Thông qua việc phân tích các quy định pháp luật dân sự của Việt Nam về tài sản cũng như xem xét quan điểm pháp lý của một số quốc gia trên thế giới nhìn nhận về tiền ảo, phân tích một số
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
LÊ THANH HÙNG
PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH TIỀN ẢO TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ- KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VÀ ĐỀ
XUẤT CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP Hồ Chí Minh, Năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số chuyên ngành: 60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Vân Long
TP Hồ Chí Minh, Năm 2019
Trang 3Lời cam đoan
Tôi cam đoan rằng luận văn “Pháp luật điều chỉnh tiền ảo trong giao
dịch thương mại điện tử - Kinh nghiệm pháp luật một số nước và đề xuất cho Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Trang 4
Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Pháp luật điều chỉnh tiền ảo
trong giao dịch thương mại điện tử - Kinh nghiệm pháp luật một số nước và đề xuất cho Việt Nam” tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo
nhiệt tình của các thầy, cô giáo trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh để hoàn thành luận văn này
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban giám hiệu, phòng Sau Đại học, các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đặc biệt đến TS Trần Vân Long – người đã
trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về kiến thức, tài liệu và phương pháp để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu, các giảng viên, CB NV Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Min
- Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song có thể còn có những mặt hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 12 năm 2019
Tác giả
Lê Thanh Hùng
Trang 5Tóm tắt
Luận văn được thực hiện với mục đích là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng khung pháp luật điều chỉnh tiền ảo trong giao dịch thương mại điện tử trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của một số nước Kết quả nghiên cứu luận văn đã làm sáng tỏ khái niệm tiền ảo dưới góc độ pháp lý, trình bày bản chất pháp lý của tiền ảo trong bối cảnh tại Việt Nam, tiền ảo không được công nhận như một loại tiền tệ pháp định, phương tiện thanh toán hay thậm chí một loại tài sản theo pháp luật dân sự, mặc dù trong thực tế, các giao dịch mua bán, trao đổi tiền ảo vẫn diễn ra thường xuyên Thông qua việc phân tích các quy định pháp luật dân sự của Việt Nam về tài sản cũng như xem xét quan điểm pháp lý của một số quốc gia trên thế giới nhìn nhận về tiền ảo, phân tích một số quy định nổi bật trong pháp luật của Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, các quốc gia sớm xây dựng các quy định pháp luật về tiền ảo trong giao dịch thương mại điện tử và hoạt động kinh doanh giao dịch tiền ảo, luật văn đã đưa ra những đề xuất kiến nghị chủ yếu
Thứ nhất, xây dựng pháp luật và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các giao
dịch tài chính Cần quy định lộ trình xây dựng pháp luật về đồng tiền ảo cụ thể Việt Nam cần phải lên kế hoạch cụ thể trong việc xây dựng pháp luật điều chỉnh Vấn đề rà soát các văn bản pháp luật liên quan đến tiền ảo như Luật giao dịch điện tử 2005, Luật tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi bổ sung 2017), Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử là yêu cầu cấp thiết
Thứ hai, xác định tiền ảo là một loại tài sản nhưng không phải tiền tệ như nhiều
quốc gia Đây là điều hợp lý, khi mà yếu tố công nghệ tác động đến vấn đề pháp
lý chưa thể giải quyết được, thì vấn đề xác định tiền ảo là một tài sản sẽ giúp bảo
vệ quyền sở hữu cho chủ sở hữu, nhưng đồng thời tránh những rủi ro mà tiền ảo
có thể gây ra
Trang 6
Thesis Summary
The thesis is done with the purpose of clarifying the theoretical and practical basis for the development of the legal framework governing virtual currencies in e-commerce transactions based on reference to legal experience of some countries The results of the dissertation have clarified the concept of virtual currencies from a legal perspective, presented the legal nature of virtual currencies in the context of Vietnam, virtual currencies are not recognized as a legal currency, means of payment or even a type of property under civil law, although in reality, transactions of trading and exchanging virtual currencies still occur regularly Through analyzing Vietnam's civil laws and regulations, as well as reviewing the legal views of some countries around the world on cryptocurrencies, analyzing some outstanding legal regulations The laws of Japan, Thailand, Singapore and other countries have soon developed legal regulations on virtual currencies in e-commerce transactions and virtual currency trading activities
Firstly, developing laws and business environment favorable for financial
transactions It is necessary to set a roadmap to build laws on specific virtual currencies Vietnam needs to have a specific plan in developing the governing law Reviewing legal documents related to virtual currencies such as the 2005 Law on Electronic Transactions, the 2010 Law on Credit Institutions (amended in 2017), the Law on Negotiable Instruments in 2005, Decree No 52 / 2013 / ND-CP on e-commerce is an urgent requirement
Second, defining virtual currencies is an asset but not a currency like many countries
This is logical, as the technology element that affects the legal issue cannot be solved, the problem of identifying virtual currencies as an asset will help protect ownership rights for the owner, but co avoid the risks that virtual money can cause
Trang 7Mục lục
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Danh mục các từ viết tắt viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Câu hỏi nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5.1 Đối tượng nghiên cứu 8
5.2 Phạm vi nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu: 9
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 9
8 Kết cấu của Luận văn 9
CHƯƠNG 1: 10
TỔNG QUAN VỀ TIỀN ẢO VÀ PHÁP LUẬT GIAO DỊCH TIỀN ẢO TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 10
1.1 Một số vấn đề lý luận về tiền ảo và pháp luật về thương mại điện tử 10
1.1.1 Một số vấn đề lý luận về tiền ảo 10
1.1.1.1 Khái niệm về tiền ảo 10
1.1.1.2 Đặc điểm của tiền ảo 15
1.1.1.3 Bản chất pháp lý của tiền ảo 17
1.1.1.4 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của tiền ảo 24
1.1.2 Pháp luật về thương mại điện tử 27
1.1.2.1 Khái niệm thương mại điện tử 27
1.1.2.2 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện tử 29
Trang 81.2 Pháp luật về giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử 33
1.2.1 Pháp luật Việt Nam về giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử 33 1.2.2 Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử 36 1.2.2.1 Giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử theo pháp luật Cộng hòa Pháp……… ….37 1.2.2.2 Giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử theo pháp luật Canada 39 1.2.2.3 Giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử theo pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức 41
Kết luận Chương 1 43CHƯƠNG 2: 44THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH TIỀN ẢO TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 442.1 Thực trạng pháp luật về giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử ở Việt Nam 44
2.1.1 Thực trạng các quy định pháp luật về giao dịch tiền ảo 44 2.1.2 Thực trạng các quy định pháp luật về giao dịch tiền ảo trong thương mại điện
Trang 93.1 Kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giao dịch tiền ảo trong hoạt
động thương mại điện tử trên thế giới 70
3.2 Một số giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giao dịch tiền ảo trong hoạt động thương mại điện tử 75
3.2.1 Sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giao dịch tiền ảo trong hoạt động thương mại điện tử 75
3.2.2 Một số giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giao dịch tiền ảo trong hoạt động thương mại điện tử 77
3.2.2.1 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giao dịch tiền ảo trong hoạt động thương mại điện tử 77
3.2.2.2 Các giải pháp khác 81
Kết luận Chương 3 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10Danh mục các từ viết tắt
Trang 11để thực hiện các giao dịch thanh toán, chuyển đổi hàng hóa, được một số quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Thụy Sĩ bước đầu nhìn nhận như phương tiện thanh
lạ trong giới kinh doanh và giới học thuật, thậm chí những người dân bình thường
Tại Việt Nam chưa hình thành khung pháp lý để quản lý, xử lý tiền ảo Mặc
dù thiếu vắng các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhưng thực tế tại Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy việc kinh doanh tiền ảo đã và đang diễn ra rất sôi động với phạm vi ngày càng được mở rộng Điều này đã dẫn đến việc phát sinh rất nhiều tranh chấp và người phải gánh chịu toàn bộ rủi ro thường chính là những
1 Lê Vũ Nam (2019), “Tiền ảo và vấn đề xây dựng khung khổ pháp lý quản lý tiền ảo tại Việt Nam”, Tạp chí
Tài chính, Số 702, tr 150 - 153
2 Đoàn Phương Thảo (2018), “Xây dựng khung pháp lý về tiền ảo tại Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, tr.01
3 Mai Phương – Thanh Xuân (2017), “Chiêu trò huy động vốn từ tiền ảo”, Báo Thanh Niên, [https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/chieu-tro-huy-dong-von-tu-tien-ao-viet-907265.html], (truy cập tháng 6/2019)
Trang 12người tham gia Đồng thời, việc này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự ổn định của thị trường tài chính cũng như trật tự an toàn xã hội4
Trong bối cảnh chung như vậy ngày 21/8/2018 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1255 Phê duyệt Đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo Trên cơ sở đề án này, ngày 11/4/2018 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 10 về việc tăng cường quản lý các hoạt động liên quan tới Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác Mục tiêu của
đề án Hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo: (i) Nghiên cứu, nhận diện đầy đủ, chính xác bản chất của tài sản
ảo, tiền điện tử, tiền ảo theo kinh nghiệm nước ngoài và thực tiễn Việt Nam; mối quan hệ với tài sản thực, tiền thực; vai trò của tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo và tác động của tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo tới pháp luật (ii) Rà soát, đánh giá thực trạng khung pháp lý về tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo của Việt Nam; kinh nghiệm điều chỉnh của nước ngoài và tác động tới hệ thống pháp luật liên quan của Việt Nam nhằm nhận diện và xác định thái độ của cơ quan nhà nước đối với các vấn đề pháp lý liên quan; đề xuất các nhiệm vụ, công việc cụ thể và những định hướng để xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo nhằm đảm bảo tương ứng với các rủi ro liên quan để kiểm soát, giảm thiểu các rủi ro này nhưng không được ảnh hưởng đến sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo, đảm bảo tính linh hoạt để phù hợp với sự thay đổi trong sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, thương mại điện tử5
Trước thực trạng đó, xuất hiện tranh chấp đầu tiên vế việc xác định bản chất pháp lý của tiền ảo Vụ kiện được TAND TP Bến Tre đưa ra xét xử ngày 20/9/2017, bản án của TAND Tỉnh bến Tre ngày 21/9/2017 đã xác định rằng hiện chưa có luật công nhận tiền điện tử Bitcoin là hàng hoá Việc cơ quan thuế ra quyết định truy thu thuế trong trường hợp này là mặc nhiên công nhận loại tiền này là
4 Huỳnh Thị Nam Hải (2019), “Tiền ảo và tình trạng pháp lý của tiền ảo tại Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 11/2019, tr 19
5 Mục I.2, Điều 1, Quyết định số 1255/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo
Trang 13hàng hoá trong khi đề án về khung pháp lý để quản lý, xử lý loại tiền này chỉ mới đang được xây dựng Việc truy thu thuế không phù hợp sẽ ảnh hưởng hoạt động quản lý tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tạo điều kiện để chuyển tiền bất hợp pháp, thanh toán chuyển tiền cho các giao dịch bất hợp pháp6 Đặc biệt, năm 2018 xảy ra vụ việc Công ty cổ phần Modern Tech bị tố “lừa đảo 15 nghìn tỉ đồng” của nhà đầu tư thông qua các giao dịch tiền ảo iFan và Pincoin7 Từ thực tiễn này và sự cần thiết phải có cơ chế pháp lý để điều chỉnh các giao dịch có liên quan đến tiền ảo mà trong một vài trường hợp có giá trị rất lớn Tiền ảo đã được giao dịch rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, trong đó tập trung vào các khu vực phát triển như Bắc Mỹ, Đông Âu và Châu Á Hiện nay có tất cả 1574 loại tiền ảo đang được giao dịch trên thế giới Tổng giá trị vốn hóa thị trường của tiền ảo trên toàn thế giới đã tăng lên chóng mặt, từ mức gần bằng 0 năm 2013 đến con số hơn
300 tỷ USD (tính đến ngày 20/04/2018) Trong các loại tiền ảo, Bitcoin có giá trị vốn hóa cao nhất trên thị trường, chiếm khoảng 40% tổng giá trị vốn hóa thị trường Đứng thứ hai là Ethereum và sau đó là Ripple8 (, 2018) Tại nhiều quốc gia, tiền ảo được phép sử dụng, thương mại một cách rõ ràng và quy định các cơ chế pháp lý để điều chỉnh các giao dịch có liên quan đến tiền ảo như: Mỹ, Canada, Nga, Nhật Bản, Úc
Với những yêu cầu cấp thiết cần xác định bản chất của tiền ảo dưới góc độ pháp lý và việc cần thiết xây dựng khuôn khổ pháp lý liên quan đến tiền ảo trong giao dịch thương mại điện tử trên cở sở nghiên cứu so sánh pháp luật của một số
quốc gia điển hình Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật điều chỉnh tiền ảo
trong giao dịch thương mại điện tử - Kinh nghiệm pháp luật một số nước và đề xuất cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học
6 Phương Loan (2017), “Tòa tuyên án vụ thu thuế tiền điện tử Bitcoin”, Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, [https://plo.vn/phap-luat/toa-tuyen-an-vu-thu-thue-tien-dien-tu-bitcoin-728366.html], (truy cập tháng 7/2019)
7 Trung Sơn (2018), “TP HCM điều tra nghi vấn lừa 15.000 tỷ mua tiền ảo iFan”, Báo điện tử Vnexpress [https://vnexpress.net/phap-luat/tp-hcm-dieu-tra-nghi-van-lua-15-000-ty-mua-tien-ao-ifan-3735137.html], (truy cập tháng 7/2019)
8 Hoàng Thị Tâm (2018), “Tiền ảo và thực trạng quản lý tiền ảo ở một số quốc gia trên thế giới”, Tạp chí công thương, [http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/tien-ao-va-thuc-trang-quan-ly-tien-ao-o-mot-so-quoc-gia- tren-the-gioi-53772.htm], (truy cập tháng 7/2019)
Trang 142 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu về tiền điện tử, tiền
ảo hay “bitcoin” Tuy nhiên, đa phần các công trình đề cập về (i) Bản chất pháp lý tiền ảo; (2) Cơ sở khoa học xây dựng khung pháp lý về tiền ảo tại Việt Nam; (3) Chính sách và pháp luật một số quốc gia về quản lý, sử dụng tài ảo Tuy nghiên, chưa có công trình nghiên cứu toàn diện về giao dịch tiền ảo trong thương mại điện
tử, và trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài dưới góc độ “so sánh luật”, đồng thời đề xuất các giải pháp cho Việt Nam Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về tiền điện tử, tiền ảo hay “bitcoin” có thể kể đến như:
- Nguyễn Huy Hoàng Nam (2018), ‘Chào bán tiền ảo lần đầu ra công chúng
ở Nhật Bản và vấn xây dựng pháp luật về quản lý tiền ảo ở Việt Nam”, Tạp chí
Dân chủ và pháp luật, Số 4/2018, tr 46 - 51 Bài viết phân tích những quy định
của pháp luật Nhật Bản về tiền ảo và chào bán tiền ảo, từ đó, đưa ra kiến nghị xây dựng khung pháp luật điều chỉnh vấn đề này tại Việt Nam
- Nguyễn Minh Oanh (2018), “Chính sách và pháp luật về tiền ảo của
Singapore – Kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số
1/2018, tr 77 - 84 Bài viết phân tích và đánh chính sách, pháp luật của Singapore
về tiền ảo Trên cơ sở đó, đưa ra những gợi mở cho Việt Nam trong việc xây dựng chính sách và khung pháp lý để kiểm soát, quản lý và điều hành đối với tiền ảo
- Nguyễn Minh Oanh, Hà Công Anh Bảo (2018), “Chính sách, pháp luật về
tiền ảo của Thái Lan và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật, số 3/2018, tr 72 - 77 Bài viết nghiên cứu chính sách và pháp luật về tiền ảo
tại Thái Lan, một quốc gia châu Á có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, từ đó, đưa ra một số gợi mở cho Việt Nam trong việc xây dựng chính sách và khung pháp
lý quản lý, kiểm soát đối với tiền ảo
- Nguyễn Huy Hoàng Nam (2018), “Quản lý giao dịch tiền ảo, thuế đối với tiền ảo ở Nhật Bản và những vấn đề cần quan tâm trong quá trình xây dựng cơ sở
pháp lý về lĩnh vực này tại Việt Nam”, Tạp chí Nghề Luật, Số 4/2018, tr 80 - 84
Bài viết phân tích các quy định của pháp luật Nhật Bản đối với giao dịch tiền ảo,
Trang 15quy định về thuế đối với tiền ảo Nêu nhận xét về phương thức quản lý giao dịch tiền ảo và thuế đối với tiền ảo tại Nhật Bản Đưa ra một số kiến nghị cho Việt Nam trong quá trình xây dựng khung pháp lý quản lý tiền ảo
- Phùng Trung Tập (2018), “Tiền ảo và những khía cạnh của tiền ảo”, Tạp
chí Kiểm sát, số 15/2018, tr 16 - 23 Bài viết phân tích ưu điểm, hạn chế, những
thuộc tính của tiền ảo Trình bày nguyên nhân pháp luật Việt Nam chưa thừa nhận tiền ảo là một loại tiền tệ, một loại tài sản được phép giao dịch
Nhìn chung công trình khoa học nêu trên đã phân tích cụ thể các vấn đề có liên quan hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo theo pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam Ngoài ra có thể kể đến một số công trình khác đề cập đến việc để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo dưới góc nhìn tài chính, ngân hàng như:
- Lê Thị Ngọc Tú (2018), “Quản lý, giám sát tiền mã hóa và gợi ý chính sách
cho Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, 5/2018, Số 680, tr 22 – 24;
- Phạm Thị Thúy Hằng (2018), “Giải pháp quản lý tiền ảo, tài sản ảo”, Tạp chí
Tài chính, 5/2018, Số 680, tr 18 – 21;
- Nguyễn Thị Hiền (2018), “Một số khuyến nghị hoàn thiện khung pháp lý
quản lý các loại tiền ảo, tiền điện tử”, Tạp chí Tài chính 5/2018, Số 680, tr 14 –
17;
- Đậu Thị Mai Hương (2014), “Một số vấn đề pháp lý về tiền ảo và khuyến
nghị”, Tạp chí Ngân hàng, 2014, Số 10, tr.15
Trên cơ sở kế thừa các công trình khoa học, và nghiên cứu những vấn đề
“mới” để phân tích các cơ sở pháp lý về giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử Đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài dưới góc độ “so sánh luật” Với mục đích đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh tiền ảo trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 16Luận văn được thực hiện với mục đích là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng khung pháp luật điều chỉnh tiền ảo trong giao dịch thương mại điện tử trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của một số nước Việc công nhận và xây dựng khung pháp lý tiền ảo tại Việt Nam thì đây là bước tiến lớn cho pháp luật dân sự khi công nhận một phạm trù mới, đồng thời ảnh hưởng mạnh mẽ đến các ngành luật khác, trong đó có pháp luật về doanh nghiệp, thuế hay đầu tư, bởi lẽ nếu tiền ảo đã là một dạng tài sản đặc biệt thì doanh nghiệp và nhà đầu tư hoàn toàn có căn cứ khi sử dụng nhóm tài sản này phục vụ cho các hoạt động kinh doanh sinh lợi cũng như cơ quan có thẩm quyền xem xét các vấn đề về thực thi nghĩa vụ đối với người sở hữu tài sản
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Khái quát về “tiền ảo” theo trong hoạt động thương mai điện tử;
- Đặc điểm của tiền ảo? Tình trạng pháp lý “tiền ảo” theo pháp luật Việt Nam hiện nay?
- Quan điểm pháp lý của các quốc gia trên thế giới về bản chất của “tiền ảo” như thế nào?
- Kinh nghiệm các quốc gia để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo?
- Xây dựng cơ chế pháp lý nào điều chỉnh các vấn đề liên quan đến giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử?
4 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu, và mục đích nghiên cứu của Luận văn, tác giả đặt ra các “câu hỏi nghiên cứu” cơ bản trong quá trình thực hiện đề tài như sau:
Thứ nhất, cơ sở lý luận và thực tiễn việc xây dựng khung pháp lý về tiền ảo
hiện nay như thế nào?
Trang 17Để giải quyết câu hỏi này, trước hết luận văn sẽ trình bày lịch sử hình thành
và phát triển của tiền ảo, các loại tiền ảo phổ biến đang được lưu thông trên thị trường Nghiên cứu bản chất pháp lý của tiền ảo có phải là một dạng tài sản? Các
cở sở lý luận và thực tiễn cho việc cần thiết phải xây dựng khung pháp lý điều chỉnh các vấn đề liên quan đến giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử?
Thứ hai, vấn đề công nhận tiền ảo trong pháp luật một số quốc gia, thực tiễn
hoạt động giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử của một số quốc gia trên thế giới Để trả lời câu hỏi nghiên cứu này, luận văn sẽ trình bày một số khía cạnh như:
- Vấn đề công nhận/không công nhận tiền ảo trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới (Quan điểm của các quốc gia về tính pháp lý của “tiền ảo”);
- Thực tiễn hoạt động giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử của một số quốc gia trên thế giới
Thứ ba, giải pháp để xây dựng khung pháp lý điều chỉnh giao dịch tiền ảo
trong thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, biện pháp quản lý để tăng cường quản lý của Nhà nước về tiền ảo cũng như đảm bảo quyền lợi của các bên trong giao dịch liên quan đến thương mại điện tử?
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu này, luận văn sẽ trình bày một số khía cạnh như:
Nam hiện nay;
trong điều kiện công nhận các giao dịch về tiền ảo
- Các biện pháp quản lý để tăng cường quản lý của Nhà nước về tiền ảo cũng như đảm bảo quyền lợi của các bên trong giao dịch liên quan đến thương mại điện tử ?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 185.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan về tiền
ảo trong giao dịch thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay, và pháp luật của một
số quốc gia trên thế giới Trên cơ sở “so sánh luật” nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia phát triển và các yêu cầu từ thực hiện hoạt động thương mại điện tử ở nước ta hiện nay qua các giao dịch tiền ảo, đề xuất giải pháp xây dựng khung pháp
lý điều chỉnh biện pháp quản lý để tăng cường quản lý của Nhà nước về tiền ảo cũng như đảm bảo quyền lợi của các bên trong giao dịch liên quan đến thương mại điện tử?
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian:
Thứ nhất, luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam có
liên quan đến tiền ảo, và giao dịch tiền ảo Chú trọng vào việc nghiên cứu bản chất pháp lý của tiền ảo có phải là tài sản không? Trên cơ sở Bộ luật dân sự năm 2015, Quyết định số 1255/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản
lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo Ngày 11/4/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Chỉ thị 10/CT-TTg yêu cầu tăng cường quản lý các hoạt động liên quan tới Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác; Chỉ thị số 02/CT-NHNN về các biện pháp tăng cường kiểm soát các giao dịch, hoạt động liên quan
tới tiền ảo; Luật giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005; Nghị định số
52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về thương mại điện tử……
Thứ hai, Luận văn sẽ nghiên cứu pháp luật của một quốc gia đang thừa nhận
hoặc có những quy định mở bước đầu về việc thừa nhận “tiền ảo” dưới nhiều góc
độ pháp lý khác nhau về giao dịch tiền ảo đối với hoạt động thương mại điện tử như Pháp, Thái Lan
- Về thời gian: Xem xét các văn bản pháp lý từ giai đoạn năm 2015 đến nay,
tức là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của tiền ảo
Trang 196 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích: được sử dụng trong toàn bộ quá trình thực hiện luận văn nhằm mục đích làm rõ các vấn đề pháp lý đặt ra;
- Phương pháp so sánh đối chiếu: được sử dụng trong các tiểu mục thực hiện so sánh đối chiếu quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Luận văn được thực hiện nhằm làm sáng tỏ khái niệm tiền ảo dưới góc độ pháp lý, trình bày bản chất pháp lý của tiền ảo trong bối cảnh tại Việt Nam, tiền ảo không được công nhận như một loại tiền tệ pháp định, phương tiện thanh toán hay thậm chí một loại tài sản theo pháp luật dân sự, mặc dù trong thực tế, các giao dịch mua bán, trao đổi tiền ảo vẫn diễn ra thường xuyên Vì vậy, việc xây dựng các quy phạm pháp luật riêng biệt, tạo nền tảng cho việc quản lý tiền ảo là một vấn đề cần thiết trong hoạt động thương mại điện tử của kỷ nguyên số 4.0 hiện nay
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể sử dụng tham khảo trong các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý, giảng dạy, đào tạo pháp luật
8 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 03 chương
Chương 1 Tổng quan về tiền ảo và pháp luật giao dịch tiền ảo trong thương
mại điện tử
Chương 2 Thực trạng pháp luật về giao dịch tiền ảo trong hoạt động
thương mại điện tử
Chương 3 Một số giải pháp để xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về giao dịch tiền ảo trong thương mại điện tử
Trang 20
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ TIỀN ẢO VÀ PHÁP LUẬT GIAO DỊCH TIỀN ẢO
TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 Một số vấn đề lý luận về tiền ảo và pháp luật về thương mại điện tử
1.1.1 Một số vấn đề lý luận về tiền ảo
1.1.1.1 Khái niệm về tiền ảo
Thuật ngữ tiền ảo được sử dụng dưới một số “tên gọi” khác nhau như “tiền điện tử” (electronic money), “tiền mã hóa” (cryptocurrency), “tiền ảo” (virtual money), cho thấy chưa có sự thống nhất trong khái niệm tiền ảo Để hiểu được khái niệm tiền ảo, chúng ta nghiên cứu các thuật ngữ gắn liền với “tiền ảo”:
• “Tiền điện tử” (gọi tắt “TĐT”) Theo định nghĩa của tổ chức Ngân hàng Trung ương Châu Âu (gọi tắt “ECB”): “Tiền điện tử được hiểu là việc lưu giữ của một giá trị tiền tệ trên dưới dạng hình thức điện tử trên một thiết bị kĩ thuật được
sử dụng để thanh toán cho các giao dịch của thể nhân, tổ chức, pháp nhân mà không sử dụng đồng tiền pháp định do Ngân hàng Trung ương (Viết tắt: “NHTW”) phát hành9 Cần lưu ý rằng, “thiết bị kĩ thuật” không nhất thiết phải tồn tại dưới dạng các thiết bị vật lý Theo TS Phùng Trung Tập, định nghĩa tiền điện tử là một loại biểu hiện dưới dạng hình thức điện tử của đồng tiền do NHTW phát hành với mục đích chuyển giao các giá trị của đồng tiền do NHTW phát hành thông qua các lưu trữ trên thiết bị điện tử Giá trị của Tiền điện tử được thể hiện dưới dạng các
các định nghĩa trên, theo tôi “tiền điện tử” được hiểu là sự lưu trữ điện tử giá trị đồng tiền pháp định trên một thiết bị kĩ thuật số, và được sử dụng là phương tiện hoặc công cụ thanh toán cho các giao dịch của thể nhân, tổ chức, pháp nhân mà
9 Nguyễn Thế Phong (2015), “Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT”, [https://www.sbv.gov.vn], (truy cập tháng 7/2019)
10 Phùng Trung Tập (2018), “Tiền ảo và những khía cạnh của tiền ảo”, Tạp chí Kiểm sát, số 15/2018, tr 18
Trang 21không sử dụng đồng tiền pháp định do NHTW phát hành thông qua thiết bị kỹ thuật số
• Tiền mã hóa được hiểu là tiền được số hóa dưới dạng các dãy số, được sử dụng trong các giao dịch điện tử thông qua hệ thống máy tính hoặc internet Tiền
mã hóa được lưu trữ dưới dạng “dữ liệu điện tử” của đơn vị, tổ chức phát hành và được thể hiện bằng các bút toán ghi sổ trên tài khoản mà người sử dụng mở tại đơn
vị, tổ chức phát hành Theo Viện tiêu dùng quốc gia Pháp, tiền mã hóa là một đơn
vị thông tin điện tử được tạo lập dựa trên giao thức máy tính của các giao dịch được mã hóa và phân cấp được gọi là chuỗi khối Nói cách khác, tiền mã hóa đại diện cho các tài sản ảo được lưu giữ dưới dạng hình thức điện tử thông qua thiết bị
kỹ thuật số cho phép cộng đồng người dùng chấp nhận chúng để thực hiện cho các giao dịch không sử dụng đồng tiền do NHTW phát hành Đến hiện tại thì tiền mã hóa vẫn chưa được pháp luật ghi nhận chính thức ở Pháp, Điều L111-1 Bộ luật Tiền tệ và tài chính quy định rằng tiền pháp định của nước Cộng hòa Pháp là đồng Euro11
Các giao dịch sử dụng tiền ảo được thực hiện thông qua hệ thống máy tính hoặc internet Đồng thời, việc thanh toán hoặc trao đổi, mua bán tiền ảo trên máy tính không cần phải được sự cho phép hoặc đăng ký với bất kỳ NHTW hoặc tổ chức tín dụng Hiện nay, các giao dịch của các thể nhân, pháp nhân hoặc tổ chức sử dụng tiền ảo được thực hiện trên toàn thế giới Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn thống kê, hiện tại có 14 ngân hàng thương mại có chi nhánh; hoặc văn phòng giao dịch trên phạm vi toàn thế giới đang xây dựng các phương thanh toán quốc tế bằng tiền ảo dựa trên chuỗi công nghệ blockchain như Ngân hàng Tokyo-Mitsubishi
11 Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2019), “Tổng quan về vị trí pháp lý của tiền mã hóa (Bitcoin) tại một số quốc gia trên thế giới – Định hướng xây dựng khung pháp lý về tiền mã hóa tại Việt Nam”, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lý, 3(2), tr.119- 125
12 Lê Linh (2019), “14 ngân hàng toàn cầu sẽ sử dụng tiền ảo trong thanh toán quốc tế”, Thời báo Sài gòn Kinh tế, [https://www.thesaigontimes.vn/289629/14-ngan-hang-toan-cau-se-su-dung-tien-ao-trong-thanh- toan-quoc-te.html], (truy cập tháng 7/2019)
Trang 22Theo thống kê, trên thế giới có hàng trăm loại tiền ảo với tên gọi và chức năng khác nhau, trong đó “bitcoin” (gọi tắt: “BTC”) là loại tiền ảo được sử dụng phổ
“Sách Trắng” của Satoshi Nakamoto được cho là người đã tạo lập các phần mềm
mã hóa và phát hành Bitcoin ra công chúng
Tiền ảo là cụm từ được người sử dụng; hoặc nhà đầu tư ở Việt Nam hiểu là Bitcoin, dẫn đến việc đánh đồng tiền mã hóa và “tiền ảo” trong thực tiễn Theo các nhà đầu tư, khái niệm “tiền ảo” được sử dụng phổ biến trên thị trường Việt Nam vài năm gần đây được sử dụng để thanh toán các hoạt động mua bán, hoặc trao đổi
“vật phẩm ảo” giữa những người chơi trò chơi trực tuyến Các vật phẩm ảo trong các trò chơi trực tuyến chỉ có thể được thực hiện và có thể nhận thấy được trong thế giới ảo, thế giới được tạo nên bởi hệ thống máy tính hoặc internet
Các vật phẩm ảo mà chúng ta nhìn thấy được trên màn hình máy tính như:
áo giáp, nhân vật, vũ khí, ngôi nhà, tiền, vàng… bản chất là các đoạn mã máy tính: 01010100001… được sinh ra từ những chương trình – các chương trình tạo ra thế giới ảo Đồng thời, người dùng không thể sử dụng các vật phẩm ảo ra môi trường bên ngoài (có nghĩa là “thoát ly” khỏi hệ thống không gian mạng) để trao đổi, mua bán các hàng hóa hoặc dịch vụ khác
Trong giới học thuật có nhiều định nghĩa về “tiền ảo”, nghiên cứu cho thấy một số “định nghĩa” về tiền ảo điển hình được công bố bởi các tổ chức quốc tế như:
Theo Tổ chức của NHTW Châu Âu (gọi tắt là “ECB”) định nghĩa: “Tiền ảo
là loại tiền kỹ thuật số không phát hành hoặc quản lý bởi các NHTW bất kỳ Tiền
ảo phát hành bởi các cá nhân, tổ chức đơn vị được xây dựng trên nền tảng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) Tiền ảo thực hiện chức năng là phương tiện hoặc công cụ dùng để thanh toán cho các giao dịch như mua bán, trao đổi giữa các thành
13 Phùng Trung Tập (2018), “tlđd”, tr 16-23
Trang 23viên với nhau trong một cộng đồng “ảo” nhất định Tiền ảo là “thành tựu” của cuộc cách mạng công nghiệplần thứ 4 và được kỳ vọng thay đổi đời sống xã hội ra khỏi
Tại Hoa Kỳ, Tiền ảo được xem là bất kỳ loại đơn vị số nào được sử dụng
Tiền ảo bao gồm các đơn vị trao đổi kỹ thuật số, trong đó:
a) Được lưu trữ trong một kho lưu trữ và được điều hành bởi một quản trị viên; hoặc
b) Được phân cấp và không được lưu trữ trong một kho lưu trữ và được điều hành bởi một quản trị viên; hoặc
c) Được phát hành; hoặc được tạo lập bằng cách tính toán hoặc sản xuất
1) Các đơn vị kỹ thuật số mà:
a) Chỉ được sử dụng trong trò chơi trực tuyến
b) Không có thị trường hoặc ứng dụng nào ngoài các trò chơi trực tuyến c) Không thể được chuyển đổi với đồng tiền pháp định do NHTW phát hành và; quản lý;
d) Được hoặc không được sử dụng vào cho hàng hóa
2) Các đơn vị kỹ thuật số có thể được nhận chuyển nhượng cho hàng hóa, dịch vụ; hoặc việc mua hàng hoặc giảm giá cho các hàng hóa, dịch vụ là một phần của chương trình “khuyến mãi” như trao giải thưởng; hoặc tích điểm cho khách hàng với người phát hành và/ hoặc các thương nhân được chỉ định khác hoặc có thể mua lại cho các đơn vị kỹ thuật số trong chương trình khuyến mại hoặc khen
14 Lê Vũ Nam (2019), “tlđd”, tr 150 - 153
15 Barbara D Underwood (2018), “Virtual markets integrity initiative report”, [https://ag.ny.gov/sites/default/files/vmii_report.pdf], (Retrieved August, 2019),
Trang 24thưởng dành cho khách hàng Đặc biệt, tiền ảo không thể được sử dụng để “chuyển đổi” sang đồng tiền pháp định do NHTW phát hành;
3) Các đơn vị kỹ thuật số được sử dụng như là phần của thẻ trả trước
1) Được thể hiện dưới dạng phương tiện kỹ thuật số:
a) Được sử dùng là phương thức hoặc công cụ thanh toán và;
b) Không phải là đồng tiền pháp định do NHTW phát hành và quản lý; hoặc không có giá trị thanh toán như đồng tiền pháp định; và
2) Không bao gồm:
a) Giao dịch trong đó người bán cấp trị giá như một phần của mối quan hệ hoặc phần thưởng chương trình mà trị giá không thể được lấy hoặc trao đổi với tiền pháp định hoặc tiền ảo khác; hoặc là
b) Trị giá của tiền ảo hoặc dạng phương tiện kỹ thuật số thể hiện và lưu trữ tiền ảo hoặc đơn vị phát hành trò chơi trực tuyến, nền tảng trò chơi trực tuyến hoặc các dạng trò chơi trực tuyến hơn là được thiết kế cho tiền ảo”
Theo Tổ chức đặc nhiệm tài chính (viết tắt “FATF”) định nghĩa “tiền ảo” là tiền được mã hóa dưới dạng kỹ thuật số được sử dụng là công cụ thanh toán trong các giao dịch của cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức trong hoạt động thương mại điện tử (Viết tắt: “TMĐT”) và có chức năng như: (i) Thực hiện chức năng là công
cụ thanh toán trong các giao dịch; (ii) Được thể hiện dưới dạng các thông tin tài khoản; (iii) Một giá trị lưu trữ, nhưng không phải đồng tiền pháp định do NHTW phát hành và quản lý bởi bất kỳ một quốc gia nào Tiền ảo được lưu thông dựa trên
Theo định nghĩa của Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (viết tắt “IMF”) thì “tiền ảo” được hiểu là loại tiền tệ được mã hóa dưới dạng kỹ thuật số đại diện số do các nhà
16 Lê Vũ Nam (2019), “tlđd”, tr 150 - 153
17 Hoàng Thị Tâm (2018), ““tlđd”, (truy cập ngày 22/10/2019)
Trang 25phát triển tư nhân phát hành; có đơn vị tính toán; và có giá trị được sử dụng là phương tiện hoặc công cụ dùng để thanh toán cho các giao dịch Tiền ảo chứa đựng, lưu trữ, truy cập và hoạt động TMĐT, được sử dụng cho một hoặc một số giao dich khác nhau, với điều kiện là các bên giao dịch đồng ý sử dụng Khái niệm
về tiền ảo gồm một mảng rộng lớn về các loại tiền tệ, từ chứng từ nợ của các nhà phát hành, đến các loại tiền ảo được bảo đảm bằng tài sản hay vàng, và các loại tiền mã hóa (crypto - currencies) như là Bitcoin18
Nhìn chung, liên quan đến khái niệm tiền ảo, chúng ta có thể hiểu như sau: (1) Tiền ảo là một dạng tiền KTS được mã hóa và đo lường tính thanh khoản cho một đối tượng hoặc giao dịch; (2) nó được phát hành bởi bên phi Chính phủ và được chuyển cho việc sử dụng độc quyền bởi một bên tư nhân khác; (3) nó được tính bằng đơn vị tài khoản của hệ thống riêng của nó có thể có hoặc không đổi thành tiền thật; và, (4) được sử dụng là phương tiện hoặc công cụ dùng để thanh toán cho các giao dịch tương tự như đồng tiền pháp định Ở một số quốc gia các giao dịch sử tiền ảo để thanh toán không được xem là bất hợp pháp, nhưng việc sử dụng tiền ảo để thanh toán cho các giao dịch không được sự bảo hộ của pháp luật quốc gia19
1.1.1.2 Đặc điểm của tiền ảo
Qua trình bày trên cho thấy, “tính pháp lý” về tiền ảo không có sự thống nhất giữa khung pháp lý và chính sách giữa quốc gia với nhau Tuy nhiên, tiền ảo
có những đặc điểm nhận diện “đặc trưng” và phân biệt so với tiền pháp định (với
tư cách công cụ thanh toán); và các loại tài sản khác như sau:
Về chủ thể thể tạo tiền: Khác với đồng tiền pháp định do các NHTW phát hành hoặc quản lý Tiền ảo được tạo ra bởi một nhóm người nhất định trên nền tảng công nghệ chuỗi khối (Blockchain), được mã số hóa và lưu trữ trong Hệ thống máy tính Do đặc tính này, cho phép tiền ảo được giao dịch của các thể nhân, pháp
18 Hoàng Thị Tâm (2018), ““tlđd”, (truy cập ngày 22/10/2019)
19 Huỳnh Thị Nam Hải, Huỳnh Thị Minh Hải (2019), “Tiền ảo và tình trạng pháp lý của tiền ảo tại Việt Nam
hiện nay “, Tạp chí Tòa án nhân dân, Số 11, tr 26 - 29; 34
Trang 26nhân, tổ chức trên toàn cầu, và mọi thời gian nhất định mà không chịu sự tác động
về thay đổi chính sách tiền tệ của Cơ quan quản lý nhà nước
Về chức năng thực hiện phương tiện hoặc công cụ thanh toán của tiền ảo: Thực tiễn, tiền ảo có thể được mua bán, trao đổi, đầu tư hoặc là phương tiện hoặc công cụ để thanh toán trong các giao dịch của các thể nhân, pháp nhân, tổ chức Tuy nhiên, việc thanh toán này có trong các giao dịch có phạm vi hạn chế Thế nhưng, chức năng thanh toán này không thay thế cho đồng tiền truyền thống vì về bản chất thì tiền ảo tham gia chức năng là phương tiện hoặc công cụ thanh toán trong những các giao dịch như vậy không phải với vai trò là một phương tiện hoặc công cụ thực hiện chức năng trung gian thanh toán theo quy luật ngang giá Thực chất của vai trò tiền ảo trong trường hợp này là một loại tài sản được các bên tham gia vào giao dịch chấp nhận trao đổi có giá trị mang tính chất “tương đương” với các tài sản, hàng hóa đối ứng20
Theo các văn bản quy phạm pháp luật do Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành thì tiền ảo không được công nhận là phương tiện hoặc công cụ thực hiện chức năng thanh toán trong các giao dịch của các thể nhân, pháp nhân, tổ chức theo pháp luật Việt Nam Cụ thể, theo công văn số 5757 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành, xác định tiền ảo không được xem là một loại tiền theo quy định pháp luật, tức tiền pháp định do NHTW phát hành; quản lý Đồng thời tiền ảo không được công nhận là phương tiện hoặc công cụ thực hiện chức năng thanh toán hợp pháp trong các giao dịch của các thể nhân, pháp nhân, tổ chức theo các quy định chung của pháp luật Việt Nam Đồng thời, văn bản số 5747/NHNN-PC của Ngân hàng nhà nước Việt Nam nhấn mạnh việc (i) phát hành hoặc; (ii) cung ứng, và (iii) sử dụng tiền ảo làm phương tiện hoặc công cụ thực hiện chức năng thanh toán trong các giao dịch của các thể nhân, pháp nhân, tổ chức là hành vi nghiêm cấm, có nghĩa theo theo pháp luật Việt Nam cấm các hoạt động: (i) phát hành hoặc; (ii) cung ứng, và (iii) sử dụng tiền ảo làm phương tiện hoặc công cụ
20 Lê Vũ Nam (2019), “ tlđd”, tr 51 - 57
Trang 27thực hiện chức năng thanh toán trong các giao dịch của các thể nhân, pháp nhân, tổ chức21
Về hình thức tồn tại: Khác với đồng tiền pháp định được tồn tại dưới một
“vật chất liệu” nhất định, có nghĩa là tiền pháp định tồn tại dưới hình thức hữu hình; thì tiền ảo với tính chất là tài sản ảo do đó nó mang tính “vô hình”, có nghĩa tiền ảo không tồn tại dưới một vật chất liệu nhất định mà nó lệ thuộc vào môi trường kỹ thuật số để tồn tại Các thông tin về “tiền ảo” được chuyển tiếp đến người dùng thông qua môi trường kỹ thuật số đã được mã hóa; và đồng thời được lưu trữ trên hệ thống máy tính
1.1.1.3 Bản chất pháp lý của tiền ảo
Theo pháp luật một số quốc gia, tiền ảo được xem là “tài sản ảo” và là công
cụ thanh toán mới do con người tạo ra, kết hợp với công nghệ khá tinh vi dựa trên tảng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) Tiền ảo được xem là “thành tựu” của nền công nghệ số 4.0 nói cách khác chính là kết quả của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Các giao dịch của các cá nhân, pháp nhân, tổ chức sử dụng các loại tiền
ảo làm phương tiện; hoặc công cụ thanh toán đã trở thành các quan hệ xã hội mà muốn hay không muốn các quốc gia phải ban hành khung pháp lý để điều chỉnh và khung chính sách để quản lý đối với tiền ảo Lúc này, tiền ảo trở thành tài sản được giao lưu, mua bán, trao đổi, thanh toán cho các giao dịch của những người tạo ra hoặc có liên quan đến quá trình “lưu thông” của tiền ảo
Hiện nay, tiền ảo điển hình là Bitcoin đã thoát khỏi phạm vi các giao dịch đơn thuần giữa các cá nhân, đơn vị hoặc giữa các nhà đầu tư “nhỏ lẻ” với nhau; mà tiền ảo đã trở thành công cụ thanh toán, và phương thức đầu tư, phương thức huy động vốn phổ biến mang lại tính hiệu quả và hấp dẫn nhà đầu tư trên toàn cầu Trong đời sống xã hội hiện đại đặc biệt với sự phát triển của cách mạng công
21 Hàm Yên (2017), “Bitcoin không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam”, Sài Gòn Giải Phóng , [http://www.sggp.org.vn/bitcoin-khong-phai-la-phuong-tien-thanh-toan-hop-phap-tai-viet-nam- 478479.html], (truy cập ngày 22.7.2019)
Trang 28nghiệp lần thứ 4 và sự phát triển và “bùng nổ” của tiền ảo ngày càng mạnh mẽ22
Do đó, theo tác giả để ban hành pháp luật, thì trước hết chúng ta cần phải nhận thức, và “giải mã” chính xác về tính chất pháp lý của tiền ảo là điều cần thiết Dưới góc độ luật tài sản thì “tiền ảo” có được xem xét là một loại tài sản hay không? và nếu tiền ảo là tài sản thì nó thuộc dạng tài sản nào?
Nghiên cứu so sánh pháp luật, cho thấy pháp luật một số quốc gia như Mỹ, Đức, Nhật, Canada đều công nhận tiền ảo là một loại tài sản hợp pháp Tại Hoa
Kỳ, Bitcoin được công nhận là tài sản hợp pháp
Canada cho phép sử dụng tiền ảo Theo Cơ quan tiêu dùng tài chính của Chính phủ Canada (Viết tắt “FCA”) với các loại tiền ảo như tiền kỹ thuật số, thì FCA cho phép người dùng sử dụng các loại tiền kỹ thuật số để mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ trong các cửa hàng chấp nhận tiền kỹ thuật số thông qua Internet Cũng có thể mua bán, chuyển nhượng các loại tiền kỹ thuật số trên các sàn giao dịch, có nghĩa FCA cho phép người dùng được trao đổi tiền kỹ thuật số
Theo cơ quan giám sát tài chính của Cộng hòa Liên bang Đức (viết tắt là:
“BaFin”) các loại tiền ảo như Bitcoin được xem là một loại tài sản hợp pháp; và phương tiện hoặc công cụ thanh toán Đạo luật Ngân hàng, các cam kết và những người đồng ý mua lại mã thông báo (token), bán hoặc mua mã thông báo (token) trên cơ sở các giao dịch của cá nhân, pháp nhân, tổ chức hoặc thực hiện các môi giới mã thông báo thông qua các sàn giao dịch trực tuyến, hoặc những sàn khác, thường được yêu cầu phải có giấy phép từ BaFin trước khi thực hiện các giao dịch của cá nhân, pháp nhân, tổ chức
Tại Nhật Bản, việc kinh doanh trao đổi tiền điện tử được pháp luật điều chỉnh từ khá sớm Luật số 59 về dịch vụ thanh toán được Chính phủ ban hành ngày 24/06/2009, sau đó được sửa đổi, và bổ sung bởi những sắc lệnh của Chính phủ kèm theo có hiệu lực từ ngày 1/4/2017 Khoản 2, Điều 5 Luật số 59 về dịch vụ
22 Lê Vũ Nam (2019), “ Bản chất của tiền ảo và sự cần thiết xây dựng khung pháp lý cho tiền ảo tại Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát, Số 12, tr 51 - 57
Trang 29thanh toán định nghĩa thuật ngữ “Tiền ảo” (cryptocurrency) được hiểu như một loại tài sản, cụ thể:
- Là tài sản có thể được sử dụng làm công cụ thanh toán hoạt động cho thuê hoặc mua bán hàng hóa hoặc hoạt động cung cấp các dịch vụ bởi những người không xác định, có thể được mua hoặc bán cho những người không xác định và có thể chuyển nhượng qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử; hoặc là;
- Là tài sản có thể được sử dụng cho việc trao đổi qua lại cho tài sản ở trên với những người không xác định và có thể chuyển nhượng thông qua hệ thống xử
lý dữ liệu điện tử hoặc;
- Luật số 59 về dịch vụ thanh toán quy định các loại tiền điện tử bị giới hạn bởi các giá trị tài sản được lưu trữ trên các thiết bị điện tử; tiền tệ và tài sản bằng tiền tệ được loại trừ23
Nghiên cứu Pháp luật Việt Nam về tài sản được quy định trong Bộ luật 91 năm 2015 tức Bộ luật dân sự năm 2015 (viết tắt “BLDS năm 2015”) thì “tiền ảo”
có phải là một loại tài sản không? Theo quy định tại Điều luật số 105 của BLDS năm 2015, tài sản bao gồm: (i) vật; hoặc (ii) tiền; (iii) giấy tờ có giá và; (iv) quyền tài sản” Đồng thời, Điều luật số 115 của BLDS năm 2015 quy định thì quyền tài sản được định nghĩa là các quyền có trí giá được xác định bằng tiền Quyền tài sản bao gồm các quyền đối với tài sản như: (i) quyền sở hữu trí tuệ, các quyền này được quy định tại Luật số 50 về Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005; (ii) quyền sử dụng đất được quy định tại Luật số 45 về Luật đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật khác có liên quan; và (iii) các quyền tài sản khác
Như vậy, để xác định tiền ảo theo quy định của luật tài sản của Việt Nam,
cụ thể là theo quy định của BLDS năm 2015 có được xem xét là “tài sản” không?
Và nếu là tài sản thì sẽ là loại tài sản nào được quy định trong Điều luật số 105 của
23 Jacinta Bernadette, Rico Shirakawa (2019), “Cryptocurrency Regulations: Institutions and Financial Openness”, (Retrieved August, 2019), from: https://www.adb.org/sites/default/files/publication/513726/adbi- wp978.pdf
Trang 30BLDS năm 2015? Trước hết, cần phải đi phân tích các loại tài sản được quy định trong Điều luật số 105 của BLDS năm 2015
Thứ nhất, Vật là một bộ phận quan trọng của thế giới vật chất , được tồn tại
ở mọi trạng thái vật chất khác nhau như rắn; hoặc lỏng; khí Vật được coi tài sản phải là vật hữu hình cảm nhận được bởi giác quan của con người Vật hữu hình được coi là tài sản khi nó đó đáp ứng được một phần hoặc toàn bộ nhu cầu của con người dưới dạng nhu cầu về tinh thần; hoặc các nhu cầu về vật chất Các giao dịch của các nhân, pháp nhân, tổ chức được thực hiện trong đời sống xã hội không chỉ
sử dụng các vật hữu hình đang hiện hữu tại thời điểm thực hiện các giao dịch mà
họ đang là chủ sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp là đối tượng của các giao lưu dân sự; hoặc hoạt động thương mại như tài sản hình thành tương lai Thực tiễn các cá nhân,
tổ chức khi tham gia vào các quan hệ này có thể sử dụng các tài sản hữu hình và sẵn có như xe máy, điện thoại di động để thực hiện việc mua bán, trao đổi… Nhưng cũng có thể sử dụng tài sản hình thành trong tương lai như nhà ở hình thành trong tương lai để thực hiện việc thế chấp tại các ngân hàng thương mại hoặc tổ
Thứ hai, Tiền Theo pháp luật Việt Nam thì “Tiền” được coi là một loại tài
sản có đăc trưng và dấu hiệu mang tính chất “riêng biệt” để phân biệt so với các tài
loại tài sản có tính năng đặc biệt so với các loại tài sản khác như vật Điểm đặc biệt này tạo nên sự “khác biệt” nhằm phân biệt giữa tiền và vật; được thể hiện ở việc chuyển giao tài sản là tiền đồng nghĩa với việc chuyển giao quyền sở hữu, trừ một
số trường hợp loại trừ như việc chuyển giao đó được thực hiện bằng các “niêm phong” và tiến hành “đóng gói” tiền lại Tuy nhiên, chỉ có những loại tiền được pháp luật Việt Nam hiện hành công nhận, tức là có giá trị sử dụng của tiền và đồng
24 Hoàng Thế Liên (2010), “Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 - Tập 1,” NXB Chính trị Quốc gia, tr.361
25 Bùi Đăng Hiếu (2005), “Tiền - một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự”, Tạp chí Luật học, Số 1, tr.37
Trang 31tiền này được lưu hành trong đời sống đời sống xã hội thì mới được xem là tài sản, những loại tiền khác như tiền cổ, ngoại tệ không được phép lưu thông thì không được xem là tài sản Tiền thực hiện nhiều công dụng như: (i) được sử dụng là công cụ; hoặc phương tiện dùng để thanh toán mang tính chất “đa năng”, có nghĩa là được sử dụng thanh toán trong mọi giao dịch; (ii) là công cụ tích lũy tài sản của các
cá nhân; tổ chức; (iii) là thước đo giá trị Ngoài tiền “đồng VN” do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành và được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép sử dụng làm công cụ; hoặc phương tiện dùng để thanh toán như USD, Euro cũng được xem là tài sản
Thứ ba, các loại giấy tờ có giá Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, các loại
giấy tờ có giá bao gồm: (i) kỳ phiếu; (ii) tín phiếu; (iii) chứng chỉ tiền gửi; (iv) trái phiếu Theo quy định của Điều luật số 1.1 của Thông tư số 16 năm 2016 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành thì các loại giấy tờ có giá này được hiểu chính
là các bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ của các tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài phát hành với người mua, tức là các trái chủ; đã mua các giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài trong một thời gian nhất định; điều kiện trả lãi và các điều kiện khác như vậy, về hình thức giấy tờ có giá được hiểu là các chứng quyền ghi nhận quyền sở hữu của người nắm giữ nó Chứng quyền là một quyền đi kém với giấy tờ có giá khi nó được bán
Có quyền này thì người nắm giữ giấy tờ có giá sẽ được một chứng nhận nghĩa vụ
nợ của đơn vị tổ chức phát hành chính là các tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài phải chi trả một khoản tiền cụ thể
Thứ tư, Quyền tài sản là một cách sử xự của các thành viên trong xã hội với
nhau về việc sử dụng; và khai thác nguồn lợi từ các tài sản trong xã hội Với nguyên lý “các cá nhân trong xã hội luôn hướng tới việc sử dụng và khai thác nguồn lợi từ các tài sản trong xã hội do các nhu cầu khác nhau trong xã hội; và sự khan hiếm hoặc; phân bổ không hợp lý các tài sản trong xã hội” Lý thuyết kinh tế học nhận định: “Con người phải đối mặt với sự khan hiếm hoặc; phân bổ không hợp lý các nguồn lực trong xã hội nên luôn phải lựa chọn tối ưu Việc lựa chọn sẽ
Trang 32đưa đến cho con người tới sự đánh đổi – Muốn sản xuất thêm hàng hóa này thì phải từ bỏ hàng hóa khác Đây chính là chi phí cơ hội để sản xuất một hàng hóa” Dựa trên các nguyên lý này, pháp luật tài sản được xây dựng dưa trên mối quan hệ
về cách sử xự của các thành viên trong xã hội với nhau về việc sử dụng; và khai thác nguồn lợi từ các tài sản trong xã hội do sự khan hiếm hoặc; phân bổ không hợp lý các nguồn lực trong xã hội chứ không phải quy định mối quan hệ giữa con người với tài sản hoặc giữa tài sản với nhau Ví du, ông A là Chủ một hãng sơn, có nghĩa là chỉ có một mình ông A có quyền khai thác cửa hàng đó theo ý của mình, những người khác bị loại bỏ khỏi quyền khai thác đó Bản chất của quyền tài sản là
tổng hợp các quyền của Chủ sở hữu và người có các quyền khác đối với tài sản trong việc sử dụng, kiểm soát; và thu lợi từ tài sản27 Theo quan niệm của TS Nguyễn Ngọc Điện gọi đó là “quyền vô hình”, và định nghĩa quyền tài sản được hiểu là quan hệ pháp luật khác với quan hệ sở hữu tài sản mà trên cơ sở đó lợi ích
Theo tác giả, trong các loại tài sản mà BLDS quy định như trên, liệu chúng
ta có thể xếp tiền ảo vào nhóm quyền tài sản do tính chất vô hình của nó? Như đã trình bày, quyền tài sản là các quyền có giá trị được xác định bằng tiền Vậy để xác định trị giá bằng tiền của nó, theo tôi, có thể dựa vào hai cách thức: Cách thức pháp định hoặc cách thức thỏa thuận Ví dụ, để quyền tác giả trở thành quyền tài sản, luật pháp đã phải trao cho các tác giả quyền được thụ hưởng các lợi ích phát sinh
từ việc cho phép các bên khác thực hiện việc sử dụng; hoặc khai thác các sản phẩm của mình Như vậy bằng hình thức luật hóa, quyền tác giả hoặc tác quyền đối với các sản phẩm mà tác giả sáng tạo ra đã có thể trị giá được bằng tiền
26 Phạm Duy Nghĩa (2013), “Giáo trình Luật Kinh tế”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr.96-97
27 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017), “ Bình luận khoa học bộ luật dân sự năm 2015 của nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.125
28 Nguyễn Ngọc Điện (2005), “Cần xây dựng lại khái niệm quyền tài sản trong luật dân sự”, Nghiên cứu lập pháp, Số 3(50), tr.16
Trang 33Nếu trường hợp pháp luật Việt Nam hiện hành chưa điều chỉnh cụ thể về một đối tượng giao dịch vô hình nào đó, nếu các bên tham gia trong các giao dịch
có sự đồng thuận về việc mua bán, hoặc trao đổi; hoặc chuyển nhượng với nhau các quyền có được đối tượng vô hình đó bằng việc trả một khoản vật chất xác định tương ứng thì nó cũng có thể được xem xét hoặc xác đinh là một loại quyền tài sản, bởi lý do giá trị được xác định bằng tiền của nó được sự quy ước đồng thuận giữa những người tham gia Và tiền ảo thỏa mãn được các tính chất này
Như vậy, với những quy định hiện có đủ để nói rằng tiền ảo ở Việt Nam là một loại tài sản, mà cụ thể đó là quyền tài sản Cụ thể, quyền tài sản này thuộc về nhóm động sản do không gắn liền với bất kỳ đất đai; hoặc nhà cửa, công trình xây dựng gắn liền với đất theo quy định tại Điều luật số 107 của BLDS năm 2015 Đồng thời các quyền tài sản này hoàn toàn có thể được các hoạt động thương mại như là “hàng hóa” theo quy định tại Điều luật số 3.2 của Luật số 36/2005/QH11 tức là Luật Thương mại năm 2005
Căn cứ vào các “tính chất pháp lý” của tiền ảo thì có thể xác định tiền ảo là
“tài sản ảo” Do đó, khi tiến hành tìm hiểu về tiền ảo cần xác định được nội hàm
“tài sản ảo” Trong giới học thuật và pháp luật thực định chưa có sự thống nhất về khái niệm tài sản ảo Có tác giả định nghĩa: Tài sản ảo là dạng tài sản được hình thành và được tiến hành việc lưu trữ các tài sản ảo trên các dữ liệu máy tính; đồng thời các tài sản ảo có giá trị được xác định bằng tiền và có thể được đưa vào lưu thông dân sự thông qua các giao dịch Các tài sản ảo trong kỷ nguyên số 4.0 rất đa dạng có thể liệt kê một số tài sản điển hình và thông dụng như: (i) các tên miền; hoặc (ii) các địa chỉ Thư điện tử; hoặc (iii) các đối tượng ảo trong các Trò chơi trực tuyến; và (iv) các loại tiền ảo như Bitcoin 29
29 Trần Thị Quốc Khánh (2017), “Công nhận và bảo hộ tài sản mới ở nước ta hiện nay - Cơ sở lý luận và thực tiễn”, Viện Nghiên cứu lập pháp, [http://vnclp.gov.vn/], (truy cập tháng 6/2019)
Trang 341.1.1.4 Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của tiền ảo
Vào thời điểm năm 2008, “khủng hoảng kinh tế” xuất phát từ khủng hoảng tài chính tại Mỹ (USA) và có xu hướng lây lan ra thế giới, hàng loạt đồng tiền quốc gia rớt giá và người ta mất niềm tin vào chúng Tiền ảo xuất hiện như một cứu tinh trong bối cảnh này Cuối năm 2008, có một tên miền tên là Bitcoin.org đã được đăng ký và xuất hiện một tài khoản mang tên “Satoshi Nakamoto” đã cho đăng một bài viết với tên gọi “Bitcoin: Hệ thống tiền điện tử trên mạng ngang hàng”
Bài viết mô tả các “cách thức” xử lý các giao dịch của các nhân, pháp nhân,
tổ chức có sử dụng Bitcoin thông qua các hệ thống mạng ngang hàng và thể thức thanh toán điện tử dưới dạng trực tuyến thông qua các thiết bị máy tính; mà không cần sự kiểm soát, hoặc cho phép của các NHTW Đồng thời, giới thiệu về hệ thống mạng được hình thành dựa trên lý thuyết về sự “đồng đẳng” hay còn gọi là nguyên
lý “chia sẻ ngang hàng” để việc chia sẻ là phần đều trên các máy có kết nối internet thay vì thông qua một máy chủ nhất định hay một tổ chức trung gian được gọi là
đặc tính được mã hóa dưới dạng dữ liệu máy tính, do đó tiền ảo tồn tại dưới dạng
vô hình mà không thể tồn tại dưới dạng một vật chất hữu hình nhất định
Các giao dịch sử dụng Bitcoin không cần sự kiểm soát, hoặc cho phép của các NHTW, có nghĩa là các giao dịch của các nhân, pháp nhân tổ chức sử dụng Bitcoin sử dụng là phương tiện hoặc công cụ dùng để thanh toán thì Bitcoin không cần phải thông qua sự cho phép hoặc kiểm soát của các NHTW Các giao dịch sử dụng Bitcoin thông qua các hệ thống mạng ngang hàng và thể thức thanh toán điện
tử dưới dạng trực tuyến thông qua các thiết bị máy tính, các cá nhân, tổ chức được thực hiện các giao dịch sử dụng Bitcoin hoàn toàn “tự do ý chí, và tự do hành vi” Theo thống kê của Báo Vnexpress, một số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực
du lịch, mua sắm đã cho phép khách hàng sử dụng Bitcoin là phương tiện hoặc công cụ dùng để thanh toán cho các giao dịch như trao đổi hàng hóa hoặc sử dụng
30 Đoàn Phương Thảo (2018), “tlđd”, tr.13
Trang 35các dịch vụ như đặt phòng khách sạn, mua ô tô, hoặc máy tính Theo Báo Vnexpress, công ty Expedia Group, Trang web Hotels.com, Trang web Trivago, Website du lịch Hotwire … Đã cho phép khách hàng sử dụng Bitcoin để đặt phòng
Theo một số chuyên gia về tài chính, cho phép cá nhân, tổ chức (gọi tắt
“người sử dụng”) có thể thanh toán cho các Bitcoin giao dịch trong phạm vi toàn thế giới, bởi nó không được ban hành bởi NHTW của bất kỳ quốc gia nào, và không chịu sự điều chỉnh bởi bất kỳ luật của quốc gia nào Việc người dùng sử
dụng Bitcoin trong hoạt động thanh toán quốc tếgiúp giảm bớt chi phí giao dịch,
đặc biệt chi phí thực hiện giao dịch thông qua các ngân hàng nước ngoài
Hiện nay, Bitcoin được sử dụng “kênh” đầu tư hấp dẫn và mang lại nhiều cơ hội “sinh lợi” cho các nhà đầu tư Ở Việt Nam, ngay sau khi Bitcoin bắt đầu “xâm nhập” vào nước ta, một số doanh nghiệp cho phép người dùng là thể nhân, pháp nhân hoặc tổ chức sử dụng Bitcoin để thanh toán cho các giao dịch như: Giáo dục, mua sắm ô tô, cà phê… Điển hình, Trường Đại học FPT cho phép sinh viên người
hàng Nhà nước Việt Nam chưa “cấp giấy phép kinh doanh” cho bất kỳ sàn giao dịch kinh doanh dịch vụ tiền ảo, hoặc tiền mã hoá, tiền điện tử, tiền kỹ thuật số, Bitcoin trên lãnh thổ Việt Nam
Theo số liệu thống kê từ Cục Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến thời điểm quý tư năm 2018, trên toàn quốc có hai mươi sáu đơn vị, tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử; đồng thời mười nghìn đơn vị tổ chức chấp nhận thanh toán bằng ví điện tử Tính đến hết năm 2018, trên phạm vi toàn quốc có hơn bốn triệu ví điện tử đã liên kết với tài khoản ngân hang, đồng thời hệ thống liên ngân hàng đã xử lý hai trăm mười bốn triệu giao dịch, đạt giá trị chín mươi mốt tỷ đồng Đặc biệt, trong năm 2018, toàn bộ hệ thống liên ngân hàng đã xử lý thông suốt bảy
31 Kim Tuyến (2017), “8 công ty Mỹ nhận thanh toán bằng tiền ảo Bitcoin”, cong-ty-my-nhan-thanh-toan-bang-tien-ao-bitcoin-2017101312498435.htm], (truy cập ngày 22/10/2019)
[http://vneconomy.vn/the-gioi/8-32 Nguyễn Hà (2017), “Đại học FPT cho nộp học phí bằng Bitcoin”, [ hoc-fpt-cho-nop-hoc-phi-bang-bitcoin-3661877.html], (truy cập tháng 7/2019)
Trang 36https://vnexpress.net/kinh-doanh/dai-mươi ba triệu tỉ đồng, tăng hai https://vnexpress.net/kinh-doanh/dai-mươi lăm phần trăm so với năm 2017, ước tính
và phát triển của đồng tiền ảo như sau:
- Ngày 21/5/2010: Giao dịch sử dụng Bitcoin lần đầu tiên được thực hiện khi Laszlo Hanyecz gửi mười nghìn Bitcoin đề nghị để đổi lấy một hộp bánh pizza (trị giá hai mươi lăm USD)34;
- Tháng 8 năm 2010: 184 tỷ Bitcoin xuất hiện bất ngờ khiến giá trị của
- Tháng 1 năm 2011: Bắt đầu xuất hiện các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia sử dụng Bitcoin trong thanh toán quốc tế Do đó, Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (Viết tắt “Interpol”) thực hiện các hoạt động điều tra; khiến các quốc gia
“lo ngại” trong việc kiểm soát Bitcoin36;
- Năm 2012: Microsoft chấp nhận người dùng sử dụng Bitcoin để thanh toán các trò chơi trực tuyến như game, ứng dụng, và các chương trình kỹ thuật số khác
- Năm 2014: Các công ty kinh doanh dịch vụ như ví điện tử; hoặc các cổng thanh toán trực tuyếncó kết nối trên mạng Internet như Dell, Paypal đã cho phép
- Năm 2015: Hoa Kỳ ra quyết định thừa nhận Bitcoin là hàng hóa, Liên Minh Châu Âu ra phán quyết không đánh thuế các giao dịch của Bitcoin Các cây rút tiền Bitcoin mọc lên khắp nơi trên thế giới39;
33 Lan Hương (2019), “NHNN khẳng định chưa cấp phép cho bất kì sàn giao dịch tiền ảo nào”, [https://www.msn.com/vi-vn/money], (truy cập tháng 7/2019)
34 Đức An (2017), “Bitcoin lần đầu tiên vượt ngưỡng 2.000 USD/coin”, tien-vuot-nguong-2-000-usd-coin/c/22338674.epi], (truy cập tháng 07/2019)
[https://baomoi.com/bitcoin-lan-dau-35 An Huy (2018),” Nhìn lại những thăng trầm của tiền ảo Bitcoin trong 10 năm qua”, [http://vneconomy.vn/nhin-lai-nhung-thang-tram-cua-tien-ao-bitcoin-trong-10-nam-qua-
20181031165422799.htm], (truy cập tháng 7/2019)
36 Nguyễn Nguyễn (2018), “Những thăng trầm không biết đâu mà lần của đồng tiền ảo Bitcoin”,[https://dantri.com.vn/suc-manh-so/nhung-thang-tram-khong-biet-dau-ma-lan-cua-dong-tien-ao- bitcoin-20180227132010479.htm], (truy cập tháng 07/2019)
37 Hà Thu (2014), “Microsoft chấp nhận Bitcoin”, [ bitcoin-3119673.html], (truy cập tháng 07/2019)
https://vnexpress.net/kinh-doanh/microsoft-chap-nhan-38 Hà Thu (2014), “PayPal chấp nhận Bitcoin”, 3085644.html], (truy cập tháng 7/2019)
Trang 37[https://vnexpress.net/kinh-doanh/paypal-chap-nhan-bitcoin Tháng 3/2016: Hơn bốn mươi ngân hàng thương mại có chi nhánh; hoặc văn phòng giao dịch trên phạm vi toàn thế giới như Goldma, Sachs, Barclays đã cho phép thanh toán bằng Bitcoin;
- Tháng 12/2017: Hơn 1300 loại tiền thuật toán đã ra đời, giá Bitcoin đạt
- Tháng 06 năm 2019, Hơn mười bốn ngân hàng hiện tại có mười bốn ngân hàng thương mạicó chi nhánh; hoặc văn phòng giao dịch trên phạm vi toàn thế giới đang xây dựng các phương thức thanh toán quốc tế bằng tiền ảo dựa trên chuỗi công nghệ blockchain như Ngân hàng Tokyo-Mitsubishi UFJ, Tập đoàn ngân hàng
1.1.2 Pháp luật về thương mại điện tử
1.1.2.1 Khái niệm thương mại điện tử
Theo định nghĩa của Ủy ban thương mại điện tử của Tổ chức APEC thì:
“Thương mại điện tử được hiểu là hoạt động kinh doanh được tiến hành thông qua truyền tải các thông số điện tử và Dữ liệu điện tử bằng môi trường kỹ thuật số”42
Theo định nghĩa của Tổ chức Ủy ban các cộng đồng châu Âu (Viết tắt là
“EC”) thì “Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt công việc kinh doanh qua các Phương thức điện tử Các Phương thức điện tử này được hoạt động dựa trên việc xử lý và; truyền tải dữ liệu điện tử dưới dạng như hình ảnh; hoặc âm thanh43”…
39 Phương Huyền (2015), “Liên minh châu Âu chưa chính thức công nhận Bitcoin là một loại tiền tệ”, [https://vtv.vn/kinh-te/lien-minh-chau-au-chua-chinh-thuc-cong-nhan-bitcoin-la-mot-loai-tien-te-
20151023223956006.htm], truy cập tháng 7/2019
40 Thành Nguyên (2017), “Giá bitcoin hôm nay (17/12): Kỷ lục mới trên 19.500 USD, vẫn trong đà tăng”, [https://vietnambiz.vn/gia-bitcoin-hom-nay-1712-ky-luc-moi-tren-19500-usd-van-trong-da-tang-40402.htm], (truy cập tháng 7/2019)
41 Lê Linh (2019), “14 ngân hàng toàn cầu sẽ sử dụng tiền ảo trong thanh toán quốc tế”, Thời báo Sài gòn Kinh tế, [https://www.thesaigontimes.vn/289629/14-ngan-hang-toan-cau-se-su-dung-tien-ao-trong-thanh- toan-quoc-te.html], (truy cập tháng 7/2019)
42 Nguyễn Bá Diến (2005), “Giáo trình Luật Thương mại quốc tế”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.127
43 Nguyễn Bá Diến (2005), “tlđd”, tr.130
Trang 38Theo định nghĩa của WTO thì thương mại điện tử được hiểu bao gồm tổng thể các hoạt động như: (i) Quảng cáo; (ii) sản xuất; (iii) phân phối sản phẩm, có nghĩa là việc bán hàng hóa, sản phẩm; và (iv) việc thanh toán trên Internet Phương thức thương mại điện tử nhận diện việc giao nhận các sản phẩm; hoặc hàng hóa được thực hiện theo cách “hữu hình”; đồng thời hoạt động giao nhận và các thông
Như vậy, khảo sát các định nghĩa của các tổ chức quốc tế cho thấy “khái niệm” về Thương mại điện tử theo quan niệm của tổ chức quốc tế chưa có sự thống nhất, theo tác giả thì Thương mại điện tử một cách tổng quát đó là việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động Thương mại điện tử thông qua các Phương thức điện tử Theo cách hiểu này, xét về bản chất thì Thương mại điện tử vẫn mang các tính chất của Hoạt động thương mại theo nghĩa truyền thống Tuy nhiên, thông qua các phương thức điện tử thì các Hoạt động thương mại được thực hiện nhanh chóng và hiểu quả hơn cách thông thường, truyền thống Việc thực hiện các Hoạt động thương mại dưới các hình thức Thương mại điện tử giúp các thương nhân tiết kiệm chi phí, và mở rộng các phạm vi kinh doanh, có nghĩa việc kinh doanh không còn “bó hẹp” trong phạm vi địa phương; hoặc quốc gia mà được “mở rộng và lan tỏa” ra phạm vi toàn cầu Thương mại điện tử giúp được hình thành và phát triển dựa trên hệ thống mạng máy tính và Internet
Theo TS Lê Văn Thiệp thì Thương mại điện tử giúp định nghĩa của là việc
thực hiện một phần hoặc toàn bộ các quá trình của hoạt động thương mại bằng các
Pháp luật Việt Nam hiện hành định nghĩa khá chi tiết về Thương mại điện
tử, và cơ bản đều có nét tương đồng với các định nghĩa về Thương mại điện tử của các Tổ chức quốc tế Theo quy định tại Điều luật số 3.1 Nghị định số 52 năm 2013
44 Nguyễn Bá Diến (2005), “tlđd”, tr.132
45 Lê Văn Thiệp (2016), “Pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ luật học, Học
viện Khoa học xã hội, tr.27
Trang 39của Chính phủ quy định về Thương mại điện tử thì hoạt động Thương mại điện tử được hiểu là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ các quy trình của hoạt động thương mại bằng các phương thức điện tử có kết nối với hệ thống mạng Internet hoặc các hệ thống mạng Viễn thông Di động
Từ khái niệm trên, theo tác giả có thể hiểu thương mại điện tử có một vài các “đặc trưng” cơ bản như sau:
Thứ nhất, thương mại điện tử là phương thức sử dụng các phương thức điện
tử để thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động thương mại;
Thứ hai, thương mại điện tử cần được hiểu theo “nghĩa rộng” với phạm vi
hoạt động bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh thương mại trong nền kinh tế quốc dân chứ không chỉ giới hạn ở các hoạt động mua bán hàng hóa hoặc sử dụng các dịch vụ;
Thứ ba, Các phương thức điện tử rất đa dạng về chủng loại như telephone;
hoặc fax; Hệ thống thanh toán điện tử; và Internet
1.1.2.2 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện tử
Với tính chất đa dạng và phức tạp của thương mại điện tử do đó hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực này cần có sự tương thích Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử không chỉ giới hạn trong một loại văn bản quy phạm pháp luật mà được mở rộng; và liên quan đến nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác điều chỉnh các hoạt động thương mại khác Trong hoạt động thương mại mang tính chất truyền thống thì các chủ thể tham gia vào các giao dịch thường gặp gỡ nhau một cách trực tiếp
để đàm phán và thương lượng hợp đồng Thực tiễn hoạt động thương mại cho thấy các bên có thể là những thương nhân đã có quan hệ xã hội với nhau từ trước đó Tuy nhiên trong thương mại điện tử thì các chủ thể tham gia vào các giao dịch không cần thiết phải gặp gỡ hoặc tiếp xúc với nhau để đàm phán; và thương lượng
Trang 40về các điều kiện của các giao dịch; do đó thông thường các thương nhân sẽ không
có sự quan hệ hoặc quen biết với nhau từ trước đó; đây là tính chất đặc thù của các hoạt động thương mại“phi truyền thống” Các hoạt động thương mại truyền thống được phân định rõ ràng bằng các vùng ranh giới về lãnh thổ của vùng, địa phương, quốc gia tuy nhiên với hoạt động thương mại điện tử thì được thực hiện trong các môi trường với tính chất “không có vùng ranh giới” Tuy nhiên với đặc điểm của các với hoạt động thương mại phi truyền thống đó thương mại điện tử được thực hiện bằng phương thức điện tử có kết nối với hệ thống mạng Internet hoặc các hệ thống mạng viễn thông di động; nói cách khác có sự tham gia của bên thứ ba với vai trò “trung gian” Các chủ thể tham giao vào hoạt động thương mại thông qua thương mại điện tử ngoài việc tuân thủ các quy định pháp luật Việt Nam về thương mại điện tử còn phải tuân thủ các quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan như thuế, ngân hàng, tài chính… Do đó để bảo đảm sự an toàn cho thương nhân khi tham gia thương mại điện tử về tính pháp lý, thì pháp luật Việt Nam về thương mại điện tử cần tập trung điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực này mà các quy định pháp luật trong lĩnh vực hoạt động thương mại truyền thống chưa điều chỉnh vì các đặc thù riêng biệt của thương mại điện tử Theo tác giả thì pháp luật về thương mại điện tử được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình, các chủ thể là cá nhân, hoặc tổ chức tham gia vào các hoạt động thương mại thực hiện một phần hoặc toàn bộ các quá trình của hoạt động thương mại bằng các phương thức điện tử được kết nối với hệ thống mạng máy tính thông qua Internet
Nghiên cứu pháp luật quốc tế, thấy rằng Ủy ban Liên hiệp quốc về Luật Thương mại quốc tế đã ban hành luật về thương mại điện tử năm 1996, được xem
là văn bản pháp lý mang tính chất quốc tếđầu tiên điểu chỉnh về thương mại điện
tử Sau đó, năm 2001 thì Ủy ban Liên hiệp quốc về Luật Thương mại quốc tế tiếp tục ban hành luật quy định về chữ ký Điện tử Ngoài các văn bản trên thì trong thời gian qua, Tổ chức quốc tế đã ban hành các văn bản điều chỉnh về hoạt động thương