Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề bảo hộlao động sau đây viết tắt là BHLĐ, công tác ATVSLĐ, điều này được thểhiện trong nội dung Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947, Hiến pháp năm 1946,Hiến
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ CHUYÊN
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Bính
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Bùi Thị Chuyên
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT Viết tắt Nội dung từ
1. ATLĐ An toàn lao động
2. ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
3. BHLĐ Bảo hộ lao động
4. BNN Bệnh nghề nghiệp
5. ĐKLĐ Điều kiện lao động
6. ILO Tổ chức Lao động Quốc tế
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
1 Bảng
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc
tế, Việt Nam đã đạt được những thành tự to lớn trong sự nghiệp phát triểnkinh tế - xã hội, tạo ra những tiền đề vững chắc đưa đất nước chuyển sangmột thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhờ sự phát triển đó
và với những đổi mới trong công tác quản lý Nhà nước về lao động, công tác
an toàn vệ sinh lao động (sau đây viết tắt là ATVSLĐ) được quan tâm đầy đủhơn, điều kiện làm việc, sức khỏe NLĐ từng bước được cải thiện Thực tiễn
đó thể hiện chính sách, chiến lược vì con người của Đảng và Nhà nước, luônluôn chăm lo và coi trọng quyền và lợi ích của NLĐ
Bên cạnh đó, vấn đề về bảo vệ an toàn tính mạng và sức khoẻ conngười cũng được quan tâm hơn Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề bảo hộlao động (sau đây viết tắt là BHLĐ), công tác ATVSLĐ, điều này được thểhiện trong nội dung Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947, Hiến pháp năm 1946,Hiến pháp 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp 1992, Pháp lệnh BHLĐnăm 1991 và Bộ luật Lao động năm 1994 (được sửa đổi, bổ sung các năm
2002, 2006, 2007), kế thừa và phát huy các quy định trong Bộ luật Lao độngtrước đây, trong Bộ luật Lao động năm 2012, vấn đề ATVSLĐ được quy địnhthành một chế định riêng biệt, ngoài ra các quy định chi tiết, hướng dẫn củaChính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã có tác dụng tích cực trong việcphòng ngừa tai nạn lao động (sau đây viết tắt là TNLĐ), bệnh nghề nghiệp(sau đây viết tắt là BNN), bảo vệ sức khỏe NLĐ, góp phần vào sự phát triểnsản xuất, ổn định kinh tế - xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tácquốc tế, hòa nhập với các nước trong khu vực và hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong những năm gần đây do những nguyên
Trang 7và lạc hậu của thiết bị công nghệ, hạ tầng, tình hình vi phạm các quy địnhATVSLĐ đã diễn ra ở nhiều nơi, nhiều cơ sở, nhất là trong lĩnh vực xây lắp,khai thác mỏ, giao thông dẫn đến hàng chục nghìn vụ TNLĐ chết người hoặcgây thiệt hại lớn về tài sản của nhà nước và nhân dân, số người bị thương tật
do TNLĐ, BNN tăng để lại hậu quả khôn lường cho xã hội, nhiều người tànphế suốt đời…
Bên cạnh đó, các quy định về ATVSLĐ nằm rải rác, phân tán ở nhiềuvăn bản khác nhau từ các quy định của Bộ luật, Luật, Nghị định, Thông tưnhư hiện nay gây khó khăn cho việc thực hiện các quy định về ATVSLĐ, điềunày đang tạo ra một hệ thống phức tạp, chồng chéo, gây khó khăn cho việcthực thi Nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn ban hành đã lâu, trở nên lạc hậu so với
sự phát triển của sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiếnlược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đã nhấn mạnh mộttrong những quan điểm chỉ đạo là xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung
và pháp luật về ATVSLĐ nói riêng, đáp ứng yêu cầu của quá trình cải cách tưpháp ở Việt Nam và quá trình hội nhập Đồng thời, thực hiện Nghị quyết số20/2011/QH13 ngày 26/11/2011 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnhcủa Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyếtđịnh số 207/QĐ-TTg về việc phân công cơ quan chủ trì soạn thảo các dự ánLuật, Pháp lệnh thuộc chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốchội khóa XIII, giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì xâydựng Dự án Luật ATVSLĐ
Để thực hiện tốt nhiệm vụ nói trên, đòi hỏi các tổ chức, cơ quan,cũng như các cán bộ được giao nghiên cứu xây dựng Luật ATVSLĐ trên cơ
sở quán triệt các quan điểm của Đảng, tình hình của đất nước, học tập kinhnghiệm quốc tế và kế thừa thành quả và kinh nghiệm thực tiễn trong thời
Trang 8gian qua, theo đó từng bước cải thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước vềATVSLĐ, thực hiện việc ngăn chặn TNLĐ và bệnh tật liên quan đến laođộng.
Đề tài nghiên cứu “Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ” nhằm nghiên cứu và làm rõ những quy định của
pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ,qua đó tìm ra những thiếu hụt, những bất cập trong hệ thống pháp luật ViệtNam, tìm hiểu sự chuyển hóa pháp luật quốc tế vào pháp luật Việt Nam, kinhnghiệm quốc tế trong việc xây dựng pháp luật về ATVSLĐ góp phần hoànthiện hệ thống pháp luật Việt Nam phù hợp với xu thế hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
ATVSLĐ là vấn đề được quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiềuđộc giả, những sản phẩm nghiên cứu được biết đến như: “Danh mục trang bịphương tiện bảo vệ cá nhân”, NXB Lao động - Xã hội, 2004; “Công tácBHLĐ trong nông nghiệp, nông thôn”, NXB Lao động – Xã hội, 2010; “Hồ
sơ quốc gia về ATVSLĐ”, NXB Lao động – Xã hội; “Chiến lược toàn cầu vềATVSLĐ”, kết luận của Hội nghị Lao động quốc tế, kỳ họp thứ 91 của năm
2003, Văn phòng ILO, 2003; “Hệ thống quốc gia về ghi chép và thông báo vềBNN”, Văn phòng ILO, 2013
Một số Báo, Tạp chí có những bài viết sâu sắc đánh giá về vấn đềATVSLĐ như “Đánh giá rủi ro trong sản xuất theo nhóm các yếu tố nguyhiểm” TS Triệu Quốc Lộc Tạp chí BHLĐ tháng 4/2012
Đề tài khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu hiệu quả kinh tế xã hội củacác giải pháp cải thiện môi trường và điều kiện làm việc cho NLĐ và xâydựng mối quan hệ với năng suất lao động nhằm nâng cao tính cạnh tranh vàbảo vệ nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập” Chủ nhiệm đề tài GS.TS LêVân Trình, Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật BHLĐ, năm 2011; “Nghiên
Trang 9cứu xây dựng chiến lược và các biện pháp cơ bản để giám sát, dự phòng và xử
lý các nguy cơ ô nhiễm môi trường lao động ảnh hưởng tới sức khỏe NLĐ”Chủ nhiệm đề tài PGS TS Nguyễn An Lương, Viện Nghiên cứu khoa học kỹthuật BHLĐ, năm 2000.v.v
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Thiết bị lọc bụi gỗ” TS PhạmVăn Hải, Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuât BHLĐ; “Nghiên cứu chế thửquần áo chống lạnh dùng cho công nhân làm việc trong các nhà lạnh” Nhómnghiên cứu: Dược sỹ Trần Thanh Hương, Kỹ thuật viên Hồ Thị Mão - ViệnBHLĐ; Kỹ sư Nguyễn Thị Bội - Xí nghiệp Chế biến Vi sinh Hà Nội; “Đánhgiá thực trạng môi trường lao động về BNN trong ngành đường sắt” Nhómnghiên cứu: Phạm Văn Hùng và Trung tâm Y tế dự phòng Đường sắt.v.v
Một số bài viết trên các báo, tạp chí, ví dụ Tạp chí Lao động - Xã hội,Báo điện tử Dân trí, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Bảo hiểm xã hội,http://www.ilo.org, http://statutes.agc.gov.sg v.v
Vì vậy, nghiên cứu về ATVSLĐ không phải là một hiệu tượng mớinhưng lại là một đề tài được coi là “cần thiết”, cần có sự nghiên cứu nghiêmtúc và kỹ lưỡng để có thể thấy vấn đề một cách toàn diện
Đối với luận văn này, trên cơ sở tham khảo một số tài liệu có liên quan,học viên đã tiếp cận vấn đề một cách nghiêm túc Từ việc nghiên cứu phápluật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và pháp luật ViệtNam về ATVSLĐ và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiệnpháp luật trong nước về vấn đề này
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc tế, nghiêncứu lý luận, đánh giá thực trạng về ATVSLĐ ở Việt Nam làm rõ những bấtcập trong hệ thống pháp luật hiện hành, những vướng mắc trong quá trìnhtriển khai, thực hiện những quy định đã hoặc chưa phù hợp để đưa ra đề xuất
Trang 10sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới phù hợp với các quy định củaluật pháp quốc tế, có tính đến việc học tập kinh nghiệm quốc tế về xây dựngpháp luật ATVSLĐ.
4 Tính mới và những đóng góp của Đề tài
Nội dung về ATVSLĐ là một đề tài quan tâm của nhiều độc giả, nhiềunhà nghiên cứu, nên những công trình liên quan đến nghiên cứu vấn đềATVSLĐ đã được quan tâm nhiều, tuy nhiên nghiên cứu về pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ thì chưa có nhiều Đề tài nghiên cứumang tính xây dựng, trên cơ sở tham khảo bài viết của các nhà nghiên cứu,nhà khoa học về vấn đề này đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoànthiện pháp luật trong nước về vấn đề này
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài chủ yếu hướng vào các đối tượng làNLĐ Việt Nam, người học nghề, tập nghề và một số đối tượng là lao độngđặc thù, người sử dụng lao động (sau đây viết tắt là NSDLĐ), người lao động(sau đây viết tắt là NLĐ) nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của Đề tài tập trung vào hệ thống pháp luật quốc tế(Công ước quốc tế về nhân quyền và một số Công ước quốc tế của ILO),trong quá trình nghiên cứu có đề cập đến pháp luật về ATVSLĐ của một sốquốc gia (Nhật Bản, Hàn Quốc, Philipin, Singapore) và nghiên cứu hệ thốngpháp luật của Việt Nam về an toàn vệ sinh lao động
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có phương pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, phương pháp thống kê, thông qua thống kê các số liệu về
TNLĐ và quá trình áp dụng các quy định về ATLĐ trong các doanh nghiệpnhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư nước ngoài,
Trang 11công ty liên doanh, công ty cổ phần.v.v
Thứ hai, phương pháp phân tích, học viên đưa ra những quy định của
pháp luật Việt Nam trên cơ đó phân tích những điểm phù hợp, những điểmchưa phù hợp với những quy định của Công ước
Thứ ba, phương pháp so sánh, trên cơ sở những phân tích và bình luận
về các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, học viên mạnhdạn đưa ra một số đánh giá
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về ATVSLĐ, pháp luật quốc tế và pháp luật nước
ngoài về ATVSLĐ
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ.
Chương 3:Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về ATVSLĐ
Trang 12Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ATVSLĐ, PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VỀ ATVSLĐ
1.1 Khái quát về ATVSLĐ
1.1.1 TNLĐ và BNN - các tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới
Theo ước tính của Tổ chức lao động quốc tế (sau đây viết tắt là ILO)hàng năm có khoảng 337 triệu vụ Tai nạn lao động xảy ra trên thế giới và 2,3triệu người chết do các bệnh liên quan đến lao động [88] Thiệt hại doTNLĐ, BNN ước tính khoảng 4% GDP của toàn thế giới Ở một số nước cóthu nhập cao, khoảng 40% số người nghỉ hưu trước tuổi là bị thương tật dolao động Tính trung bình số thời gian bị rút ngắn này khoảng 5 năm, tươngđương 14% độ dài thời gian có khả năng làm việc của lực lượng lao động.Tính trung bình 5% lực lượng lao động nghỉ việc do ảnh hưởng sức khoẻtrong lao động, 1/3 số người thất nghiệp do bị suy giảm khả năng lao động,làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tái sản xuất sức lao động của xãhội loài người Các nghiên cứu tình hình TNLĐ hàng năm trên thế giới chothấy ở các quốc gia đang phát triển, tần suất TNLĐ chết người là 30 - 43người/100.000 lao động [60]
Các số liệu thống kê tại Cộng đồng Châu Âu cho thấy, trong số 115triệu NLĐ của Cộng đồng Châu Âu đã có hơn 10 triệu người bị TNLĐ hoặcBNN hàng năm Số người chết vì TNLĐ là hơn 8000 người/ năm Thiệt hạikinh tế khoảng 26 tỉ euro/năm Ở Đức, điều kiện lao động (sau đây viết tắt làĐKLĐ) xấu gây thiệt hại là 52 tỉ đê mác/năm Ở Anh, chi phí cho người bị tainạn bằng 4 - 8% tổng lợi nhuận của các công ty thương mại và công nghiệpcủa Anh Tại Hà Lan, chi phí cho TNLĐ, BNN bằng khoảng 4% GDP Tại
Trang 13Mỹ, mỗi ngày có khoảng 9.000 người bị thương tật do TNLĐ và 153 ngườichết do TNLĐ, BNN thiệt hại kinh tế hàng năm do tai nan lao động xảy ratrong công nghiệp là 190 tỉ đô la Mỹ [13].
Tại Châu Á, nhiều nước với sự năng động việc tập trung mọi nỗ lựccho phát triển kinh tế bắt đầu từ thập kỉ sáu mươi của thế kỉ 20 đã đem đếncho khu vực này một sự khởi sắc mới về phát triển kinh tế, xã hội, cải thiệnchất lượng cuộc sống Nhiều công nghệ, kĩ thuật mới đã được đưa vào ứngdụng đã giải phóng sức lao động con người, nâng cao năng suất và chất lượngsản phẩm Tuy nhiên do quá tập trung cho phát triển kinh tế và chưa coi trọngđến công tác ATVSLĐ nên số vụ TNLĐ, ốm đau, bệnh tật đã tăng nhanh Tạihàng loạt nước công nghiệp phát triển như Hàn Quốc, Nhật bản.v.v TNLĐ,BNN đã có thể coi như “đại dịch”
Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (sau đây viết tắt là WHO) cho thấy,ĐKLĐ rủi ro, có hại đã góp phần gây ra sự hoành hành một số bệnh trên thếgiới, cụ thể: 37% số người bị bệnh đau lưng, 16% số người bị tổn thươngthính lực, 11% số người bị bệnh hen xuyễn, 10% số người bị thương tật, 9%
số người bị ung thư và 2% số người bị bệnh bạch cầu Ngoài ra, ĐKLĐ xấucũng tác động không nhỏ đến cộng động xã hội, làm mỗi năm có thêm khoảnggần 310.000 người chết do bị những tổn thương liên quan đến lao động và146.000 người chết vì bị bệnh ung thư liên quan đến lao động [76]
Tuy nhiên, phần lớn TNLĐ và BNN đều có thể phòng ngừa được vớicác biện pháp thích hợp, việc ngăn ngừa và giảm thiểu TNLĐ là vấn đề tôntrọng con người và quyền cơ bản của con người thông qua chương trình làmviệc bền vững, xây dựng và ban hành chính sách lấy con người làm trung tâm,chú trọng các chính sách xã hội và phát triển bền vững
1.1.2 Yêu cầu đặt ra về xây dựng Hệ thống quản lý ATVSLĐ
Một trong những xứ mệnh của Tổ chức lao động quốc tế ILO là bảo vệ
Trang 14NLĐ khỏi những ốm đau, bệnh tật, tổn thương có liên quan đến công việc.Bệnh tật và thương vong không có nghĩa là do nghề nghiệp cũng như khôngthể lấy đói nghèo để biện minh cho việc xem nhẹ vấn đề an toàn và sức khỏecủa NLĐ Mục tiêu hàng đầu của tổ chức ILO là tạo thêm cơ hội cho NLĐ dù
là nam hay nữ có được công việc tốt và hữu ích trong điều kiện bình đẳng,bác ái, và an toàn, nói ngắn gọn là “công việc tốt” Theo ILO, công việc tốt làcông việc an toàn, công việc an toàn cũng chính là nhân tố tích cực để tăngnăng suất và phát triển kinh tế
Xuất phát từ mục đích trên, ILO đã ban hành “Hướng dẫn về hệ thốngquản lý an toàn lao động” năm 2001, nhằm tạo một công cụ hỗ trợ thiết thựccho các tổ chức, các cơ quan có thẩm quyền cũng như các biện pháp để khôngngừng hoàn thiện việc thực hiện công tác an toàn lao động (sau đây viết tắt làATLĐ) Hệ thống quản lý ATLĐ mà tổ chức lao động quốc tế khuyến nghịchính là kết quả đút rút kinh nghiệm thực tế đa dạng ở nhiều nước, từ đó xâydựng thành một hệ thống khuyến nghị mang tính mục tiêu tác động tích cựctrong việc giảm thiểu nguy cơ cũng như hợp lý hoá quá trình và tăng năng suấtlao động, làm cho các khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế ngày càngđược phổ biến rộng rãi và hình thành xu thế hội nhập của các nước đang pháttriển Mục tiêu của hệ thống quản lý ATLĐ là góp phần bảo vệ NLĐ khỏi cácnguy cơ rủi ro và dần tiến đến loại trừ mọi TNLĐ, BNN và giảm tỷ lệ tử vongliên quan đến quá trình lao động Đồng thời khuyến nghị của ILO có giá trịtham khảo và sử dụng trực tiếp trong việc hình thành khung hệ thống quản lýATLĐ cấp quốc gia Bên cạnh đó còn giúp cho các cơ sở sản xuất chủ động tổchức thực hiện việc tuân thủ các quy định và các tiêu chuẩn về ATLĐ đáp ứngnhững nhu cầu thực tế và phù hợp với tính chất hoạt động của đơn vị
Hướng dẫn của Tổ chức Lao động quốc tế đã nêu rõ quan điểm ATLĐbao gồm việc tuân thủ các yêu cầu về ATLĐ theo đúng pháp luật và các quy
Trang 15định của quốc gia là trách nhiệm và nghĩa vụ của NSDLĐ, NLĐ cần được chỉđạo và cam kết thực hiện các hoạt động ATLĐ và tạo điều kiện để thiết lập hệthống ATLĐ tại cơ sở Hướng dẫn chỉ rõ khung quốc gia về hệ thống quản lýATLĐ mà ILO khuyến nghị bao gồm 3 yếu tố chủ đạo: Chính sách quốc gia,hướng dẫn quản lý Nhà nước và hướng dẫn triển khai thực hiện.
Trên cơ sở hướng dẫn về “Hệ thống quản lý ATLĐ” năm 2001 của ILO
đã tạo tiền đề cho việc định hướng cũng như hoàn thiện hệ thống quản lýATLĐ và là tiêu chí chính thức để đánh giá công tác này trong hoạt động sảnxuất ở các nước Hầu hết mô hình quản lý Nhà nước về ATLĐ ở các nước đềutheo mô hình: Chính phủ giao trách nhiệm quản lý Nhà nước về an toàn chocác ngành: Lao động, y tế, công nghiệp, môi trường, giao thông vận tải.v.v…Một số nước tổ chức ngành kết hợp, ngành y tế kết hợp với khoa học côngnghệ ở Trung Quốc, môi trường kết hợp với năng lượng ở Pháp
Hiện nay Việt Nam đang thúc đẩy và xây dựng Hệ thống quản lýATVSLĐ của Việt Nam trên cơ sở hướng dẫn về “Hệ thống quản lý ATLĐ”như một công cụ thiết thực trong việc tăng cường ATVSLĐ, hướng dẫn này sẽ
là nền tảng cơ sở cho các cấp, các ngành, các cơ quan tổ chức, các cơ sở sảnxuất xây dựng kế hoạch hành động để có thể áp dụng trực tiếp ở cơ sở.Hướng dẫn về Hệ thống quản lý ATVSLĐ là một công cụ quốc tế quan trọngtrong việc phát triển Hệ thống quản lý ATVSLĐ tại Việt Nam Hướng dẫn này
đã có tác động tích cực trong việc nâng cao năng suất lao động, giảm thiểunguy cơ và rủi ro trong sản xuất, được Chính phủ, NLĐ và người NSDLĐtrên thế giới công nhận Hướng dẫn này sẽ tạo ra cơ sở phù hợp và mang tínhlinh hoạt trong việc xây dựng văn hoá an toàn bền vững trong các tổ chức, cácdoanh nghiệp và nơi làm việc
Tuy nhiên, khi xây dựng các hướng dẫn này Việt Nam cần đặc biệt lưu
ý đến quy mô, cơ sở hạ tầng của cơ sở sản xuất và các yếu tố nguy hiểm cũngnhư nguy cơ và mức độ rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sản xuất
Trang 161.2 Pháp luật quốc tế về ATVSLĐ
1.2.1 Quan niệm về ATVSLĐ
Cụm từ “occupational safety and health” có nhiều cách dịch khác nhau
là “ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp”, “ATLĐ, vệ sinh lao động và sức khoẻnghề nghiệp”, “ATVSLĐ” theo cách hiểu chung nhất học viên dùng thuật ngữ
“ATVSLĐ” (sau đấy viết tắt là ATVSLĐ)
Trên phạm vi quốc tế vấn đề sức khoẻ, xét về mặt công việc, khôngchỉ là tình trạng không có bệnh tật, mà còn bao gồm cả các yếu tố thể chất
và tinh thần có tác động đến sức khoẻ và có liên quan trực tiếp đến ATLĐ
và vệ sinh lao động [67]
Từ năm 1950, Tổ chức Lao động quốc tế và Tổ chức Y tế Thế giới đãchia sẻ một định nghĩa chung về sức khỏe nghề nghiệp, định nghĩa này đượcthông qua bởi Ủy ban về sức khỏe nghề nghiệp tại phiên họp đầu tiên vàonăm 1950 và được sửa đổi tại kỳ họp thứ mười hai trong năm 1995 Trongđịnh nghĩa khuyến cáo, sức khỏe nghề nghiệp nên nhằm mục đích thúc đẩy
và duy trì mức độ cao nhất về các mặt vật chất, bảo vệ NLĐ khỏi các rủi ro
từ việc làm của họ do các yếu tố bất lợi cho sức khỏe, cần đặt và bảo đảmNLĐ làm việc trong môi trường nghề nghiệp phù hợp với khả năng sinh lý
và tâm lý của NLĐ
Trọng tâm chính trong sức khỏe nghề nghiệp là trên ba mục tiêu khácnhau: (i) duy trì và nâng cao sức khỏe NLĐ và khả năng lao động, (ii) cảithiện môi trường làm việc để việc làm trở thành an toàn và có lợi cho sứckhoẻ và (iii) phát triển văn hóa làm việc theo hướng đảm bảo sức khỏe và antoàn tại nơi làm việc, khi đạt được các yếu tố trên sẽ thúc đẩy một môitrường xã hội tích cực và hoạt động trơn tru và có thể nâng cao năng suất laođộng Khái niệm về văn hóa làm việc được nêu ra trong bối cảnh trên đãphản ánh các hệ thống giá trị chủ yếu thông qua các nhân tố có liên quan
Trang 17lý, chính sách nhân sự, nguyên tắc tham gia, chính sách đào tạo và quản lýchất lượng công việc [85].
Trong những năm 1980, khái niệm "phát triển bền vững" lần đầu tiênđược nhấn mạnh, trong đó bao gồm "quyền có một cuộc sống lành mạnh vàhài hòa với thiên nhiên" (nguyên tắc đầu tiên của Tuyên bố Rio, Hội nghịLiên hợp quốc về Môi trường và Phát triển) Mục tiêu của một môi trường antoàn và lành mạnh sẽ trở thành một phần của khái niệm phát triển bền vững,trong đó cũng có nghĩa cân bằng giữa bảo vệ sức khoẻ và cơ hội về việc làm,cải thiện đời sống và sức khỏe cho NLĐ, gồm môi trường làm việc và sứckhỏe nghề nghiệp góp phần làm cho phát triển bền vững Chuyển đổi mô hìnhnày được minh họa trong Bảng 1.1
Bảng 1.1 Một cách tiếp cận đa ngành đối với phát triển bền vững
và công bằng [80]
Mục đích của Bảng này là để minh họa sự tương tác giữa sức khỏenghề nghiệp, công việc và môi trường làm việc trong sự hỗ trợ lẫn nhau đểphát triển bền vững Nó xác định một khu vực đại diện cho sự tích hợp củacác mục tiêu kinh tế và xã hội có thể đáp ứng trong khi đồng thời có tính đếnmôi trường, việc làm, sức khỏe và kinh tế, trong đó trọng tâm của mô hìnhnghiêng về sức khỏe và công việc
Trong năm 1984, Hội nghị Lao động quốc tế thường niên của ILO đãthông qua một nghị quyết về cải thiện điều kiện làm việc gồm các yếu tố về
Trang 18cải thiện điều kiện làm việc và môi trường là một yếu tố cần thiết để thúc đẩycông bằng xã hội Thông điệp của Hội nghị nhấn mạnh rằng cải thiện môitrường và điều kiện làm việc là một đóng góp tích cực cho sự phát triển quốcgia, trong đó có ba nguyên tắc cơ bản (i) Công việc nên diễn ra trong một môitrường an toàn và lành mạnh, (ii) Điều kiện làm việc phải phù hợp với mongmuốn và phẩm giá của NLĐ và (iii) Công việc nên cung cấp các điều kiện để
cá nhân phát huy năng lực, tự hoàn thiện và phục vụ xã hội
Đối với WHO, sức khỏe nghề nghiệp bao gồm an toàn tại nơi làm việc
Vệ sinh được định nghĩa là hướng về phòng chống dịch bệnh trong khi antoàn được coi là một nguyên tắc giúp cơ thể ngăn ngừa chấn thương do tainạn Đối với ILO, an toàn và sức khỏe nghề nghiệp được xem như một mônhọc nhằm ngăn ngừa các chấn thương làm việc (bao gồm BNN và TNLĐ, cácđiều kiện ATLĐ, sức khỏe nghề nghiệp, y học lao động, vệ sinh lao động vàchăm sóc sức khỏe nghề nghiệp được sử dụng để ghi nhận những đóng gópcủa các ngành nghề khác nhau (ví dụ như kỹ sư, bác sĩ, y tá.v.v ) và côngnhận thực tế là các tổ chức ATLĐ, y tế ở cấp độ doanh nghiệp thường baogồm các dịch vụ riêng biệt ATLĐ và sức khỏe nghề nghiệp, cũng như các ủyban an toàn và sức khỏe
Ở một mức độ nhất định, ATLĐ và phòng ngừa có quan hệ chặt chẽ với
các công nghệ được sử dụng, đến quá trình sản xuất và quản lý hàng ngày,
trong đó tập trung nhiều vào các mối quan hệ giữa công việc và sức khỏe, đặcbiệt là về công tác giám sát môi trường làm việc và sức khỏe của NLĐ, cũngnhư yếu tố con người và các khía cạnh làm việc Ở cấp độ doanh nghiệp, các
kỹ sư có một sự hiện diện cần thiết và không thể tách rời với quá trình quản lý(kỹ sư sản xuất, bảo dưỡng, kỹ thuật viên.v.v ), trong khi đó sức khỏe nghềnghiệp và vệ sinh đòi hỏi sự can thiệp của các chuyên gia trong lĩnh vực y tế,những người hoạt động thông qua hình thức tư vấn hoặc hoạt động theo tổdịch vụ y tế lao động bên ngoài
Trang 19Bất cứ cách thức sắp xếp tổ chức và các thuật ngữ được sử dụng trongdoanh nghiệp, điều quan trọng nhất là người quản lý sản xuất và chuyên gia y
tế làm việc chú trọng về hợp tác và phối hợp trong việc xây dựng và thực hiệnchương trình hành động, cũng như sự phát triển của khái niệm thống nhất,chẳng hạn như "nền văn hóa làm việc" (văn hóa an toàn, văn hóa BHLĐ, vănhóa doanh nghiệp) có lợi cho an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc và "nângcao chất lượng tiếp tục" điều kiện làm việc và môi trường
Ủy ban về sức khoẻ nghề nghiệp năm 1992 giữa ILO/WHO cũng nhấnmạnh rằng phạm vi sức khỏe nghề nghiệp rất rộng (Bảng 1.2), bao gồm cácngành như y học, điều dưỡng, vệ sinh lao động (sau đây viết tắt là VSLĐ),ATLĐ, kỹ thuật, chất độc, môi trường vệ sinh, tâm lý học lao động và quản lýnhân sự Sự hợp tác và tham gia của NSDLĐ và NLĐ trong các chương trìnhsức khỏe nghề nghiệp là một điều kiện tiên quyết cần thiết cho thực hành sứckhỏe nghề nghiệp thành công
Bảng 1.2 Năm nguyên tắc và ba cấp độ cho một sức khỏe nghề nghiệp tốt [86]
Nguyên tắc Cấp độ Phòng chống Bảo vệ Thích ứng Xúc tiến Giảm nhẹ
Cá nhân (đa dạng) Phòng ngừa tai
nạn
Vệ sinh công nghiệp
Y học công nghiệp Thiết bị bảo hộ
cá nhân
Tổ chức khoa học công việc Phân tích công việc
Chương trình hỗ trợ nhân viên
Bồi thường điều trị
Năm 1920 Năm 1930 Năm 1950 Năm 1950 Năm 1910 Nhóm (nhóm tiếp
xúc, nhu cầu đặc
biệt)
Môi trường làm việc an toàn và lành mạnh Được xây dựng trong an toàn
Y học nghề nghiệp Máy bảo vệ
Thái bao gồm thiết kế
Chương trình nâng cao sức khỏe của NLĐ
Lập kế hoạch khẩn cấp và chuẩn bị sẵn sàng
Năm 1970 Năm 1940 Năm 1950 Năm 1980 Năm 1970
Xã hội và tất cả các
công nhân
(Nguyên tắc chung
của việc chăm sóc
sức khỏe ban đầu)
Công nghệ kiểm soát Quản lý sức khỏe môi trường
Sức khỏe môi trường
Dịch tễ học Chăm sóc y tế
dự phòng
Công nghệ phù hợp
Bảo vệ người tiêu dùng
Chương trình xúc tiến giáo dục và sức khỏe
Chữa bệnh chăm sóc sức khỏe
Phục hồi chức năng
Năm 1970 Năm 1960 Năm 1970 Năm 1970 Năm 1920
Ủy ban về Sức khỏe và Môi trường của WHO một lần nữa tiếp tục
Trang 20công nhận "các hình thức phát triển cần thiết để bảo vệ sức khỏe sẽ phụ thuộcvào nhiều điều kiện, trong đó có yếu tố môi trường, trong khi phát triển màkhông quan tâm đến môi trường chắc chắn sẽ dẫn đến suy giảm sức khỏe conngười" (WHO 1992) Trong bối cảnh đó, sức khỏe nghề nghiệp được côngnhận là một "giá trị gia tăng", là một đóng góp tích cực cho sự phát triển quốcgia và một điều kiện phát triển bền vững.
Tuyên bố và Chương trình hành động được thông qua tại Hội nghịThượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội được tổ chức tại Copenhagen vàonăm 1995 Hội nghị thượng đỉnh chỉ ra rằng mục tiêu không phải để tạo ra bất
kỳ loại công việc nào, mà công việc đảm bảo chất lượng để bảo vệ các quyền
và lợi ích cơ bản của NLĐ, ngoài ra việc tạo ra việc làm chất lượng tốt phảibao gồm các biện pháp để đạt được một môi trường làm việc lành mạnh và antoàn, để loại bỏ các mối nguy hiểm tới sức khỏe và đảm bảo ATLĐ Đây làmột dấu hiệu cho thấy triển vọng của sức khỏe nghề nghiệp cũng có thể hợptác tích cực trong việc điều hoà việc làm, y tế và môi trường đối với sự pháttriển công bằng và bền vững
Trong quan niệm về phát triển bền vững theo khuyến nghị của ILO/WHOthì ATVSLĐ là một phần không thể thiếu, các chỉ số đảm bảo phát triển bềnvững nhất thiết phải bao gồm các chỉ số về sức khỏe, vì Ủy ban về sức khỏenghề nghiệp nhấn mạnh cam kết "bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người" làmột nguyên tắc cơ bản cho phát triển bền vững [40] Trong đó môi trường làmviệc và đảm bảo sức khỏe của NLĐ là yếu tố đặc biệt được quan tâm
Trên phạm vi pháp luật nước ngoài, ở một số quốc gia trong hệ thốngpháp luật của mình đã ban hành các luật riêng quy định về vấn đề ATVSLĐ,
có thể kể đến như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.v.v… là những quốc gia đi đầutrong việc nghiên cứu các chính sách về đảm bảo sức khoẻ và tính mạng củaNLĐ, chúng ta có thể nghiên cứu là:
Trang 21quy định về các biện pháp ngăn chặn việc gây ra những thương tích, bệnh tật
và tử vong của NLĐ ở nơi làm việc, định nghĩa về “tiêu chuẩn về ATLĐ vàsức khỏe nghề nghiệp” là một tiêu chuẩn đòi hỏi phải có điều kiện, được thừanhận hoặc sử dụng một hoặc nhiều hoạt động, phương tiện, phương pháp, cácquy trình hợp lý, cần thiết hoặc thích hợp để cung cấp một công việc và môitrường làm việc an toàn và lành mạnh” [43]
Luật an toàn và sức khoẻ công nghiệp của Hàn Quốc năm 1990 cóquy định “TNLĐ và BNN” để chỉ những trường hợp NLĐ chết, bị thươnghoặc bị BNN vì các công trình, thiết bị, nguyên liệu thô, khí, hơi, bột, bụitrong công việc… hoặc do các lý do công tác và do công việc gây ra [44].Mục đích của Luật này là duy trì và thúc đẩy an toàn và sức khoẻ của NLĐthông qua việc phòng ngừa TNLĐ và BNN bằng cách xây dựng các tiêuchuẩn về an toàn và sức khoẻ lao động và làm rõ trách nhiệm cá nhân, tạo
ra môi trường làm việc thoải mái
Luật ATVSLĐ trong Công nghiệp Nhật bản năm 1972 sửa đổi năm
2006 có quy định: “TNLĐ” để chỉ trường hợp NLĐ bị thương, bệnh tật hoặcthiệt mạng vì các công trình, thiết bị, nguyên vật liệu, khí, hơi, bụi.v.v… tronglao động hoặc do các hoạt động lao động hoặc do công việc yêu câu sự có mặtcủa NLĐ [58] Mục đích của Luật này cùng với Luật Tiêu Chuẩn Lao Độngnăm 1947 của Nhật Bản nhằm đảm bảo an toàn và sức khỏe của NLĐ ở nơilàm việc, cũng như để tạo ra một môi trường làm việc thoải mái, bằng cáchthúc đẩy các biện pháp phòng ngừa TNLĐ một cách toàn diện và hệ thống, ví
dụ như xây dựng các tiêu chuẩn về phòng ngừa nguy hiểm, làm rõ tráchnhiệm thuộc về ai và thúc đẩy các hoạt động tình nguyện để tuyên truyền cácbiện pháp phòng ngừa TNLĐ
Như vậy, quan niệm về ATVSLĐ theo khuyến cáo của Uỷ ban về sứckhỏe nghề nghiệp ILO/WHO và quy định trong Luật an toàn và sức khoẻ
Trang 22công nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ (Chúng ta sẽ nghiên cứu ở mục1.3) được hiểu thông qua cách diễn đạt khác nhau, tuy nhiên đều hướng đếnmục đích về bảo vệ sức khoẻ của con người, bảo đảm NLĐ có môi trườnglàm việc an toàn và thuận lợi để phát huy tối đa khả năng cống hiến của NLĐ,nhằm đảm bảo sức khoẻ cao nhất của NLĐ bao gồm cả mặt vật chất lẫn tinhthần, tránh cho NLĐ khỏi những rủi ro về TNLĐ, BNN, những yếu tố bất lợicho sức khỏe của NLĐ tại nơi làm việc, đảm bảo NLĐ có một công việc antoàn và khoẻ mạnh.
Hiện nay, ATVSLĐ được xem xét không chỉ “gói gọn” trong vấn đề vềtính mạng, sức khoẻ của NLĐ mà thông điệp này còn được các chuyên giaquốc tế xem xét dưới góc độ nhân quyền, nó gắn bó mật thiết với bảo vệ môitrường và biến đổi khí hậu của toàn cầu
1.2.2 Một số quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề ATVSLĐ
Quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nằm trong nội hàm củaquyền có mức sống thích đáng được nêu ở Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tế Nhânquyền năm 1948, theo đó, mọi người có quyền được hưởng một mức sốngthích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, vềcác khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết
Ngoài ra, quy định về sức khoẻ và bảo vệ sức khoẻ con người được quyđịnh trong các điều ước quốc tế đa phương và điều ước quốc tế khu vực (i) Cácđiều ước quốc tế đa phương đó là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa năm 1966; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đốivới phụ nữ năm 1979; Công ước về Quyền trẻ em năm 1989 (ii) Các điều ướcquốc tế khu vực đó là Hiến chương Xã hội châu Âu năm 1961; Hiến chươngchâu Phi về quyền của nhân dân và con người năm 1981; Nghị định thư bổ sungCông ước Mỹ về nhân quyền (Nghị định thư San Salvador năm 1988).v.v…
Trong các Công ước trên, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã
Trang 23hội và văn hóa năm 1966 được coi là Công ước có quy định cơ bản về vấn đềnhân quyền liên quan đến bảo vệ sức khoẻ và ATVSLĐ Công ước kêu gọicác quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người đượchưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt đảm bảonhững điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh [33] Ngoài ra, Công ướckhuyến khích các quốc gia thành viên công nhận quyền của mọi người đạt tớimột tiêu chuẩn sức khoẻ về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể được;Các biện pháp mà các quốc gia thành viên của Công ước phải thi hành để thựchiện đầy đủ quyền này bao gồm những yêu cầu cần thiết về (i) Cải thiện mọimặt về vệ sinh môi trường và vệ sinh công nghiệp; (ii) Ngăn ngừa, xử lý vàhạn chế các dịch bệnh, bệnh ngoài da, BNN và các bệnh khác; (iii) Tạo cácđiều kiện bảo đảm mọi dịch vụ và sự chăm sóc y tế khi đau yếu [34].
Các quy định trên của Công ước quốc tế về các quyền về kinh tế, xã hội
và văn hóa được coi là quy định pháp luật quốc tế toàn diện nhất về quyềnđược chăm sóc sức khỏe và đảm bảo ĐKLĐ an toàn tại nơi làm việc Ủy ban
về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã giải thích một cách khá toàn diện và chitiết về quyền này trong Bình luận chung số 14 thông qua tại phiên họp lần thứ
22 năm 2002 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm quan trọng liên quan đếnsức khoẻ và mối quan hệ với ATVSLĐ trong Điều 7 như sau:
Thứ nhất, chăm sóc sức khoẻ là một quyền con người cơ bản, không
thể thiếu để thực hiện các quyền khác Mọi người có quyền được hưởng tiêuchuẩn chăm sóc sức khoẻ cao nhất có thể đạt được để sống một cuộc sống cónhân phẩm Hiện thực hóa quyền được chăm sức khoẻ có thể được thực hiệnthông qua nhiều cách tiếp cận bổ trợ nhau, chẳng hạn như xây dựng chínhsách y tế, hoặc thực hiện các chương trình y tế do WHO triển khai, hoặc banhành những văn bản pháp luật cụ thể
Thứ hai, quyền được chăm sóc sức khoẻ liên quan mật thiết và phụ
Trang 24thuộc vào việc hiện thực hoá các quyền con người khác, bao gồm các quyềnsống, quyền về lương thực, nhà ở, việc làm, giáo dục, nhân phẩm, bình đẳng,không phân biệt đối xử, cấm tra tấn, bảo vệ đời tư, tiếp cận thông tin, và cácquyền tự do lập hội, hội họp, đi lại Đặc biệt quyền được chăm sóc sức khoẻ
có mối quan hệ mật thiết với chính sách của Nhà nước ban hành về đảm bảođiều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, làm việc trong môi trường antoàn và vệ sinh
Thứ ba, Điều 12 của Công ước không bao gồm định nghĩa về sức khoẻ,
tuy nhiên có thể liên hệ đến định nghĩa được nêu trong lời nói đầu của Điều lệcủa WHO, theo đó sức khoẻ được xác định là “trạng thái thỏa mái về điềukiện thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ thuần tuý là không có bệnh tậthay không ổn định” Vì vậy, quyền được chăm sóc sức khoẻ được hiểu làquyền được thụ hưởng những cơ sở vật chất, hàng hoá, dịch vụ và điều kiệncần thiết để đạt được tiêu chuẩn sức khoẻ cao nhất có thể
Thứ tư, quyền được chăm sóc sức khoẻ phụ thuộc vào những yếu tố cơ
bản là (i) Khả năng sẵn có về cơ sở chăm sóc sức khoẻ và y tế công, các loạihàng hoá và dịch vụ, cũng như các chương trình chăm sức khỏe của quốc giathành viên và (ii) Khả năng có thể tiếp cận của mọi người với các cơ sở chămsóc sức khỏe, hàng hoá và dịch vụ y tế
Nghĩa vụ thực hiện yêu cầu các quốc gia công nhận đầy đủ quyền đượcchăm sóc sức khoẻ trong hệ thống pháp luật và chính trị quốc gia, thích hợpnhất là thông qua hình thức thực hiện lập pháp, và ban hành một chính sách y
tế quốc gia với kế hoạch chi tiết để thực hiện quyền được chăm sóc sức khoẻ.[32] Việc thực hiện chính sách về sức khoẻ thông qua việc xây dựng cácchính sách về bảo đảm sức khoẻ ở nơi làm việc, các tiêu chuẩn an toàn tronglao động cũng nằm trong nội hàm của việc đảm bảo sức khoẻ của con người
và được nhân loại công nhận như một quyền của con người
Trang 25được quy định trong các Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế Năm 1919,
Tổ chức lao động quốc tế được thành lập, nhiệm vụ cơ bản của Tổ chức này làđưa ra các tiêu chuẩn quốc tế về lĩnh vực lao động nhằm bảo vệ quyền và lợiích của NLĐ, trong đó có quyền bảo vệ NLĐ được làm việc trong môi trườnglao động an toàn, tránh được nguy cơ gây TNLĐ, BNN, tránh được tổnthương đối với các bộ phận cơ thể, thậm chí phòng ngừa được nguy cơ gây tửvong Từ khi thành lập đến nay, ILO đã có nhiều biện pháp và các hành độngthiết thực để giữ vững mục đích đã đặt ra đối với những quốc gia tham gia kýkết
Năm 2003, ILO đã thông qua một kế hoạch hành động về an toàn vàsức khoẻ nghề nghiệp, bao gồm việc đưa vào áp dụng văn hoá an toàn và sứckhoẻ phòng ngừa, khuyến trợ và phát triển các công cụ thích hợp và sự hỗ trợ
kỹ thuật Năm 2001, ILO đã đưa ra “Hướng dẫn về hệ thống quản lýATVSLĐ” nhằm tạo một công cụ hỗ trợ thiết thực cho các tổ chức, các cơquan có thẩm quyền cũng như các biện pháp để không ngừng hoàn thiện việcthực hiện công tác ATVSLĐ Mục tiêu của hệ thống quản lý ATVSLĐ là xâydựng văn hoá an toàn trong doanh nghiệp góp phần bảo vệ NLĐ khỏi cácnguy cơ rủi ro và dần tiến tới loại trừ mọi TNLĐ, BNN và giảm tỷ lệ tử vongliên quan đến quá trình lao động Để đảm bảo tính khả thi mạnh mẽ cho cáckhuyến cáo, ILO đã áp dụng nguyên tắc đồng thuận và vai trò của tổ chức 3bên: Tổ chức đại diện cho Chính phủ, tổ chức đại diện cho NSDLĐ và tổchức đại diện cho NLĐ, quan hệ 3 bên này đem lại sức mạnh, tính mềm dẻo
và cơ sở nền tảng phù hợp cho sự phát triển văn minh công nghiệp cũng nhưvăn hoá cạnh tranh bền vững cho mọi cơ sở sản xuất
Nguyên tắc NLĐ phải được bảo vệ chống lại bệnh tật, đau ốm và tainạn phát sinh từ việc làm là một trong những nguyên tắc cơ bản trong Điều lệcủa ILO Các tiêu chuẩn của ILO về an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp cung
Trang 26cấp các công cụ thiết yếu cho Chính phủ, NLĐ và NSDLĐ để thiết lập nênnhững thông lệ và đảm bảo sự an toàn tối đa tại nơi làm việc Tính đến nay,ILO đã thông qua 40 tiêu chuẩn về ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp và hơn 40
Bộ Quy tắc để áp dụng trong thực tiễn Gần một nửa các văn kiện của ILOliên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới các vấn đề ATLĐ và sức khoẻ nghềnghiệp Chúng ta có thể đưa ra một số Công ước cơ bản về an toàn và sứckhoẻ nghề nghiệp sau đây:
Một là, Công ước số 155 về ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp năm 1981
và Nghị định thư năm 2002 Công ước yêu cầu thông qua một chính sáchquốc gia nhất quán về an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp, cũng như hành động
ở cấp Chính phủ và trong phạm vi doanh nghiệp để khuyến trợ an toàn và sứckhoẻ nghề nghiệp góp phần cải thiện điều kiện làm việc Chính sách này sẽđược xây dựng trên cơ sở xem xét các điều kiện và thực tiễn quốc gia và sẽđịnh kỳ xét lại một chính sách quốc gia chặt chẽ về ATVSLĐ và môi trườnglàm việc, mục đích của chính sách quốc gia và phòng ngừa TNLĐ và nhữngtổn thương về sức khoẻ phát sinh từ công việc, bằng cách giảm đến mức thấpnhất, trong điều kiện thực tế cho phép, những nguyên nhân rủi ro vốn có trongmôi trường làm việc [66] Nghị định thư số 155 về Công ước số 155 về
ATLĐ, vệ sinh lao động và môi trường làm việc năm 1981 kêu gọi thiết lập và
định kỳ xem xét các yêu cầu, thủ tục ghi lại, thông báo về tai nạn và BNN vàxuất bản các số liệu thống kê hàng năm liên quan
Hai là, Công ước số 187 của ILO về Cơ chế thúc đẩy ATVSLĐ năm
2006, mục đích của Công ước nhằm thúc đẩy việc cải thiện không ngừng antoàn và vệ sinh lao động để ngăn chặn TNLĐ, BNN và tử vong do TNLĐ,thông qua việc xây dựng về chính sách quốc gia, hệ thống quốc gia và chươngtrình quốc gia về ATVSLĐ qua đó đưa ra giải pháp tiếp cận hệ thống quản lý;Đưa vấn đề ATVSLĐ lên thứ tự ưu tiên tại các chương trình nghị sự của quốc
Trang 27gia; Thúc đẩy việc thực hiện các tiêu chuẩn và các công cụ của ILO vềATVSLĐ; Thúc đẩy tiến trình phê chuẩn các công ước của ILO về ATLĐ[74] Trong Công ước, lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “văn hoá an toàn và sứckhoẻ phòng ngừa”, thuật ngữ này dùng để chỉ văn hoá trong đó quyền về môitrường làm việc an toàn và lành mạnh được tôn trọng ở mọi cấp, ở đó Chínhphủ, NSDLĐ và NLĐ chủ động tham gia vào việc bảo đảm môi trường laođộng an toàn và lành mạnh thông qua một hệ thống các quyền, trách nhiệm vànghĩa vụ được xác định, và ở đó quyền phòng ngừa được ưu tiên cao nhất
[73] Theo đó, cần thức đẩy và nhấn mạnh hơn nữa việc thực hiện các chính
sách về ATVSLĐ cho NLĐ và NSDLĐ để các chính sách này trở thành vănhoá trong nghề nghiệp của họ
Công ước 187 cùng với công ước 155 đã trở thành một công cụ sửdụng rộng rãi để phát triển tiêu chuẩn quốc gia và các chương trình ở cấpquốc gia và doanh nghiệp Nhiều nước đã bắt đầu thực hiện các Công ướctrên thông qua một số cơ chế tự nguyện hoặc xây dựng chiến lược quốc giatích hợp với hệ thống quản lý
Ba là, Công ước số 161 của ILO về dịch vụ sức khoẻ nghề nghiệp năm
1958, trong Công ước này yêu cầu thiết lập dịch vụ sức khoẻ y tế lao động vớicác chức năng thiết yếu nhất là phòng ngừa và chịu trách nhiệm tư vấn choNLĐ, NSDLĐ và đại diện của họ tại doanh nghiệp về việc duy trì một môitrường làm việc an toàn và khoẻ mạnh, trong đó tình trạng sức khoẻ ở đây được
đề cập đến bao gồm yếu tố về thể chất và tinh thần liên quan đến lao động [69]
Bốn là, Công ước số 184 của ILO về An toàn sức khoẻ trong lao độngnông nghiệp năm 2001, nội dung của Công ước nhằm yêu cầu các quốc giathành viên bắt buộc áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, hạn chế,tiến tới loại trừ, giảm thiểu hoặc kiểm soát các nguy cơ có trong môi trườnglao động nông nghiệp những tai nạn và tổn thương sức khoẻ xảy ra cho NLĐ
Trang 28trong lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời phải tiến hành rà soát định kỳ nhữngchính sách quốc gia về ATVSLĐ trong nông nghiệp.
Đây là công ước duy nhất trong tổng số 187 công ước của ILO quyđịnh các tiêu chuẩn lao động bắt buộc bảo vệ an toàn, sức khoẻ cho NLĐtrong ngành nông nghiệp vốn được coi là một trong ba ngành có nguy cơ mất
an toàn nhất (nông nghiệp, xây dựng và hầm mỏ) ở các nước phát triển vànhững nước đang phát triển Sự ra đời của Công ước số 184 đem lại niềm hyvọng được bảo vệ sức khoẻ đầy đủ và tốt hơn cho khoảng 1,3 tỷ NLĐ trongnông nghiệp trên thế giới trong đó chỉ có khoảng 5% được làm việc trong
điều kiện an toàn và được luật pháp bảo vệ [93], cùng với Công ước số 184
ILO có đưa ra Khuyến nghị số 192 về ATVSLĐ trong nông nghiệp, Khuyếnnghị yêu cầu các nước thành viên xây dựng và định kỳ rà soát các chính sáchquốc gia về an toàn, vệ sinh trong lao động nông nghiệp
Năm là, Công ước 102 quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội năm 1952,Công ước yêu cầu các nước thành viên phải bảo đảm cho những người đượcbảo vệ được trợ cấp trong trường hợp TNLĐ hoặc BNN, Tại hội nghị quốc tế
về lao động hàng năm, tổ chức quốc tế về lao động đã thông qua công ước
102 (6/1952), công ước đầu tiên về những quy phạm tối thiểu của BHXH gồm
9 chế độ trợ cấp như sau: Chăm sóc y tế; Trợ cấp ốm đau; Trợ cấp tuổi già;Trợ cấp thất nghiệp; Trợ cấp TNLĐ và BNN; Trợ cấp gia đình; Trợ cấp thaisản; Trợ cấp tàn tật; Trợ cấp tử tuất Công ước đòi hỏi sự bình đẳng trong đối
xử đối với người bản xứ và không phải bản xứ, cũng như qui định nhữnghoàn cảnh ngừng chi tả trợ cấp và quyền khiếu nại khi bị từ chối chi trả Côngước này là một tập hợp tất cả các chính sách trong một tài liệu toàn diện, dựavào đó các nước thành viên tham gia ký kết và xác định những chế độ đượccoi là nòng cốt của hệ thống an sinh xã hội nước mình Theo Công ước 102,Nhà nước chịu trách nhiệm chính về bộ máy quản lý, sự bảo đảm an toàn và
Trang 29kiểm soát hoạt động của quỹ an sinh xã hội, tạo điều kiện cho đại diện củanhững người được bảo vệ, NSDLĐ và Chính phủ cùng tham gia.
Công tác BHXH đã hình thành và phát triển ở từng nước khác nhau,không phải nước nào cũng thực hiện đủ 9 chế độ trên và không phải nước nàocũng có đủ đối tượng, phạm vi áp dụng, nguồn hình thành quỹ giống nhau màtuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội của từng nước để áp dụngcho phù hợp
Ngoài các Công ước trên, liên quan đến chính sách ATVSLĐ có thể kểđến là Công ước số 152 của ILO về an toàn và sức khoẻ đối với việc làm ởhải cảng, Công ước số 167 của ILO về an toàn và sức khoẻ trong ngành xâydựng, Công ước số 176 của ILO về an toàn sức khoẻ trong các hầm mỏ, Côngước số 161 về lao động trong lĩnh vực dịch vụ y tế, Công ước số 120 năm
1964 về sức khoẻ nghề nghiệp trong thương mại và văn phòng, Công ước số
81 về thanh tra lao động, Công ước 129 về thanh tra lao động trong nôngnghiệp, Công ước số 130 về Chăm sóc y tế và chế độ trợ cấp ốm đau, năm
1969 và Công ước số 159 về Tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của ngườikhuyết tật, năm 1983 [6].v.v…
Các tiêu chuẩn lao động quốc tế là một công cụ quan trọng để cải thiệnATVSLĐ vì đó là mục tiêu đặt ra cho các tiêu chuẩn này Trong các chuỗiCông ước liên quan đến ATVSLĐ của ILO, tính đến tháng 4/2013 Việt Nam
đã phê chuẩn Công ước số 155 về ATLĐ và sức khoẻ nghề nghiệp 1981 (phêchuẩn ngày 3/10/1994) Hiện nay Việt Nam đang tiến hành nghiên cứu vàđang hoàn thiện Hồ sơ để phê chuẩn Công ước số 187 về cơ chế thúc đẩyATVSLĐ, dự kiến việc phê chuẩn sẽ diễn ra trong năm 2013 – 2014, ViệtNam cũng đang nghiên cứu khả năng phê chuẩn công ước 184 về ATVSLĐtrong nông nghiệp năm 2001, Công ước số 170 về an toàn trong việc sử dụnghoá chất khi làm việc năm 1990 Việc phê chuẩn và nghiên cứu phê chuẩn các
Trang 30Công ước ILO trên của Việt Nam thể hiện quyết tâm cao của Việt Nam trong
nỗ lực cải thiện điều kiện làm việc, phát triển quan hệ lao động nhằm tiến tớiphát triển quan hệ lao động hài hoà, bền vững về việc làm tại Việt Nam
1.2.3 Vai trò của pháp luật quốc tế trong việc đảm bảo ATVSLĐ
Ngày nay, vai trò của Luật quốc tế ngày càng được mở rộng hơn khôngchỉ nằm gói gọn trong những vấn đề truyền thống như quyền con người, vấn
đề hòa bình an ninh… mà phạm vi điều chỉnh của Luật quốc tế đã vượt rakhỏi tính truyền thống đó sang những vấn đề như môi trường, kinh tế quốc tế,quốc tế nhân đạo… Tuy nhiên, các quy phạm này đều nhằm nhằm hướng tớicác giá trị tốt đẹp của con người, tạo cho con người có cuộc sống tốt hơn, đócũng là tất yếu của quá trình lịch sử, bởi vạn vận luôn luôn thay đổi và Luậtquốc tế cũng phải thay đổi theo để phù hợp với xu hướng đó Vấn đề đảm bảoATVSLĐ cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó, bằng chứng là việc trên bìnhdiện quốc gia và quốc tế đã có rất nhiều quy phạm liên quan để điều chỉnh vềvấn đề này
Về pháp lý, quyền con người là phẩm giá, năng lực, nhu cầu và lợi íchhợp pháp của con người được thể chế, bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và phápluật quốc tế
Quyền con người được bắt đầu từ môi trường quốc gia, trước khi cộngđồng quốc tế có thể thống nhất với nhau về những giá trị, chuẩn mực, quyđịnh hay nguyên tắc chung để điều chỉnh cách thức ứng xử của các quốc giađối với công dân của nước đó và cả công dân của các nước khác Các chuẩnmực về quyền con người nhìn từ góc độ quốc gia hay quốc tế đều nhằm hạnchế sự tự do xâm phạm quyền con người
Trên phạm vi toàn thế giới, hệ thống pháp luật quốc tế đóng vai trò rấtquan trọng trong việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của con người nói chung vàNLĐ nói riêng Trong xu thế quốc tế hóa mọi mặt của đời sống quốc tế ở cả
Trang 31hai cấp độ, khu vực và toàn cầu, dựa trên cơ sở nền kinh tế trí thức, luật quốc
tế hiện đại là kết quả và là sự phản ánh các quan hệ quốc tế trong điều kiệnhợp tác, phát triển của cộng đồng thế giới Sự ra đời của các điều ước quốc tế
về ATVSLĐ với sự tham gia của rất nhiều các quốc gia thành viên trên thếgiới cùng với những quy phạm mang tính chất ràng buộc, những tiêu chuẩnđối với lao động rõ ràng và cụ thể đã góp phần hiệu quả cho bảo vệ tínhmạng, sức khoẻ của NLĐ trên toàn thế giới
Luật quốc tế ghi nhận cam kết của các quốc gia cũng như cơ chế hợptác trong việc đảm bảo tính mạng, sức khoẻ của NLĐ Thông qua việc ký kết,phê chuẩn hay trở thành thành viên của một điều ước quốc tế, mỗi quốc gia đãthể hiện quan điểm, chính sách của chính quốc gia đó đối với vấn đề mà quốcgia quan tâm, trong đó có vấn đề về ATVSLĐ Không có sự áp đặt mang tínhquyền lực quốc tế trong quá trình thực hiện luật quốc tế trừ những cơ chếkiểm soát quốc tế có sự thỏa thuận của các quốc gia
ATVSLĐ là một vấn đề mang tính chất toàn cầu đòi hỏi các quốc giaphải hợp tác với nhau, đặc biệt là vấn đề liên quan đến phòng ngừa và giảmthiểu TNLĐ, BNN, trong đó vấn đề hợp tác và chuyển giao khoa học kỹ thuậtđược đặt lên hàng đầu Vì vậy, luật quốc tế chính là cơ sở, nền tảng để các quốcgia xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ để giải quyết các vấn đề có liên quan
Trong thực tế thực thi luật quốc tế về ATVSLĐ, các quốc gia phải tựđiều chỉnh pháp luật của mình trên cơ sở các quy định của luật quốc tế Bêncạnh cơ chế phòng chống TLNĐ, BNN, từng quốc gia đều xây dựng cơ chếriêng để đảm bảo việc thực hiện ATVSLĐ Luật quốc tế xác lập những quytắc, chuẩn mực pháp lý về ATVSLĐ đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới.Trên cơ sở đó, các quốc gia có thể tham khảo, viện dẫn hoặc có cơ chế hiệuquả trong việc thúc đẩy các Chương trình quốc gia về cơ chế tăng cườngATVSLĐ, đặc biệt là xây dựng “văn hoá an toàn và sức khoẻ phòng ngừa”,
Trang 32nâng cao nhận thức của NLĐ, NSDLĐ đối với vấn đề này Cùng với việc kýkết các điều ước quốc tế, để thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, các quốc giathành viên tiến hành nội luật hóa các quy định của các điều ước vào hệ thốngpháp luật quốc gia.
Luật quốc tế đóng vai trò quan trọng trong thay đổi nhận thức và xâydựng văn hoá an toàn trong lao động và sản xuất, xây dựng chính sách ngănngừa và giảm thiểu tình trạng TNLĐ, BNN, những ảnh hưởng của môi trườnglàm việc, các nhân tố có hại đối với NLĐ góp phần bảo vệ tính mạng, sứckhoẻ của NLĐ, bảo vệ quyền con người trong xã hội
Toàn cầu hoá làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam trở thành hệthống pháp luật mở Các điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc thamgia cùng với các tập quán quốc tế mà Việt Nam thừa nhận trở thành một bộphận trong hệ thống pháp luật Việt Nam Thực tiễn đó buộc chúng ta phảigiải quyết tốt mối quan hệ giữa các nguồn của pháp luật quốc tế và cácnguồn của pháp luật quốc gia
Việt Nam hiện đang là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế quantrọng như APEC, WTO.v.v… Điều này mang lại vị trí và tiếng nói cho ViệtNam trên trường quốc tế, đồng thời tạo cơ hội thuận lợi cho sự phát triểnkinh tế, đất nước Tuy nhiên, đi kèm với những thời cơ luôn luôn là tháchthức Việc kí kết các điều ước với các tổ chức quốc tế hay với các quốc giakhác đồng nghĩa với việc Việt Nam cũng phải chấp nhận những bất lợi doyêu cầu của bên còn lại Thực tế đó, đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóngthích nghi với điều kiện hội nhập và không ngừng đổi mới khắc phục toàndiện các mặt còn hạn chế, góp phần từng bước nâng Việt Nam trở thànhmột cường quốc vững mạnh
1.3 Pháp luật một số quốc gia về ATVSLĐ
Trang 33Để làm rõ hơn về tình hình xây dựng các quy phạm pháp luật của một
số quốc gia về ATVSLĐ chúng ta cùng đi vào tìm hiểu một số quy phạm phápluật chủ yếu về ATVSLĐ trong pháp luật Lao động một số nước:
1.3.1 Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Hàn quốc
Về lĩnh vực lao động, ở Hàn quốc có đạo luật: Luật Quan hệ lao động,Luật Tiêu chuẩn lao động, Luật Đảm bảo việc làm, Luật Đào tạo nghề, LuậtBảo hiểm lao động, Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp
Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp năm 1981 đã được sửa đổi quacác năm 1990, năm 1993, năm 1994, năm 1995, năm 1996, năm 1997, năm
1999, năm 2000, năm 2000, năm 2001, năm 2002, luật này gồm có 9 Chương:Chương I: Điều khoản chung; Chương II: Hệ thống quản lý an toàn sức khoẻ;Chương III: Các quy định về an toàn sức khoẻ công nghiệp; Chương IV: Cácbiện pháp phòng ngừa tai nạn, rủi ro; Chương V: Quản lý sức khoẻ của NLĐ;Chương VI: Giám sát và quy chế; Chương VII: Tư vấn an toàn công nghiệp
và tư vấn vệ sinh công nghiệp; Chương VIII: Điều khoản bổ sung; ChươngIX: Xử lý kỷ luật
Trong Luật này các quy định đáng chú ý là doanh nghiệp phải tuân thủcác tiêu chuẩn phòng ngừa TNLĐ, cung cấp thông tin về an toàn và sức khoẻtại nơi làm việc cho NLĐ, bảo đảm tính mạng và duy trì, thúc đẩy an toàn vàsức khoẻ của NLĐ bằng cách tạo một môi trường làm việc thích hợp thôngqua cải thiện ĐKLĐ và tuân thủ các chính sách phòng ngừa TNLĐ (Điều 5).Doanh nghiệp sẽ phải giao một người chịu trách nhiệm về quản lý an toàn vàsức khoẻ kiểm soát tổng thể những vấn đề về ATVSLĐ như: Xây dựng một kếhoạch phòng ngừa TNLĐ; Soạn thảo các quy định quản lý về ATVSLĐ; Giáodục về an toàn và sức khoẻ cho NLĐ; Thanh tra và cải thiện môi trường laođộng như giám sát môi trường lao động; Quản lý sức khoẻ của NLĐ như kiểmtra sức khoẻ; Điều tra nguyên nhân TNLĐ và đề ra các biện pháp phòng ngừa
Trang 34những biến cố tương tự; Ghi chép và lưu giữ thống kê TNLĐ; Trang bị bảo hộ
và an toàn liên quan đến an toàn và sức khoẻ của NLĐ (Điều 13)
Nghiên cứu những chính sách quy định trong Luật An toàn sức khoẻ
và an toàn công nghiệp của Hàn quốc, chúng ta nhận thấy có một số điểmđáng lưu ý là:
Thứ nhất, Hàn Quốc có Luật riêng về an toàn và sức khoẻ cho NLĐ,
trong đó có quy định đầy đủ về an toàn và sức khoẻ công nghiệp và các biệnpháp phòng ngừa tai nạn, rủi ro, quản lý sức khoẻ của NLĐ cho đến các biệnpháp giám sát, tư vấn an toàn công nghiệp và tư vấn VSLĐ
Thứ hai, Hàn Quốc có quy định về việc tư vấn an toàn công nghiệp và
vệ sinh công nghiệp, cung cấp thông tin cho NLĐ, NSDLĐ nhằm nâng caonhận thức của họ, đồng thời việc pháp điển hoá quy định trên vào trong luậtđảm bảo hiệu lực, hiệu quả thực thi về quy định đó
Thứ ba, quy định về các biện pháp phòng ngừa tai nạn, rủi ro trong lao
động Việc quy định như trên nhằm đảm bảo trách nhiệm của các nhà chứctrách trong vấn đề an toàn và sức khoẻ của NLĐ, đồng thời giúp NLĐ phòngtránh có hiệu quả những rủi ro trong quá trình làm việc
Thứ tư, quy định về “Quỹ bồi thường TNLĐ”, quỹ này áp dụng trong
trường hợp có TNLĐ hay NLĐ bị BNN, chủ sử dụng chỉ cần thông báo đến
cơ quan quản lý quỹ đó thì cơ quan đó sẽ chịu trách nhiệm chi trả
1.3.2 Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Nhật Bản
Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Nhật Bản bao gồm 12Chương, 123 Điều và 22 Phụ lục, Chương I: Điều khoản chung, Chương II:
Kế hoạch phòng ngừa TNLĐ, Chương III: Tổ chức quản lý an toàn và sứckhoẻ, Chương IV: Các biện pháp phòng ngừa các mối nguy hiểm hoặc nguy
cơ làm suy giảm sức khoẻ NLĐ, Chương V: Các quy định về máy và các hoáchất nguy hiểm, Chương VI: Các biện pháp bố trí nơi làm việc của NLĐ,
Trang 35Chương VII: Các biện pháp duy trì và tăng cường sức khoẻ của NLĐ,Chương VIII: Các biện pháp tạo môi trường làm việc thoải mái, Chương IX:
Kế hoạch cải thiện an toàn và vệ sinh lao động, Chương X: Thanh tra, kiểmtra, Chương XI: Các quy định khác, Chương XII: Các quy định về xử phạt
Nghiên cứu Luật an toàn và sức khoẻ công nghiệp Nhật Bản, chúng tathấy các quy định đáng chú ý sau:
Thứ nhất, trong luật có quy định về tổ chức, cá nhân quản lý về
ATVSLĐ gồm: Cán bộ quản lý chung về ATVSLĐ (Điều 10), cán bộ an toàn(Điều 11), cán bộ y tế (Điều 12), hỗ trợ viên về an toàn sức khoẻ (Điều 12.2),Bác sỹ vệ sinh công nghiệp (Điều 13), cán bộ làm công tác kiểm soát chung
về ATVSLĐ (Điều 15), các chuyên viên về ATLĐ (Điều 93), cố vấn y tế về vệsinh lao động (Điều 95) Đồng thời tại nơi làm việc NSDLĐ phải thành lậpBan an toàn và sức khoẻ (Điều 18) và ban y tế (vệ sinh lao động) (Điều 19) tạinơi làm việc, những người này làm việc theo quy định của Bộ trưởng Bộ y tế,Lao động và phúc lợi Nhật Bản Những cán bộ này thực thi nhiệm vụ hướngdẫn, kiểm tra sức khoẻ của NLĐ, hướng dẫn NSDLĐ tiến hành việc đo kiểmmôi trường lao động hoặc các biện pháp cần thiết khác khi nhận thấy cần thiếtphải duy trì sức khỏe của NLĐ bằng cách nâng cao môi trường làm việc của
họ, kiến nghị liên quan đến chăm sóc sức khỏe NLĐ.v.v đối với NSDLĐ đểbảo đảm sức khỏe cho NLĐ
Thứ hai, các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật vê thông số kỹ
thuật các loại máy, các hoá chất nguy hiểm có hại cho NLĐ đều được quyđịnh rõ ràng về sản xuất, chuyển nhượng, lưu thông, thanh tra, kiểm tra, cấpchứng nhận, cấm sử dụng các loại máy.v.v… (Điều 37 – 54), các loại hoá chấtđược sản xuất, cấm sản xuất, dán nhãn v.v… (Điều 55 - ĐIều 58)
Thứ ba, các quy định về việc bố trí nơi làm việc của NLĐ, trong đó đáng
chú ý là khi NLĐ mới được thuê, NSDLĐ phải đào tạo NLĐ về an toàn và vệ
Trang 36sinh lao động liên quan đến việc thực hiện công việc mà NLĐ đó tham gia.
Thứ tư, NSDLĐ, theo qui định của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi,
phải tiến hành việc đo kiểm môi trường lao động cần thiết đối nơi làm việctrong nhà và những nơi khác, là nơi diễn ra các công việc gây hại, và phảilưu trữ kết quả
Thứ năm, việc kiểm tra được tiến hành thông qua Bộ trưởng Bộ Y tế, Lao
động và Phúc lợi tiến hành (Điều 89), giám đốc văn phòng lao động cấp quận,huyện (Điều 89.2) có thể kiểm tra các kế hoạch đòi hỏi các kiểm tra kỹ thuật caongoài kế hoạch được đã khai báo của NSDLĐ như về kế hoạch xây dựng, lắpđặt, di chuyển hoặc thay thế kết cấu chính của công trình hoặc máy móc (ngoạitrừ các công trình tạm thời và máy móc theo qui định của Bộ Y tế, Lao động vàPhúc lợi Nhật Bản) ở nơi làm việc.Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân quản lý vềATVSLĐ có trách nhiệm kiểm tra sổ sách, văn bản và những vật dụng khác hoặc
tổ chức đo kiểm môi trưởng hoặc thu thập các mẫu sản phẩm, nguyên vật liệu
mà không phải trả tiền hoặc thực hiện việc mở rộng phạm vi cần thiết cho việcthanh tra, tiến hành kiểm tra, điều tra nguyên nhân gây TNLĐ
1.3.3 Bộ luật Lao động Philipin
Bộ luật Lao động của Philipin năm 1947 bao gồm nhiều tập khác nhau,quy định về các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động như: Trước khi tuyểndụng; Chương trình phát triển nguồn nhân lực; Các điều kiện tuyển dụng, Cácchế độ an toàn, sức khoẻ và phúc lợi xã hội; Quan hệ Lao động; Các tổ chứclao động Vấn đề về ATLĐ được quy định trong tập 4, từ Điều 156 đến Điều
210 Để đảm bảo ATLĐ trong sản xuất kinh doanh, NSDLĐ cung cấp miễnphí cho NLĐ tại bất kỳ địa điểm nào các dịch vụ y tế bao gồm: Dịch vụ y táchuyên trách khi số lượng NLĐ vượt quá 50 người nhưng không quá 200người, Bộ trưởng Bộ Lao động sẽ quy định một quy chế thích hợp những dịch
vụ nào yêu cầu phải có tại những nơi số lượng NLĐ ít hơn 50 người; Dịch vụ
Trang 37của y tá chuyên trách và bán chuyên trách của bác sĩ và nha sĩ và bệnh xá cấpcứu khi số lượng lao động trên 200 nhưng dưới 300 người; Dịch vụ của bác sĩchuyên trách, nha sĩ chuyên trách và y tá chuyên trách hoặc bệnh viện cấp cứuvới số giường bệnh tương ứng 1 giường/100 NLĐ, khi số lượng NLĐ trên
300 người; Trong trường hợp nơi làm việc độc hại, thì NSDLĐ sẽ không thuêbác sĩ hoặc nha sĩ nào làm việc tại nhà xưởng đó, nếu người này không thể ởlại đó ít nhất là 2 tiếng đồng hồ, nếu đó là cán bộ chuyên trách (Điều 157)
Nghiên cứu Bộ luật Lao động Philipin, chúng ta thấy những điểm cầnlưu ý sau đây:
Thứ nhất, quy định về “Hội đồng đền bù cho NLĐ” để giải quyết các
chế độ liên quan đến quan hệ lao động, trong đó xác định mức độ đóng gópcủa NSDLĐ khi có các số liệu cho thấy tần suất xảy ra TNLĐ hoặc BNN ở đócao do NSDLĐ ở đó không tuân thủ đầy đủ các biện pháp an toàn
Thứ hai, vấn đề Quỹ phúc lợi và bồi thường được quy định nghiêm
ngặt về khoản đóng góp của Nhà nước cũng như của NSDLĐ và NLĐ
Thứ ba, vấn đề bồi thường cho NLĐ khi bị TNLĐ, BNN được quy định
rõ ràng, bình đẳng với sức lao động của NLĐ, cũng như quan tâm đến vấn đềnhân thân của NLĐ
Tuy Philippin không quy định vấn đề về ATVSLĐ thành một Luật riêng,tuy nhiên có nhiều vấn đề quy định trong Bộ luật Lao động Philippin mà ViệtNam có thể sử dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
về ATVSLĐ như vấn đề về Quỹ phúc lợi và bồi thường, dịch vụ chăm sóc NLĐtại nơi làm việc, đến bù cho NLĐ khi xảy ra TNLĐ, BNN.v.v…
1.3.4 Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore
Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore có hiệu lực từngày 01/03/2006, sau đó được sửa đổi lần 1 vào ngày 31/07/2009, sửa đổi lần
2 vào ngày 01/9/2011, sửa đổi lần 3 và có hiệu lực từ ngày 30/11/2013, Luật
Trang 38gồm 10 phần quy định về các vấn đề khác nhau, Phần I sơ lược, phần II giảithích, Phần III điều hành thực hiện , phàn IV nhiệm vụ chung tại nơi làmviệc, Phần V quyền hạn của Uỷ viên, phần VI thanh tra và báo cáo tai nạn,những lần xuất hiện nguy hiểm và bệnh nghề nghiệp, phần VII tổ chức quản
lý an toàn và sức khoẻ, Phần VIII Hội đồng sức khoẻ và an toàn nơi làm việc,phần IX thanh tra và quyền hạn thi hành khác, Phần X tội phạm, hình phạt và
tố tụng, Phần XI phần chung
Nghiên cứu Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore,chúng ta thấy những điểm cần lưu ý như sau:
Thứ nhất, đối tượng Luật này áp dụng là nơi làm việc nào hoàn toàn
hoặc một phần thuộc sở hữu hoặc chiếm đóng của Chính phủ; và bất kỳ cơ sở,trong đó có hoạt động xây dựng hay sản phẩm của kỹ thuật xây dựng thựchiện bởi hoặc thay mặt cho Chính phủ
Thứ hai, phạm vi Luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến việc xử
lý, phân loại, đóng gói, lưu trữ, thay đổi, sửa chữa, xây dựng, chế biến hoặcsản xuất hàng hóa hay sản phẩm; việc xử lý, phân loại, đóng gói, lưu trữ, chếbiến, sản xuất hoặc sử dụng bất kỳ các chất độc hại; sửa chữa, xây dựng hoặcsản xuất bất kỳ tàu xe; bất kỳ hoạt động xây dựng, công trình kỹ thuật xâydựng; hoạt động hoặc duy trì bất kỳ cơ sở hoặc hệ thống liên quan đến việccung cấp các bất kỳ tiện ích công cộng
Thứ ba, các vấn đề như chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
đến đâu, xử lý vi phạm, giải quyết vấn đề ra sao đều được giải quyết trong cácphần của Luật Đặc biệt các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật trong xây dựng,hoá chất, máy móc, môi trường độc hại nguy hiểm, các bệnh được coi là nằmtrong danh mục bệnh nghề nghiệp đều được đưa vào trong Luật
Như vậy, Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore có nhữngđiểm khác biệt so với một số Luật liên quan đến ATVSLĐ các nước đó là Luật
Trang 39Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore chủ yếu tập trung điều chỉnhcác vấn đề có nguy cơ cao như hoạt động xây dựng, môi trường sản xuất tiếpxúc với chất độc hại, qua đây Việt Nam có thể nghiên cứu để học tập kinhnghiệm để xây dựng với phạm vi điều chỉnh tương tự về hoạt động xây dựng,hoạt động trong điều kiện môi trường sản xuất độc hại, nguy hiểm, đồng thời
có thể học tập kinh nghiệm lập pháp về mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quantrong quá trình xử lý, thanh tra, báo cáo tai nạn lao động trong trường hợp điềutra sự cố nguy hiểm, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Qua nghiên cứu pháp luật quốc gia có những nét văn hoá tương đồngvới Việt Nam như Philipin và một số quốc gia ở Châu Á có nền công nghiệpphát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore cho thấy vấn đề ATVSLĐđược pháp điển hoá trong hệ thống pháp luật, các vấn đề liên quan đến bảo vệsức khoẻ và tính mạng cho NLĐ trong quá trình sản xuất có những quy định
ưu việt, qua đây Việt Nam có thể tham khảo và tiếp thu có chọn lọc kinhnghiệm xây dựng pháp luật về ATVSLĐ của các quốc gia trên thế giới, đặcbiệt là các quốc gia phát triển có hệ thống pháp luật ổn định, phù hợp vớithông lệ quốc tế và nội dung của các Điều ước quốc tế mà nước Việt Nam đãphê chuẩn hoặc tham gia, qua đó học hỏi và chọn lọc để phù hợp với điềukiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
1.3.5 Kinh nghiệm xây dựng và triển khai Luật ATVSLĐ của một số quốc gia trên thế giới
Qua nghiên cứu pháp luật lao động của một số quốc gia trên thế giớicho thấy, về hình thức, quy phạm về ATVSLĐ được thiết kế theo 2 nhóm:Luật nằm trong Bộ luật Lao động (Brunei, Campuchia, Indonêxia, Lào,philipin) hoặc Luật ATVSLĐ riêng (Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Trungquốc, Singapore, Mông Cổ, Thái Lan) Tuy nhiên qua nghiên cứu cho thấy,
ở những quốc gia có Luật ATVSLĐ riêng thì hệ thống pháp luật đồng bộ và
Trang 40công tác ATVSLĐ được thực hiện hiệu quả hơn Vì vậy, Việt Nam nên xemxét và tham khảo Luật ATVSLĐ của Malaysia, Singapore và Hàn Quốc,Nhật bản vì các luật này điều chỉnh đến nhiều đối tượng lao động Tuynhiên, việc áp dụng đối với tất cả các đối tượng trên của Singapore thực tếvẫn chưa được triệt để, chủ yếu vẫn tập trung vào NLĐ trong những ngành
có nguy cơ cao Theo quan điểm của học viên, nếu Việt Nam xây dựngLuật riêng về ATVSLĐ nên mở rộng phạm vi áp dụng các quy định liênquan đến ATVSLĐ và bảo hộ tới tất cả các ngành kinh tế bao gồm cả laođộng tự do, lao động di cư v.v… Việc mở rộng phạm vi đối với LuậtATVSLĐ sẽ dễ dàng hơn việc mở rộng phạm vi và đối tượng trong Bộ luậtLao động hiện nay Tuy nhiên, tuỳ điều kiện Việt Nam cũng nên xem xét lộtrình và cân nhắc về đối tượng áp dụng và tính khả thi khi áp dụng các quyđịnh này với thực tế ở Việt Nam
Việt Nam nên tham khảo các tiêu chuẩn quốc tế có ý nghĩa đối vớikhung pháp luật mới của Việt Nam về ATVSLĐ và xem xét các mối quan hệliên quan như Luật Lao động với thị trường, giữa Luật ATVSLĐ và Bộ luậtLao động, Luật ATVSLĐ với các luật chuyên ngành, Luật ATVSLĐ vàthương mại quốc tế, thừa nhận rộng hơn về khái niệm an toàn và sức khỏe,trong lao động, khái niệm ATVSLĐ cần bao gồm yếu tố sức khoẻ về mặt thểchất và tinh thần Bộ luật Lao động và các quy định hiện tại chỉ đưa ra mộtđịnh nghĩa hẹp về an toàn và sức khoẻ không bao gồm các yếu tố tinh thầnảnh hưởng tới sức khoẻ
Hàn Quốc xây dựng Luật ATVSLĐ riêng từ năm 1981 và sửa đổi nhiềunăm Phạm vi đề cập Luật ATVSLĐ được mở rộng tới tất cả các nơi làm việc.Phạm vi tất cả các doanh nghiệp và nơi làm việc bao gồm cả nhà nước, cơquan địa phương và các tổ chức khác Bên cạnh đó, Hàn Quốc đã thực hiệnnhiều Chương trình phòng ngừa TNLĐ, cụ thể là lần thứ thứ nhất năm 1983