Những nghiên cứu trong khoảng thời gian gần đây phát hiện ra rằng tronggiai đoạn sau sinh thường dễ nhạy cảm với những thay đổi trong cuộc sống củangười mẹ và đứa con mới chào đời thì rố
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THU QUỲNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA YẾU TỐ VĂN HÓA, CHẤN THƯƠNG TÂM
LÝ VỚI NGUY CƠ TRẦM CẢM SAU SINH Ở CÁC BÀ MẸ TẠI
HUYỆN THƯỜNG TÍN – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THU QUỲNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA YẾU TỐ VĂN HÓA, CHẤN THƯƠNG TÂM LÝ VỚI NGUY CƠ TRẦM CẢM SAU SINH Ở CÁC BÀ MẸ
TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp “Mối quan hệ giữa yếu tố văn hóa, chấn thương tâm lý với trầm cảm sau sinh tại huyện Thường Tín – Hà Nội” được hoàn thành tại ĐHQGHN – Trường ĐHGD Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới ĐHQGHN – Trường ĐHGD, phòng Đào tạo sau đại học, đặc biệt là PGS TS Mimi Le và TS Trần Thành Nam những người đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo – các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên nghành Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên cho bản thân tác giả trong những năm tháng qua.
Xin gửi tới 6 trạm y tế xã Văn Bình, Liên Phương, Hà Hồi, Khánh Hà, Hiền Giang,Văn Phú và Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu cũng như cung cấp những tài liệu nghiên cứu cần thiết để hoàn thành đề tài.
Xin gửi lời cảm ơn GS TS Bahr Weiss và dự án phát triển chương trình TLHLS trẻ em và VTN đã hỗ trợ tác giả một phần kinh phí trong quá trình nghiên cứu giúp tác giả thực hiện tốt hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đặc biệt là những người thân trong gia đình đã quan tâm giúp đỡ để tác giả hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của Thầy Cô, các nhà khoa học, độc giả và các bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Lê Thị Thu Quỳnh
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADAS : Abbreviated Dyadic Adjustment Scale
(Thang đo hài lòng trong quan hệ hôn nhân ADAS)
BV : Bệnh viện
GAD7 : Generalized Anxiety Disorder 7 items
(Thang đo lo âu GAD-7)
ICD-10 : International Classifcation of Diseases
(Bảng phân loại bệnh Quốc tế)EPDS : Edinbugh Postpartum Depression Scale
(Thang đo trầm cảm sau sinh của Edinbugh)
LA : Lo âu
PDPI – R : Postpartum Depression Predictors Inventory – Revised (Thang đánh giá dự báo trầm cảm trước và sau sinh)PHQ 9 : Patient Health Questionnaire – 9
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn ……… i
Danh mục các chữ viết tắt ……….……….….……….ii
Mục lục… iii
Danh mục các bảng ………….……….v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Vấn đề thuật ngữ TCSS và lịch sử phát triển 6
1.2 Một số kết quả nghiên cứu về trầm cảm sau sinh ở nước ngoài 7
1.3 Một số kết quả nghiên cứu trầm cảm sau sinh ở Việt Nam 12
1.4 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 17
1.4.1 Khái niệm văn hoá……… 19
1.4.2 Khái niệm chấn thương tâm lý……… 19
1.4.3 Khái niệm trầm cảm 20 1.4.4 Khái niệm trầm cảm sau sinh 20
1.5 Một số quan điểm về nguyên nhân của TCSS 22
1.5.1 Nguyên nhân sinh học 22
1.5.2 Nguyên nhân tâm lý, xã hội 23
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Một vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu 29
2.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1.Tổ chức nghiên cứu 30
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của nhóm khách thể nghiên cứu 34
3.1.1 Tuổi của nhóm khách thể nghiên cứu 34
3.1.2 Trình độ học vấn của nhóm khách thể nghiên cứu 35
3.1.3 Nghề nghiệp của nhóm khách thể nghiêm cứu 35
3.1.4 Thu nhập của nhóm khách thể nghiên cứu 36
Trang 63.1.5 Tuổi kết hôn của nhóm khách thể nghiên cứu 36
3.1.6 Tình trạng sống chung của nhóm khách thể nghiên cứu 37
3.2 Thực trạng lo âu và trầm cảm của các bà mẹ trước khi sinh (6 – 9 tháng) và các yếu tố có liên quan 38
3.2.1 Thực trạng lo âu và trầm cảm của các bà mẹ trước khi sinh (6-9 tháng) theo thang sàng lọc lo âu GAD7 và thang sàng lọc trầm cảm PHQ9 38
3.2.2 Tương quan giữa lo âu, trầm cảm trước sinh và các biến số nghiên cứu khác 39
3.2.3 Mô hình hồi quy lo âu và trầm cảm trước khi sinh 40
3.3 Thực trạng lo âu và trầm cảm của các bà mẹ sau khi sinh (3 tháng) và các yếu tố có liên quan 44
3.3.1 Thực trạng lo âu và trầm cảm của các bà mẹ sau khi sinh (3 tháng) theo thang sàng lọc lo âu GAD7, thang sàng lọc trầm cảm PHQ9, thang đo trầm cảm sau sinh EPDS 44
3.3.2 Tương quan giữa lo âu, trầm cảm trong thời gian 3 tháng sau sinh và các biến số nghiên cứu khác 45
3.3.3 Thực hành kiêng cữ và trầm cảm sau sinh 48
3.3.4 Mô hình hồi quy lo âu và trầm cảm sau sinh với những biến số xảy ra sau sinh 52
3.3.5 Mô hình hồi quy trầm cảm sau sinh đo bằng EPDS với những biến số xảy ra trước và sau sinh 56
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Khuyến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 72
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Sơ lược kết quả nghiên cứu đi trước về TCSS ở nước ngoài 9
Bảng 1.2 Sơ lược kết quả nghiên cứu đi trước về TCSS ở trong nước 13
Bảng 3.1 Tuổi của nhóm khách thể nghiên cứu 34
Bảng 3.2 Đặc điểm về trình độ học vấn của khách thể nghiên cứu 35
Bảng 3.3 Đặc điểm về nghề nghiệp của khách thể nghiên cứu 36
Bảng 3.4 Đặc điểm về thu nhập của khách thể nghiên cứu 36
Bảng 3.5 Tuổi kết hôn của nhóm khách thể nghiên cứu 37
Bảng 3.6 Tình trạng sống chung của nhóm nghiên cứu 37
Bảng 3.7 Phân loại lo âu theo thang sàng lọc GAD-7 38
Bảng 3.8 Phân loại trầm cảmtheo thang sàng lọc PHQ-9 39
Bảng 3.9 Tương quan giữa lo âu trầm cảm trước sinh và các biến số 40
Bảng 3.10 Mô hình hồi quy lo âu trước sinh và các biến số 42
Bảng 3.11 Mô hình hồi quytrầm cảm trước sinh và các biến số 42
Bảng 3.12 Phân loại lo âu theo thang sàng lọc GAD-7 44
Bảng 3.13 Phân loại trầm cảm theo thang sàng lọc PHQ-9 45
Bảng 3.14 Phân loại trầm cảm theo thang trầm cảm sau sinh EDPS 45
Bảng 3.15 Tương quan giữa lo âu, trầm cảm 3 tháng sau sinh và các biến số có liên quan 47
Bảng 3.16 Kiểm định trung bình 2 mẫu độc lập giữa hai nhóm không trầm cảm (điểm <10) và trầm cảm cần can thiệp (điểm >13) đo bằng EDPS với từng hình thức thực hành kiêng cữ sau sinh 48
Bảng 3.17 Mô hình hồi quy lo âu sau sinh và các biến số 52
Bảng 3.18.Mô hình hồi quy trầm cảm sau sinh và các biến số 53
Bảng 3.19 Mô hình hồi quy trầm cảm sau sinh đo bằng thang EPDS và các biến số 54
Bảng 3.20 Mô hình hồi quy trầm cảm sau sinh đo bằng EPDS với những biến số xảy ra trước và sau sinh………… 56
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệphóa- hiện đại, đang cố gắng trở thành nước có nền công nghiệp phát triển và đểhòa nhập với nền văn minh thế giới Đi cùng với sự phát triển đó thì con người lànhân tố không thể thiếu góp phần thúc đẩy sự phát triển Con người phải lao độngnhiều hơn, tập trung, và không ngừng cố gắng để hoàn thành công việc của mình.Chính việc luôn cố gắng hoàn thiện công việc của mình mà con người không còn
đủ thời gian quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, chia sẻ những khó khăn cho nhau trongcuộc sống, mọi người sống vội vã, bận rộn Đặc biệt với phụ nữ chính những khókhăn này đã tạo cơ hội cho vấn đề sức khỏe tâm thần phát triển như lo âu, trầmcảm, stress, đặc biệt là trầm cảm sau sinh Mang thai và sinh con là thiên chức vàcũng là một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của người phụ nữ Quá trìnhvượt cạn khiến các bà mẹ đã có sự biến đổi lớn về sinh lý và tâm lý đặc biệt là sựbiến đổi về tâm lý đòi hỏi người phụ nữ phải thích nghi dần dần cả về mặt cơ thể
và tinh thần Và văn hóa truyền thống cũng góp phần ảnh hưởng đến cuộc sốngcủa những bà mẹ mới sinh Phần lớn các bà mẹ dần dần thích nghi với những cáimới nên không có phản ứng nặng nề về cơ thể và tâm lý Còn ở một số ít phụ nữnhững thay đổi này có thể quá ngưỡng làm xuất hiện một số rối loạn tâm thần ởmức độ khác nhau trong đó có trầm cảm sau sinh [1,tr 57-64]
Những nghiên cứu trong khoảng thời gian gần đây phát hiện ra rằng tronggiai đoạn sau sinh thường dễ nhạy cảm với những thay đổi trong cuộc sống củangười mẹ và đứa con mới chào đời thì rối loạn tâm lý thường có thể gặp nhất làtrầm cảm.Trầm cảm sau sinh có thể là nguy cơ đến sức khỏe tâm thần của người
mẹ cũng như mối quan hệ giữa mẹ và các thành viên khác trong gia đình đặc biệt
là những đứa con mới sinh, nó có thể ảnh hưởng đến sự phát triển về cảm xúc, tâm
lý, nhân cách và trí tuệ của trẻ sau này
Một trong những hậu quả trầm trọng của trầm cảm sau sinh là người mẹ cóthể xuất hiện những ý nghĩ hay hành vi tự sát và nguy hiểm hơn là mẹ có thể giếtchết chính đứa con mà họ đã mang nặng đẻ đau Trầm cảm sau sinh thường xuất
Trang 9hiện ở những phụ nữ có tình trạng sức khỏe kém, tình trạng kinh tế xã hội thấp,quan hệ vợ chồng và với các người thân khác ít có sự gắn bó, sinh con không theo
ý muốn (giới tính của con), tình trạng hôn nhân không thỏa mãn, hay mẹ có lạmdụng chất kích thích, trình độ học vấn thấp, tuổi của mẹ cao quá hoặc thấp quá,can thiệp trong quá trình sinh nở và cả những văn hóa truyền thống…Những yếu
tố này có ảnh hưởng đến việc chăm sóc những đứa con và cả việc chăm sóc sứckhỏe tâm thần cho mẹ Theo nghiên cứu khảo sát kiến thức về TCSS thấy tỷ lệ các
bà mẹ bị tâm trạng buồn chán sau sinh (baby blues) chiếm 80%, trong đó tỷ lệ các
bà mẹ mắc TCSS chiếm khoảng 10% và tỷ lệ bị loạn thần sau sinh khoảng 0,2% (Roberstson, Celasun và Stewaard,2003) Vì vậy với mong muốn tạo sựquan tâm chú ý đặc biệt cho những bà mẹ sau khi sinh nên tác giả muốn tiến hành
0,1-nghiên cứu “ Mối quan hệ giữa yếu tố văn hóa, chấn thương tâm lý với nguy cơ trầm cảm sau sinh ở các bà mẹ tại Thường Tín – Hà Nội”
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu lý thuyết
- Điểm luận và phân tích một số quan điểm, các công trình nghiên cứu về TCSS ởtrong nước và ngoài nước nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
- Tìm hiểu nguyên nhân, cơ chế phát sinh, phát triển, tỉ lệ dịch tễ của rối loạnTCSS
- Tìm hiểu các yếu tố văn hóa xã hội, chấn thương tâm lý ảnh hưởng đến rối loạnTCSS ở các bà mẹ và con
3.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực trạng các biểu hiện lo âu, trầm cảm ở các bà mẹ trong khoảng thờigian trước sinh (6 - 9 tháng) và sau sinh (3 tháng) bằng bảng hỏi
Trang 10- Chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố văn hóa, chấn thương tâm lý với tình trạng lo
âu, trầm cảm của các bà mẹ trong thời gian mang thai và sau khi sinh nở bằng cácphép phân tích số liệu thống kê
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sự tác động qua lại giữa chấn thương tâm lý với lo âu và trầm cảm sau sinh
- Các biểu hiện lo âu, trầm cảm ở các bà mẹ trước sinh (6-9 tháng) và sau sinh (3tháng)
4.2 Khách thể nghiên cứu
134 bà mẹ mang thai từ 6 - 9 tháng và sau khi sinh (3 tháng) tại Thường Tín– Hà Nội đến đăng ký khám thai định kỳ tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe bà
mẹ và trẻ em ban đầu ở tuyến xã
5 Giới hạn nghiên cứu
5.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trong đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số yếu tố văn hóa vàchấn thương tâm lý ảnh hưởng đến các bà mẹ trước sinh (6 – 9 tháng) và sau sinh(3 tháng) cũng như mối quan hệ giữa chúng với nguy cơ trầm cảm sau sinh củacác bà mẹ
5.2 Giới hạn địa bàn và phương thức chọn mẫu khách thể nghiên cứu
Công tác chọn mẫu được tiến hành trên những bà mẹ mang thai từ tháng thứ
6 đến tháng thứ 9 đến đăng ký khám thai định kỳ tại các trung tâm chăm sóc sứckhỏe bà mẹ và trẻ em ban đầu tuyến xã tại huyện Thường Tín- Hà Nội trongkhoảng thời gian từ tháng thứ 3 đến tháng 11 năm 2014 Tất cả khách thể nghiêncứu được lựa chọn phải ký xác nhận đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi được giớitiệu về mục đích nghiên cứu cũng như các quyền lợi và nghĩa vụ của người thamgia nghiên cứu Khách thể nghiên cứu biết trước sẽ phải tham gia trả lời phiếu hỏi
2 lần (lần 1 vào thời gian trước khi sinh từ 6 – 9 tháng và lần thứ 2 vào khoảng 3tháng sau khi sinh) Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm những bà mẹ có tiền sử bị loạnthần, những bà mẹ có biểu hiện chậm phát triển tâm thần…
6 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 11- Tỷ lệ các bà mẹ có biểu hiện lo âu, trầm cảm trong thời gian mang thai (từ
6 đến 9 tháng) và sau khi sinh (3 tháng) là khá phổ biến Tỷ lệ các bà mẹ đáp ứngcác tiêu chuẩn của rối loạn TCSS chiếm khoảng 10%
- Các yếu tố văn hóa , chấn thương tâm lý có liên quan đến tình trạng lo âu
và trầm cảm của các bà mẹ trước và sau sinh Điển hình như những mâu thuẫntrong cuộc sống chung với gia đình chồng, thiếu sự hỗ trợ từ chồng và gia đìnhnhà chồng, thiếu sự hỗ trợ từ các mối quan hệ bạn bè đồng nghiệp, sự kỳ vọng vềgiới tính của trẻ không như mong đợi, những kiêng khem theo quan điểm văn hóatruyền thống mà người phụ nữ phải thực hiện trong thời gian mang thai và sausinh sẽ làm tăng nguy cơ lo âu và rối loạn TCSS ở các bà mẹ
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục đích nghiên cứu đã đặt ra chúng tôi đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Đọc và phân tích các quan điểm, các công trình nghiên cứu về trầm cảm sausinh ở trong nước và nước ngoài để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và thang đo
Phương pháp điều tra được sử dụng trong nghiên cứu nhằm thu thập các ýkiến của các khách thể về thông tin cá nhân của các bà mẹ
7.3 Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 21.0 để
xử lý kết quả nghiên cứu, nhằm xác định độ tin cậy, tính khách quan giữa một sốyếu tố các sang chấn với lo âu trầm cảm ở các bà mẹ
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa lý luận
Bổ sung số liệu về bằng chứng nghiên cứu
+ Tỷ lệ dịch tễ lo âu, trầm cảm trước sinh (6-9 tháng) và sau sinh (3 tháng) + Những yếu tố văn hóa và chấn thương tâm lý có thể làm tăng nguy cơ TCtrước sinh, sau sinh
8.2.Ý nghĩa thực tiễn
Trang 12- Giúp các bà mẹ, cộng đồng nâng cao nhận thức về các vấn đề sức khoẻ của phụ
nữ trước và sau thời kỳ sinh nở có thêm kiến thức, kỹ năng để có thể phồng ngừaTCSS
- Bổ sung thêm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học nghành tâm lý
học lâm sàng vào học phần Tâm bệnh học cũng như gợi mở các hướng nghiên cứutiếp theo về TCSS
- Bằng chứng từ nghiên cứu này có thể xác định các yếu tố nguy cơ có ảnhhưởng đến TCSS chính từ đó đề xuất các biện pháp phòng ngừa cho các bà mẹtrong thời gian mang thai và sau khi sinh nở để giảm thiểu TCSS
9 Một số vấn đề liên quan đến đạo đức nghiên cứu
- Quy trình, nội dung, mục đích nghiên cứu được giới thiệu chi tiết dến khách thểnghiên cứu
- Những khách thể nghiên cứu được lựa chọn hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ khitham gia nghiên cứu, ký xác nhận đồng ý tham gia nghiên cứu
- Cán bộ nghiên cứu tôn trọng quyết định của khách thể nghiên cứu Khách thểnghiên cứu có thể quyết định không tiếp tục tham gia nghiên cứu bất kỳ thời điểmnào
- Thông tin cá nhân được tách riêng và mã hóa để đảm bảo tính bảo mật
- Khách thể được giới thiệu về người chịu trách nhiệm về quyền lợi người nghiêncứu và số điện thoại liên lạc
- Quá trình khảo sát bằng bảng hỏi được sự đồng ý và thông qua của lãnh đạo cáctrạm y tế nơi tác giả chọn làm địa bàn thực hiện nghiên cứu
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu , kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 13và việc chữa trị nó phải có sự tham gia của các linh mục Tuy nhiên một số bác sĩ
La Mã và Hy Lạp lại nghĩ rằng trầm cảm là một bệnh do sinh học và tâm lý gâylên Năm 430 trước Công nguyên Hipocrates một bác sĩ Hy Lạp là người đầu tiênnhận ra bệnh tâm thần sau sinh Ông mô tả hưng cảm liên quan đến tiết sữa(lactation) kết hợp nhiễm trùng sau sinh (puerperal sepsis) là bệnh tương đốithường gặp ở người Hy Lạp xưa nhưng bệnh này không được lưu ý Cho đến năm
1700 đến 1800 khi những báo cáo đầu tiên sau sinh – puerperal insanity bắt đầuxuất hiện trong các y văn Đức và Pháp quan trọng hơn một số phụ nữ được mô tảvới bệnh cảnh tái phát nhiều lần trong thời kỳ sau khi sinh dẫn đến nhu cầu cầnphải can thiệp chữa trị cho căn bệnh hậu sản này
Năm (1818) bác sĩ Jean Etienne Erquirol lần đầu tiên mô tả chi tiết số liệu
92 bệnh nhân loạn thần sau sinh (puerperal psychosis) trong vòng 6 tuần sau sinhtại Salpetriere trong thời kỳ chiến tranh Napoleon Tuy nhiên người có công nhiềunhất trong lĩnh vực này phải kể đến Louis Victor Marce’ một bác sĩ người Pháp đã
mô tả bệnh tâm thần sau sinh một cách rõ ràng trong cuốn sách nổi tiếng “Điều trịđiên ở phụ nữ có thai – Traite’ de la folie des femmes enceintes” xuất bản năm
1856 Marce đưa ra khái niệm hiện đại cho bệnh tâm thần liên quan thai kỳ sausinh Đến năm 1858 ông báo cáo về 310 trường hợp phụ nữ trầm cảm trong thờigian mang thai và sau sinh Kết quả cho thấy 9% phụ nữ trầm cảm trong thời gianmang thai, 58% trầm cảm giai đoạn sau sinh, 33% trầm cảm trong giai đoạn chocon bú Ông đã đưa ra nhận định rằng TCSS có nhiều tính năng khác với bệnh tâmthần khác và điều này thực sự phải được phân loại như là một chẩn đoán riêng biệt[70, tr 157-165]
Trang 14Đến năm 1968 Brice Pitt đầu tiên mô tả trầm cảm “không điển hình”( vềsau được gọi là buồn người mẹ - maternity blues) ảnh hưởng đến các bà mẹ từngay sau khi sinh con Nghiên cứu rộng rãi dựa trên phỏng vấn có hệ thống tiêuchuẩn chẩn đoán để xác định bệnh cho các bà mẹ, tỷ lệ trầm cảm từ nhẹ đến trungbình, cao trong 6 tháng đầu sau sinh và được tiến hành trên mẫu đại diện cho quầnthể dân số và kết quả cho thấy khoảng 10,8% phụ nữ bị TCSS Ông gọi đó là trầmcảm “không điển hình” vì các triệu chứng của TCSS không giống với bệnh tâmthần khác [28, tr.1325-1335].
Khái niệm trầm cảm không có loạn thần xuất hiện vào năm 1970 Từ đó đếnnay trầm cảm cũng như loạn thần liên quan đến thai sản được nghiên cứu ngàycàng nhiều và có hệ thống đặc biệt là ở các nước phát triển [66, tr 2646-2658]
1.2 Một số kết quả nghiên cứu về trầm cảm sau sinh ở nước ngoài
Đến thời điểm hiện tại, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu vềtrầm cảm sau sinh Nội dung các nghiên cứu rất đa dạng, tập trung về các vấn đềnhư nguyên nhân, cơ chế bệnh, đặc điểm, triệu chứng, biểu hiện bệnh, các yếu tốvăn hóa xã hội, sang chấn tâm lý có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bệnh
Ví dụ Chandran và cộng sự (2002) nghiên cứutrên 359 bà mẹ trong 3 thángcuối thời kỳ mang thai và 6-12 tuần sau sinh báo cáo tỷ lệ trầm cảm sau sinhchiếm 19,8% các yếu tố ảnh hưởng đến như thu nhập thấp, giới tính của con(mong muốn con trai), mối quan hệ không tốt với mẹ chồng và cha mẹ đẻ, các sựkiện căng thẳng trong cuộc sống khi mang thai, thiếu sự hỗ trợ xã hội [29, tr 499-504]
Patel và cộng sự (2002) nghiên cứu trên 252 bà mẹ Ấn Độ sau sinh tại BVcho thấy Lần 1: 6 -8 tuần sau sinh kết quả có tới 23% TCSS, Lần 2: 6 tháng sausinh kết quả có tới 22% TCSS Các yếu tố liên quan đến là lo lắng trước sinh,kinh tế khó khăn, bạo lực gia đình, giới tính của trẻ, mối quan hệ trong hôn nhânkhông như mong muốn [53, 1355-1373]
Emma Robertson và cộng sự (2004) nghiên cứu trên 14000 đối tượng vàsửdụng thang đo Edinburgh Postpartum Depression Scale (EPDS) cho thấy có tới
10000 bà mẹ có yếu tố nguy cơ rối loạn TCSS Có tới 30 – 75% (3 ngày – 2 tuần)
Trang 15baby blues, trầm cảm sau sinh chiếm 10 – 15 % trong vòng 6 tháng sau sinh, rốiloạn tâm thần sau sinh chiếm 0,1 – 0,2% trong vòng 2 tuần sau sinh [39, tr 289-295]
Một nghiên cứu dịch tễ học khác của Hồng Kong mà tác giả Lee và cộng sự(2005) trên 959 bà mẹ sau sinh 6 tháng tại bệnh viện được sử dụng công cụ EPDSvới điểm cut off > 9 Kết quả có 12,7% các bà mẹ TCSS với các yếu tố có liênquan như TC trong khi mang thai, có mối quan hệ không tốt với mẹ chồng, lịch sử
TC, căng thẳng trong hôn nhân [56, tr 77-103]
Nghiên cứu của Reck và cộng sự (2004) trên 853 bà mẹ ở Đức và đánh giá
2 tuần sau sinh bằng Edinburgh cho thấy tỷ lệ “baby blues” (trầm cảm thoáng qua)
ở phụ nữ Đức là 55,2% và có liên kết quan trọng giữa trầm cảm thoáng qua thaisản với trầm cảm sau sinh, trầm cảm thoáng qua thai sản với rối loạn lo âu [64, tr77-87]
Theo Elizabeth Coorwin và cộng sự (2006), trường đại học bang Ohionghiên cứu trên 31 bà mẹ sinh đủ tháng, không có biến chứng lúc sinh thì có10/31 bà mẹ có những triệu chứng trầm cảm sau sinh vào tuần thứ tư Sau khisinh có tình trạng mệt mỏi cao hơn 2 tuần sau sinh Ước tính khoảng 12% bà
mẹ trầm cảm sau sinh trong vòng 1 năm sau sinh và khoảng 19% ở dạng nhẹ[37]
Một nghiên cứu ngoài cộng đồng khác tại Pakistan tác giả Husain và cộng
sự (2006) nghiên cứu trên 175 bà mẹ đang mang thai (lần 1) và 149 bà mẹ sau sinh
3 tháng (lần 2) Công cụ được dùng để đo là thang EPDS kết quả cho thấy tỷ lệTCSS chiếm 36% với các yếu tố bạo lực gia đình, hỗ trợ xã hội thấp(gia đình, bạn
bè, chồng) và lo lắng trước khi sinh [50, tr268-276]
Nghiên cứu khác của Xie và cộng sự (2007) trên 300 bà mẹ sau sinh 6 tuầntại 4 bệnh viện của Trung Quốc và sử dụng thang đo EPDS Kết quả cho thấy17,3% bà mẹ TCSS với các yếu tố ảnh hưởng như giới tính của trẻ, sự hài lòng vớicuộc sống [53, tr 1355-1373]
Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2005) trên T1:335 (bà mẹ đang mang thai),T2: 244 bà mẹ sau sinh 6 tuần tại cộng đồng, sử dụng thang EPDS Tác giả đã
Trang 16công bố có 24,2% các bà mẹ TCSS với EPDS các yếu tố liên quan là TC trướcsinh và lo lắng trước sinh [56, tr 77-103]
Với nghiên cứu của Mayumi Watauabe và cộng sự (2008) đã điều tra 235
bà mẹ trước khi sinh và điều tra lại sau 5 ngày, 1 tháng, 3 tháng sau khi sinh Công
cụ sử dụng để điều tra là thang EPDS của Edinburgh Kết quả nghiên cứu cho thấy
có 12,8% khách thể nghiên cứu đáp ứng tiêu chí rối loạn trầm cảm sau sinh theothang đo này [58, tr 211-217]
Một nghiên cứu khác về bệnh trầm cảm ở nhóm phụ nữ nghèo trong độ tuổisinh đẻ có con 12 tháng tuổi hoặc lớn hơn của tác giả Weitzman (2010) nghiêncứu được thực hiện trên 845 bà mẹ nói tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha và đánhgiá nhanh triệu chứng trầm cảm (QIDS-SR) bảng câu hỏi gồm 16 đề mục đượcthiết kế đo lường độ nặng của trầm cảm cho thấy có 44% (372 bà mẹ ) có triệuchứng trầm cảm [72, tr 2010-3034]
Nghiên cứu về trầm cảm sau sinh ở các nước phát triển như một nghiên cứu
về phụ nữ Arap sống ở Quatar mà tác giả là Benner (2011) đã nghiên cứu trên
1379 bà mẹ Công cụ nghiên cứu là thang EPDS Thời gian điều tra là 6 tháng saukhi sinh Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TCSS là 17,6% các bà mẹ trên 35 tuổi
là 49,9% Các yếu tố như khó khăn về tài chính, sinh non, thiếu sự hỗ trợ của giađình mâu thuẫn trong mối quan hệ hôn nhân đã được xác định là yếu tố nguy cơchính cho việc phát triển TCSS [27, tr 325-337]
Nghiên cứu của tác giả Dennis(2012) trên 6421 bà mẹ sau sinh ngoài cộngđồng tại Canada sử dụng thang đo EPDS kết quả cho thấy có tới 8% TCSS[35, tr537-546]
Bảng 1 dưới đây tóm tắt lại các kết quả nghiên cứu về TCSS ở nước ngoài
đã được chúng tôi điểm luận trong phần này
Bảng 1.1 Sơ lược kết quả nghiên cứu đi trước về TCSS ở nước ngoài
đo TCSS
Thời gian đo
Tỷ lệ TCSS
%
Các biến, nguy
cơ yếu tố ảnh hưởng
(2002)
-Giới tính
Trang 17-Mối quan hệ không tốt với mẹ chồng
-Các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống
T2:6 tháng
T1: 230 T2: 220
-Lo lắng trước sinh
-Kinh tế khó khăn
-bạo lực gia đình -Giới tính
-Quan hệ hôn nhân không như mong muốn
mang thai -Có mối quan hệ không tốt với mẹ chồng
-Lịch sử TC
trong hôn nhân
5 Reck(2004) 853 EPDS 2 sinh tuần
-Thiếu sự hỗ trợ
xã hội -Lo lắng trước sinh
8 Xie (2007) 300 EPDS 6 tuần sau 17,3 -Giới tính của trẻ
Trang 18(>13) sinh -Không hài lòng
-Sinh non -Thiếu sự hỗ trợ -Mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân
Tiểu kết các nghiên cứu TCSS ở nước ngoài:
Tóm lại, qua các nghiên cứu đi trước về TCSS ở các nước trên thế giới cóthể thấy rằng tỷ lệ TCSS phân bố rộng rãi từ 10% đến 40% dựa trên bộ công cụ đoEDPS của Edinbugh Các bà mẹ ở nước có nền công nghiệp phát triển có ít nguy
cơ mắc TCSS hơn các nước có nền công nghiệp đang phát triển và các nướcnghèo Các biểu hiện lo âu, trầm cảm có thể xuất hiện trước khi sinh và cả sau khisinh (phổ biến sau khi sinh 3 đến 6 tháng) Các yếu tố nguy cơ của TCSS cũngđược chỉ ra theo như tổng kết của Klainin và Gordon Arthur năm 2008 cho thấyTCSS có thể gồm 5 nhóm nguyên nhân: (i) Các yếu tố vật lý/ sinh học như tìnhtrạng sức khỏe của mẹ, triệu chứng tiền kinh nguyệt, ăn những thực phẩm với hàm
Trang 19lượng vitamin B2 quá cao, chế độ ăn uống không hợp lý; (ii) Các yếu tố tâm lýnhư các biểu hiện về cảm xúc, nhận thức, hành vi của bệnh trầm cảm trong thờigian mang thai, lo lắng trước khi sinh, lịch sử trầm cảm trước đó; (iii) Yếu tố sảnphụ là những biến chứng trong quá trình mang thai, phá thai, thai chết lưu, có thaingoài ý muốn; (iv) Các yếu tố về sự khủng hoảng như tài chính, nạn đói, nghềnghiệp không ổn định, làm công việc nội trợ; (v) Các yếu tố văn hóa như thói quen
về tắm gội, thói quen ăn uống, hoạt động đi lại [53, tr 1355-1373]
1.3 Một số kết quả nghiên cứu trầm cảm sau sinh ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, nhiều tác giả cũng tập trung nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệdịch tễ của trầm cảm sau sinh và các yếu tố ảnh hưởng Trong phần tiếp theo,chúng tôi điểm lại một số nghiên cứu điển hình đã được tiến hành trong nhữngnăm gần đây liên quan đến vấn đề này
Nghiên cứu cắt ngang của Lê Quốc Nam (2002) khảo sát trên 321 sản phụđến tái khám 4 tuần sau sinh tại Bệnh viện từ Dũ TPHCM bằng công cụ sàng lọcEPDS, thang đo Haminton cho thấy tỷ lệ trầm cảm sau sinh chiếm 12,5% Nghiêncứu chỉ ra các yếu tố nguy cơ dẫn đến TCSS như : Có mối quan hệ vợ chồngkhông tốt chiếm 60% trường hợp, có tiền căn lo âu hoặc mất ngủ là 30%, có thóiquen dùng rượu và thuốc lá là 29%, không có ai để tâm sự là 22% khó sinh là18%, gặp khó khăn khi cho con bú là 17%, phải tự chăm sóc bản thân sau sinh là11%, không nhận được sự giúp đỡ nào trong việc chăm sóc bé ban đêm là 10%[14, tr 1-7]
Một nghiên cứu trường diễn Lê Thanh Hiệp (2008) trên 305 phụ nữ mangthai có nguy cơ cao đến khám tại bênh viện Từ Dũ từ tháng 6/2007 – 12/2008sàng lọc bằng EPDS cho thấy tỷ lệ TCSS là 21,6%, buồn sau sinh là 30,2% Cácyếu tố ảnh hưởng là thiếu sự hỗ trợ chăm sóc trẻ sau sinh, sinh con không nhưmong muốn, trầm cảm trong thai kỳ, tình trạng sức khỏe trẻ yếu, phương phápsinh, hỗ trợ của chồng,em bé khóc đêm, tình trạng kinh tế thấp, mâu thuẫn với giađình chồng [8, tr 69-74]
Tác giả Lương Bạch Lan (2009)tại bệnh viện Hùng Vương trên 290 sản phụ(có con gửi vào dưỡng nhi tuần thứ 4 đến tuần thứ 6 sau sinh) sử dụng phương
Trang 20pháp tiến cứu phỏng vấn trực tiếp và sử dụng công cụ EPDS thì tỷ lệ mắc trầmcảm ở các bà mẹ sau sinh là 11,6%, các yếu tố liên quan làm gia tăng tỷ lệ trầmcảm như thời gian nằm viện của con trên 30 ngày, không khỏe khi mang thai, tửvong sơ sinh [12, tr 104-108]
Nghiên cứu của Tô Thanh Phương BVTTTW Thường Tín – Hà Nội (2010)trên 16 bệnh nhân đang điều trị tại BV sử dụng công cụ là Beck, Zung cho thấylứa tuổi của mẹ dễ mắc TCSS là tuổi từ 26-35 Các yếu tố có liên quan đến TCSSnhư thiếu sự hỗ trợ, con không theo ý muốn [16,tr 3-18]
Theo tác giả Phạm Ngọc Thanh (2011) nghiên cứu “Trầm cảm ở những bà
mẹ có con sinh non đang nằm viện tại khoa sơ sinh - Bệnh viện Nhi Đồng 1”.Nghiên cứu trên 48 bà mẹ có con đang điều trị tại khoa sơ sinh bệnh viện NhiĐồng, phương pháp nghiên cứu tác giả kết hợp cả định tính và định lượng chothấy 70,8% bà mẹ có EPDS>13 điểm, 27,1% bà mẹ có tư tưởng tự tử Các yếu tốliên quan như: Gặp khó khăn đau khổ với gia đình trong thời gian mang thai vàsau khi sinh trong đó có 6,2% bị gia đình chồng bắt buộc li dị vì không có khảnăng sinh con trai, 50% có mối quan hệ xấu với chồng, 87,5% bà mẹ quá lo lắngcho sức khỏe của con, 45,8% bà mẹ không mong muốn có con,70,8% bà mẹ thiếu
sự nâng đỡ tâm lý và 75% bà mẹ có nhu cầu được trò chuyện tâm sự [18, tr 1-13]
Bảng 2 dưới đây tóm tắt lại thông tin về các nghiên cứu về TCSS ở trongnước đã được tác giả điểm luận ở trên
Bảng 1.2 Sơ lược kết quả nghiên cứu đi trước về TCSS ở trong nước
cụ đo TCSS
Thời gian đo
chồng không tốt -Có tiền căn lo âu mất ngủ
-Khó sinh -Tự chăm sóc con sau sinh
-Thiếu sự hỗ trợ
Trang 21chăm sóc trẻ vào ban đêm
2 Lê Thanh Hiệp
-TC trong thai kỳ -Trẻ có sức khoẻ yếu
-Thiếu sự hỗ trợ từ chồng
-Tình trạng kinh tế thấp
-Mâu thuẫn với gia đình chồng
11,6 -Sức khoẻ yếu khi
mang thai -Tử vong của trẻ sơ sinh
-Thời gian con nằm viện trên 30 ngày
4 Tô thanh Phương
đình trong thời gian mang thai và sau sinh
Trang 22tâm lý -thiếu sự hỗ trợ
Tiểu kết về các nghiên cứu TCSS ở trong nước:
Tóm lại, các nghiên cứu được tiến hành trên quần thể phụ nữ Việt Nam cũng
có nhiều điểm tương đồng với các bằng chứng nghiên cứu thu được từ nước ngoài.Bằng những nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TCSS ở phụ nữ Việt Nam rất biến động tùythuộc vào các biến số khác nhau như nhóm cộng đồng, nhóm lâm sàng trong bệnhviện, nhóm sống ở khu vực nông thôn, nhóm phụ nữ cao tuổi…Các nghiên cứu đãđược tiến hành thường sử dụng công cụ sàng lọc EDPS của Edinbugh với điểm cắtbiến thiên trong khoảng từ 9 – 13 điểm Nghiên cứu đi trước cũng chỉ ra các yếu tốnguy cơ làm tăng tỷ lệ TCSS gồm việc sinh con không như mong muốn, lo âutrầm cảm trong quá trình mang thai, thiếu sự hỗ trợ từ gia đình, sang chấn tâm lý,khó khăn kinh tế, khó khăn trong quá trình chăm sóc trẻ sau sinh, thời gian nằmviện của mẹ và trẻ…
Trong phần này, chúng tôi sẽ bàn luận sâu hơn về mối quan hệ giữa yếu tốvăn hóa truyền thống và TCSS qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và ởViệt Nam
Trên thế giới, một số nghiên cứu đã chỉ ra sự mâu thuẫn trong chuẩn mựcvăn hóa có ảnh hưởng đến TCSS, điển hình là nghiên cứu của Mathey và cộng sự
2002 trên các bà mẹ Trung Quốc di dân sang Úc Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng18% bà mẹ Trung Quốc mắc TCSS do sự mâu thuẫn giữa tập tục truyền thống củaTrung Quốc và quy tắc của nước sở tại trong việc chăm sóc các bà mẹ sau sinh[53, tr 1355-1373] Việc tuân thủ các nghi lễ truyền thống cũng có thể góp phầnlàm tăng nguy cơ TCSS như nghiên cứu của Nahas trên 22 phụ nữ Jordan sống ở
Úc đã mắc TCSS Nghiên cứu phát hiện rằng các nghi lễ truyền thống liên quanđến việc hỗ trợ các bà mẹ sau sinh, nghi lễ kỷ niệm ngày sinh của em bé và cácquan niệm, niềm tin truyền thống về giới tính của trẻ có ảnh hưởng đến sự pháttriển TCSS [59, tr 37-45] Tương tự theo Klainin (2008), các nghi lễ truyền thốngảnh hưởng có ý nghĩa với TCSS trong đó đặc biệt là những kiêng khem sau sinh
Trang 23như quy tắc về tắm gội, ăn uống, giữ ấm, hoạt động đi lại, hạn chế tiếp xúc xã hộiđối với bà mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe tâm thần nói chung của phụ nữthời kỳ hậu sản [53, tr 1355-1373].
Ở Việt Nam cho tới hiện tại chưa có nghiên cứu hệ thống về ảnh hưởng củayếu tố văn hóa, truyền thống đến TCSS Trên thực tế truyền thống Việt Nam đưa
ra rất nhiều nguyên tắc kiêng khem mà người phụ nữ sau sinh phải thực hiện, đặcbiệt là những người phụ nữ sống ở các vùng nông thôn Những quy tắc này có thểảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của người phụ nữ Trongphần này, chúng tôi sẽ tập trung làm rõ các quy tắc truyền thống của Việt Nam đốivới phụ nữ sau sinh Ví dụ như: Nghiên cứu của Lê Minh Thi, 2003 tại Ân Thi –Hưng Yên cho thấy thời gian ở cữ theo quan niệm truyền thống là 100 ngày(3tháng 10 ngày) Trong thời gian ở cữ các bà mẹ phải tuân thủ kiêng kỵ rất nhiềunhư chế độăn uống nghỉ ngơi, kiêng tắm gội, kiêng đọc báo và xem tivi, kiêng ăn
cá, kiêng không tiếp xúc với ánh nắng mặt trời…Tác giả đã chia làm 3 cấp độ tậpquán chăm sóc sau sinh: (i) Các yếu tố có lợi cho sức khỏe các bà mẹ và trẻ sơsinh như không uống nước nóng và đồ uống có cồn.(ii) Các yếu tố trung tính nhưkhông chải đầu, không soi gương, gạc bông tai,mặc áo dài tay(thời tiết nóng).(iii)Các yếu tố gây hại đối với sức khỏe các bà mẹ như không ăn cá, hoa quả, hải sản,thịt bò, kiêng uống nhiều nước, không sử dụng biện pháp tránh thai trong thời kỳhậu sản [19, tr 20-25] Hay một nghiên cứu khác của Fisher và cộng sự (2004) trên
506 bà mẹ Việt Nam đang sinh sống tại TPHCM cho thấy các bà mẹ phải tuân thủthực hiện kiêng khem như phải nằm trên lửa , không được tắm gội, phải đeo gạcbông tai để tránh nghe tiếng động lớn, phải dùng thảo dược, phải ăn những thức ănđặc biệt, phải hạn chế ra ngoài trong 30 ngày sau sinh…Tỷ lệ những bà mẹ thựchiện theo các nguyên tắc kiêng khem trên có điểm cao hơn trên thang đo sàng lọcTCSS EPDS [42, tr 1353-1360]
Tiểu kết về các yếu tố ảnh hưởng đến TCSS
Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy rằng yếu tố văn hoá cóảnh hưởng nhất định tới TCSS ở các bà mẹ Đối với Việt Nam như nghiên cứu của
Lê Minh Thi bước đầu cũng đã chỉ ra 3 cấp độ ảnh hưởng bởi tập quán chăm sóc
Trang 24sau sinh (i) các yếu tố có lợi cho sức khoẻ các bà mẹ và trẻ sơ sinh (ii) Các yếu tốtrung tính (iii) Các yếu tố gây hại cho sức khoẻ các bà mẹ Qua các nghiên cứuTCSS trong và ngoài nước thì yếu tố văn hoá có ảnh hưởng nhất định đến TCSS.Tuy nhiên ở mỗi một nền văn hoá, vùng miền khác nhau thì mức độ ảnh hưởngcũng khác nhau Với văn hoá nước ngoài thì việc kiêng khem sau sinh có ảnhhưởng xấu đến sức khoẻ tâm thần đặc biệt là TC Với Việt Nam các nghiên cứuvềTCSS có ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hoá không nhiều nhưng cũng cho chúng
ta thấy được phần nào yếu tố văn hoá hay kiêng khem sau sinh có ảnh hưởng tớiTCSS mặc dù không đề cập tới tỉ lệ
Như vậy có thể nói rằng yếu tố văn hóa truyền thống đã có ảnh hưởng nhấtđịnh tới sức khỏe của các bà mẹ thời kỳ hậu sinh Đặc biệt những thực hành kiêngkhem theo phong tục tập quán và niềm tin văn hóa một mặt có thể đem lại sứckhỏe tốt cho các bà mẹ mặt khác cũng có thể làm cô lập các bà mẹ, tăng nguy cơTCSS Tuy nhiên, để có kết luận cuối cùng về vấn đề này vẫn cần có thêm cácbằng chứng nghiên cứu đáng tin cậy
1.4 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
1.4.1 Khái niệm văn hoá
Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tácgiữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (PGS-TSKH TrầnNgọc Thêm)
Theo PGS Nguyễn Từ Chi có góc nhìn khác về văn hoá ông đưa ra hai ýkiến:
- Góc rộng: Văn hoá là toàn bộ cuộc sống (nếp sống, lối sống) cả vật chất xã hội
và tinh thần của từng cộng đồng
- Góc hẹp: Văn hoá gắn với kiến thức của con người, của xã hội.
Cơ cấu của văn hoá
Trang 25 Văn hoá vật chất: Là một trong các hình thức văn hoá của mỗi tộc người baogồm làng bản, nhà cửa, quần áo, trang sức, ăn uống, phương tiện đilại….theo UNESCO gọi là văn hoá hữu thể (Tangible).
Văn hoá tinh thần: Bao gồm các biểu hiện hiện tượng “không sờ thấy được”của văn hoá được lưu truyền và biến đổi qua thời gian với một quá trình táitạo “trùng tu” của cộng đồng…
Những di sản văn hoá tạm gọi là vô hình ( Intangible) theo UNESCO baogồm cả âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ,huyền thoại tư thế, nghi thức, phong tục, tập quán, cổ truyền Cái hữu thể vàcái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau như thân xác với tâm trícon người
1.4.2 Khái niệm chấn thương tâm lý
Là phản ứng về tâm sinh lý của bản thân sau một biến cố hay một sự kiệngây tổn thương mà chủ thể đã sống qua hoặc đã chứng kiến sự kiện đó dẫn đếnnhững thay đổi về cảm xúc, hành vi cũng như biến đổi về hoạt động xã hội, nghềnghiệp của chủ thể
1.4.3 Khái niệm trầm cảm
Trước đây, các nhà tâm thần học mô tả trầm cảm như là một giai đoạn bệnhđiển hình với tình trạng u sầu (melancholia), biểu hiện ức chế nặng nề các mặt hoạtđộng tâm thần Chủ yếu là các quá trình: 1/Cảm xúc ức chế , biểu hiện bằng khí sắcgiảm, buồn rầu; 2/ Các quá trình tư duy bị ức chế, dòng tư duy chậm lại; 3/ Hoạtđộng bị ức chế thể hiện tình trạng chậm chạp cả lời nói và hành vi, nhiều khi nặngđến mức sững sờ, bất động [52, tr 307-323]
Hiện nay, theo mô tả trong bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) thìtrầm cảm là một hội chứng bệnh lý biểu hiện đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất mọiquan tâm thích thú, giảm năng lượng dễ mệt mỏi, phổ biến là tăng mệt mỏi rõ rệtnhiều khi chỉ sau một cố gắng nhỏ Kèm theo là các triệu chứng phổ biến khác như:giảm sút tập trung chú ý, giảm sút lòng tự trọng và lòng tự tin; có ý tưởng bị tội vàkhông xứng đáng; bi quan về tương lai; có ý tưởng và hành vi tự hủy hoặc tự sát, rốiloạn giấc ngủ; giảm cảm giác ngon miệng Ngoài ra còn có các triệu chứng loạn thần
Trang 26Các biểu hiện trên tồn tại trong một khoảng thời gian tối thiểu 2 tuần liên tục [36, tr422-423].
Theo bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) của Tổ chức Y tếThế giới phân trầm cảm thành 3 mức độ [36] Cụ thể như sau:
A.Trầm cảm mức độ nhẹ
Khi bệnh nhân có ít nhất trong số các triệu chứng phổ biến và không cótriệu chứng nào trong số những triệu chứng này ở mức độ nặng Các triệu chứngnày làm bệnh nhân gặp khó khăn trong các hoạt động xã hội, công việc thườngngày nhưng vẫn có thể tiếp tục được Trong trầm cảm mức độ nhẹ bệnh nhân cóthể có hoặc không có những triệu chứng cơ thể
B Trầm cảm mức độ vừa
Khi bệnh nhân có ít nhất 2 trong số 3 triệu chứng đặc trưng và ít nhất 3trong số các triệu chứng phổ biến Các triệu chứng này gây khó khăn đáng kểtrong việc tiếp tục các chức năng nghề nghiệp, xã hội hoặc các sinh hoạt trong giađình
C Trầm cảm mức độ nặng
Khi bệnh nhân có cả 3 triệu chứng đặc trưng và ít nhất 4 trong số các triệuchứng trong số này phải ở mức độ nặng Tuy nhiên, nếu như bệnh nhân có kíchđộng hoặc chậm chạp tâm thần vận động rõ rệt thì khó có thể mô tả các triệuchứng khác một cách chi tiết Do đó, trầm cảm nặng vẫn được chẩn đoán trongtrường hợp này Nếu các triệu chứng trầm cảm xuất hiện nặng nề và khởi phátnhanh thì thời gian dùng để chẩn đoán có thể trên 2 tuần Trong giai đoạn trầmcảm nặng bệnh nhân không thể tiếp tục sinh hoạt và làm việc
1.4.4 Khái niệm trầm cảm sau sinh.
- TCSS là một tình trạng rối loạn khí sắc nặng nề (buồn rầu và chán nản),gặp tương đối phổ biến ở thời kỳ sau sinh, được đặc trưng bởi các triệu chứng củatrầm cảm nhưng chỉ xảy ra sau khi sinh con
- TCSS là một hội chứng mà nhiều phụ nữ sau sinh gặp phải, là một dạngtrong các RLTT xảy ra vào thời kỳ sinh đẻ Có đến khoảng 50-75% phụ nữ cảm
Trang 27thấy dễ bị tổn thương, tinh thần bất ổn hơn sau khi sinh con Điều này vẫn thườngxuyên xảy ra sau khi sinh con được 1-3 tuần.
- Triệu chứng này thường xảy ra trong giai đoạn hậu sản Những thay đổi vềsinh học cũng như tinh thần khiến cho các bà mẹ dễ mắc TCSS TCSS cũng gâytrở ngại cho khả năng chăm sóc con của bà mẹ.Tuy được coi là một triệu chứngthông thường nhưng lại có khá nhiều phụ nữ cảm thấy xấu hổ và ngại ngùng khinói đến vấn đề này Họ cảm thấy xấu hổ vì không thể làm mẹ một cách bìnhthường nhất Thay vì đi khám hay nhận sự giúp đỡ từ những người xung quanh,họlại giữ cho riêng mình và tự đưa mình vào trạng thái đau khổ hay tội lỗi mà khôngbiết rằng đó chính là RLTT
- TCSS là những cảm xúc mạnh mẽ hòa quyện vào nhau như phấn khích,vui sướng cho đến lo lắng và sợ hãi từ việc ra đời của một em bé Nhưng TCSScũng có thể dẫn đến TC nặng, đòi hỏi điều trị lâu dài và đây là điều không ai mongđợi [57]
- TCSS không phải do yếu đuối hay khiếm khuyết về tính cách, mà đôi khitriệu chứng xuất hiện đơn giản chỉ vì đây là một phần của việc sinh nở của ngườiphụ nữ
A Trầm cảm nhẹ
Sau sinh khoảng 3-4 ngày người mẹ thường thấy mệt mỏi, chán ăn, ngủkém, các hoạt động khó khăn và vụng về Họ thường lo lắng thái quá cho sức khỏecủa con và của bản thân, cảm thấy mình kém cỏi vì không có khả năng chăm sóccon được tốt, thường khóc lóc vô cớ, cho rằng mình bị bỏ rơi
B Trầm cảm vừa
Người mẹ thường cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức, rối loạn giấc ngủ, dễ bị kíchthích hay cáu giận vô cớ, biểu hiện cơn chảy nước mắt Cảm giác bất lực,buồn rầu,chán nản không muốn tiếp xúc với mọi người, người bệnh quá lo lắng về cách chocon ăn, cách giữ vệ sinh, cách dạy dỗ con, hay cho con ăn rất cầu kỳ, tỷ mỉ…[2, tr57-64] [39, tr 289-295]
C Trầm cảm nặng
Trang 28Thường tiếp theo giai đoạn “buồn sau sinh” với các triệu chứng trầm cảm
rõ nét Biểu hiện như luôn cho mình và con mắc bệnh hiểm nghèo, mình là người
mẹ không biết cách chăm sóc con, kém cỏi, vô dụng, xấu xa, không xứng đáng…Bệnh nhân thường lo âu sợ hãi, buồn rầu, hay khóc lóc vô cớ, mất đinh hướng vềkhông gian, thời gian, không làm chủ được bản thân, thậm chí có những lời nói vàhành vi thô bạo xúc phạm tới những người xung quanh Khả năng chăm sóc concàng ngày càng kém, có khi không quan tâm đến con mình, bỏ mặc hoặc hành hạcon thậm chí giết hại con rồi tự sát [53, tr 1355-1373]
A Chẩn đoán xác định
Các triệu chứng trầm cảm kéo dài ít nhất 2 tuần và xuất hiện trong vòng 1 –
6 tuần đầu sau sinh
B Chẩn đoán phân biệt
- TC thoáng qua sau sinh (Baby blues)
Ảnh hưởng đến 70-85% người mẹ Tình trạng này bắt đầu trong vòng 3 ngàysau khi sinh và có thể kéo dài tới 14 ngày Đó là những cảm giác buồn bã, mấtngủ, ủ rũ, mệt mỏi, tính tình dễ bị kích thích, khi ngủ hay có ác mộng Người bệnh
dễ thay đổi cảm xúc, dễ chuyển nhanh từ vui sang buồn đặc biệt là rất dễ khóc,kèm theo có biểu hiện lo lắng Lo lắng xuất hiện trở lại giống như thời kỳ đầumang thai thường gắn liền với ý nghĩ ám ảnh rằng mình không có khả năng nuôicon, xen kẽ với những cảm xúc hạnh phúc là tâm trạng bi quan chán nản Ngoài
ra còn có biểu hiện đau đầu, thiếu tập trung chú ý…Các rối loạn này thường nhẹ
và kín đáo, mạnh nhất vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 và thường hết trong khoảng
10 ngày đầu sau sinh Các triệu chứng sẽ biến mất mà không cần điều trị
- TCSS (Postpartum Depression-PPD)
Là tình trạng nặng và kéo dài hơn 2 tuần so với cơn buồn thoáng qua sausinh Khoảng 10% người mẹ phải đối măt với TCSS có thể kéo dài hàng tháng đếnhàng năm hoặc lâu hơn ảnh hưởng tới việc chăm sóc đứa trẻ và sinh hoạt hàngngày Những triệu chứng gồm: Mất cảm giác ăn uống, mất ngủ, cáu kỉnh và giận
dữ thường xuyên, tình trạng mệt mỏi thường xuyên, mất hứng thú tình dục, mất
Trang 29hứng thú trong cuộc sống, mặc cảm tự ti, cảm tưởng mình không xứng đáng chămsóc con, thay đổi tính tình rõ rệt từ TC sâu đậm đến phấn chấn hoan hỉ, không gầngũi, yêu thương con, tách biệt khỏi gia đình và bạn bè, có ý nghĩ hay hành vi tự tửhay giết hại con.
- TC loạn thần sau sinh (Postpartum psychosis-PPP)
Là tình trạng rất hiếm gặp của TCSS và thường khởi phát trong vòng 4 tuầnsau sinh nhưng có một vài trường hợp ở tuần thứ 2 sau sinh Người bị TC loạnthần sau sinh suy yếu nhanh và có những triệu chứng sau: Hoang tưởng, thay đổitính tình rất nhanh, ảo giác, tuyệt vọng, mất khả năng kiểm soát bản thân: tự làmhại bản thân, em bé hay người khác [14, tr 1-7)
D Theo bảng phân loại DSM-IV và ICD-10 trong các giai đoạn trầm cảm:
Trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10, các rối loạn tâm thần và hành
vi kết hợp với thời kỳ sinh đẻ (trong vòng 6 tuần sau sinh) được xếp vào mục F53[22, tr 34-42], gồm các mã:
- F53.0: Các rối loạn tâm thần và hành vi nhẹ, kết hợp với thời kỳ sinh đẻ, khôngphân loại ở nơi khác
- F53.1: Các rối loạn tâm thần và hành vi nặng, kết hợp với thời kỳ sinh đẻ, khôngphân loại ở nơi khác
- F53.8: Các rối loạn tâm thần và hành vi khác, kết hợp với thời kỳ sinh đẻ, khôngphân loại ở nơi khác
- F53.9: Rối loạn tâm thần thời kỳ sinh đẻ, không biệt định
1.5 Một số quan điểm về nguyên nhân của TCSS
1.5.1 Nguyên nhân sinh học
Rối loạn trầm cảm sau sinh có liên quan đến việc thay đổi hormone đặc biệt
là hormone sinh dục trong quá trình mang thai và đặc biệt là sau sinh [66, tr 2685] Trong thời gian mang thai có sự gia tăng hàm lượng của các hormone sinhdục đặc biệt là Estrogen và Progesterron trong huyết tương của người phụ nữ.Ngoài ra còn có sự gia tăng của Cortizol và CRH Các hormone buồng chứng dễdàng xâm nhập vào não và có tác dụng như chất điều biến ngoại lai của hoạt độngthần kinh Các thụ thể hormone buồng trứng không chỉ được tìm thấy trong vùng
Trang 302646-não kiểm soát chức năng sinh sản mà còn thấy xuất hiện nhiều ở các vùng 2646-nãoquan trọng của con người quy định về cảm xúc, nhận thức và hành vi [47, tr 2-3]
Theo Meyer (2010), trong tuần lễ đầu sau sinh trong cơ thể người mẹ có sựgia tăng đáng kể các monoamine oxidase A (MAO – A) gắn vào các khu vực quantrọng của não bộ tham gia vào điều chỉnh khí sắc Trong đó “MAO – A chuyểnhóa Serotonin, Norepinephrine và Dopamine làm suy yếu các chất này là nguyênnhân dẫn đến giảm khí sắc” [51]
1.5.2 Nguyên nhân tâm lý, xã hội
Thay đổi về tâm lý ở phụ nữ khi có thai.
Ngoài việc thay đổi về hình thể và sinh lý, mang thai còn là một hiện tượngphức tạp bao gồm thay đổi về tâm lý, xã hội Mang thai, đặc biệt là lần đầu tiên thìbiến đổi tâm lý rất mạnh mẽ.Trong khi có thai thì hormone sinh dục được tăng tiếtrất nhiều và đây là nguyên nhân dẫn đến thay đổi cảm xúc của người mẹ TheoFinket, chính do nội tiết tố trong cơ thể phụ nữ thay đổi đột ngột đặc biệt làEstrogen đã làm cho cảm xúc của phụ nữ thay đổi thất thường, nhanh chóng.Nhiều khi họ trở nên khó tính, cố chấp hay phản ứng thái quá với những vấn đềnhỏ nhoi…Họ cũng trở nên nhạy cảm hơn, dễ khóc hơn, tâm trạng buồn vui lẫnlộn Nồng độ Progesteron tăng cao trong quý đầu tiên làm cho người phụ nữ mangthai rơi vào trạng thái buồn ngủ và khó cưỡng lại được [47, tr25-26]
Thời gian mang thai của người phụ nữ kéo dài từ 38-42 tuần và được chiathành 3 quý Trong mỗi quý người phụ nữ có những thay đổi về thể chất và tâm lýkhác nhau [47, tr 25-26] [38, tr 1-11]
Quý I: Mang thai thường đi kèm với nhiều lo lắng, căng thẳng đặc biệt làmang thai lần đầu Trong quý đầu người phụ nữ không nhìn thấy những thay đổixảy ra trong cơ thể của họ nhưng giai đoạn này vô cùng quan trọng Giai đoạn nàynhiều phụ nữ lo lắng thai nhi cử động trong tử cung vì họ không biết rằng đó làdấu hiệu của thai nhi, khi trẻ ra đời có làm thay đổi cuộc sống, mối quan hệ xungquanh mình hay không Với phụ nữ mang thai lần đầu họ thường lo lắng bị sảythai, thai chết lưu…mặc dù họ biết điều đó là không có căn cứ Ngoài ra ngườiphụ nữ mang thai còn có thể có biểu hiện mệt mỏi, giảm trí nhớ, buồn nôn, đau
Trang 31đầu, đau lưng, tiểu tiện rát, táo bón,sợ một số mùi hoặc một số thức ăn nhất định(đặc biệt trong quý đầu).
Quý II: Những mệt mỏi căng thẳng, lo âu trong quý I đã qua thì sự thay đổicảm xúc của quý II lại bắt đầu Mặc dù những cảm giác trong giai đoạn nàythường ở mức độ nhẹ hơn nhưng đôi khi nó cũng gây ra những vấn đề tương tự
Họ lo lắng về việc chuẩn bị cho sự ra đời của đứa trẻ, liệu đứa trẻ có phát triểnbình thường, liệu mình có sinh đúng thời hạn hay không…, một số bà mẹ thấythiếu sự tự tin do sự tăng cân nhiều của cơ thể
Quý III: Trong giai đoạn này người phụ nữ mong đợi đến kỳ sinh đẻ và họphải đối phó với sự thay đổi đáng kể về mặt cơ thể Một số phụ nữ thấy chán nản
về hình ảnh của cơ thể mình, họ thấy mình không còn hấp dẫn nữa, thấy mìnhđang xấu đi…Cảm giác sợ mất đứa trẻ thường biến mất ở giai đoạn này nhưng lạixuất hiện những lo lắng về sự xuất hiện của đứa trẻ, lo lắng cho cuộc chuyển dạsắp tới của bản thân
Thay đổi tâm lý ở phụ nữ sau sinh
Sau sinh đời sống tinh thần của người phụ nữ có nhiều thay đổi Nhiều phụ
nữ thấy mệt mỏi, kiệt sức sau cuộc chuyển dạ kèm theo mất ngủ vì phải chăm sóccho bé vào ban đêm, thay đổi thói quen sinh hoạt, thay đổi trong các mối quanhệ…là những thách thức không nhỏ đối với người phụ nữ nhất là với những phụ
nữ sinh con lần đầu tiên Tuy những thay đổi tâm lý của người phụ nữ sau sinhphụ thuộc nhiều vào thể chất, tình cảm và lối sống của họ Nhiều bà mẹ cảm thấymệt mỏi, chán nản hoặc có cảm giác bị ràng buộc, cảm giác mất mát sự tự do, mất
đi thói quen sinh hoạt hàng ngày, mất đi vẻ hấp dẫn [48]
Biểu hiện rõ nhất của sự biến đổi tâm lý của người phụ nữ sau sinh dễ xúcđộng, dễ khóc, dễ tủi thân…
Lo sợ là cảm giác gặp ở hầu hết các bà mẹ: như lo trẻ ăn chưa no, sợ trẻ bị
ốm, có khi lo lắng không có cơ sở như tại sao trẻ lại chậm biết lẫy, chậm mọcrăng…
Trang 32 Cáu gắt là một triệu chứng thường gặp ở phụ nữ sau sinh Do họ bị hạn chế cácgiao tiếp trong xã hội, bận rộn trong việc chăm sóc trẻ… nên thường có cảm giáckhó chịu, bức bối và dễ cáu gắt [21]
Nguyên nhân tâm lý
Mang thai và quá trình chuyển sang làm mẹ không chỉ mang lại niềm vui,niềm mong ước, sự thỏa mãn và hạnh phúc cho người mẹ mà còn khơi dậy nhiềucăng thẳng về tâm lý Người mẹ phải đối diện với những thay đổi về hình dángcủa cơ thể, họ cảm thấy mình không còn hấp dẫn nữa, họ lo lắng cho sự phát triểncủa thai nhi trong bụng, luôn lo lắng về chế độ ăn của mình như thế nào để chothai phát triển tốt nhất, họ cũng luôn lo lắng sợ sảy thai, sợ thai chết lưu, sợ trẻ đẻ
ra bị dị tật cũng như lo cho việc chuyển dạ sắp tới…[38, tr1-11], [48], [14, tr 1-7].Hoặc có thể có một vài mâu thuẫn trong gia đình mà không được giả quyếttriệt để gây ra áp lực dẫn đến mất cân bằng sinh lý Vấn đề về giới tính của đứa trẻcũng có thể là một trong những nguyên nhân khiến người phụ nữ mắc TCSS Do
họ phải chịu áp lực trong gia đình chồng về việc sinh con trai nên khi thấy đứa trẻkhông như mong đợi người phụ nữ dễ có tâm lý chán nản, buồn bã Nhiều bà mẹ
do không chuẩn bị chu đáo khi sinh con cả về tâm lý và về kinh tế nên khi phảithay đổi làm mẹ lúng túng, lo lắng về việc chăm sóc con khiến người phụ nữ bị áplực nặng nề Tình trạng này kéo dài khiến người phụ nữ mắc phải chứng trầm cảmsau sinh
Các stress trong gia đình và xã hội
Trong thời kỳ mang thai đặc biệt là sau sinh cơ thể người phụ nữ có sự thayđổi lớn về mọi mặt như giải phẫu, sinh lý, nội tiết…, kèm thêm sự kiệt sức do quátrình chuyển dạ, việc phải chăm sóc con vào ban đêm…làm cho họ thấy mệt mỏi,tính tình thay đổi thất thường, trở nên khó tính,cố chấp, cáu gắt, hay dễ tủi thân[37] Chính vì vậy trong giai đoạn này sự quan tâm chăm sóc của gia đình, củangười thân đặc biệt là người chồng có vai trò rất quan trọng Nhiều nghiên cứu đãchứng minh rằng những bất ổn trong hôn nhân, tình trạng kinh tế khó khăn, các sựkiện căng thẳng trong cuộc sống…, đặc biệt là các sang chấn đột ngột ở giai đoạngần sinh hoặc sau sinh nếu thiếu sự hỗ trợ của xã hội … thì cũng góp phần vào
Trang 33nguy cơ trầm cảm sau sinh [66,tr 2646-2658] [57] Việc nhận được sự hỗ trợ xãhội qua bạn bè, người thân trong thời kỳ mang thai đặc biệt là giai đoạn sau sinh
có ý nghĩa rất quan trọng đối với người phụ nữ, là một yếu tố bảo vệ đối với trầmcảm sau sinh và là một yếu tố liên quan có hiệu lực khá mạnh với trầm cảm sausinh[25, tr 296-306],[44, tr 26-35] Ngoài ra một số nghiên cứu cho thấy rằngnhững trường hợp có thai ngoài ý muốn, sau sảy thai, sau phá thai hoặc thai chếtlưu hay sau một số tai biến sản khoa như tiền sản giật, sản giật… có thể là tăngnguy cơ xuất hiện trầm cảm sau sinh[66, tr 2646-2658] Một số nghiên cứu phântích tổng hợp của Beck năm 1996 trên 6 nghiên cứu bao gồm 1200 đối tượng chokết quả: mang thai ngoài ý muốn có mối liên quan với trầm cảm sau sinh Theo tácgiả mối liên quan này có hiệu lực nhỏ (Effect size d = 0,23) [24, 395-396]
Còn theo nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Duy Hương và cộng sự tại ViệtNam năm 2005 lại có báo cáo mối liên quan khá chặt chẽ: những bà mẹ có thaingoài ý muốn có tỷ lệ trầm cảm sau sinh cao gấp 5,08 lần những bà mẹ khác [9, tr65-71]
Chandran và cộng sự năm (2002) nghiên cứu trên 359 bà mẹ cho thấy cácyếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm sau sinh như: thu nhập thấp,sinh con theo ý muốn,
có quan hệ khó khăn với mẹ chồng, các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống trongthời kỳ mang thai, thiếu sự hỗ trợ xã hội [29, tr 499-504] Cũng có cùng kết quảnghiên cứu tác giả Hobfoll và cộng sự (1995) nghiên cứu trên 192 phụ nữ mangthai và sau sinh thì cho kết quả yếu tố ảnh hưởng tới trầm cảm sau sinh là có thunhập thấp[49, tr 445-453] Còn theo tác giả O’Hara (1986) có báo cáo các yếu tố
có liên quan như: sự kiện căng thẳng trong cuộc sống và có được ít sự hỗ trợ củachồng cũng như không được tâm sự và gần gũi với chồng[62, tr 37-55]
Các yếu tố liên quan đến trẻ
Giới tính của trẻ cũng được cho là một yếu tố nguy cơ đến trầm cảm sau sinh.Các nghiên cứu gần đây của Patel và cộng sự (2002) Lee và cộng sự (1998) chothấy sự thất vọng của cặp vợ chồng sinh con gái có mối liên quan có ý nghĩa đốivới trầm cảm sau sinh, điều này không thấy ở các nước phát triển Do đó phản ứngcủa cha mẹ đối với giới tính của trẻ có thể là nguy cơ tiềm tàng đối với trầm cảm
Trang 34sau sinh ở các nhóm văn hoá cụ thể [63, tr 1461-1471] [55, tr 220-226] Theo phântích tổng hợp một loạt các nghiên cứu gần đây ở các nước Châu Á, P Klainin vàcộng sự 2008 cũng cho thấy lựa chọn giới tính có liên quan đến trầm cảm sausinh[53, tr 1355-1373].
Mặt khác, vấn đề sức khỏe của trẻ cũng như khó khăn trong việc chăm sóctrẻ cũng là yếu tố liên quan đến trầm cảm sau sinh Nhận định của Beck (2002) khinghiên cứu 789 bà mẹ sau sinh cho thấy trẻ hay quấy khóc, khó dỗ dành là mộttrong những nguyên nhân gây căng thẳng cho bà mẹ và là một yếu tố liên quanchặt chẽ với trầm cảm sau sinh[25, tr 296-306] Theo Lương Bạch Lan 2008 chothấy những bà mẹ có con không được khỏe có nguy cơ bị trầm cảm sau sinh caogấp 4 lần so với các bà mẹ khác [12, tr 104-108]
Các yếu tố văn hóa truyền thống
Theo báo cáo của Lee và cộng sự (1998) cho thấy các nghi lễ truyền thốngđối với các bà mẹ sau sinh là phải ở trong nhà và phải thực hiện chế độ ăn uốngkiêng khem và hạn chế hoạt động thể chất trong vòng 4 tuần sau sinh Đồng thờicác bà mẹ được sự hỗ trợ của người thân trong gia đình đối với việc chăm sóc trẻ
và giúp các công việc trong gia đình Chính việc thực hành các nghi thức truyềnthống này đã giúp các bà mẹ cải thiện sức khỏe của mình [55, tr 220-226]
Tuy nhiên theo báo cáo của Leung và cộng sự (2005) nghiên cứu trên các bà
mẹ Hồng Kông đã đưa ra những hạn chê môi trường sống, những khó khăn trongviệc thực hiện các điều ngăn cấm của tập quán truyền thống và bản thân các bà mẹ
đã tự đặt câu hỏi là làm như thế nào người phụ nữ có thể thích nghi với các nghithức hiện đại [54, tr 353-360]
Dankner và cộng sự (2000) đã tiến hành nghiên cứu trên các phụ nữ sau sinhngười Do Thái ở Issarel cho rằng yếu tố văn hóa như vai trò hỗ trợ của xã hội vànghi lễ truyền thống có thể giải thích sự tồn tại khác biệt với TCSS Trong môitrường văn hóa truyền thống thì TCSS ít hơn so với môi trường văn hóa khác Vấn
đề này đã làm nổi bật tầm quan trọng của yếu tố văn hóa đối với người mẹ sausinh và làm giảm những căng thẳng về thể chất và tâm lý cho họ [33, tr 97-104]
Trang 35Như vậy có thể nói các nghi lễ truyền thống (đặc biệt là ở các nước Châu Á)cũng là một trong những yếu tố liên quan đến TCSS Ở một số nước thì nghi lễtruyền thống có ảnh hưởng xấu đến các bà mẹ bởi lẽ khi các bà mẹ thực hiệnnhững nghi lễ truyền thống này các bà mẹ cảm thấy khó khăn và không thoải máinhưng vẫn phải thực hiện vì nó là văn hóa truyền thống từ xưa để lại Dẫn đến các
bà mẹ luôn cảm thấy khó chịu gượng ép, không thấy vui vẻ và thích thú dần dẫnđến thay đổi cảm xúc, nhận thức và hành vi Còn ở một số nước khác các lễ nghi
lễ truyền thống lại có ảnh hưởng tích cực như các bà mẹ được kiêng cữ, được trợgiúp của xã hội, được nghỉ ngơi… giúp các bà mẹ giảm bớt những gánh nặng vềcông việc, không cảm thấy mệt mỏi, lấy lại sức khỏe qua một quá trình vượt cạn.Tóm lại qua rất nhiều các nghiên cứu và báo cáo của các tác giả trong nước
và nước ngoài đã đưa ra rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến trầm cảm sau sinhnhư nguyên nhân sinh học do các hormone thay đổi hay do các yếu tố tâm lý xãhội, chấn thương tâm lý hay yếu tố văn hóa có liên quan đến TCSS… Hiện nayvấn đề này vẫn đang gây nhiều tranh luận và chưa xác định được yếu tố nào làyếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến trầm cảm sau sinh Cũng như chưa có nhiều nghiêncứu được tiến hành trên cộng đồng người Việt Nam dưới góc độ tâm lý Tuy nhiêntheo ý kiến của riêng cá nhân của tác giả đã nghiên cứu thì các yếu tố ảnh hưởngđến trầm cảm sau sinh có thể là các yếu tố tâm lý xã hội, chấn thương tâm lý cụthể như căng thẳng trong cuộc sống, hỗ trợ xã hội, hài lòng trong cuộc sống chung
và hài lòng về hôn nhân với chồng là những yếu tố góp phần gia tăng TCSS
Trang 36xã Hà Hồi, xã Văn Bình, xã Văn Phú, xã Hiền Giang, xã Khánh Hà của huyệnThường Tín.Đây là những xã gần những khu công nghiệp lớn, có làng nghề truyềnthống về gỗ đá.
Về địa bàn nghiên cứu: Thường Tín là một huyện nằm ở phía Nam củathành phố Hà Nội có diện tích 127,59 km² và số dân khoảng 240.000 người Vị tríđịa lý của huyện Thường Tín phía Đông giáp với các xã Mễ Sở, Thắng Lợi, huyệnVăn Giang và giáp với các xã Tân Châu, Tứ Dân, Hàm Tử, Dạ Trạch, Bình Minh,huyện Khoái Châu của tỉnh Hưng Yên với ngăn cách tự nhiên là Sông Hồng.PhíaNam giáp với huyên Phú Xuyên Phía Tây giáp với huyện Thanh Oai ngăn cáchbởi Sông Nhuệ Phía Bắc giáp với huyện Thanh Trì Hiện nay Huyện Thường Tín
có 1 thị trấn và 28 xã, dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông, công nhân tại các khucông nghiệp và kinh doanh các sản phẩm làng nghề truyền thống
Giới thiệu sơ lược về 6 trạm y tế xã: Các trạm y tế xã Liên phương, Hà Hồi,Văn Bình, Văn Phú, Hiền Giang, Khánh Hà có chức năng thăm khám và chămchữa sức khỏe tuyến đầu cho nhân dân trong xã Mỗi trạm y tế được cơ cấu gồm 1bác sỹ là trạm trưởng, 3 y sỹ, 4 y tá và 1 dược sỹ Mỗi trạm y tế được trang bị cơ
sở vật chất goomg 10 phòng khám trong đó có 2 phòng khám sản và phụ khoa.Bên cạnh đó trạm cũng có các phòng họp giao ban và phòng tiếp bệnh nhân, triểnkhai thu thập số liệu ban đầu về bệnh nhân
Trang 372.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Điểm lại các công cụ sàng lọc TCSS thường được sử dụng trong các côngtrình nghiên cứu gần đây Tìm hiểu các thông tin về chỉ số tâm trắc của các thang
đo này để xác định độ hiệu lực và độ tin cậy của các thang đo
Xây dựng bộ công cụ nghiên cứu hoàn chỉnh cho đề tài
Tiến hành chọn mẫu, liên hệ cơ sở, điều tra thu thập số liệu
Xây dựng giới thiệu tóm tắt về mục đích và nội dung nghiên cứu, liên hệvới 6 trạm y tế để được phép triển khai nghiên cứu
Xác định phương thức chọn mẫu và các tiêu chuẩn loại trừ
Giới thiệu nghiên cứu, quyền lợi và nghĩa vụ của người tham gia nghiên cứuđến những khách thể tiềm năng tại các trạm y tế; lấy chữ ký đồng ý tham gianghiên cứu của các ứng viên tiềm năng
Tiến hành thu thập số liệu bằng bảng hỏi lần 1 với các khách thể nghiên cứuđược chọn đang mang thai từ tháng thứ 6 đến tháng thứ 9 đến khám thai định kỳtại cơ sở chăm sóc bà mẹ và trẻ em ban đầu tại tuyến xã (ở từng trạm y tế)
Đặt lịch hẹn thu thập số liệu đợt 2 trong khoảng thời gian 3 tháng sau sinhvới các khách thể nghiên cứu
Tiến hành thu thập số liệu bằng bảng hỏi lần 2 với các khách thể nghiên cứuđược chọn (thời điểm 3 tháng sau sinh)
Trang 38 Giai đoạn 3: Nhập liệu, sử lý số liệu nghiên cứu, viết báo cáo tổng hợp.
Số liệu được nhập theo từng đợt Quá trình làm sạch số liệu được thực hiệntheo hai bước (a) thủ công (những phiếu trả lời không hoàn thành một phần nộidung bảng hỏi, đánh dấu các câu trả lời theo khuôn mẫu sẽ bị loại); (b) bằng thống
kê (những phiếu trả lời thiếu các thông tin quan trọng trong thang đo trầm cảmEPDS hoặc PHQ9 hoặc GAD 7; những phiếu trả lời bị khuyết thiếu 10% cácphương án trả lời sẽ bị loại) Sau hai bước sàng lọc, đợt 1 có 144 phiếu trả lời đápứng các tiêu chuẩn lựa chọn; đợt 2 có 134 phiếu trả lời đáp ứng các tiêu chuẩn lựachọn
Xử lý số liệu nghiên cứu bằng phần mềm SPSS 21.0 Các phép thống kêđược sử dụng gồm thống kê mô tả (tần xuất, %, điểm trung bình, độ lệch chuẩn…)
để mô tả thực trạng lo âu, trầm cảm của các bà mẹ trước và sau sinh Sử dụng các
phép phân tích tương quan, kiểm định t ghép cặp, phân tích ANOVA và hồi quy
để kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố văn hóa, chấn thương tâm lý và TCSS
Từ số liệu nghiên cứu, báo cáo tổng hợp được viết Nội dung chi tiết đượctrình bày trong chương III
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số công cụ và phương phápnghiên cứu sau:
2.2.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Đọc và phân tích tài liệu, sách và các công trình nghiên cứu về trầm cảmtrước, trong và sau sinh của các tác giả trong và ngoài nước, các nguyên nhân sinhhọc, yếu tố tâm lý xã hội, các tress trong cuộc sống, các hỗ trợ trong xã hội, hàilòng hôn nhân với chồng…, để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài và đưa ra cácquan điểm cá nhân đối với các vấn đề đặt ra Phương pháp phân tích tài liệu còngiúp cho việc làm rõ các yếu tố tâm lý, tress trong cuộc sống…có liên quan tới các
bà mẹ trước và sau sinh
Trang 392.2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Là phương pháp nghiên cứu quan trọng trong đề tài Bảng hỏi được thiết kếnhằm mục đích tìm hiểu nhân khẩu học như tình trạng kinh tế, tuổi, nghềnghiệp,tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, tuổi thai… Để thấy được các yếu tốnày có liên quan tới lo âu trầm cảm trước và sau sinh
2.2.3.3 Bộ công cụ đo của chúng tôi sử dụng các thang đo, trắc nghiệm sau.
c Thang đo TCSS của Edinburgh (EPDS)
Đã phát triển ở Scotland tại trung tâm y tế Livingston và Edinburgh là quy
mô nghiên cứu rộng rãi nhất Đã được sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới,thang đo tập trung vào cảm xúc của các bà mẹ chứ không tập trung vào các triệuchứng thể chất Nó được phát triển để hỗ trợ cho các chuyên gia chăm sóc sứckhỏe ban đầu để phát hiện ra các bà mẹ Hầu hết được sử dụng điểm cutoff từ 9 -
10 điểm Trắc nghiệm này đã được Bác sĩ - Tiến sĩ Trần Tuấn phòng khám Tunadịch ra Tiếng Việt Trắc nghiệm được thiết kế với 10 item và mỗi item có 4 lựachọn theo số điểm từ 0,1,2,3 theo chiều gia tăng của mức độ nặng của triệu chứng.Tổng số điểm được tính toán bằng cách cộng điểm cả 10 câu, điểm tối đa là 30điểm, điểm đánh giá TCSS từ điểm 10 hoặc nhiều hơn số điểm càng cao thì càng
có nguy cơ TCSS
d Thang đo hài lòng trong quan hệ hôn nhân ADAS
Trắc nghiệm này có 6 item mỗi item thể hiện cho từng mục tiêu và giá trị,
có 6 sự lựa chọn với số điểm từ 0 đến 5 các bà mẹ đánh giá vào một lựa chọn màmình thấy hợp lý với mình Câu thứ 7 là câu đánh giá chung mức độ hài lòng vềquan hệ hôn nhân với chồng
e Thang đánh giá PDPI – R: phiên bản trước sinh
Bảng hỏi về các yếu tố có liên quan đến lo âu trầm cảm như tình trạng kinh tế,lòng tự trọng, lo lắng trước sinh, hỗ trợ xã hội, căng thẳng trong cuộc sống
f Thang đánh giá PDPI – R: phiên bản sau sinh
Bảng hỏi về việc căng thẳng trong việc chăm sóc con, tính cách trẻ, trầmcảm thoáng qua
g Thang đánh giá lo âu GAD-7
Trang 40Phương pháp trắc nghiệm được sử dụng là trắc nghiệm GAD 7 là trắcnghiệm đánh giá mức độ lo âu Trắc nghiệm được thiết kế 7 item là những biểuhiện gây phiền phức cho các bà mẹ đang mang thai Mỗi câu hỏi có 4 sự lựa chọnvới số điểm từ 0 đến 3 các bà mẹ đánh giá vào một câu mà mình lựa chọn Tổng
số điểm sẽ được ghi nhận từ 0 - 21 điểm Những bà mẹ nào có thang điểm từ 0 - 4được coi là không có lo âu, từ 5 - 9 được coi là lo âu nhẹ, từ 10 - 14 lo âu vừa, từ
15 điểm trở lên được coi là lo âu nặng
h Thang đánh giá trầm cảm PHQ-9
Phương pháp trắc nghiệm được sử dụng là trắc nghiệm PHQ9 là bảng hỏi vềsức khỏe đánh giá mức độ trầm cảm Trắc nghiệm được thiết kế 9 item là nhữngvấn đề gây phiền phức thường xuyên cho các bà mẹ đang mang thai Mỗi câu hỏi
có 4 sự lựa chọn với số điểm từ 0 - 3 các bà mẹ đánh giá vào một câu mà mình lựachọn Tổng điểm cao nhất sẽ là 27 điểm và được phân loại như sau: từ 0 - 4 điểm
là không trầm cảm, từ 5 - 9 điểm triệu chứng tối thiểu có nguy cơ, từ 10 - 14 điểmtrầm cảm nhẹ, từ 15 - 19 điểm trầm cảm vừa, từ 20 - 27 điểm trầm cảm nặng
Bao gồm 17 cách kiêng khem, mỗi 1 câu có 2 lựa chọn có hoặc không dotác giả tìm hiểu và xây dựng dựa trên các nghiên cứu về văn hoá, các nghiên cứu
về TCSS đi trước, phỏng vấn những người dân về các phương thức kiêng khemcho phụ nữ sau sinh