Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn

Một phần của tài liệu Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn – thực trạng và hướng hoàn thiện (Trang 24 - 27)

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN

1.2. Khái quát về pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn

1.2.2. Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn

Một là, nguyên tắc Nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền con người được sống trong một môi trường trong lành.

Quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc là một trong những quyền cơ bản của con người. Quyền thiêng liêng này được ghi trong Tuyên ngôn dân quyền Pháp,

36 Điều 28 Luật Bảo vệ Môi trường 1993 quy định: Tổ chức, cá nhân trong các hoạt động của mình không được gây tiếng ồn, độ rung động vượt quá giới hạn cho phép làm tổn hại sức khoẻ và ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt của nhân dân xung quanh.

Khoản 7 Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định về những hành vi bị cấm và trong đó bao gồm hành vi gây tiếng ồn, độ rung vượt quá mức cho phép.

37 Khoản 18 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 định nghĩa: Kiểm soát ô nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm.

38 Trường đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Môi trường, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr.43.

19

Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại trong bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam vào năm 1945. Tuy nhiên, khi quyền sống của con người được đảm bảo hơn về mặt pháp lý thì lại bị đe doạ bởi tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường, mà quyền sống của con người lại có mối quan hệ mật thiết với môi trường.

Tuyên bố Stockholm 1972 tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường con người khẳng định rằng con người được sống trong một môi trường trong lành là một trong những nguyên tắc trọng tâm của quan hệ giữa các quốc gia. Nguyên tắc số 01 nêu rõ:

“Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và đầy đủ các điều kiện sống, trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau”. Nguyên tắc số 01 trong Tuyên bố Rio De Janerio 1992 của Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và phát triển cũng khẳng định: “Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh hài hòa với thiên nhiên”.

Ở Việt Nam, Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Mọi người đều có quyền sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”39. Và nguyên tắc này đã được cụ thể hóa tại Luật BVMT 2014 và hiện nay là Luật BVMT 2020. Cơ sở xác lập của nguyên tắc này dựa vào tầm quan trọng của quyền được sống trong môi trường trong lành, thực trạng môi trường hiện nay đang bị suy thoái nên quyền tự nhiên này đang bị xâm phạm và xuất phát từ những cam kết quốc tế và xu hướng chung trên thế giới. Thông qua nguyên tắc này, Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường nhằm bảo đảm cho người dân được sống trong một môi trường trong lành. Ở khía cạnh này, đây không chỉ là một nguyên tắc mà còn là mục đích của Luật Môi trường. Nguyên tắc này cũng tạo cơ sở pháp lý để người dân bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của mình thông qua việc thực hiện những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như:

quyền khiếu nại, quyền tố cáo, quyền tự do cư trú, quyền được bồi thường thiệt hại,…40

39 Điều 43 Hiến pháp 2013.

40 Phạm Văn Võ (2023), Tập bài giảng Luật môi trường, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, tr. 20, 21.

20 Hai là, nguyên tắc phát triển bền vững.

Phát triển bền vững thực chất là sự liên kết giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và các giá trị khác. Phát triển bền vững là một trong những nguyên tắc quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc tế về môi trường41.

Muốn duy trì sự phát triển bền vững thì kiểm soát ô nhiễm môi trường là vấn đề cần được đặt lên hàng đầu. Và một trong những vấn đề ô nhiễm môi trường đáng chú ý không thể không nhắc đến đó chính là ô nhiễm tiếng ồn. Thông qua nguyên tắc phát triển bền vững, các nhà lập pháp có cơ sở để xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nhằm điều chỉnh các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm tiếng ồn. Việc ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn dựa trên nguyên tắc phát triển bền vững sẽ giúp cân bằng giữa việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn có hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo phát triển kinh tế. Nếu chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế mà không chú trọng đến việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn thì tất yếu ô nhiễm tiếng ồn sẽ rơi vào trạng thái mất kiểm soát, tác động tiêu cực đến sức khỏe của con người – lực lượng lao động chính trong xã hội và nền kinh tế ắt sẽ suy giảm. Chính vì vậy, kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn phải đi đôi với phát triển bền vững, phải có sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu: phát triển kinh tế, kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, đảm bảo tiến bộ xã hội.

Ba là, nguyên tắc phòng ngừa.

Nguyên tắc này hình thành dựa trên cơ sở chi phí phòng ngừa bao giờ cũng rẻ hơn chi phí khắc phục, có những tổn hại gây ra cho môi trường là không thể khắc phục được mà chỉ có thể phòng ngừa42.

Phòng ngừa trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là chủ động ngăn chặn, giảm thiểu được những tác động xấu của ô nhiễm tiếng ồn tới môi trường và con người. Bởi lẽ, môi trường một khi đã rơi vào ô nhiễm thì khó có thể hồi phục lại nguyên trạng như ban đầu, đặc biệt hơn, khi ô nhiễm tiếng ồn tác động đến con người sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng về sức khỏe và khó có thể chữa lành. Thay vì để ô nhiễm tiếng ồn trở nên mất kiểm soát thì cần có sự chủ động phòng ngừa bằng việc ban hành các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nhằm lường trước, ứng phó được với các sự cố mà ô nhiễm tiếng ồn có thể gây ra. Hướng đến ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm tiếng ồn cũng như tăng cường sự răn đe, giáo dục thông qua các chế tài. Bên cạnh đó, việc dựa trên nguyên tắc phòng ngừa để ban hành

41 Trường đại học Luật Hà Nội (2016), tlđd, tr. 45.

42 Phạm Văn Võ (2023), tlđd, tr. 24.

21

các quy định trong kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn cũng góp phần tiết kiệm được các chi phí khắc phục hậu quả do ô nhiễm tiếng ồn gây ra.

Một phần của tài liệu Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn – thực trạng và hướng hoàn thiện (Trang 24 - 27)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(62 trang)