Tiếng ồn là một dạng ô nhiễm môi trường rất nguy hại, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng nhưng lại ít được quan tâm như các loại ô nhiễm khác như: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN –
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN –
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH Khóa: 44 MSSV: 1953801011016
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S PHAN THỊ KIM NGÂN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
“Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Phan Thị Kim Ngân, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.”
Chữ ký sinh viên
Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NEA Cơ quan Môi trường quốc gia Singapore Nghị định số 45/2022/NĐ-CP
Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Chính phủ quy định về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Nghị định số 144/2021/NĐ-CP
Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng
12 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình
Nghị định số 155/2016/NĐ-CP
Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng
11 năm 2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN 6
1.1 Khái quát về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 6
1.1.1 Khái niệm tiếng ồn, ô nhiễm tiếng ồn và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 6
1.1.2 Nguyên nhân và tác hại của ô nhiễm tiếng ồn 8
1.1.3 Thực trạng ô nhiễm tiếng ồn và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn hiện nay 14
1.1.4 Sự cần thiết của việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 16
1.2 Khái quát về pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 17
1.2.1 Khái niệm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 17
1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 18
1.2.3 Nội dung của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 21
1.2.4 Vai trò của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 24
2.1 Về chủ thể chịu trách nhiệm về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 24
2.1.1 Thực trạng pháp luật về chủ thể chịu trách nhiệm về kiểm soát ô nhiễm
tiếng ồn 24
2.1.2 Một số kiến nghị hoàn thiện đối với pháp luật về chủ thể chịu trách nhiệm trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 31
2.2 Về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 33
2.2.1 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 33
2.2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện đối với pháp luật về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 37
2.3 Về quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn 39
2.3.1 Thực trạng pháp luật về quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn 39
Trang 62.3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện đối với quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn 42
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môi trường là không gian sinh sống, tồn tại và là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho đời sống của con người Hiện nay, với sự phát triển không ngừng của những tiến bộ khoa học, kỹ thuật xuất phát từ mong muốn phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống của con người ngày một cao hơn bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn tồn tại một vấn đề cấp bách, được xem là báo động toàn cầu mang tên
“ô nhiễm môi trường” Đầu tháng 5/2022, Tạp chí y khoa quốc tế (The Lancet) đã
công bố nghiên cứu cho thấy có đến 9 triệu người chết vì ô nhiễm môi trường mỗi năm, nhiều hơn cả số người chết vì bệnh tật, khủng bố và chiến tranh1 Trong số những loại ô nhiễm môi trường được nhắc đến thường xuyên không thể không kể đến
đó chính là ô nhiễm tiếng ồn Theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới (WHO), trong vòng ba thập kỷ trở lại đây, ô nhiễm tiếng ồn đang trở thành vấn đề gây bức xúc, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và chất lượng cuộc sống của con người2 Cũng theo WHO, sự ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe con người được xếp thứ hai sau bụi3
Ô nhiễm tiếng ồn ảnh hưởng đến hàng triệu người mỗi ngày, việc tiếp xúc với tiếng
ồn về lâu dài có thể gây nên những vấn đề nguy hiểm về sức khỏe Không những vậy
ô nhiễm tiếng ồn còn tác động đến hệ sinh thái, nền kinh tế, làm cho sự phát triển của các quốc gia có thể rơi vào trạng thái mất ổn định cân bằng
Tiếng ồn là một dạng ô nhiễm môi trường rất nguy hại, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng nhưng lại ít được quan tâm như các loại ô nhiễm khác như: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất,… Việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại Việt Nam hiện nay được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường (Luật BVMT) 2020 và một
số văn bản pháp luật khác có liên quan Tuy nhiên các quy định của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn vẫn chưa thực sự đầy đủ, việc ban hành và áp dụng pháp luật trên thực tế chưa có sự đồng bộ đã dẫn đến việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn không mang lại hiệu quả cao khi ô nhiễm tiếng ồn vẫn hằng ngày xảy ra, kéo dài từ năm này sang năm khác và không ngừng gia tăng Thậm chí đã có những trường hợp phát sinh mâu thuẫn từ ô nhiễm tiếng ồn dẫn đến ẩu đả, đánh nhau và xảy ra án mạng Chính
vì vậy, việc hoàn thiện các cơ sở pháp lý về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là hoàn toàn cần thiết, góp phần ngăn chặn, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm tiếng ồn như hiện nay
1 Minh Châu, “Ô nhiễm – mối đe dọa toàn cầu”, 818550.html , truy cập ngày 28/02/2023
https://www.sggp.org.vn/o-nhiem-moi-de-doa-toan-cau-2 MetroTech, “Ô nhiễm tiếng ồn ở Việt Nam và những mối lo báo động”, on-va-nhung-moi-lo-dang-bao
https://metrotech.vn/o-nhiem-tieng-dong/?fbclid=IwAR0XF6Qqs3XrpdkmdFVvXJBSEv7qwx3_Q4IV9jQ5lz1YQ0tos6m-XjTxgDs , truy cập ngày 28/2/2023
3 Hồ Thị Hồng, “Tác hại của ô nhiễm tiếng ồn đối với sức khỏe con người”, hai-cua-o-nhiem-tieng-on-doi-voi-suc-khoe-con-nguoi , truy cập ngày 01/3/2023
Trang 8http://www.dongnaicdc.vn/tac-Từ những cơ sở thực tiễn và lý luận xuất phát từ các quy định pháp luật nêu trên, tác giả nhận thấy ô nhiễm tiếng ồn tại Việt Nam là vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn Chính vì vậy, với mong muốn thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu có chọn lọc từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau tác giả có thể đưa ra những phân tích, so sánh, đánh giá về vấn đề kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn của pháp luật Việt Nam hiện nay Từ đó, đề xuất một số kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm tiếng ồn tại Việt Nam Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Pháp luật về kiểm soát
ô nhiễm tiếng ồn – Thực trạng và hướng hoàn thiện” để làm Khóa luận tốt nghiệp Cử
nhân Luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, tác giả nhận thấy số lượng bài viết nghiên cứu về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn vẫn còn hạn chế nhưng cũng đã cho thấy sự quan tâm của các tác giả về vấn đề này Một số bài viết có thể kể đến như:
Nguyễn Thị Phương Lan (2017), “Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật
bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Học viện Khoa học xã hội Công trình nghiên cứu của tác giả đã làm rõ các quy định của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn và trình bày được thực trạng kiểm soát
ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, đề tài này được thực hiện vào năm 2017 tính đến thời điểm hiện tại là một khoảng cách khá xa khi hiện nay đã
có Luật bảo vệ môi trường mới (2020) thay thế cho Luật bảo vệ môi trường cũ (2014)
mà tác giả sử dụng để nghiên cứu
Nguyễn Lưu Lan Phương (2018), “Pháp luật Liên minh châu Âu và một số
nước châu Âu về kiểm soát nguồn ồn giao thông – Bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam”, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 36/2018 Tác giả bài viết đã làm rõ được
khái niệm ô nhiễm tiếng ồn và nguồn ồn giao thông để từ đó đi vào nghiên cứu pháp luật về kiểm soát nguồn ồn giao thông ở châu Âu và so sánh với thực tiễn thi hành pháp luật về chống ô nhiễm nguồn giao thông tại Việt Nam Từ đó, tác giả đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện khung pháp lý về kiểm soát nguồn ồn giao thông
Hoàng Gia Trang (2019), “Thực trạng ô nhiễm âm thanh tại các trường trung
học phổ thông trên địa bàn Hà Nội”, Tạp chí khoa học giáo dục Việt Nam, số 22 tháng
10/2019, tr94-tr98 Trong bài viết này, tác giả đã làm rõ định nghĩa ô nhiễm âm thanh
và ô nhiễm âm thanh học đường Bài viết cũng đưa ra tiêu chuẩn xác định mức độ ô nhiễm âm thanh cùng với những số liệu khảo sát thực tế từ các trường Trung học phổ thông Ngoài ra, bài viết cũng chỉ ra những nguồn gây ô nhiễm âm thanh, hậu quả
Trang 9gây ra và cho ý kiến đề xuất hạn chế ô nhiễm âm thanh ở trường học Bài viết khá đầy đủ và chi tiết, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu bài viết chỉ nằm trong giới hạn các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội
Nguyễn Hoàng Long (2022), “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Thông qua bài viết,
tác giả đã có những nghiên cứu về pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn và đưa ra những giải pháp mới góp phần trong việc hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại Việt Nam
Nguyễn Thái Bình (chủ nhiệm đề tài) (2022), Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
tiếng ồn – Thực tiễn áp dụng tại thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp khoa, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Công trình nghiên cứu của hai tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, về mặt thực tiễn thì công trình đang dừng lại ở việc nghiên cứu trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh nên vẫn chưa thực sự bao quát đầy đủ
Trần Linh Huân (2022), “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn và một số
vấn đề pháp lý đặt ra”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Bài viết đã tập trung phân tích
và làm rõ sự cần thiết của việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, đồng thời chỉ ra thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
Tác giả đã tiến hành tìm kiếm tài liệu thông qua hai nguồn chính là văn bản giấy và Internet Tuy nhiên, do hạn chế về không gian tìm kiếm cũng như vốn ngoại ngữ nên chỉ có thể tiếp cận được một số bài viết như trên Tác giả nhận thấy số lượng các đề tài nghiên cứu về ô nhiễm tiếng ồn chưa nhiều, các đề tài chủ yếu nghiên cứu trên một phạm vi, một đối tượng nhất định và còn hạn chế những đề tài liên hệ đến pháp luật nước ngoài Do đó, trong phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả có kế thừa những vấn đề lý luận trong các đề tài trên và sẽ có những nghiên cứu, tìm hiểu từ nhiều nguồn tài liệu khác để làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay cũng như đề xuất các kiến nghị hoàn thiện
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Tác giả nghiên cứu đề tài với mục đích làm rõ các quy định của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn và thực trạng áp dụng pháp luật trong kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn của pháp luật Việt Nam hiện nay Từ đó, xác định được những ưu điểm và hạn chế nhằm đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện chế định pháp lý về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn ở Việt Nam
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Các quy định về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn của pháp luật Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu đề tài thông qua việc xem xét, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về ô nhiễm tiếng ồn và tập trung vào các nội dung chính như sau:
- Thứ nhất, thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về chủ thể chịu trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn;
- Thứ hai, thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của
cơ quan Nhà nước trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn;
- Thứ ba, thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn;
- Cuối cùng, thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi
vi phạm về ô nhiễm tiếng ồn
Ngoài việc nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, tác giả còn có sự so sánh, đánh giá với pháp luật nước ngoài trong một số nội dung nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất
cả các chương của bài làm để phân tích, bình luận những vấn đề mang tính lý luận cũng như các quy định cụ thể của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn thông qua văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, tài liệu, bài viết, tạp chí, có liên quan để bài viết vừa có tính hệ thống vừa có tính chuyên sâu Khái quát lại các vấn đề đã phân tích, bình luận, từ đó đưa ra các kết luận, đánh giá và các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn ở Việt Nam
Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu tại Chương 2 của bài viết để so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật nước ngoài với pháp luật Việt Nam Từ đó làm cơ sở để đề xuất một số kinh nghiệm trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện nay
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Bên cạnh việc nghiên cứu các quy định về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn thông qua các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam
và nước ngoài thì tác giả còn nghiên cứu, tìm hiểu từ các nguồn khác như: các bài báo, bài nghiên cứu khoa học, bình luận và đánh giá của tác giả khác
Trang 116 Bố cục tổng quát
Khóa luận gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong
đó, phần nội dung gồm hai chương với những nội dung chính sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn và pháp luật
về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn và một số kiến nghị hoàn thiện
Trang 12CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN 1.1 Khái quát về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
1.1.1 Khái niệm tiếng ồn, ô nhiễm tiếng ồn và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Để đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, trước tiên tác giả sẽ làm rõ các khái niệm bao gồm: tiếng ồn, ô nhiễm tiếng ồn và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn Việc làm rõ các khái niệm trên sẽ là tiền đề giúp cho quá trình nghiên cứu được chặt chẽ và logic hơn
Thứ nhất, về thuật ngữ “tiếng ồn”
Theo Từ điển Tiếng Việt (2003) do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa “tiếng” là: “Cái mà tai có thể nghe được”; “ồn” là: “Có nhiều âm thanh, tiếng động lẫn lộn,
thể về “tiếng ồn” nhưng từ hai định nghĩa nêu trên có thể hiểu rằng tiếng ồn là những
âm thanh, tiếng động lẫn lộn mà tai có thể nghe được và làm cho ta cảm thấy khó chịu khi nghe Trong bài viết của Tiến sĩ Vũ Xuân Đán cũng đưa ra định nghĩa:
“Tiếng ồn là những âm thanh không mong muốn, gây khó chịu cho người nghe, ảnh
Thông tư số 68/2014/TT-BGTVT về Ban hành quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia
về kiểm soát tiếng ồn trên tàu biển, tại mục Giải thích từ ngữ đã định nghĩa: “Tiếng
ồn là tất cả các âm thanh có thể làm tổn hại đến khả năng nghe hoặc gây hại cho sức khỏe hoặc gây các nguy hiểm hoặc sao nhãng khác”
Đạo luật ngăn ngừa ô nhiễm của Hàn Quốc định nghĩa “tiếng ồn là âm thanh
Hoa về Ngăn ngừa và Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn 2022 được định nghĩa là “âm
thanh được tạo ra trong quá trình sản xuất công nghiệp, xây dựng, giao thông và đời
Như vậy, tổng hợp từ những nguồn trên, tác giả cho rằng: “Tiếng ồn là những
âm thanh không mong muốn, gây khó chịu và ảnh hưởng tiêu cực đến con người cũng như các loài động thực vật”
4 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, tr 987
5 Vũ Xuân Đán (2021), “Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn đến sức khỏe”, suc-khoe/anh-huong-cua-tieng-on-den-suc-khoe-
https://hcdc.vn/category/van-de-becff4bf4ea46662e4018be524fac57e.html#:~:text=Ti%E1%BA%BFng%20%E1%BB%93n%20l%C3%A0
%20nn%E1%BB%AFng%20%C3%A2m,%C4%91%E1%BA%BFn%20s%E1%BB%A9c%20kh%E1%BB
%8Fe%20cco%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di , truy cập ngày 01/3/2023
6 Điều 2, 공해방지법 (Đạo luật ngăn ngừa ô nhiễm Hàn Quốc)
7 Điều 2, 中华人民共和国噪声污染防治法 (Luật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Ngăn ngừa và Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn 2022)
Trang 13Thứ hai, về thuật ngữ “ô nhiễm tiếng ồn”
“Ô nhiễm tiếng ồn” là thuật ngữ chưa được định nghĩa cụ thể trong từ điển
Tiếng Việt nhưng với thuật ngữ “ô nhiễm” theo Từ điển Tiếng Việt (2003) do Hoàng Phê chủ biên đã định nghĩa thì “ô nhiễm là nhiễm bẩn tới mức có thể gây độc hại” 8
Và với khái niệm tiếng ồn như đã phân tích ở trên, “ô nhiễm tiếng ồn” về mặt ngữ nghĩa có thể được hiểu là “những âm thanh gây nguy hại” Pháp luật Việt Nam hiện
hành cũng chưa có quy định cụ thể nào đưa ra định nghĩa về ô nhiễm tiếng ồn, tại
Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 chỉ quy định: “Ô nhiễm môi
trường là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên” Trong bài viết của mình,
Tiến sĩ Bùi Kim Hiếu định nghĩa: “Ô nhiễm tiếng ồn là tập hợp những âm thanh tạp
loạn với các tần số và cường độ rất khác nhau, gây ra cảm giác khó chịu cho người nghe Những tiếng ồn có tần số âm thanh f > 20.000 Hz là siêu âm, tai người không
Theo bài viết mà trang Iberdrola đưa ra: “Không phải tất cả âm thanh được
coi là ô nhiễm tiếng ồn Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa tiếng ồn trên 65 decibel (dB) là ô nhiễm tiếng ồn Chính xác, tiếng ồn trở nên có hại khi vượt quá 75
Tổ chức Y tế Thế giới, mức âm thanh dưới 70 dB không gây hại cho các sinh vật sống, bất kể phơi nhiễm trong bao lâu hay nhất quán Phơi nhiễm trong hơn 8 giờ đến tiếng
ồn liên tục vượt quá 85 dB có thể nguy hiểm Nếu bạn làm việc trong 8 giờ hàng ngày gần với một con đường hoặc đường cao tốc đông đúc, bạn rất có thể phải chịu ô
Từ những nguồn nghiên cứu, tham khảo như trên, tác giả nhận thấy các thuật ngữ liên quan đến ô nhiễm tiếng ồn đưa ra hầu hết đều xác định được đó là những loại âm thanh bị biến đổi và gây nên nhiều mối nguy hại Cũng từ đây, tác giả cho
rằng: “Ô nhiễm tiếng ồn là sự biến đổi của âm thanh, vi phạm các quy chuẩn kỹ thuật,
tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người và các loài động thực vật”
8 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, tr 753
9 Bùi Kim Hiếu (2016), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
hiện nay, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, tr 20
10 “Noise pollution: How to reduce the impact of an invisible threat?”,
https://www.iberdrola.com/sustainability/what-is-noise-pollution-causes-effects-solutions#:~:text=WHAT%20IS%20NOISE%20POLLUTION%3F,is%20painful%20above%20120%20dB , truy cập ngày 01/3/2023
11 “Environmental Pollution Centers”, https://www.environmentalpollutioncenters.org/noise-pollution/ , truy cập ngày 01/3/2023
Trang 14Thứ ba, về thuật ngữ “kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn”
Hiện nay, thuật ngữ “kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn” vẫn chưa được quy định cụ
thể trong Từ điển Tiếng Việt cũng như các văn bản pháp luật khác Để đưa ra định
nghĩa về “kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn”, tác giả tiếp cận khái niệm này trước hết thông qua khái niệm“kiểm soát ô nhiễm” Theo quy định tại khoản 22 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, “Kiểm soát ô nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn
chặn và xử lý ô nhiễm” Từ điển Luật học giải thích kiểm soát ô nhiễm bao gồm hai
quá trình đó là:
Một là, kiểm tra về phương diện môi trường của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh kể từ khi đi vào hoạt động cho tới khi chấm dứt hoạt động và quá trình tự kiểm tra, tự giám sát của chính cơ sở sản xuất, kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động
Hai là, quá trình theo dõi, kiểm tra về phương diện môi trường đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh kể từ thời điểm các cơ sở này được cấp quyết định phê chuẩn báo cáo đánh giá tác động môi trường đến thời điểm được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường12
Trong bài viết của mình, tác giả Nguyễn Hoàng Long định nghĩa: “Kiểm soát
ô nhiễm tiếng ồn là biện pháp của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong quá trình phòng ngừa, giám sát những tác động của tiếng ồn đối với môi trường dựa trên quy chuẩn kỹ thuật môi trường, từ đó đưa ra giải pháp nhằm ngăn chặn và xử lý đối
Từ những nghiên cứu nêu trên, tác giả định nghĩa rằng: “Kiểm soát ô nhiễm
tiếng ồn là hoạt động mà các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiến hành trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý
ô nhiễm tiếng ồn”
Như vậy, thông qua các phân tích nêu trên, tác giả đã làm rõ khái niệm về
“tiếng ồn”, “ô nhiễm tiếng ồn”, “pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn” để làm
cơ sở cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo
1.1.2 Nguyên nhân và tác hại của ô nhiễm tiếng ồn
1.1.2.1 Nguyên nhân của ô nhiễm tiếng ồn
12 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: Luật Kinh tế, Luật Môi trường,
Luật Tài chính, Luật Ngân hàng, Nxb Công an nhân dân, tr 172
13 Nguyễn Hoàng Long (2022), Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, Luật Thương mại, Trường Đại học
Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 14
Trang 15Ô nhiễm tiếng ồn xuất phát từ nhiều nguyên nhân, thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu các tài liệu, bài viết, tác giả xét thấy có thể phân chia thành hai nguyên nhân chính sau đây, bao gồm:
Thứ nhất, nguyên nhân từ tự nhiên
Núi lửa, động đất, mưa bão và giông sét được xem là những nguyên nhân từ
tự nhiên gây ra ô nhiễm tiếng ồn Tuy nhiên, đối với những nguyên nhân ngày tác giả cho rằng chỉ là nguyên nhân thứ yếu bởi chỉ khi nào chúng xuất hiện thì mới gây ra
ô nhiễm tiếng ồn Trên thực tế, những nguyên nhân này có xảy ra nhưng không mang tính thường xuyên và phần lớn chỉ ảnh hưởng đến con người cũng như tự nhiên xung quanh khu vực xảy ra núi lửa, động đất hay mưa bão và giông sét Đây là những nguyên nhân xảy ra một cách ngẫu nhiên và đối với nguyên nhân này nên ưu tiên phòng thiên tai hơn là phòng ô nhiễm tiếng ồn
Thứ hai, nguyên nhân từ hoạt động của con người
Đây là nguyên nhân chính yếu gây nên ô nhiễm tiếng ồn như hiện nay, tác giả xác định bao gồm:
Một là, ô nhiễm tiếng ồn từ các phương tiện giao thông
Giao thông vận tải từ trước đến nay luôn là phương tiện giúp quá trình sản xuất vật chất diễn ra liên tục, bình thường; phục vụ nhu cầu đi lại của mọi người và thúc đẩy hoạt động kinh tế, văn hóa của các quốc gia với nhau và giữa các khu vực trong một quốc gia Với sự phát triển nhanh chóng của các đô thị trong nhiều năm trở lại đây, ô nhiễm tiếng ồn từ các phương tiện giao thông vận tải như: xe máy, xe ô tô, tàu hỏa, máy bay,… cũng ngày càng gia tăng European Environment Agency (Cơ quan Môi trường châu Âu - EEA) vào năm 2020 đã đưa ra kết luận ước tính: Khoảng
113 triệu người trên khắp châu Âu bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn của phương tiện giao thông trong suốt thời gian dài Trong đó, 22 triệu người bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn đường sắt, 4 triệu người bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn hàng không Ở hầu hết các quốc gia châu Âu, hơn 50% người dân thành thị bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn trên các đường phố trên 55 decibel (dB) cả ngày lẫn đêm, cao hơn mức khuyến nghị là 53 dB mà WHO đưa ra Đó là chưa kể thực tế, ô nhiễm tiếng ồn được dự báo sẽ ngày một tăng
do phát triển đô thị và nhu cầu đi lại ngày càng lớn trong tương lai14
Tại Việt Nam, ô nhiễm tiếng ồn xuất phát chủ yếu từ hoạt động giao thông đường bộ của ô tô, xe máy, xe mô tô, các loại xe tải, xe container đặc biệt là ở những khu đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,… Theo kết quả nghiên cứu của
Viện Sức khỏe nghề nghiệp và Môi trường “tại 12 đường và nút giao thông chính
14 Nguyễn Mai, “20% dân số châu Âu phải hứng chịu ô nhiễm tiếng ồn”, chau-au-phai-hung-chiu-o-nhiem-tieng-on-20200305220438885.htm , truy cập ngày 03/3/2023
Trang 16https://vtv.vn/suc-khoe/20-dan-so-trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, tiếng ồn trung bình vào ban ngày là 77.8 – 78.1 dB, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 7.8 – 8.1 dB Tiếng ồn tương đương trung bình vào ban đêm
giao thông đường sắt và hàng không tuy không ảnh hưởng đến phạm vi rộng như giao thông đường bộ nhưng với những khu dân cư sống gần các đường ray tàu hỏa hay gần các sân bay thì việc hứng chịu ô nhiễm tiếng ồn trong một thời gian dài là điều không thể tránh khỏi
Hai là, ô nhiễm tiếng ồn từ hoạt động xây dựng
Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng tại Việt Nam trong những năm gần đây đã mang lại những thay đổi tích cực cho diện mạo của đất nước nói chung và các thành phố lớn khác nói riêng như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,… góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ngày một có hiệu quả hơn Tuy nhiên, việc xây dựng những công trình như: chung cư cao tầng, tòa nhà văn phòng, trung tâm thương mại, các cao ốc,… với số lượng lớn như hiện nay ngoài việc gây ra những vấn đề lớn như ô nhiễm không khí thì ô nhiễm tiếng ồn cũng trở thành vấn đề đáng báo động Không giống như những hoạt động khác, hoạt động xây dựng không diễn
ra ở một địa điểm cố định mà luôn có sự thay đổi liên tục Việc di chuyển máy móc, thiết bị và vận hành chúng trong hoạt động xây dựng trong thời gian dài đã gây ra ô nhiễm tiếng ồn ảnh hưởng đến đời sống xã hội, đặc biệt là những hộ dân sinh sống gần các khu vực diễn ra hoạt động xây dựng đó Ngoài ra, một số công trình giao thông công cộng như: xây dựng, sửa sang đường xá cũng làm gia tăng ô nhiễm tiếng
ồn bởi âm thanh từ các loại máy ủi, máy trộn bê tông,… hoạt động liên tục, kéo dài Không ít các công trình vì để thực hiện kịp tiến độ đã tiến hành tăng cường xây dựng vào ban đêm, điều này không những làm cho tình trạng ô nhiễm tiếng ồn trở nên phức tạp mà còn ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người dân xung quanh
Ba là, ô nhiễm tiếng ồn từ hoạt động sản xuất, kinh doanh
Hoạt động sản suất là hoạt động vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội, đây không chỉ là hoạt động tạo ra của cải vật chất mà còn là hoạt động góp phần giải quyết nhu cầu việc làm của mọi người Tuy nhiên, ảnh hưởng từ những hoạt động này đối với môi trường là không thể không kể đến, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm tiếng ồn Tiếng ồn xuất phát từ chuyển động của các bộ phận máy móc; tiếng ồn va chạm từ quá trình hàn, rèn, dập,… nguyên vật liệu; tiếng động cơ, máy móc có công suất lớn hay tiếng nổ trong các hoạt động khai thác khoáng sản,… Đây là những tiếng ồn có cường độ âm thanh và tần số khác nhau nhưng đều có điểm chung là gây ra cảm giác
15 Hồng Nhung, “Cần sớm giải quyết tình trạng ô nhiễm tiếng ồn tại các đô thị lớn ở Việt Nam”,
viet-nam-49059.html , truy cập ngày 03/3/2023
Trang 17http://tapchimattran.vn/van-hoa-xa-hoi/can-som-giai-quyet-tinh-trang-o-nhiem-tieng-on-tai-cac-do-thi-lon-o-khó chịu, thậm chí là ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cho người lao động làm việc trong những môi trường này
Trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh của mình, không ít các cơ sở kinh doanh như: quán bar, quán karaoke, các cửa hàng thời trang, cửa hàng điện máy,…sử dụng loa có công suất lớn để phát nhạc với mục đích quảng cáo, thu hút sự chú ý hay phục vụ nhu cầu của khách hàng Việc phát nhạc bằng loa có công suất lớn diễn ra liên tục nhiều ngày, nhiều tháng thậm chí là nhiều năm đã làm ảnh hưởng đến đời sống của các hộ dân khu vực xung quanh và gây ô nhiễm tiếng ồn nghiêm trọng
Có trường hợp đã bị xử lý nhưng tình trạng này vẫn kéo dài, đặc biệt là ở các thành phố lớn có lượng dân số đông
Cuối cùng, ô nhiễm tiếng ồn từ đời sống sinh hoạt hằng ngày
Sinh hoạt hằng ngày bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, trong đó luôn có những hoạt động gây ra ô nhiễm tiếng ồn như: ăn uống, giải trí, lễ hội, tiệc tùng,… Những âm thanh này có thể không quá lớn như những nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn
mà tác giả đã trình bày như trên nhưng nếu chúng xuất hiện với tần suất liên tục trong thời gian dài thì những âm thanh này vẫn ảnh hưởng xấu đến môi trường và đặc biệt
là sức khỏe của con người
Ô nhiễm tiếng ồn xuất phát từ nguyên nhân tự nhiên và từ hoạt động của con người nhưng nguyên nhân từ hoạt động của con người vẫn là nguyên nhân chính yếu Các nguyên nhân từ hoạt động của con người gây nên tình trạng ô nhiễm tiếng ồn như tác giả đã phân tích dù ở từng lĩnh vực khác nhau nhưng đều có điểm chung đó chính là gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội của con người
1.1.2.2 Tác hại của ô nhiễm tiếng ồn
Từ những nguyên nhân gây ra ô nhiễm tiếng ồn như trên, tác giả tiếp tục đi vào phân tích những tác hại mà ô nhiễm tiếng ồn gây ra Qua tìm hiểu từ các nguồn tài liệu, tác giả xác định ô nhiễm tiếng ồn ảnh hưởng đến ba mặt chính bao gồm: sức khỏe của con người, nền kinh tế và hệ sinh thái tự nhiên
Một là, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người
Như tác giả đã đề cập ở phần mở đầu, sự ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe của con người được xếp thứ hai sau bụi WHO cũng đã có khuyến cáo rằng tiếng ồn trung bình không vượt quá 40 dB tại các khu vực dân cư vào ban đêm để phòng tránh
sự tác động đến sức khỏe16
Tác hại mà tiếng ồn gây ra đối với con người đầu tiên phải kể đến đó là các bệnh về thính giác, sau đó là hệ thần kinh và tim mạch Tiếp xúc với tiếng ồn cao lâu
16 Vũ Xuân Đán, “Ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe”,
https://hcdc.vn/hoidap/index/chitiet/becff4bf4ea46662e4018be524fac57e , truy cập ngày 21/10/2022
Trang 18ngày sẽ dẫn tới bệnh điếc và đãng trí “WHO cảnh báo 25% dân số thế giới sẽ gặp
phải các vấn đề về thính giác vào năm 2050 Số người có nguy cơ mất thính giác có
Tiếng ồn còn tác động lên các dây thần kinh kết nối đến tai gây ra hiện tượng viêm
và sẽ lan rộng đến não bộ làm giảm nhận thức hay sa sút trí tuệ Không những vậy,
hệ miễn dịch của con người cũng có thể bị suy giảm vì ô nhiễm tiếng ồn bởi khi tiếp xúc với tiếng ồn liên tục trong thời gian dài sẽ gây ra hiện tượng tăng huyết áp và tăng lượng đường trong máu, làm cho khả năng chống chọi bệnh tật của cơ thể suy giảm WHO cũng đã chứng minh rằng sự ảnh hưởng của huyết áp do tiếp xúc lâu dài với tiếng ồn từ 67-70 dB sẽ gây nguy cơ tăng huyết áp và tăng tỉ lệ mắc bệnh động mạch vành Bên cạnh đó, với mức âm lượng trên 50 dB vào ban đêm có thể gây nhồi máu cơ tim do cơ thể sản xuất quá nhiều cortisol18 liên tục Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ cũng chỉ ra rằng khi sản phụ tiếp xúc với tiếng ồn quá lớn hoặc quá lâu, mạch máu sẽ bị co lại, không đủ dưỡng khí cho thai nhi khiến trẻ sinh ra bị thiếu cân19
Ô nhiễm tiếng ồn cũng là nguyên nhân gây nên tình trạng mất ngủ, nhất là đối với người già và trẻ nhỏ khi đây là hai đối tượng có hệ miễn dịch không tốt, gây ra các bệnh như: tim mạch, tiểu đường, béo phì,…Chất lượng giấc ngủ giảm đáng kể vì khi tiếp xúc với tiếng ồn bộ não bị kích thích hoạt động không ngừng nghỉ Do đó, hiệu quả học tập, làm việc cũng bị ảnh hưởng khi môi trường xung quanh quá ồn ào, não bộ phải luôn cố gắng lọc bỏ các tạp âm để con người có được sự tập trung Cũng
vì điều này mà bộ não mất đi nguồn năng lượng khiến cho con người ghi nhớ kém hơn, ít năng động và luôn trong trạng thái mệt mỏi, suy nhược20
Ngoài ra, tiếng ồn còn ảnh hưởng đến hành vi của con người Tiếp xúc với tiếng ồn sẽ không được cho là tạo ra hành vi hung hăng, tuy nhiên khi kết hợp với sự khiêu khích, tức giận hoặc thù địch trước đó, các chất kích thích hoặc các tác nhân tâm sinh lý khác thì tiếng ồn có thể tạo ra hành vi hung hăng ở con người21 Khi sống chung với tiếng ồn trong một thời gian dài sẽ khiến con người luôn trong trạng thái
19 WiseVietnam, “Tiếng ồn là gì? Tác hại của ô nhiễm tiếng ồn đối với cuộc sống”,
https://wisevietnam.vn/tieng-on-la-gi/ , truy cập ngày 03/3/2023
20 Trần Thanh Long, “8 tác động của ô nhiễm tiếng ồn lên sức khỏe”, tac-dong-cua-o-nhiem-tieng-on-len-suc-khoe-va-cach-phong-tranh/, truy cập ngày 03/3/2023
https://youmed.vn/tin-tuc/diem-mat-8-21 Hiral Jariwala et al, “Noise Pollution & Human Health: A Review”, Conference: Noise and Air
Pollution: Challenges and Opportunities, 3/2017, p.2,
https://www.researchgate.net/publication/319329633_Noise_Pollution_Human_Health_A_Review , truy cập ngày 05/3/2023
Trang 19căng thẳng, tiêu cực, dễ cáu gắt, tức giận và thậm chí là khó kiềm chế, kiểm soát hành
vi của mình Một vụ việc thực tế xảy ra tại Thành phố Đà Nẵng khi mâu thuẫn xảy ra
từ việc hát karaoke gây ồn ào tại phòng trọ không giải quyết được bằng lời nói đã dẫn đến hành vi đánh nhau giữa T và Lê Công Bình, hậu quả làm T tử vong tại chỗ22 Qua vụ việc trên có thể thấy rằng ô nhiễm tiếng ồn không chỉ đơn thuần tác động đến đời sống hằng ngày và sức khỏe mà còn là chất xúc tác hình thành nên các hành vi vi phạm pháp luật của con người
Hai là, ô nhiễm tiếng ồn ảnh hưởng đến nền kinh tế
Nhân ngày Nghe thế giới (03/3), WHO đã đưa ra công bố rằng ô nhiễm tiếng
ồn gây tổn thất cho thế giới khoảng từ 750 tỷ USD đến 790 tỷ USD mỗi năm23 Sống trong môi trường ô nhiễm tiếng ồn sẽ làm cho con người mắc các bệnh nguy hiểm, nếu không được tiếp cận các biện pháp chữa trị có hiệu quả, về lâu dài có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống y tế của mỗi quốc gia khi số lượng bệnh nhân mắc bệnh từ ô nhiễm tiếng ồn ngày một tăng lên Không những vậy, với xu hướng người bệnh ngày càng trẻ hóa như hiện nay khi ô nhiễm tiếng ồn làm suy giảm sức khỏe nghiêm trọng sẽ ảnh hưởng đến lực lượng lao động chính trong xã hội Ngoài ra, một quốc gia mà ở đó việc kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm tiếng ồn nói riêng không được kiểm soát có hiệu quả thì sẽ khó có thể thu hút được nguồn vốn
từ các nhà đầu tư nước ngoài
Ba là, ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên
Tiếng ồn từ hoạt động của con người hiện nay có những tác động không nhỏ đối với hệ sinh thái Qua thực hiện khảo sát những quần thể thực vật ở New Mexico
bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn do con người tạo ra trong suốt 15 năm, các nhà nghiên cứu
ở Mỹ đã phát hiện ra rằng, số lượng cây thông Pinyon non ở những nơi ồn ào ít hơn 75% so với các nơi yên tĩnh Clinton Francis, giáo sư sinh học tại Đại học bang
California, đồng tác giả nghiên cứu, cho biết: "Ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn do
con người gây ra đang ngày càng gia tăng trong cấu trúc của các quần thể thực vật Những gì chúng ta đang thấy là việc loại bỏ tiếng ồn cũng không thể giúp hệ sinh
Vương quốc Anh có hiện tượng hót cao hơn so với những cá thể cùng loài sống trong rừng Sự thay đổi này cũng xuất hiện ở côn trùng, châu chấu và ếch sống gần các làn
Trang 20https://vtv.vn/the-gioi/o-đường ôtô chạy Trong những năm gần đây, ô nhiễm tiếng ồn đã tăng gấp đôi tại nhiều công viên ở Mỹ Ô nhiễm tiếng ồn làm cho các giống chim di cư bị đẩy đi xa hơn và ngăn cản chúng phân phối hạt giống ở những khu vực chúng thường sinh sống, điều này đã khiến cho đời sống của các loại thực vật bị đe dọa25 Các đại dương rộng lớn hiện nay đều có sự xuất hiện của tiếng ồn động cơ và sóng siêu âm từ các tàu thuyền và các thiết bị hiện đại mà con người mang đến đã khiến cho cá voi không thể nghe thấy các xung định vị bằng tiếng vang để xác định vị trí con mồi, các loài cá đến mùa sinh sản không thể tìm thấy nhau vì tiếng ồn của máy móc26 Có thể thấy ô nhiễm tiếng ồn ảnh hưởng rất lớn đối với hệ sinh thái hiện nay, nếu vẫn không có biện pháp ngăn chặn, giảm thiểu thì suy giảm hệ sinh thái và mất đa dạng sinh học xảy ra là điều tất yếu
Có thể thấy rằng, ô nhiễm tiếng ồn tác động tiêu cực đến đời sống của con người không chỉ về sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến hành vi và tinh thần Ngoài ra,
ô nhiễm tiếng ồn cũng là tác nhân đe dọa đến môi trường sống tự nhiên và các loài sinh vật Điều này đòi hỏi cần phải có các biện pháp nhằm ngăn chặn, giảm thiểu để kiểm soát một cách có hiệu quả tình trạng ô nhiễm tiếng ồn như hiện nay
1.1.3 Thực trạng ô nhiễm tiếng ồn và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn hiện nay
Ô nhiễm tiếng ồn được xem là tai họa giết chết hàng ngàn người ở châu Âu mỗi năm Ở nhiều trung tâm đô thị, hơn một nửa dân số tiếp xúc với mức âm thanh cao hơn mức khuyến nghị của Liên minh Châu Âu chủ yếu là do họ sống và làm việc gần những con đường đông đúc Theo Cơ quan môi trường châu Âu - EEA, tiếng ồn
là một trong những nhân tố khiến khoảng 48.000 trường hợp mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ mỗi năm; khoảng 12.000 ca tử vong sớm trên khắp châu Âu do tiếp xúc thường xuyên với ô nhiễm tiếng ồn Giao thông đường bộ là nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn chính ở châu Âu, những dự thảo ước tính của Cơ quan môi trường châu Âu - EEA đưa ra cho thấy số người thường xuyên bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm tiếng ồn từ giao thông có thể sẽ tăng lên vào năm 203027
Châu Á là một trong những nơi ồn ào nhất trên thế giới với mức âm thanh không lành mạnh ở nhiều thành phố đông dân nhất28 Và Ấn Độ chính là quốc gia ô
https://www.politico.eu/article/eu-france-paris-european-green-deal-noise-pollution-in-cities-sounds-like-a-28 Jaime Ramos, “Noise Pollution: How Noise Is Harming Our Cities”, pollution-impact-asia-america-europe-africa-
Trang 21https://tomorrow.city/a/what-is-noise-nhiễm tiếng ồn cao nhất Dữ liệu nghiên cứu cho thấy một số thành phố của Ấn Độ
có mức độ tiếng ồn lớn hơn 75dB và trong thời gian ùn tắc giao thông cao điểm âm thanh có thể lên tới 100 - 120dB Dữ liệu y tế nước này cũng cho thấy có khoảng 6 - 7% dân số Ấn Độ bị điếc, mặc dù con số thực tế có thể cao hơn vì hầu hết mọi người không được xét nghiệm điếc29
Tại Việt Nam, theo như khảo sát có tới 90% người dân sống ở các đô thị phải sống trong tình trạng ô nhiễm tiếng ồn Các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đang vượt xa quy chuẩn về tiếng ồn30 VnExpress cũng đã thực hiện cuộc khảo sát trực tuyến vào ngày 18/10/2022 với số lượng người tham gia là 350 người, tất cả mọi người tham gia đều thừa nhận bản thân đã và đang phải đối mặt với ô nhiễm tiếng ồn Trong đó 13% nói tiếp tục chịu đựng; 50% phản ánh đến ban quản lý tòa nhà hoặc cơ quan chức năng; 37% nói tự thiết lập các giải pháp chống tiếng ồn trong nhà31 Trong giao thông, tính đến tháng 11/2022, tổng số phương tiện giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội là hơn 7.7 triệu phương tiện; Thành phố Hồ Chí Minh là 8.7 triệu phương tiện32 Có thể thấy với số lượng phương tiện lưu thông lớn như trên, chưa tính đến các tỉnh thành khác thì tình trạng ô nhiễm tiếng ồn ngày càng nghiêm trọng hơn là điều tất yếu Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động sinh hoạt hằng ngày cũng là một trong những nguyên nhân gây ra ô nhiễm tiếng
ồn như hiện nay Đặc biệt là tiếng ồn từ việc sử dụng loa có công suất lớn diễn ra khá phổ biến nhưng vẫn chưa được hạn chế, khắc phục
Trước những thực trạng trên, việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là yêu cầu vô cùng quan trọng Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy công tác kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn vẫn chưa dành được sự quan tâm lớn từ phía các cơ quan có thẩm quyền và người dân Đã có trường hợp bị xử phạt đến bốn lần vì gây ra tiếng ồn vượt mức quy định nhưng vẫn tiếp tục vi phạm, gây ảnh hưởng tới khu vực dân cư xung quanh Theo Phòng tài nguyên và môi trường quận 7, từ tháng 10/2020 đến tháng 4/2021, đơn vị đã kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính 03 lần đối với Công ty TNHH SX
TM lắp đặt Trường Thủy (đường 53, phường Tân Quy, Quận 7, Thành phố Hồ Chí
oceania#:~:text=Noise%20pollution%20by%20regions%20of%20the%20world&text=According%20to%20t he%20UN's%20report,of%20its%20most%20populated%20cities , truy cập ngày 25/3/2023
29 Anil K Rạvanshi, “India needs freedom from noise pollution”,
https://www.southasiamonitor.org/index.php/cooperationtrade/india-needs-freedom-noise-pollution , truy cập ngày 25/3/2023
30 “Báo động ô nhiễm tiếng ồn”, https://nhandan.vn/bao-dong-o-nhiem-tieng-on-post643428.html , truy cập ngày 25/3/2023
31 Quỳnh Nguyễn, “Cư dân đô thị khổ vì ô nhiễm tiếng ồn”, nhiem-tieng-on-
https://vnexpress.net/cu-dan-do-thi-kho-vi-o-4525562.html#:~:text=Ch%E1%BA%B3ng%20h%E1%BA%A1n%20t%E1%BA%A1i%20H%C3%A0%20 N%E1%BB%99i,8%20%C4%91%E1%BA%BFn%208%2C1%20dBA , truy cập ngày 25/3/2023
32 Nguyễn Yên, “Giảm tiếng ồn giao thông, ý thức thôi chưa đủ”, thong-y-thuc-thoi-chua-du-post995347.vov , truy cập ngày 25/3/2023
Trang 22https://vov.vn/xa-hoi/giam-tieng-on-giao-Minh) do vi phạm quy chuẩn tiếng ồn Lần thứ 04 vào tháng 7/2022, Phòng cảnh sát môi trường Công an Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Công an phường Tân Quy tiếp tục kiểm tra và quan trắc tiếng ồn tại công ty này Qua kiểm tra, tiếng ồn tại đây vẫn vượt quy chuẩn kỹ thuật (từ 5dB - 10dB)33 Qua vụ việc trên có thể thấy rằng nhận thức về sự nguy hiểm đối với ô nhiễm tiếng ồn của người dân là chưa cao và
chế tài xử lý vẫn còn khá “nhẹ tay” đã dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật, bất chấp vi phạm Trong sinh hoạt hằng ngày nhiều cư dân cũng phải chịu cảnh bị “tra
tấn” khi tiếng ồn từ việc hát karaoke tại gia xuất hiện ngày càng phổ biến, sau nhiều
lần đành “ngậm bồ hòn làm ngọt” thì giữa hàng xóm với nhau đã xảy ra tranh cãi,
thậm chí còn có các vụ ẩu đả, đánh nhau dẫn đến chết người Như vụ việc tại tỉnh Bình Dương vào chiều ngày 31/12/2022 vì tức giận tiếng ồn từ loa hát karaoke, trong lúc xô xát đối tượng gây án đã dùng dao đâm một nạn nhân tử vong và một nạn nhân
bị thương nặng phải đi cấp cứu34
Trên đây chỉ là một số thực trạng điển hình về ô nhiễm tiếng ồn và kiểm soát
ô nhiễm tiếng ồn tại Việt Nam mà tác giả đưa ra Qua đó, có thể thấy tình trạng ô nhiễm tiếng ồn vẫn hằng ngày diễn ra làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của mọi người nhưng việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn vẫn chưa mang lại nhiều hiệu quả Công tác ngăn chặn, xử lý ô nhiễm tiếng ồn giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
và ý thức của cộng đồng trong việc hạn chế, giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn vẫn chưa thể hiện tốt Các vụ việc về ô nhiễm tiếng ồn đã được đề cập trong các bài báo, bài viết từ nhiều năm về trước nhưng đến thời điểm hiện tại tình trạng ô nhiễm tiếng ồn vẫn không có xu hướng giảm mà ngược lại còn tăng lên Trước thực trạng ô nhiễm tiếng ồn cấp bách như hiện nay và những hạn chế còn tồn tại trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn đòi hỏi cần phải có những biện pháp phòng chống, ngăn ngừa, giảm thiểu và tăng cường công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống cũng như kiểm soát để ô nhiễm tiếng ồn không ngày một trở nên nghiêm trọng và mất kiểm soát
1.1.4 Sự cần thiết của việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Ô nhiễm tiếng ồn tuy không được mọi người quan tâm nhiều như ô nhiễm không khí hay ô nhiễm nước nhưng nó là một nguồn ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của con người và vẫn ngày một phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với tốc
33 Châu Tuấn, “Bị xử phạt tiếng ồn nhiều lần, cơ sở sản xuất nước đá vẫn cứ ồn”, tieng-on-nhieu-lan-co-so-san-xuat-nuoc-da-van-cu-on-20220719171155407.htm , truy cập ngày 25/3/2023
https://tuoitre.vn/bi-xu-phat-34 Thiên Lý, “Đánh nhau vì tiếng ồn loa kẹo kéo, một người đàn ông ở Bình Dương tử vong”,
post994050.vov , truy cập ngày 25/3/2023
Trang 23https://vov.vn/phap-luat/danh-nhau-vi-tieng-on-loa-keo-keo-mot-nguoi-dan-ong-o-binh-duong-tu-vong-độ đô thị hóa ngày một tăng nhanh như hiện nay Dù đã có nhiều cảnh báo về mối nguy hại mà ô nhiễm tiếng ồn có khả năng gây ra từ hàng chục năm về trước nhưng đến thời điểm hiện tại vấn nạn ô nhiễm tiếng ồn vẫn không ngừng gia tăng Chính vì vậy, cần tăng cường kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là hoàn toàn cần thiết bởi:
Thứ nhất, khi có các biện pháp kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn hiệu quả sẽ giúp
con người tránh được khả năng cao mắc các bệnh liên quan đến tai, tim mạch, thần kinh,… hoặc có thể giảm được nguy cơ tử vong khi không may mắc phải các bệnh này Nhất là đối với những người tiếp xúc với tiếng ồn thường xuyên và kéo dài tại
Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh,…
Thứ hai, ô nhiễm tiếng ồn được kiểm soát tốt có thể đảm bảo được sức khỏe
cho con người, từ đó bảo vệ được một lực lượng lớn người lao động trong xã hội, góp phần giúp cho nền kinh tế ngày một phát triển Khi kinh tế phát triển, đất nước sẽ có nhiều cơ hội tiếp thu với khoa học công nghệ và cuộc sống của con người có thể dần được thay đổi theo hướng tích cực hơn Bên cạnh đó, việc kiểm soát tốt ô nhiễm tiếng
ồn cũng góp phần tiết kiệm được một khoản các chi phí y tế do loại ô nhiễm này gây
ra
Từ những nội dung nêu trên, có thể thấy rằng ô nhiễm tiếng ồn ảnh hưởng đến nhiều mặt trong cuộc sống của con người và tự nhiên Chính vì vậy kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là vô cùng quan trọng và cần thiết thông qua việc thực hiện các biện pháp nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn
1.2 Khái quát về pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
1.2.1 Khái niệm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Ô nhiễm tiếng ồn ảnh hưởng lớn đến môi trường và chất lượng cuộc sống của con người, do đó kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là vấn đề cần được quan tâm và pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn chính là công cụ để các cơ quan nhà nước, tổ chức
và cá nhân thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm tiếng ồn
Vậy pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là gì? Trước tiên tác giả tiếp cận
khái niệm này thông qua khái niệm “pháp luật” Pháp luật là hệ thống những quy tắc
xử sự mang tính bắt buộc do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và được đảm bảo thực hiện với mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng nhất định35
Đối với thuật ngữ “kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn”, nước ta đã trải qua bốn lần thay đổi
văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường bao gồm: Luật BVMT năm 1993, Luật BVMT năm 2005, Luật BVMT năm 2014 và Luật BVMT 2020 Trong Luật BVMT
35 Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2017), Tập bài giảng Lý luận về pháp luật, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.16
Trang 24năm 1993 và Luật BVMT năm 2005, thuật ngữ “kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn” chưa
được đề cập đến, các quy định trong hai văn bản này về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn chỉ dừng lại ở việc nghiêm cấm hành vi gây tiếng ồn, rung động vượt quá giới hạn cho phép36 Có thể thấy, vấn đề ô nhiễm tiếng ồn trong giai đoạn này vẫn chưa dành được sự quan tâm từ phía các nhà lập pháp Năm 2014, Quốc hội thông qua Luật
BVMT 2014, tại văn bản luật này lần đầu tiên xuất hiện thuật ngữ “kiểm soát ô
trường tại khoản 8 Điều 7 Luật này Hiện nay, Luật BVMT 2020 vẫn giữ nguyên định
nghĩa về “kiểm soát ô nhiễm” như Luật BVMT 2014 tại khoản 22 Điều 3 Có thể thấy,
ở giai đoạn hiện tại dù định nghĩa về “kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn” vẫn chưa được
quy định cụ thể trong văn bản pháp luật nào nhưng các quy định hiện có đã xác định được trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm tiếng ồn thông qua những quy định về mức độ ô nhiễm tiếng ồn, các hành vi bị nghiêm cấm,…
Như vậy, tiếp cận khái niệm “pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn” thông qua định nghĩa “pháp luật” và “kiểm soát ô nhiễm” tác giả cho rằng “Pháp luật về
kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là tổng hợp các quy phạm pháp luật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm tiếng ồn”
1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Nguyên tắc cơ bản của pháp luật môi trường là những tư tưởng chỉ đạo, mang tính định hướng và chi phối toàn diện các quan hệ phát sinh trong việc bảo vệ môi trường38 Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là một bộ phận của pháp luật môi trường và chịu sự chi phối của các nguyên tắc sau :
Một là, nguyên tắc Nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền con người được sống trong một môi trường trong lành
Quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc là một trong những quyền cơ bản của con người Quyền thiêng liêng này được ghi trong Tuyên ngôn dân quyền Pháp,
36 Điều 28 Luật Bảo vệ Môi trường 1993 quy định: Tổ chức, cá nhân trong các hoạt động của mình không được gây tiếng ồn, độ rung động vượt quá giới hạn cho phép làm tổn hại sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt của nhân dân xung quanh
Khoản 7 Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định về những hành vi bị cấm và trong đó bao gồm hành
vi gây tiếng ồn, độ rung vượt quá mức cho phép
37 Khoản 18 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 định nghĩa: Kiểm soát ô nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm
38 Trường đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Môi trường, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr.43
Trang 25Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại trong bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam vào năm 1945 Tuy nhiên, khi quyền sống của con người được đảm bảo hơn về mặt pháp lý thì lại bị đe doạ bởi tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường, mà quyền sống của con người lại có mối quan hệ mật thiết với môi trường
Tuyên bố Stockholm 1972 tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người khẳng định rằng con người được sống trong một môi trường trong lành là một trong những nguyên tắc trọng tâm của quan hệ giữa các quốc gia Nguyên tắc số 01 nêu rõ:
“Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và đầy đủ các điều kiện sống, trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau” Nguyên tắc số 01 trong Tuyên bố Rio De Janerio 1992 của Hội nghị Liên hợp
quốc về Môi trường và phát triển cũng khẳng định: “Con người là trung tâm của
những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh hài hòa với thiên nhiên”
Ở Việt Nam, Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Mọi người đều có quyền sống trong
được cụ thể hóa tại Luật BVMT 2014 và hiện nay là Luật BVMT 2020 Cơ sở xác lập của nguyên tắc này dựa vào tầm quan trọng của quyền được sống trong môi trường trong lành, thực trạng môi trường hiện nay đang bị suy thoái nên quyền tự nhiên này đang bị xâm phạm và xuất phát từ những cam kết quốc tế và xu hướng chung trên thế giới Thông qua nguyên tắc này, Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường nhằm bảo đảm cho người dân được sống trong một môi trường trong lành Ở khía cạnh này, đây không chỉ là một nguyên tắc mà còn là mục đích của Luật Môi trường Nguyên tắc này cũng tạo
cơ sở pháp lý để người dân bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của mình thông qua việc thực hiện những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như: quyền khiếu nại, quyền tố cáo, quyền tự do cư trú, quyền được bồi thường thiệt hại,…40
39 Điều 43 Hiến pháp 2013
40 Phạm Văn Võ (2023), Tập bài giảng Luật môi trường, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, tr 20, 21
Trang 26Hai là, nguyên tắc phát triển bền vững
Phát triển bền vững thực chất là sự liên kết giữa tăng trưởng kinh tế với bảo
vệ môi trường và các giá trị khác Phát triển bền vững là một trong những nguyên tắc quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc tế về môi trường41
Muốn duy trì sự phát triển bền vững thì kiểm soát ô nhiễm môi trường là vấn
đề cần được đặt lên hàng đầu Và một trong những vấn đề ô nhiễm môi trường đáng chú ý không thể không nhắc đến đó chính là ô nhiễm tiếng ồn Thông qua nguyên tắc phát triển bền vững, các nhà lập pháp có cơ sở để xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nhằm điều chỉnh các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm tiếng ồn Việc ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh về kiểm soát
ô nhiễm tiếng ồn dựa trên nguyên tắc phát triển bền vững sẽ giúp cân bằng giữa việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn có hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo phát triển kinh tế Nếu chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế mà không chú trọng đến việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn thì tất yếu ô nhiễm tiếng ồn sẽ rơi vào trạng thái mất kiểm soát, tác động tiêu cực đến sức khỏe của con người – lực lượng lao động chính trong xã hội và nền kinh
tế ắt sẽ suy giảm Chính vì vậy, kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn phải đi đôi với phát triển bền vững, phải có sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu: phát triển kinh tế, kiểm soát
ô nhiễm tiếng ồn, đảm bảo tiến bộ xã hội
Ba là, nguyên tắc phòng ngừa
Nguyên tắc này hình thành dựa trên cơ sở chi phí phòng ngừa bao giờ cũng rẻ hơn chi phí khắc phục, có những tổn hại gây ra cho môi trường là không thể khắc phục được mà chỉ có thể phòng ngừa42
Phòng ngừa trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là chủ động ngăn chặn, giảm thiểu được những tác động xấu của ô nhiễm tiếng ồn tới môi trường và con người Bởi lẽ, môi trường một khi đã rơi vào ô nhiễm thì khó có thể hồi phục lại nguyên trạng như ban đầu, đặc biệt hơn, khi ô nhiễm tiếng ồn tác động đến con người
sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng về sức khỏe và khó có thể chữa lành Thay
vì để ô nhiễm tiếng ồn trở nên mất kiểm soát thì cần có sự chủ động phòng ngừa bằng việc ban hành các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nhằm lường trước, ứng phó được với các sự cố mà ô nhiễm tiếng ồn có thể gây ra Hướng đến ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn cũng như tăng cường sự răn đe, giáo dục thông qua các chế tài Bên cạnh đó, việc dựa trên nguyên tắc phòng ngừa để ban hành
41 Trường đại học Luật Hà Nội (2016), tlđd, tr 45
42 Phạm Văn Võ (2023), tlđd, tr 24
Trang 27các quy định trong kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn cũng góp phần tiết kiệm được các chi phí khắc phục hậu quả do ô nhiễm tiếng ồn gây ra
1.2.3 Nội dung của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Pháp luật đóng vai trò là công cụ quan trọng trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nhưng để phát huy tốt vai trò của pháp luật cần phải xác định cụ thể các nội dung điều chỉnh Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả xác định nội dung chính của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn bao gồm hai nội dung đó là: ban hành pháp luật và thực thi pháp luật Trong mỗi nội dung tác giả sẽ tập trung nghiên cứu các khía cạnh chính như sau:
Một là, chủ thể chịu trách nhiệm về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn Đối tượng bị
kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là hành vi của các chủ thể như: hộ gia đình, tổ chức, cá nhân, các cơ quan nhà nước và các chủ thể khác có liên quan khi họ tham gia vào quan hệ pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn Do đó, cần phải có những quy định cụ thể về các chủ thể phải chịu trách nhiệm về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nhằm đảm bảo không có bất kỳ chủ thể có liên quan nào nằm ngoài phạm vi kiểm soát của pháp luật về ô nhiễm tiếng ồn
Hai là, trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng
ồn Cơ quan nhà nước là chủ thể đi đầu, là chủ thể có đầy đủ các quyền và công cụ
để thực hiện việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn Mọi hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng
ồn nếu không có sự tham gia của cơ quan nhà nước trong việc quản lý, giám sát thì việc thực thi pháp luật trên thực tế sẽ không mang lại hiệu quả Chính vì vậy cần có các quy định về trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng
ồn để nâng cao trách nhiệm quản lý, giám sát và thực hiện của các cơ quan Ngoài ra, việc ban hành các quy định liên quan đến trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn cũng là cơ sở để truy cứu trách nhiệm đối với các chủ thể này trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Ba là, quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn Quy chuẩn kỹ thuật môi
trường là quy định bắt buộc áp dụng được quy định tại Luật BVMT 202043 Quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn đóng vai trò quan trọng để xây dựng các quy định buộc các chủ thể trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn phải tuân thủ để đảm bảo sự an toàn cho môi trường và lợi ích của con người Ngoài ra, Quy chuẩn kỹ
43 Khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020
Trang 28thuật môi trường về tiếng ồn cũng là cơ sở để xây dựng và ban hành các chế tài trong việc xử lý các hành vi vi phạm về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Cuối cùng, quy định của pháp luật về xử lý hành vi vi phạm về kiểm soát ô
nhiễm tiếng ồn Cần thiết phải có các quy định về xử lý các hành vi vi phạm kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nhằm mục đích giới hạn các hành vi của chủ thể trong khuôn khổ luật định, giúp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật Xử lý hành vi vi phạm kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn buộc chủ thể vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính hoặc cao hơn là trách nhiệm hình sự
Toàn bộ nội dung của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn như trên sẽ được tác giả trình bày cụ thể tại Chương 2
1.2.4 Vai trò của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Pháp luật là công cụ để nhà nước quản lý xã hội nói chung và cũng là phương tiện
để các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Pháp luật luôn tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt của đời sống ở các mức độ khác nhau, riêng đối với ô nhiễm tiếng ồn, vai trò của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo tác giả được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là phương tiện để thể chế hóa
đường lối, chủ trương của Đảng Là công cụ để các cơ quan và tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện có hiệu quả trong việc quản lý các vấn đề về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Thứ hai, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là phương tiện, khuôn mẫu chuẩn
mực để các chủ thể điều chỉnh các hoạt động của mình trong phạm vi luật định và cũng là
cơ sở để truy cứu trách nhiệm đối với những hành vi vi phạm pháp luật về ô nhiễm tiếng
ồn
Thứ ba, xây dựng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là góp phần hiệu quả
trong công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức của cộng đồng về môi trường nói chung và vấn đề ô nhiễm tiếng ồn nói riêng Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn sẽ là kênh thông tin hữu ích giúp mọi người hiểu rõ hơn về các tiêu chuẩn của tiếng ồn từ đó giúp nâng cao nhận thức và giảm thiểu được tình trạng ô nhiễm tiếng ồn như hiện nay
Thứ tư, bảo vệ môi trường là yếu tố gắn kết các quốc gia, do đó pháp luật bảo vệ
môi trường nói chung và pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nói riêng sẽ tạo cơ sở pháp lý và điều kiện để thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế về bảo vệ môi trường như: hợp tác chuyển giao công nghệ, hỗ trợ về tài chính trong kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn; chia
sẻ, học hỏi kinh nghiệm kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn,…
Trang 29KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ những phân tích trên, trong Chương 1 của khóa luận, tác giả đã tập trung
làm rõ những vấn đề sau đây: Thứ nhất, tác giả đi sâu vào phân tích các vấn đề lý
luận về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, trong đó làm rõ các khái niệm tiếng ồn, ô nhiễm
tiếng ồn và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn Thứ hai, tác giả chỉ ra những nguyên nhân
gây ô nhiễm tiếng ồn, tác hại của ô nhiễm tiếng ồn, khái quát về thực trạng ô nhiễm tiếng ồn và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn hiện nay diễn ra như thế nào Ngoài ra, tác giả
cũng đề cập đến sự cần thiết của việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn Thứ ba, tác giả đã
trình bày các vấn đề lý luận về pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, trong đó chỉ
ra được khái niệm của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, những nguyên tắc cơ bản, nội dung và vai trò của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn Toàn bộ những nghiên cứu trên sẽ là cơ sở lý luận tạo tiền đề cho việc nghiên cứu Chương 2 của khóa luận
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM
TIẾNG ỒN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
Trong chương 2, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu và làm rõ thực trạng pháp luật
về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn thông qua bốn vấn đề chính bao gồm: Chủ thể chịu trách nhiệm về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn; Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn; Các quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn và Các quy định của pháp luật về xử lý hành vi vi phạm về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn Song song với việc phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tác giả cũng tiến hành so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật nước ngoài nhằm đưa ra những nhận xét, đánh giá và đề xuất kiến nghị hoàn thiện cho từng vấn đề nghiên cứu
2.1 Về chủ thể chịu trách nhiệm về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
2.1.1 Thực trạng pháp luật về chủ thể chịu trách nhiệm về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Theo Luật BVMT 2020, tiếng ồn được quy định trong mục các chất ô nhiễm khác tại Điều 89 Cụ thể, Điều 89 Luật BVMT 2020 quy định tổ chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý và kiểm soát tiếng ồn Qua nghiên cứu các Điều luật của Luật BVMT 2020 và các văn bản có liên quan, tác giả xác định các chủ thể chịu trách nhiệm về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn có sự khác nhau trong từng lĩnh vực, cụ thể như sau:
Một là, trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Căn cứ theo quy định tại Điều 53 Luật BVMT 2020, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm bảo vệ môi trường, trong đó có hoạt động kiểm soát tiếng ồn44 Đối với các làng nghề, Luật BVMT 2020 cũng quy định chủ thể này phải
có các phương án bảo vệ môi trường; các cơ sở, hộ gia đình sản xuất trong làng nghề phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu tiếng ồn45
Ngoài Luật BVMT 2020, trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác cũng
có quy định về chủ thể phải chịu trách nhiệm trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn Tại Điều 61 Luật Chăn nuôi 2018 quy định tổ chức, cá nhân sở hữu cơ sở chăn nuôi trang trại, chủ chăn nuôi nông hộ phải xử lý tiếng ồn phát ra trong hoạt động chăn nuôi đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn trong hoạt động chăn nuôi Trong hoạt động nuôi chim yến, Điều 64 Luật Chăn nuôi cũng quy định việc nuôi
44 Điểm d Khoản 1 Điều 53 Luật Bảo vệ môi trường 2020
45 Khoản 2 Điều 56 Luật Bảo vệ môi trường 2020
Trang 31chim yến phải đảm bảo tiếng ồn Trong hoạt động kinh doanh, dịch vụ, việc các chủ thể sử dụng loa với công suất lớn để quảng cáo, thu hút khách hàng dường như đã trở nên vô cùng phổ biến Do đó, Luật Quảng cáo 2012 đã có quy định việc quảng cáo bằng loa phóng thanh và các hình thức tương tự phải tuân thủ quy định quảng cáo không được vượt quá độ ồn cho phép và không được quảng cáo bằng loa phóng thanh gắn với các phương tiện giao thông và các phương tiện di động khác46 Một trong những nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn trong hoạt động kinh doanh không thể không nhắc đến đó chính là kinh doanh karaoke, vũ trường Đây là những loại hình kinh doanh
có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư 202047 và theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh karaoke, vũ trường đã quy định trách nhiệm của doanh nghiệp, hộ kinh doanh phải đảm bảo đủ điều kiện cách âm và
âm thanh thoát ra ngoài phòng hát hoặc phòng vũ trường phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
Bên cạnh các cơ sở karaoke, vũ trường thì hoạt động kinh doanh các nhà hàng, quán ăn, quán nhậu cũng gây ô nhiễm tiếng ồn khi các địa điểm kinh doanh này tổ chức lễ tiệc và sử dụng loa có công suất lớn để phát nhạc Việc gây ra ô nhiễm tiếng
ồn đối với các loại hình kinh doanh này được coi là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Luật BVMT 202048 và nếu tiếng ồn vượt quá giới hạn theo QCVN26:2010/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn thì có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP Tuy nhiên, có thể thấy rằng các quy định trên vẫn chưa đủ sức răn đe các chủ thể kinh doanh gây ra ô nhiễm tiếng, vẫn có những chủ thể cố tình vi phạm, họ sẵn sàng chấp nhận đóng phạt thay vì sử dụng các biện pháp ngăn chặn, giảm thiểu tiếng ồn Do đó, cần thiết phải có các quy định bổ sung về điều kiện kinh doanh đối với các nhà hàng, quán ăn, quán nhậu khi xây dựng phải đảm bảo về cách âm bởi đây là các loại hình kinh doanh có khả năng gây ra tiếng
ồn lớn ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân xung quanh
Nhìn chung, quy định của pháp luật đối với các chủ thể phải chịu trách nhiệm
về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khá bao quát trong từng lĩnh vực, các quy định đều yêu cầu chủ thể có trách nhiệm trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn phải có các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu nguồn gây
ra ô nhiễm tiếng ồn từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Đây đều là những quy định hoàn toàn hợp lý, nằm trong phạm vi, điều kiện và khả năng mà các chủ thể
có thể thực hiện được Tuy nhiên, dù quy định đã được ban hành nhưng trên thực tế
46 Điều 33 Luật Quảng cáo 2012
47 Phụ lục IV, Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư 2020
48 Khoản 4 Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường 2020