việc đểkhôi phục quyền làm người của người Việt Nam” Nhưng về sau đường lối chínhtrị tổ chức này cho rằng “sau này chính thể phải lập như thế nào đến lúc đó sẽ dotoàn thể đoàn viên và toàn quốc dân quyết định sao cho hợp với trào lưu thế giới vàtình thế của nước ta mà đại đa số tán thành” (2) Như vậy, Tâm tâm xã là một tổchức yêu nước nhưng cương lĩnh chưa rõ ràng, phần nào chịu ảnh hưởng của một
số tổ chức cánh tả ở Trung Quốc (như nhóm Tâm xã của Lưu Sư Phục) hoặc Nhật
(nhóm Cung kỳ thao thiên, Giới lợi ngũ) Tâm tâm xã đã tìm cách liên hệ với các
lực lượng trong nước, đặc biệt đã gây được tiếng vang lớn sau vụ tổ chức mưu sátToàn quyền Đông Dương ở Sa Diện (x 19-6-1924) Sau này những chiến sĩ trung
kiên của Tâm tâm xã đã trở thành hạt nhân của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội do Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Quảng Châu (x 6-1925) Chính Tâm tâm xã đã cung cấp cho cách mạng Việt Nam những thế hệ chiến sĩ cộng sản đầu
tiên và xuất sắc như Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu v.v Nhận xét
Trang 40về tổ chức này, tài liệu của Quốc tế Cộng sản viết: “Đấy là nhóm đầu tiên, do đó
mà tương lai có nhóm Cộng sản Đông Dương xuất hiện” (1)
Chú thích 1 Dẫn lại trong Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, NXB
Thông tin lý luận, H, 1985
Lập sở mộ lính đầu tiên tại Hà Nội.
Để tiếp tục tăng cường bộ máy quân sự, sau khi lệnh chấm dứt tổng động viên đãban bố (sắc lệnh ngày 14-10-1919), bên cạnh chế độ quân dịch đối với thời bìnhvẫn được thi hành, thực dân Pháp tiến hành xây dựng lực lượng quân tình nguyện(lính nhà nghề) Sở mộ binh đầu tiên được thành lập tại Hà Nội từ ngày 15-1-1923,cho tới ngày 1-3-1923 có thêm các sở mộ lính tại Bắc Ninh, Nam Định, Hải Phòng
và Sài Gòn Các cơ sở này tuyển mộ những người tình nguyện vào các nghạchbinh như bộ binh, hải quân, pháo thủ, công binh đặc biệt là những người có khảnăng làm thông ngôn phục vụ trong các ngạch binh này (chia thành 5 hạng tùy theobằng cấp, thí dụ: tốt nghiệp Tú tài thì xếp thông ngôn hạng ba, có bằng Thànhchung Pháp – Việt hay Cao đẳng tiểu học Tây thì xếp thông ngôn hạng tư )
Meclanh (Martial Henri Merlin) được phong chức Toàn quyền Đông Dương.
Meclanh sinh năm 1860; năm 1897, làm Thống Đốc ở Côngô thuộc Pháp, năm
1899 làm Tổng thư ký các thuộc địa, năm 1901 làm Thống đốc Goađơlup(Guadeloup), năm 1902 làm Phó Toàn quyền Tây Phi, từ 1908 đến 1918 làm Toànquyền Tây Phi (từ 1917 kiêm Toàn quyền Mađagaxca) Sau khi Toàn quyền ĐôngDương Long chết (15-1-1923), Meclanh được chọn thay thế, bổ nhiệm vào ngày20-2-1923, chính thức nhậm chức Toàn quyền Đông Dương ngày 10-8-1923 sau
đó trở về Pháp (23-4-1925) và thôi giữ chức Toàn quyền Đông Dương từ 1925
27-7-*Xem : 19-6-1924
Thành lập Địa ốc Ngân hàng Đông Dương (Crédit Foncier de l’Indochine).
Công ty vô danh đặt trụ sở tại Pari, có chi nhánh tại Hà Nội, Hải Phòng và SàiGòn, vốn nguyên thủy là 600.000 frăng, 1925: 50.000.000 frăng, 1928:118.000.000 frăng, 1937: 132.500.000 frăng Lãi suất năm 1937: 1.097.000 frăng,