ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÊ THỊ THU QUỲNH MỐI QUAN HỆ GIỮA YẾU TỐ VĂN HÓA, CHẤN THƯƠNG TÂM LÝ VỚI NGUY CƠ TRẦM CẢM SAU SINH Ở CÁC BÀ MẸ TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN – H
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THU QUỲNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA YẾU TỐ VĂN HÓA, CHẤN THƯƠNG TÂM LÝ VỚI NGUY CƠ TRẦM CẢM SAU SINH Ở CÁC
BÀ MẸ TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN – HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên
Mã số: Thí điểm
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mimi Lê
Vào hồi ……giờ……ngày … tháng … năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phòng Tư liệu Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3Mang thai và sinh con là giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của ngườiphụ nữ Đây là thời kỳ xảy ra nhiều thay đổi về sinh lý và tâm lý đòi hỏingười phụ nữ phải dần thích nghi với những thay đổi đó Chính vì sự thay đổinày đã khiến nhiều bà mẹ không thích nghi được dẫn đến mắc các RLTT điểnhình như TCSS.
TCSS làm ảnh hưởng tới các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ trong giađình, ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ ở mức độ nặng nó còn gây nguyhiểm cho tính mạng trẻ và tính mạng người mẹ
Có rất nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến TCSS như mối quan hệ vợ chồng
ít gắn bó, thiếu sự hỗ trợ xã hội, căng thẳng trong cuộc sống, sống chung vớigia đình chồng…
Theo nhiều nghiên cứu khảo sát về TCSS cho thấy tỷ lệ TCSS chiếmkhoảng 10% các bà mẹ trong thời kỳ sinh đẻ Ở Việt Nam, các nghiên cứu vềTCSS còn rất hạn chế và chỉ giới hạn xoay quanh lĩnh vực dịch tễ, chưa cócông trình nghiên cứu sâu về các yếu tố văn hóa, chấn thương tâm lý mộtcách có hệ thống Vì vậy với mong muốn tạo sự quan tâm đặc biệt cho những
bà mẹ sau sinh tôi tiến hành nghiên cứu “ Mối quan hệ giữa yếu tố văn hóa, chấn thương tâm lý với nguy cơ TCSS ở các bà mẹ tại huyện Thường Tín –
Hà Nội”.
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 4-Tìm hiểu thực trạng vấn đề trầm cảm của các bà mẹ trước sinh (6 – 9 tháng)
và sau sinh (3 tháng)-Tìm hiểu một số yếu tố văn hoá xã hội và các chấnthương tâm lý có nguy cơ ảnh hưởng đến rối loạn TCSS ở các bà mẹ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu lý thuyết
- Điểm luận và phân tích một số quan điểm, công trình nghiên cứu TCSS ởtrong và ngoài nước
-Tìm hiểu nguyên nhân, cơ chế phát sinh, phát triển, tỉ lệ dịch tễ của rối loạnTCSS
-Tìm hiểu các yếu tố văn hoá xã hội, chấn thương tâm lý ảnh hưởng đến rốiloạn TCSS
3.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực trạng các biểu hiện lo âu, trầm cảm ở các bà mẹ trong khoảngtrước sinh (6 – 9 tháng) và sau sinh (3 tháng) bằng bảng hỏi
Chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố văn hoá, chấn thương tâm lý với tìnhtrạng lo âu, trầm cảm của các bà mẹ trong thời gian mang thai và sau sinhbằng các phép phân tích số liệu thống kê
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
-Một số yếu tố văn hoá, chấn thương tâm lý
-Các biểu hiện lo âu, trầm cảm ở các bà mẹ trước và sau sinh
4.2 Khách thể nghiên cứu
134 bà mẹ mang thai (6-9 tháng) và sau sinh (3 tháng) đến chăm sócsức khoẻ định kỳ tại các trung tâm chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại tuyến xã
5 Giới hạn nghiên cứu
5.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trang 5Nghiên cứu một số yếu tố văn hoá và chấn thương tâm lý ảnh hưởngđến các bà mẹ trước sinh (6 – 9 tháng) và sau sinh (3 tháng) cũng như mốiquan hệ giữa chúng với nguy cơ trầm cảm ở các bà mẹ.
5.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu và phương thức chọn mẫu
-Nghiên cứu được thực hiện trong 6 xã: Văn Bình, Hiền Giang, Khánh Hà,Liên Phương, Hà Hồi, Văn Phú
-Tiêu chuẩn chọn mẫu:
Lần 1: Các bà mẹ mang thai (6-9 tháng)
Lần 2: Sau sinh (3 tháng)
-Tiêu chuẩn loại trừ: Các bà mẹ có tiền sử bị loạn thần, động kinh và chậmphát triển tâm thần…
6 Giả thuyết nghiên cứu
Tỷ lệ các bà mẹ có biểu hiện lo âu, trầm cảm trong thời gian mang thai
và sau sinh là khá phổ biến Tỷ lệ các bà mẹ đáp ứng tiêu chuẩn rối loạnTCSS chiếm khoảng 10%
Các yếu tố văn hoá, chấn thương tâm lý có liên quan đến tình trạng lo
âu trầm cảm của các bà mẹ như: sống chung với gia đình chồng, thiếu sự hỗtrợ từ chồng, gia đình nhà chồng và thiếu sự hỗ trợ từ bạn bè, sự kỳ vọng vềgiới tính của trẻ, kiêng khem sau sinh theo văn hoá truyền thống sẽ làm tăngnguy cơ lo âu và rối loạn TCSS ở các bà mẹ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.3 Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng phần mềm SPSS 21.0.
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa lý luận
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
9 Một số vấn đề liên quan đến đạo đức nghiên cứu
Trang 6- Quy trình, nội dung, mục đích nghiên cứu được giới thiệu chi tiết dến kháchthể nghiên cứu.
- Những khách thể nghiên cứu được lựa chọn hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụkhi tham gia nghiên cứu, ký xác nhận đồng ý tham gia nghiên cứu
- Cán bộ nghiên cứu tôn trọng quyết định của khách thể nghiên cứu Kháchthể nghiên cứu có thể quyết định không tiếp tục tham gia nghiên cứu bất kỳthời điểm nào
- Thông tin cá nhân được tách riêng và mã hóa để đảm bảo tính bảo mật
- Khách thể được giới thiệu về người chịu trách nhiệm về quyền lợi ngườinghiên cứu và số điện thoại liên lạc
- Quá trình khảo sát bằng bảng hỏi được sự đồng ý và thông qua của lãnh đạocác trạm y tế nơi tác giả chọn làm địa bàn thực hiện nghiên cứu
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụlục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Vấn đề thuật ngữ và lịch sử phát triển
1.2 Một số kết quả nghiên cứu về TCSS ở nước ngoài
Chandran (2002) nghiên cứu trên 359 bà mẹ cho tỷ lệ 11% bà mẹTCSS [29,tr 499-504]
Emma Robertson (2004) trên 14000 đối cho tỷ lệ TCSS chiếm 10 -15%[39, tr 289-295]
Lee (2007) trên T1: 335 (bà mẹ đang mang thai), T2: 244 thì có tới24,2% bà mẹ TCSS với EPDS [56,tr 77-103]
Tóm lại, qua các nghiên cứu đi trước về TCSS ở các nước trên thế giới
có thể thấy rằng tỷ lệ TCSS được phân bố rộng rãi từ 10 - 40% dựa trên bộcông cụ đo EPDS của Edinbugh Các bà mẹ ở nước có nền công nghiệp pháttriển có ít nguy cơ mắc TCSS hơn các nước có nền công nghiệp đang pháttriển Các biểu hiện lo âu, trầm cảm có thể xuất hiện trước khi sinh và sau khisinh ( phổ biến sau khi sinh 3 – 6 tháng) Các yếu tố nguy cơ của TCSS cũngchỉ ra theo như tổng kết của Klainin và Gordon Arthur năm (2009) cho thấyTCSS có thể gồm 5 nhóm nguyên nhân: (i) Các yếu tố vật lý/ sinh học nhưtình trạng sức khoẻ của mẹ, triệu chứng tiền kinh nguyệt, ăn những thựcphẩm với hàm lượng Vitamin B2 quá cao, chế độ ăn uống không hợp lý; (ii)Các yếu tố tâm lý như các biểu hiện về cảm xúc, nhận thức hành vi của bệnhtrầm cảm trong thời gian mang thai, lo lắng trước sinh, lịch sử trầm cảm trướcđó; (iii) Yếu tố sản phụ là những biến chứng trong quá trình mang thai, pháthai, thai chết lưu, có thai ngoài ý muốn; (iv) Các yếu tố về sự khủng hoảngnhư tài chính, nạn đói, nghề nghiệp không ổn định, làm công việ nôi trợ; (v)Các yếu tố văn hoá như thói quen về tắm gội, thói quen ăn uống, hoạt động đilại [53, tr 1355-1373]
1.3 Một số kết quả nghiên cứu TCSS ở Việt Nam
Trang 8Nghiên cứu khác của Lê Quốc Nam (2002) khảo sát trên 321 sản cho thấy
Tóm lại, các nghiên cứu được tiến hành trên quần thể phụ nữ Việt Namcũng có nhiều điểm tương đồng với các bằng chứng nghiên cứu thu được từnước ngoài Bằng chứng nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TCSS của Việt Nam biếnđộng tuỳ thuộc vào các biến khác nhau như nhóm cộng đồng, nhóm BV,nhóm sống ở khu vực nông thôn, nhóm sống ở thành thị…Các nghiên cứuđược sử dụng thang đo EPDS với điểm cắt biến thiên trong khoảng 9 – 13điểm Nghiên cứu đi trước cũng chỉ ra các yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệTCSS như lo âu trầm cảm trong quá trình mang thai, thiếu sự hỗ trợ từ giađình, chồng, bạn bè, sang chấn tâm lý, khó khăn trong quá trình chăm sóc trẻsau sinh, thời gain nằm viện của mẹ và trẻ…
Yếu tố văn hoá truyền thống và TCSS qua các công trình nghiên cứu trênthế giới và Việt Nam
Trên thế giới, một số nghiên cứu đã chỉ ra mâu thuẫn trong chuẩn mực vănhoá có ảnh hưởng đến TCSS, điển hình là nghiên cứu của Mathey (2002) trêncác bà mẹ Trung Quốc di dân sang Úc Nghiên cứu phát hiện ra 18% các bà
mẹ Trung Quốc mắc TCSS do mâu thuẫn về tập tục truyền thống [53,tr 1373]
1355-Theo Klainin (2009) các nghi lễ truyền thống ảnh hưởng có ý nghĩa vớiTCSS trong đó dặc biệt là kiêng khem sau sinh [53, tr 1355-1373]
Trang 9Tiêu biểu là nghiên cứu của Fisher (2004) trên 506 bà mẹ Việt Nam đangsinh sống tại TPHCM Tỷ lệ những bà mẹ thực hiện theo nguyên tắc kiêngkhem trên đó có điểm cao hơn trên thang đo sàng lọc EPDS [42, tr 1353-1360]
Như vậy có thể nói rằng yếu tố văn hoá truyền thống đã có ảnh hưởng nhấtđịnh tới sức khoẻ của các bà mẹ thời kỳ hậu sinh đặc biệt những thực hànhkiêng khem theo phong tục và niềm tin văn hoá một mặt có thể đem lại sứckhoẻ tốt cho các bà mẹ mặt khác nó cũng có thể đem lại sự cô lập và tăngnguy cơ TCSS Tuy nhiên, để có kết luận cuối cùng về vấn đề này vẫn cần cóthêm các bằng chứng nghiên cứu đáng tin cậy
1.4 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.4.1 Khái niệm văn hoá
1.4.2 Khái niệm chấn thương tâm lý
1.5 Một số quan điểm về bệnh sinh của TCSS
1.5.1 Nguyên nhân sinh học
Rối loạn TCSS có liên quan đến việc thay đổi hormone đặc biệt làhormone sinh dục trong quá trình mang thai và đặc biệt là sau sinh [66,tr2646-2685]
1.5.2 Nguyên nhân tâm lý, xã hội
Trang 10 Thay đổi về tâm lý ở phụ nữ khi có thai
Quý I: Mang thai thường đi kèm với lo lắng, căng thẳng đặc biệt làmang thai lần đầu Trong quý đầu người phụ nữ không nhìn thấy những thayđổi xảy ra trong cơ thể của họ nhưng giai đoạn này vô cùng quan trọng Giaiđoạn này nhiều phụ nữ lo lắng thai nhi cử động trong tử cung Với phụ nữmang thai lần đầu họ thường lo lắng sảy thai, thai chết lưu …mặc dù họ biếtđiều đó là không có căn cứ Ngoài ra phụ nữ mang thai còn có thể có biểuhiện mệt mỏi, giảm trí nhớ, buồn nôn, đau đầu… và sợ một số mùi thức ănnhất định
Quý II: Những mệt mỏi căng thẳng, lo âu trong quý I đã qua thì sự thayđổi cảm xúc của quý II lại bắt đầu Mặc dù những cảm giác trong giai đoạnnày thường ở mức độ nhẹ hơn nhưng đôi khi nó cũng gây ra những vấn đềtương tự Họ lo lắng về việc chuẩn bị cho sự ra đời của đứa trẻ, tuy nhiên các
bà mẹ vẫn còn căng thẳng mệt mỏi, lo âu nhưng thường ở mức độ nhẹ hơn
Quý III: Trong giai đoạn này người phụ nữ mong đợi đến kỳ sinh đẻ và
họ phải đối phó với sự thay đổi đáng kể về mặt cơ thể Một vài phụ nữ thấychán nản về cơ thể của mình, cảm thấy mình không còn hấp dẫn nữa, thấymình đang xấu đi…Cảm giác sợ mất đứa trẻ thường biến mất ở giai đoạn nàynhưng lại xuất hiện những lo lắng về sự xuất hiện của đứa trẻ, lo lắng cuộcchuyển dạ sắp tới của bản thân [47,tr 25-26][38, tr 1-11]
Thay đổi tâm lý ở phụ nữ sau sinh
Biểu hiện rõ nhất của phụ nữ sau sinh là dễ xúc động, dễ tủi thân, dễkhóc…
Lo sợ là cảm giác gặp hầu hết ở các bà mẹ: như lo trẻ ăn chưa no, sợ trẻ
bị ốm, nhiều khi lo lắng không có nguyên nhân rõ ràng
Cáu gắt là một triệu chứng thường gặp ở phụ nữ sau sinh do họ bị hạnchế giao tiếp, bận rộn chăm sóc trẻ… thường có cảm giác khó chịu, bức bối
dễ cáu gắt [21]
Trang 11 Nguyên nhân tâm lý
Có thể có một vài mâu thuẫn trong gia đình mà không được giả quyếttriệt để gây ra áp lực dẫn đến mất cân bằng sinh lý Vấn đề về giới tính củađứa trẻ cũng có thể là một trong những nguyên nhân khiến người phụ nữ mắcTCSS Do họ phải chịu áp lực trong gia đình chồng về việc sinh con trai nênkhi thấy đứa trẻ không như mong đợi người phụ nữ dễ có tâm lý chán nản,buồn bã Nhiều bà mẹ do không chuẩn bị chu đáo khi sinh con cả về tâm lý
và về kinh tế nên khi phải thay đổi làm mẹ lúng túng, lo lắng về việc chămsóc con khiến người phụ nữ bị áp lực nặng nề Tình trạng này kéo dài khiếnngười phụ nữ mắc phải chứng trầm cảm sau sinh
Các stress trong gia đình và xã hội
Trong thời kỳ mang thai đặc biệt là sau sinh, cơ thể người phụ nữ có sựthay đổi lớn về mọi mặt… kèm theo sự kiệt sức do quá trình chuyển dạ, phảichăm sóc con vào ban đêm… làm cho họ mệt mỏi, tính khí thay đổi thấtthường, trở nên khó tính, cố chấp, cáu gắt dễ tủi thân [37] Chính vì vậy tronggiai đoạn này người phụ nữ rất cần sự chia sẻ, quan tâm chăm sóc của giađình, bạn bè và đặc biệt là sự quan tâm chia sẻ của người chồng Ngoài ra còn
có rất nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng đến người mẹ như kinh tế, các sự kiệncăng thẳng trong cuộc sống, đặc biệt là các chấn thương tâm lý xảy ra ở giaiđoạn gần sinh và sau sinh
Các yếu tố văn hoá truyền thống
Có thể nói các nghi lễ truyền thống ( đặc biệt là các nước Châu Á) thìmột trong những yếu tố liên quan tới TCSS là yếu tố kiêng khem theo truyềnthống từ xưa để lại Ở khía cạnh nào đó nó có thể đem lại tính tích cực chocác bà mẹ sau sinh tuy nhiên ở khía cạnh khác kiêng khem sau sinh lại khiếncho các bà mẹ khó chịu, gượng ép khi thực hiện nó
Trang 12Địa bàn nghiên cứu là 6 trạm y tế ( Hà Hồi, Liên Phương, Khánh Hà,Văn Bình, Hiền Giang, Văn Phú) thuộc huyện Thường Tín – Hà Nội
2.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Tổ chức nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu làm 2 đợt:
-Đợt 1: Các bà mẹ mang thai (6-9 tháng)
-Đợt 2: Các bà mẹ sau sinh (3 tháng)
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bộ công cụ đo
- Thang đo TCSS (EPDS)
- Thang đo hài lòng trong quan hệ hôn nhân DADS
- Thang đánh giá PDPI-R phiên bản trước sinh
- Thang đánh giá PDPI-R phiên bản sau sinh
- Thang đánh giá lo âu GAD-7
- Thang đánh giá trầm cảm PHQ-9
- Các câu hỏi kiêng khem sau sinh theo kinh nghiệm truyền thống
Trang 13CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của nhóm khách thể nghiên cứu
3.1.1 Tuổi của nhóm khách thể nghiên cứu
3.1.2 Trình độ học vấn của nhóm khách thể nghiên cứu
3.1.3 Nghề nghiệp cử nhóm khách thể nghiên cứu
3.1.4 Thu nhập của nhóm khách thể nghiên cứu
3.1.5 Tuổi kết hôn của nhóm khách thể nghiên cứu
3.1.6 Tình trạng sống chung của nhóm khách thể nghiên cứu
3.2 Thực trạng lo âu và trầm cảm của các bà mẹ trước khi sinh (6-9 tháng) và các yếu tố liên quan.
3.2.1.Thực trạng lo âu và trầm cảm của các bà mẹ trước khi sinh (6-9 tháng) theo thang sàng lọc lo âu GAD-7 và thang sàng lọc trầm cảm PHQ-9
Theo thang sàng lọc lo âu GAD-7 thì phần lớn không có biểu hiện lo âuchiếm tỷ lệ (76,9%), chỉ có (18,7%) có biểu hiện tối thiểu của lo âu, có(3,7%) khách thể nghiên cứu có biểu hiện đáp ứng lo âu và chỉ có duy nhất 1trường hợp (0,7%) có biểu hiện lo âu nặng cần can thiệp
Theo thang sàng lọc trầm cảm PHQ-9 thì phần lớn khách thể nghiêncứu không đáp ứng các biểu hiện trầm cảm chiếm (64,9%), tỷ lệ khách thể cócác triệu chứng tối thiểu, có nguy cơ bị trầm cảm chiếm (30,6%), có (3,7%)đáp ứng tiêu chuẩn của trầm cảm nhẹ và chỉ có 1 khách (0,7%) thể đáp ứngtiêu chuẩn của trầm cảm nặng
3.2.2 Tương quan giữa lo âu, trầm cảm trước sinh và các biến số nghiên cứu khác
- Tương quan giữa lo âu với các biến số nghiên cứu
Lo âu có mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa điểm số lo
âu và (i) sự thống nhất mục tiêu giá trị giữa vợ và chồng (ii) nhận được sự hỗtrợ từ chồng (iii) nhận được sự hỗ trợ từ gia đình và (iv) sự hài lòng về cuộc