1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về kết hôn trái pháp luật thực tiễn tại ủy ban nhân dân phường trường chinh

47 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về kết hôn trái pháp luật. Thực tiễn tại Ủy ban nhân dân phường Trường Chinh
Tác giả Phoutthavongsa Phimmasone
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Trúc Phương
Trường học Đại học Đà Nẵng - Phân hiệu ĐHĐN tại Kon Tum
Chuyên ngành Luật
Thể loại Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Kon Tum
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 705,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế đã cho thấy, ngày càng có nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật diễn ra quanh cuộc sống của chúng ta, gây ra những ảnh hưởng vô cùng tiêu cực đến mối quan hệ giữa các thành viê

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐHĐN TẠI KON TUM

PHOUTTHAVONGSA PHIMMASONE

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT

THỰC TIỄN TẠI UBND PHƯỜNG

TRƯỜNG CHINH

Kon Tum, tháng 05 năm 2023

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐHĐN TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT

THỰC TIỄN TẠI UBND PHƯỜNG

TRƯỜNG CHINH

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : ThS NGUYỄN THỊ TRÚC PHƯƠNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN : PHOUTTHAVONGSA PHIMMASONE LỚP : K19LK

MSSV : 1917380107049

Kon Tum, tháng 05 năm 2023

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chuyên đề báo cáo thực tập này trước hết em xin gửi đến quý Thầy,

Cô giáo trong Khoa Luật, Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum lời cảm ơn chân thành nhất Đặc biệt, em xin gửi đến Cô Nguyễn Thị Trúc Phương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập này lời cảm ơn sâu sắc nhất

Em xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo, các Phòng, Ban của UBND Phường Chinh, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được tìm hiểu thực tiễn trong suốt quá trình thực tập tại cơ quan Cuối cùng em xin cảm ơn các Anh, Chị tại Bộ phận một cửa đã giúp

đỡ, cung cấp những số liệu thực tế để em hoàn thành tốt báo cáo thực tập tốt nghiệp này

Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình thực tập, hoàn thiện báo cáo này

em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ Cô cũng như Nhà trường

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC SƠ ĐỒ iii

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

5 BỐ CỤC 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH, THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 3

1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN UBND PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 3

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU UBND PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH, THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 4

1.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 4

1.2.2 Cơ cấu và tổ chức UBND phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 4

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 9

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 10

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 10

2.1.1 Khái niệm, mục đích và bản chất của kết hôn 10

2.1.2 Khái niệm kết hôn trái pháp luật 12

2.1.3 Hậu quả của việc kết hôn trái pháp luật 15

2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 16

2.2.1 Lược sử pháp luật Việt Nam về kết hôn trái pháp luật qua từng giai đoạn phát triển 16

2.2.2 Khái niệm kết hôn trái pháp luật theo quy định hiện hành 20

2.2.3 Các trường hợp kết hôn trái pháp luật 20

2.2.4 Xử lý kết hôn trái pháp luật theo quy định của pháp luật Hôn nhân gia đình 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 30

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH, THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 31

3.1 THỰC TRẠNG KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH, THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 31

3.1.1 Tình hình đăng ký kết hôn và kết hôn trái pháp luật tại UBND phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 31

Trang 5

3.1.2 Hạn chế trong quá trình thực hiện pháp luật về đăng ký kết hôn tại UBND

phường Trường Chinh 31

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 34

3.2.1 Giải pháp nhằm hạn chế việc kết hôn trái pháp luật 34

3.2.2 Giải pháp trong việc xử lý kết hôn trái pháp luật, đảm bảo lợi ích của các bên liên quan và lợi ích chung của xã hội 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 38

KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 BÁO CÁO CÔNG VIỆC HÀNG THÁNG TẠI ĐƠN VỊ THỰC TẬP

BẢNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC TẬP CỦA SINH VIÊN

GIẤY XÁC NHẬN HOÀN THÀNH BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tổ chức UBND Phường Trường Chinh 8

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hôn nhân là tiền đề cho việc tạo lập một gia đình Hiểu một cách sát thực nhất thì hôn nhân được hình thành dựa trên tình cảm lứa đôi, hai bên nam nữ yêu thương lẫn nhau

và muốn cùng nhau “về một nhà”, cùng nhau xây dựng gia đình nhằm thỏa mãn những

nhu cầu tình cảm giữa hai cá nhân và tương trợ lẫn nhau về những nhu cầu vật chất trong đời sống hằng ngày Bằng việc đăng ký kết hôn, Nhà nước sẽ thừa nhận quan hệ hôn nhân, đồng thời Nhà nước luôn quan tâm củng cố chế độ hôn nhân và đề ra những biện pháp nhằm ổn định quan hệ này Nhà nước ta đã xây dựng một hệ thống các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) nhằm điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ cho phù hợp với tính chất, đặc điểm của xã hội Việt Nam và phù hợp với tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam Tại đó quy định về điều kiện kết hôn hợp pháp cũng như các hình thức kết hôn trái pháp luật

Quan hệ hôn nhân được hình thành do sự kết hôn và được biểu hiện là một quan hệ

xã hội gắn liền với nhân thân của mỗi bên nam, nữ, đó là quan hệ vợ chồng Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, những mối quan hệ cũng như những vấn đề về tâm sinh

lý của con người ngày càng trở nên phức tạp Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ hôn nhân, gia đình, trong đó có việc kết hôn giữa hai bên Điều kiện kết hôn được coi là yếu tố cơ bản góp phần hình thành gia đình tiến bộ, hạnh phúc và bền vững Tuy nhiên

do một số điều kiện kinh tế - xã hội mà những điều kiện đó chưa tuân thủ triệt để gây ra hiện tượng kết hôn trái pháp luật Thực tế đã cho thấy, ngày càng có nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật diễn ra quanh cuộc sống của chúng ta, gây ra những ảnh hưởng vô cùng tiêu cực đến mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đến lối sống đạo đức

và xã hội, đến sức khỏe và việc duy trì nòi giống của dân tộc

Khi mà đời sống vật chất của con người ngày càng đầy đủ hơn thì cái người ta quan tâm sau đó chính là yếu tố tinh thần Là một cuộc sống văn minh, hiện đại Cùng với sự phát triển không ngừng của các lĩnh vực như văn hóa, công nghệ, khoa học kỹ thuật, thì ngành luật ở Việt Nam cũng không ngừng hoàn thiện để phục vụ cuộc sống Kết hôn trái pháp luật vẫn tồn tại như một hiện tượng xã hội không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể mà còn ảnh hưởng đến đạo đức và trật tự xã hội Khi thực tế xã hội phát sinh ngày càng nhiều, những quy định của pháp luật về vấn

đề này càng đáng quan tâm hơn thì việc nghiên cứu nó là điều vô cùng cần thiết Đó

cũng là lý do tác giả quyết định chọn: “Pháp luật về kết hôn trái pháp luật, thực tiễn tại

UBND Phường Trường Chinh”, làm đề tài nghiên cứu cho báo cáo thực tập cuối khóa

Qua đó giúp cho mọi người có cái nhìn tổng quát hơn về kết hôn trái pháp luật từ thực tiễn trên địa bàn phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài làm rõ cơ sở lý luận thực tiễn pháp luật về kết hôn trái pháp luật và ở UBND phường Trường Chinh nói riêng Từ đó đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về kết hôn trái pháp luật ở UBND phường Trường Chinh trong thời

Trang 8

2

gian qua, nêu ra những kết quả đạt được và nguyên nhân hạn chế Trên cơ sở đó, đưa đề

ra những đề xuất góp phần hạn chế tình trạng kết hôn trái pháp luật ở UBND phường Trường Chinh trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về kết hôn trái pháp luật, quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam về kết hôn trái pháp luật (đặc biệt là các quy định về kết hôn trái pháp luật trong Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014), tình trạng kết hôn trái pháp luật trong những năm gần đây và thực tiễn thực hiện việc xử lý kết hôn trái pháp luật

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu những quy định trong pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề kết hôn trái pháp luật qua thực tiễn tại phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện, đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: liệt

Chương 2: Cơ sở pháp lý về kết hôn trái pháp luật

Chương 3: Thực trạng kết hôn trái pháp luật trên địa bàn Phường Trường Chinh,

Thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH, THÀNH

PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN UBND PHƯỜNG TRƯỜNG

CHINH THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

Nơi đây từ xưa đã là địa bàn cư trú của người Ba Na bản địa, dẫn đến tên gọi Kon

Tum, nghĩa là “Làng Hồ” theo tiếng Ba Na Do nằm ở vị trí đặc biệt; đất đai bằng phẳng,

màu mỡ được sông Đăk Bla bồi đắp, và cũng do nhiều yếu tố lịch sử mà vùng đất này dần trở thành nơi định cư của nhiều dân tộc khác nhau; trong đó có người Kinh đến từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định Trong những năm 1841-1850, người Pháp trên hành trình lên cao nguyên truyền đạo đã đặt cơ sở Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây Đến năm 1893, chính quyền thực dân Pháp lập Tòa đại lý hành chính Kon Tum do viên linh mục Vialleton cai quản và kể từ đó tên gọi Kon Tum chính thức được sử dụng, đơn

vị hành chính cấp tỉnh được thành lập sau đó cũng mang tên gọi này Thành phố Kon Tum từ một vùng đất hoang vắng, thưa thớt người trở thành nơi tập trung dân cư, thương mại và hành chính xuyên suốt chiều dài lịch sử của tỉnh Kon Tum Thành phố Kon Tum hiện đang là đô thị loại III

Phường Trường Chinh là đơn vị hành chính thuộc thành phố Kon Tum, nằm về phía Đông Bắc thành phố Kon Tum, có tổng diện tích đất tự nhiên là 518,89 ha, trong đó đất phi nông nghiệp là 366,3 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp 152,59 ha

Trên địa bàn phường có 03 thôn đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, có hệ thống cơ sở hạ tầng kém phát triển

- Phạm vi ranh giới của phường như sau:

+ Phía Đông giáp: Xã Đăk Blà, xã ĐăkrơWa;

+ Phía Tây giáp: Phường Quang Trung, phường Duy Tân;

+ Phía Nam giáp: Phường Thắng Lợi’

- Về tôn giáo bao gồm: Thiên chúa giáo là 1786 tín đồ (chiếm 19,01%); Phật giáo la

183 tín đồ (chiếm 1,94 %); Cao đài là 37 tín đồ (chiếm 0,39 %) Trên địa bàn phường có

01 nhà nguyện tại thôn Kon Sơ Lam 1

Thông tin của UBND Phường Trường Chinh

- Địa chỉ trụ sở cơ quan: Số 03, đường Nơ Trang Long, Tổ 5, phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum

- Điện thoại: (0260)3.910.366

- Email: ubndptchinh.tph-kontum@chinhphu.vn

Trang 10

4

- Diện tích: 518,89 ha

- Dân số: 2.346 hộ, 9.290 người

- Đơn vị hành chính: 8 thôn, tổ dân phố (05 tổ dân phố và 03 thôn)

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU UBND PHƯỜNG TRƯỜNG CHINH, THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

1.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

UBND phường Trường Chinh là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Theo quy định tại điều 63 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 thì UBND phường Trường Chinh có chức năng:

1 Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân phường quyết định các nội dung quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 61 của Luật này và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường

2 Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương

3 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền

1.2.2 Cơ cấu và tổ chức UBND phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

Để hoàn thành tốt các chức năng nhiệm vụ của mình,UBND phường đã sắp xếp tổ chức bộ máy làm việc của mình như sau: Có 01 chủ tịch, 01 Phó chủ tịch và 02 Ủy viên UBND phường

a Chủ tịch - Phó Bí thư Đảng Ủy

Ông Dương Văn Tuyn

Chức vụ: phó Bí thư Đảng ủy, chủ tịch UBND

Điện thoại: 0989467479

Email: duongvantuyn@gmail.com

Lãnh đạo, điều hành, quản lý toàn diện mọi hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân dân phường

Trực tiếp chỉ đạo, điều hành các lĩnh vực:

- Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh; dự toán ngân sách nhà nước hàng năm; kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm của UBND phường; cho chủ trương tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của UBND phường

- Nội chính; Tư pháp; đối ngoại; địa giới hành chính; cải cách hành chính; thi đua, khen thưởng; tổ chức bộ máy và công tác cán bộ theo thẩm quyền

- Tiếp công dân định kỳ, đột xuất, xem xét giải quyết các kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của tổ chức và công dân theo quy định của pháp luật

- Tài chính; thuế; thống kê; các chương trình mục tiêu quốc gia; đất đai, xây dựng, tài nguyên và môi trường

- Lĩnh vực dân tộc, tôn giáo

- Công tác phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn

Trang 11

- Lĩnh vực Lao động, thương binh và xã hội; bảo hiểm xã hội

- Phụ trách công tác dân vận khối chính quyền, quy chế dân chủ

- Chủ tịch UBND phường là người thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của UBND phường Trường hợp Chủ tịch UBND phường không thể thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thì ủy quyền cho Phó Chủ tịch UBND phường thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí

- Chủ tịch, trưởng các Ban, Hội đồng của phường: Hội đồng Thi đua khen thưởng; Hội đồng Nghĩa vụ quân sự, Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, Ban chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, các Ban, Hội đồng khác theo quy định của pháp luật

- Ký các quyết định, văn bản thuộc các lĩnh vực: Công tác cán bộ, Quyết định điều hành ngân sách, các chủ trương, chính sách của phường; các báo cáo, tờ trình xin chủ trương, kiến nghị, đề xuất với Thường trực Đảng ủy, HĐND phường và UBND thành phố

- Ký các hồ sơ liên quan đến đất đai, hồ sơ quyền sở hửu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất thuộc quyền quả lý của UBND, ký các quyết định xử phạt liên quan đến lĩnh vực tài nguyên, môi trường, xây dựng

- Xem xét, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, quyết định cưỡng chế thuộc thẩm quyền của UBND phường theo quy định của pháp luật Trường hợp nếu có công việc đột xuất có thể ủy quyền lại cho Phó Chủ tịch UBND phường giải quyết, nếu nội dung công việc phức tạp báo cáo cho Chủ tịch UBND phường quyết định Phó Chủ tịch UBND phường chịu trách nhiệm cá nhân trước Chủ tịch, Thường trực HĐND phường, Ban Thường vụ Đảng ủy phường về nội dung công việc mà Chủ tịch phân công, ủy quyền chỉ đạo thực hiện

- Theo dõi, chỉ đạo các bộ phận chuyên môn của UBND phường: Văn phòng - Thống kê, Địa chính - Xây dựng, Tài chính - Kế toán, Ban Chỉ huy Quân sự phường, Công an phường, Ban Bảo vệ dân phố, tổ dân phố 1, tổ dân phố 2

- Lĩnh vực địa chính - xây dựng - đô thị, môi trường, tài nguyên, khoáng sản

- Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

- Lĩnh vực cải cách hành chính; tiếp dân, giải quyết đơn thư thuộc lĩnh vực phụ trách

Trang 12

6

- Lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục thể thao; y tế; dân số, gia đình, trẻ em; giải quyết việc làm, an sinh xã hội, giáo dục và Đào tạo

- Phụ trách lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

- Quản lý đô thị; vệ sinh môi trường

- Tiếp dân, giải quyết đơn thư thuộc lĩnh vực phụ trách

- Làm Trưởng các Ban chỉ đạo và Chủ tịch hội đồng thuộc lĩnh vực phụ trách; thực hiện một số công việc khác theo sự phân công của Chủ tịch UBND

- Chủ động xây dựng chương trình kế hoạch triển khai các nhiệm vụ theo lĩnh vực được phân công phụ trách Kiểm tra, đôn đốc cán bộ, công chứcthực hiện nhiệm vụ thuộc lĩnh vực được giao

- Trường hợp nếu Chủ tịch UBND bận (họp), có công việc đột xuất không giải quyết ngay được, ủy quyền lại cho Phó Chủ tịch UBND phường giải quyết, nếu nội dung công việc phức tạp báo cáo cho Chủ tịch UBND phường quyết định Phó Chủ tịch UBND phường chịu trách nhiệm cá nhân trước Chủ tịch, Thường trực HĐND phường, Ban Thường vụ Đảng ủy phường về nội dung công việc mà Chủ tịch UBND phường phân công, ủy quyền chỉ đạo thực hiện

- Theo dõi, chỉ đạo các bộ phận chuyên môn của UBND phường: Tư pháp - Hộ tịch, Văn hóa - Xã hội và thôn Sơ Lam 1, thôn Sơ Lam 2

c Ủy viên UBND Phường Trường Chinh

Trưởng công an phường:

- Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân phường tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân phường trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn theo quy định của pháp luật chuyên ngành

- Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về công an và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền và điều hành hoạt động của Ban bảo vệ dân phố

- Tổ chức lực lượng công an, nắm chắc tình hình an ninh trật tự trên địa bàn; tham mưu đề xuất với cấp Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân phường và cơ quan công an cấp trên về chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn phường và tổ chức thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Tổ chức phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn của công an cấp trên

- Đảm bảo trật tự công cộng, quản lý vũ khí, chất nổ, dễ cháy; quản lý hộ khẩu, kiểm tra các quy định về an ninh trật tự trên địa bàn theo thẩm quyền

- Chỉ đạo tuần tra, bảo vệ mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng ở địa bàn theo chỉ đạo của cấp Đảng ủy, chính quyền và của công an cấp trên

- Phối hợp với Ban chỉ huy quân sự phường để bảo vệ các công trình Quốc phòng trên địa bàn phường

Trang 13

- Phụ trách tổ dân phố 5, thôn Kon Tu 2

Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự phường:

- Tham mưu UBND phường tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND phường trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng trên địa bàn theo quy định của pháp luật Chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của BCH quân sự thành phố

- Tham mưu xây dựng kế hoạch, giáo dục chính trị và pháp luật, huấn luyện dân quân, hoạt động bảo vệ trị an của lực lượng dân quân; xây dựng kế hoạch tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ hàng năm; huy động lực lượng dự bị động viên và các kế hoạch khác liên quan tới nhiệm vụ quốc phòng, quân sự; phối hợp với các cơ quan, đơn vị, ban, ngành, đoàn thể triển khai thực hiện nhiệm vụ về công tác quốc phòng, quân sự địa phương trên địa bàn phường

- Tổ chức thực hiện đăng ký, quản lý công dân trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, quân nhân dự bị và dân quân theo quy định của pháp luật; thực hiện công tác động viên, gọi thanh niên nhập ngũ hàng năm

- Thực hiện chính sách hậu phương quân đội, các tiêu chuẩn chế độ chính sách cho dân quân tự vệ, quân nhân dự bị theo quy định của pháp luật

- Thực hiện Quy chế phối hợp với công an và lực lượng Bảo vệ dân phố thường xuyên hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu và tổ chức khắc phục thiên tai, sơ tán, cứu hộ, cứu nạn trên địa bàn phường

- Tổ chức thực hiện nghiêm chế độ quản lý sử dụng, bảo quản vũ khí trang bị, sẵn sàng chiến đấu; quản lý công trình quốc phòng theo phân cấp; thực hiện chế độ kiểm tra, báo cáo, sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng, quân sự ở phường theo quy định

- Thực hiện một số công việc khác theo sự phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường và theo sự chỉ đạo của cơ quan quân sự cấp trên

- 01 chỉ huy trưởng quân sự

- 01 công chức do chủ tịch UBND huyện, thị xã, thành phố bố trí vào các chức danh công chức nêu trên

Hiện nay UBND phường các cán bộ đến đều có trình độ chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học trở lên

Trang 14

chính-Văn phòng thống kê

Công an

Văn hóa-

môi trường Quân sự

Trang 15

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tại Chương này, em đã khái quát chung về đơn vị thực tập, cũng như lịch sử hình thành và phát triển, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum và một số nội quy, công việc tại đơn

vị thực tập

Để quá trình thực tập mang lại hiệu quả cao, bản thân cần phải có một sự chuẩn bị tốt về kiến thức, ý thức và cơ sở thực tập, phát huy những mặt thuận lợi, khắc phục những khó khăn, đặc biệt là bản thân cần tự nổ lực phát huy khả năng bản thân hơn nữa Tại Ủy ban nhân dân phường Trường Chinh cùng với sự hỗ trợ tận tình về mọi mặt của cán bộ hướng dẫn thực tập nói riêng và toàn thể cơ quan nói chung, bản thân đã tiến bộ từng ngày Công việc thực tế tại cơ quan có nhiều vấn đề liên quan đến pháp luật, từ đó

có cơ hội vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn Vì cơ quan đơn vị phụ trách quản lý tại địa bàn phường Trường Chinhvới số lượng dân cư đông, khối lượng công việc nhiều nên gặp khó khăn trong quá trình xử lý hồ sơ, nhưng nhờ có sự giúp đỡ

và phối hợp của cán bộ chuyên môn nên công việc vẫn được hoàn thành đúng tiến độ Bản thân đã tạo được mối quan hệ tốt với mọi người tại cơ quan thực tập, thật sự thích nghi và hội nhập vào môi trường làm việc, thực hiện công việc được giao với tinh thần trách nhiệm cao góp phần giữ vững chất lượng đào tạo và uy tín của trường, đạt được các mục tiêu do bản thân đề ra và tích lũy được kinh nghiệm

Trang 16

10

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT

2.1.1 Khái niệm, mục đích và bản chất của kết hôn

a Khái niệm kết hôn

Nhìn từ góc độ xã hội học, từ xưa, khi mà chưa hình thành một quy tắc, một quy định nào thì khái niệm kết hôn chưa từng được biết đến Quan hệ giữa một người đàn ông

và một người đàn bà chỉ đơn thuần là quan hệ “tính giao” Vì thế sự liên kết giữa họ chỉ

đơn thuần nhằm thỏa mãn những bản năng thuần túy Quan hệ này tồn tại và phát triển theo quy luật của tự nhiên với mục đích đảm bảo sự sinh tồn, phát triển của xã hội loài người Tuy nhiên ở họ lại không hề có bất kỳ một sự ràng buộc, ngăn cách hoặc giới hạn nào Họ tìm đến với nhau đơn giản bởi những nhu cầu bản năng, đó chính là sự liên kết hoàn toàn tự nhiên Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn lịch sử, với sự xuất hiện của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau thì dần dần sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà không còn chỉ là sự ràng buộc đơn thuần bởi quan hệ tính giao mà là sự liên kết mang tính xã hội, thể hiện những giá trị văn minh của con người trong mối liên hệ đặc biệt được gọi là “hôn nhân” Khi đó những quy tắc xã hội dần dần xuất hiện, khái niệm

“hôn nhân” cũng bắt đầu được biết đến Dưới góc độ này, sự liên kết giữa người đàn ông

và người đàn bà chính là sự liên kết đặc biệt nhằm tạo dựng các mối liên hệ gia đình Trong mỗi chế độ xã hội, gia đình đều thực hiện những chức năng cơ bản mang tính chất

xã hội của nó Một trong những chức năng cơ bản của gia đình là sinh sản nhằm tái sản xuất ra con người, là quá trình tiếp tục nòi giống Đó là một quá trình cần thiết của cuộc sống trong một xã hội nhất định “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những con người khác, sinh sôi, nảy nở đó là quanhệ giữa chồng và

vợ, giữa cha mẹ và con cái đó là gia đình Trong đời sống HN&GĐ, sự kiện xác lập quan

hệ hôn nhân được gọi là “kết hôn” Như vậy, việc kết hôn đã tạo ra một sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, tạo thành quan hệ vợ chồng

“Nhà nước bảo hộ HN&GĐ ” Chính vì hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình

là tế bào của xã hội nên Nhà nước ta luôn quan tâm củng cố chế độ hôn nhân và đề ra

những biện pháp nhằm làm ổn định quan hệ này bởi “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã

hội tốt thì gia đình càng tốt”1 Để đảm bảo tạo ra những tế bào tốt, những gia đình ổn định, lành mạnh thì trước hết ngay từ việc kết hôn của hai bên nam nữ đã phải tuân theo những điều kiện nhất định, sao cho cuộc hôn nhân đó được xã hội và pháp luật công nhận Vậy thế nào là kết hôn hợp pháp? Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay,

cụ thể tại Khoản 5 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về khái niệm kết hôn như

sau: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của

Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Hệ thống pháp luật HN&GĐ quy định

nam nữ kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố sau: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ

1 Khoản 2 Điều 36 Hiến pháp năm 2013

Trang 17

vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”

Hệ thống pháp luật HN&GĐ quy định nam nữ kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố sau:

Thứ nhất, phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn được kết hôn với

nhau, ý chí và mong muốn đó được thể hiện bằng tờ khai của họ trong tờ khai đăng ký

kết hôn cũng như trước các cơ quan đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật

Thứ hai, việc kết hôn phải được Nhà nước thừa nhận Hôn nhân chỉ được Nhà nước

thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn

Như vậy, kết hôn theo quy định của pháp luật là căn cứ để Nhà nước thừa nhận và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn

b Mục đích và bản chất của kết hôn

Mục đích của kết hôn: Hôn nhân là phương thức để xây dựng, duy trì, củng cố và

phát triển gia đình, nó vừa liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên đến cuộc sống của mỗi cá nhân, vừa là biểu hiện sinh động sắc thái của văn hóa tộc người Vì vậy, hôn nhân không chỉ là sự thừa nhận tính hợp pháp của

quan hệ giới tính mà còn mang nhiều ý nghĩa văn hóa – xã hội khác

Trải qua những giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người, nhân loại đã chứng kiến những bước tiến mới trong việc nhìn nhận mục đích của việc kết hôn Khi gia đình “một vợ - một chồng” xuất hiện, quan hệ giữa người đàn ông và người đàn bà không chỉ nhằm thỏa mãn những nhu cầu bản năng thuần túy nữa, mà đó là sự liên kết đặc biệt nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, tạo lập gia đình – nền tảng cơ bản của xã hội Do đó, hôn nhân ở đây mang tính xã hội sâu sắc, người kết hôn là những người trực tiếp đặt nền móng cho lịch sử phát triển của xã hội

Ngày nay, cũng có nhiều quan niệm cho rằng mục đích của cuộc hôn nhân là nhằm sinh con để duy trì nòi giống Tuy nhiên, quyền kết hôn là quyền của mỗi cá nhân, vì thế pháp luật quy định về quyền kết hôn trước hết phải xuất phát từ lợi ích của người kết hôn Hôn nhân đáp ứng được một trong những yêu cầu cơ bản của nhân loại là tái sản xuất ra con người Nhưng nếu như chỉ để sản sinh ra con người thôi thì không cần kết hôn cũng vẫn thực hiện được, vợ chồng vẫn có thể không sinh con mà chung sống hạnh phúc bên nhau Vì vậy, lợi ích của bản thân người kết hôn trước hết phải được bảo vệ, lợi ích của gia đình và xã hội chỉ được xem xét trong sự hài hòa với lợi ích của cá nhân Xác định rõ mục đích của việc kết hôn giúp chúng ta có thể dự liệu các phương án điều chỉnh pháp luật nhằm bảo vệ quyền tự do kết hôn của mỗi các nhân

Bản chất của kết hôn: “Người kết hôn về cơ bản không phải để có con, vì không

lấy vẫn có được, không phải vì giải quyết nhu cầu sinh lý, vì không lấy vẫn có thể giải quyết…mà con người kết hôn vì thấy hạnh phúc khi ở với người kia

Bản chất của hôn nhân là hướng đến hạnh phúc, tức hướng tới vấn đề tâm lý của con người Khi vấn đề cốt lõi này bị lung lay thì hôn nhân sẽ không đứng vững Khi người ta thấy không thể chia sẻ, thấy mất niềm tin, mất tự do quá mức, thấy mình không còn là gì trong lòng người kia thì tâm lý nảy sinh cảm giác bất an, thất vọng

Trang 18

12

Nếu cố gắng mà không thể cải thiện thì chia tay nhau là lựa chọn sáng suốt là ly

hôn cách tốt nhất trong một cuộc hôn nhân không tốt Chúng ta nên nhìn nhận mặt tích

cực của nó, và đừng nghĩ những người ly hôn đều là người không tốt…”

Ở các nước theo theo hệ thống pháp luật common law (đặc biệt ở Mỹ) tồn tại quan

niệm phổ biến: hôn nhân là một loại hợp đồng dân sự bởi vì hôn nhân chính là sự thoả

thuận giữa người đàn ông và một người đàn bà để thiết lập một quan hệ pháp lý và làm

phát sinh và thực hiện các quyền, nghĩa vụ đối với nhau

Ở các nước XHCN và Việt Nam quan niệm chính thống về mặt học lý cho rằng:

Hôn nhân không phải là một hợp đồng mà là một sự liên kết đặc biệt giữa một người đàn

ông và một người đàn bà Sự liên kết này không phụ thuộc vào tính toán vật chất, mà

được dựa trên cơ sở tình yêu thương, quí trọng, bình đẳng và tự nguyện giữa vợ và

chồng Ngoài ra, mục đích của hôn nhân là xây dựng mối quan hệ bền vững, đảm bảo

thoả mãn nhu cầu tinh thần và vật chất chất của đôi bên, sinh đẻ và giáo dục con cái

Theo tôi, để xác định hôn nhân là một thiết chế pháp luật hay là một hợp đồng dân

sự, cần xem xét trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, có sự khác nhau giữa mục đích giao kết hợp đồng và mục đích kết hôn

Thứ hai, pháp luật qui định về năng lực kết hôn khác với qui định về năng lực giao

Với những điểm khác biệt cơ bản nói trên, theo em, không thể đồng nhất hôn nhân

với hợp đồng dân sự, mà nên xác định nó là một thiết chế pháp luật thì phù hợp với thực

tiễn và lý luận hơn

Từ những gì phân tích ở trên, ta có thể hiểu rõ hơn về bản chất pháp lý của hôn

nhân Từ đó hướng đến việc xây dựng pháp luật hôn nhân gia đình một cách hoàn thiện

hơn

2.1.2 Khái niệm kết hôn trái pháp luật

a Định nghĩa

Kết hôn trái pháp luật là một khái niệm pháp lý được pháp luật quy định và điều

chỉnh bởi Luật HN&GĐ Kết hôn trái pháp luật cũng giống như vấn đề kết hôn, nó đều

chịu sự tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội

Như vậy có thể khẳng định, kết hôn trái pháp luật là phải có đăng ký kết hôn

nhưng vi phạm một hoặc nhiều điều kiện kết hôn Nếu so sánh giữa khái niệm kết hôn

và khái niệm kết hôn trái pháp luật có thể thấy cả hai khái niệm này đều có điểm

chung là phải có đăng ký kết hôn, nhưng kết hôn trái pháp luật là các bên kết hôn vi

phạm điều kiện kết hôn còn kết hôn hợp pháp là các bên kết hôn tuân thủ đầy đủ điều

kiện kết hôn Kết hôn hợp pháp là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng

(quan hệ hôn nhân), còn kết hôn trái pháp luật không làm phát sinh quan hệ vợ chồng

Trang 19

b Các yếu tố dẫn đến việc kết hôn trái pháp luật

Kinh tế - xã hội: Kinh tế là yếu tố hết sức quan trọng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến

mọi mối quan hệ trong xã hội, nó chi phối cả quan hệ hôn nhân gia đình Nền kinh tế ngày càng phát triển, đó là một điểm đáng mừng đối với các quốc gia, tuy nhiên mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tác động tới lối sống của một bộ phận không nhỏ nam nữ thanh niên tạo ra những thay đổi đáng kể trong quan niệm về tình yêu và hôn nhân Vì vậy, tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng có chiều hướng gia tăng Việc nam nữ chung sống như vợ chồng thể hiện ở nhiều dạng thức khác nhau đã tạo ra những hiệu ứng không tốt ảnh hưởng tới đời sống HN&GĐ

Ảnh hưởng của phong tục, tập quán lạc hậu: Pháp luật HN&GĐ nói chung, pháp

luật về kết hôn nói riêng chịu sự tác động sâu sắc bởi phong tục, tập quán Bên cạnh những phong tục tập quán tốt đẹp được luật hóa thành những quy phạm, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn như các quy định về cấm kết hôn thể hiện việc gìn giữ thuần phong,

mỹ tục của người Việt Nam về việc tôn trọng trật tự, thứ bậc trong gia đình có ý nghĩa sâu sắc đối với việc lưu giữ những giá trị truyền thống trong gia đình Việt Nam Cũng có những phong tục, tập quán lạc hậu còn được lưu giữ đến ngày nay, đặc biệt là ở các vùng dân tộc thiểu số gây ảnh hưởng trật tự xã hội, dẫn đến gia tăng việc kết hôn trái pháp luật như tục “cướp vợ, bắt chồng” của người dân tộc H’Mông, tục tảo hôn, tập tục về “hôn nhân cận huyết” Đây đều là những tập tục làm giảm tính thực thi của pháp luật khi mà

“phép vua thua hủ tục” Những quan niệm cổ hủ dường như đã ăn sâu vào trong nhận thức của người dân, do đó việc tuyên truyền phổ biến pháp luật để cho họ hiểu là rất khó

để có kết quả Những cuộc hôn nhân trái pháp luật do ảnh hưởng của phong tục, tập quán lạc hậu là vấn đề nhức nhối ở nhiều vùng dân tộc thiểu số đang được xã hội quan tâm Vì vậy, để đảm bảo nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, giảm thiểu tình trạng kết hôn trái pháp luật, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam phồn thịnh thì cần phải loại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về HN&GĐ khỏi đời sống xã hội

Trình độ nhận thức kém, thiếu hiểu biết về hôn nhân gia đình: Đất nước Việt

Nam trải dài từ Bắc vào Nam với diện tích đồi núi chiếm ¾ diện tích lãnh thổ Với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, khó tránh khỏi sự chênh lệch về văn hóa và trình độ phát triển ở từng địa phương Trong khi ở các tỉnh đồng bằng, các thành phố lớn được tiếp xúc với nhiều phương tiện truyền thông đại chúng, báo đài, mạng Internet về kiến thức hôn nhân gia đình thì ở những tỉnh miền núi hẻo lảnh, các vùng cao do điều kiện vất chất thiếu thốn, trình độ dân trí còn thấp, ít được tiếp xúc với những nguồn thông tin nên kém hiểu biết về pháp luật hôn nhân gia đình Vấn đề cưới xin ở nhiều nơi hầu hết dựa vào phong tục, tập quán từ xa xưa Có nhiều trường hợp người dân chỉ làm đám cưới ở bản làng chứ không đăng ký kết hôn Do không biết pháp luật quy đinh gì, điều kiện để được kết hôn như thế nào nên ắt hẳn việc vi phạm quy định về điều kiện kết hôn là điều không

thể tránh khỏi

Bên cạnh đó, nhiều gia đình Việt Nam vẫn còn có những suy nghĩ cổ hủ, muốn có con trai để nối dõi tông đường nên thường vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một

Trang 20

14

chồng Quan niệm “phải có con trai” đã ăn sâu, bén rễ trong nhiều thế hệ gia đình Việt nên không dễ dàng thay đổi được Nhiều bi kịch gia đình xảy ra khi vợ không đẻ được con trai, chồng quyết định lấy vợ hai, hay chính người vợ tổ chức cưới vợ bé cho chồng Trong những trường hợp này, người vợ dù không có lỗi nhưng nhiều người đành chấp nhận cay đắng để gia đình không tan vỡ Chính những suy nghĩ cổ hũ đó đã đẩy đến tình trạng kết hôn vi phạm điều cấm của pháp luật là vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được pháp luật HN&GĐ bảo vệ

Hội nhập quốc tế: Hội nhập quốc tế là một xu thế toàn cầu, biểu hiện ở nhiều cấp

độ khác nhau như liên kết tiểu khu vực, liên kết khu vực, liên kết liên châu lục, liên kết trên bình diện song phương hoặc đa phương Hội nhập bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, từ đó

mở rộng sang các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Hội nhập quốc tế giúp mở rộng thị trường thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Hội nhập quốc tế cũng tác động khá mạnh mẽ tới văn hóa truyền thống, tới các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ hôn nhân gia đình nói riêng Trong quá trình giao lưu, hội nhập đã tạo ra những xu thế mới trong giới trẻ như: chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, kết hôn đồng giới hay hôn nhân vi phạm chế độ một vợ một chồng Ở Việt Nam không thừa nhận những quan hệ hôn nhân nói trên nhưng tại một số quốc gia trên thế giới thì điều đó lại được pháp luật thừa nhận

và bảo vệ Do đó, hội nhập quốc tế đặt ra nhiều thách thức và đi kèm theo đó cũng có nhiều điểm bất lợi Một trong những điểm bất lợi đó chính là do ảnh hưởng tư tưởng của

một số quốc gia khác mà dẫn đến việc vi phạm điều kiện về kết hôn

c Phân biệt kết hôn trái pháp luật với các trường hợp vi phạm pháp luật về kết hôn khác

Phân biệt kết hôn trái pháp luật với đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền

Luật HN&GĐ năm 2014 không đưa ra khái niệm đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền Tuy nhiên, xét bản chất của quan hệ này, có thể hiểu, đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền là việc các bên kết hôn đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước không có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Chẳng hạn, theo quy định của Luật Hộ tịch, việc đăng ký kết hôn thuộc thẩm quyền của UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ Trường hợp anh A cư trú ở xã C, chị

B cư trú ở xã H kết hôn với nhau nhưng lại đăng ký kết hôn ở xã M

Rõ ràng, theo quy định của pháp luật thì anh A và chị B chỉ có thể đăng ký kết hôn tại UBND xã C hoặc xã H Mặc dù UBND xã nào cũng có thẩm quyền đăng ký kết hôn cho hai công dân đều cư trú trong nước nhưng pháp luật đã có sự phân chia thẩm quyền theo lãnh thổ (nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ) nên trường hợp trên gọi là đăng

ký kết hôn không đúng thẩm quyền

Kết hôn trái pháp luật là kết hôn đăng ký đúng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn, còn đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền, không cần xét đến việc kết hôn đó có vi phạm điều kiện kết hôn hay không

Trang 21

Xét về lỗi, kết hôn trái pháp luật được quy kết lỗi thuộc về các bên kết hôn (có thể lỗi của một bên hoặc có thể lỗi của cả hai bên) hoặc người thứ 3; đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền được quy kết lỗi thuộc về cơ quan nhà nước Đây là cơ sở để

có cơ chế giải quyết khác nhau giữa hai trường hợp này

Xét về hệ quả, kết hôn trái pháp luật không được công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai bên đăng ký kết hôn, còn đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân của hai bên được tính từ lúc đăng ký kết hôn sai thẩm quyền

Phân biệt kết hôn trái pháp luật với chung sống như vợ chồng

Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ

tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng” Như vậy, chung sống như vợ chồng khác với kết hôn trái pháp luật ở chỗ các bên trong quan hệ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn Theo cách giải thích trên thì chung sống như vợ chồng cần đáp ứng các yêu cầu: Thứ nhất, nam và nữ chung sống như vợ chồng hoặc nam và nam, nữ và nữ chung sống với nhau (hai người đồng tính chung sống như vợ chồng); thứ hai, hai bên ý thức rằng phải tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng Tuy vậy, việc xác định thế nào là tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng thì rất khó Nếu hai bên tổ chức cuộc sống chung thì thường phải có nơi ở chung, có thể có con hoặc không có con Đối với điều kiện hai bên coi nhau là vợ chồng sẽ phụ thuộc vào

ý chí chủ quan của họ, có thể họ sẽ không thừa nhận nếu thấy hậu quả bất lợi Cần phân biệt hai trường hợp: chung sống như vợ chồng trái pháp luật và chung sống như vợ chồng không trái pháp luật

Chung sống như vợ chồng không được nhà nước bảo hộ, về nguyên tắc, quan hệ giữa họ không được coi là quan hệ hôn nhân Do đó, khi có yêu cầu, Toà án sẽ ra quyết định không công nhận họ là vợ chồng Nhưng đối với kết hôn trái pháp luật, có thể sẽ có trường hợp quan hệ kết hôn trái pháp luật được thừa nhận nên không áp dụng hậu quả pháp lý như trường hợp huỷ kết hôn trái pháp luật

2.1.3 Hậu quả của việc kết hôn trái pháp luật

a Hậu quả về mặt pháp lý

Trước hết, xét về mặt pháp lý thì kết hôn trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân Mỗi người dân đều có nhu cầu hạnh phúc cho mình, được pháp luật bảo vệ, vậy mà hành vi kết hôn trái pháp luật đã đẩy họ vào tình trạng quyền và lợi ích bị xâm phạm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Quyền lợi đó có thể về nhân thân, tài sản hay con cái Những người kết hôn trái pháp luật sẽ không được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích như trong trường hợp kết hôn hợp pháp Những hành vi kết hôn trái pháp luật còn vi phạm những quy định của pháp luật liên quan đến việc bảo vệ trẻ em, thậm chí có thể phạm vào một số tội được quy định trong Bộ luật Hình sự như tội Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn

Bên cạnh đó, hoạt động quản lý của cơ quan Nhà nước cũng ảnh hưởng nghiêm trọng Những cuộc hôn nhân không hợp pháp, kết hôn không có đăng ký kết hôn khiến

Trang 22

16

cho các cơ quan Nhà nước khó có thể nắm bắt vấn đề liên quan đến hộ tịch, khai sinh hay giải quyết những tranh chấp khác

b Hậu quả về mặt xã hội

Quan hệ hôn nhân vốn là một quan hệ xã hội, chính vì vậy, những hành vi kết hôn trái pháp luật dẫn đến những cuộc hôn nhân bất hợp pháp không chỉ gây ra những hậu quả về mặt pháp lý mà còn ảnh hưởng đến xã hội một cách nặng nề Kết hôn trái pháp luật vi phạm điều kiện kết hôn – là nền tảng cơ bản để xây dựng nên một gia đình hạnh phúc Không phải ngẫu nhiên các nhà làm luật lại nêu ra những điều kiện kết hôn đó, mà

đó chính là cả một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu qua thực tiễn Kết hôn trái pháp luật không thể tạo ra những gia đình hạnh phúc, lành mạnh, gây ảnh hưởng đến thuần phong,

mỹ tục – nét đẹp truyền thống trong gia đình Việt Nam từ ngàn đời nay, đồng thời nó còn làm suy giảm giống nòi, ảnh hưởng đến chất lượng dân số và sự phát triển bền vững của đất nước Tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết ở các tỉnh miền núi đã gióng lên những hồi chuông báo động cần phải ngăn chặn kịp thời Việc trẻ em được sinh ra từ những ông bố, bà mẹ có tuổi đời còn quá trẻ hay có cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời có thể khi sinh con ra mắc các bệnh về máu, dị tật bẩm sinh là gánh nặng cho nền kinh tế Đất nước ta còn nghèo nên việc giải quyết các vấn đề về phúc lợi và an sinh xã hôi gặp không ít khó khăn Vì thế, để đảm bảo cho sự phát triển chung của xã hội, một gia đình được hình thành và tồn tại để thực hiện tốt những chức năng của

nó phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu của hai bên nam nữ, sự yêu thương, gắn kết và

tự nguyện chung sống và phải được pháp luật thừa nhận, bảo vệ Có như thế mới tạo được nền tảng gia đình vững chắc, xã hội mới phát triển bởi gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có tốt thì xã hội mới tốt

2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 2.2.1 Lƣợc sử pháp luật Việt Nam về kết hôn trái pháp luật qua từng giai đoạn phát triển

a Những quy định về kết hôn trái pháp luật trước Cách mạng tháng Tám năm

1945

Quy định về kết hôn trái pháp luật trong pháp luật thời kỳ phong kiến:

Trong lịch sử lập pháp của Việt Nam không thể không nhắc đến sự đóng góp to lớn của hai bộ Quốc triều Hình Luật (QTHL) hay còn gọi Luật Hồng Đức và Hoàng Việt Luật Lệ (HVLL), còn gọi là Luật Gia Long Đó là những chuẩn mực pháp lý được vua chúa đặt ra trong thời kỳ phong kiến nhằm điều chỉnh những mối quan hệ cả về hình sự, dân sự phát sinh trong đời sống xã hội Cả hai bộ luật này đều có những điểm tương đồng trong các quy định về điều kiện kết hôn QTHL và HVLL đều quy định việc kết hôn phải

có sự ưng thuận của cha mẹ hoặc các bậc tôn thuộc Do đó, nếu như việc kết hôn mà không có sự ưng thuận của cha mẹ hoặc các bậc tôn thuộc hay vi phạm điều cấm thì đó chính là kết hôn trái pháp luật QTHL quy định cấm kết hôn trong thời kỳ tang chế, cấm kết hôn khi cha mẹ bị giam cầm tù tội (Điều 317 - 318) Bên cạnh đó các quy định về điều cấm kết hôn còn thể hiện rõ việc bảo vệ các giá trị truyền thống, đạo đức của người

Trang 23

Việt Nam, đó là: cấm lấy cô, dì, chị, em gái, kế nữ (con gái riêng của vợ, người thân thích), cấm lấy vợ của anh, em, của thầy học đã chết (Điều 324) QTHL còn quy định cấm các quan và thuộc lại lấy đàn bà con gái hát xướng làm vợ (Điều 323) Ngoài những điểm tương đồng trong quy định về điều kiện kết hôn so với QTHL, HVLL còn quy định

về việc cấm lừa dối trong hôn nhân

Trong thời kỳ này, nếu nam nữ kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn thì đó là kết hôn trái pháp luật và bị xử lý rất nặng, có thể xử phạt bằng trượng, xử biếm, xử đồ Như vậy, việc bảo vệ các giá trị đạo đức, phong tục, tập quán trong lĩnh vực HN&GĐ cũng như trật

tự đẳng cấp xã hội trong thời kỳ này được đề cao

Quy định về kết hôn trái pháp luật trong pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc:

Trong thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp áp dụng chính sách “chia để trị” nên đã chia cắt nước ta thành ba miền Bắc, Trung, Nam Theo đó, tại mỗi miền chúng lại đặt ra những chính sách cai trị khác nhau Tương ứng với hoàn cảnh lịch sử lúc đó là sự ra đời của ba Bộ luật điều chỉnh về vấn đề dân sự, HN&GĐ Đó là Bộ Dân luật Bắc Kỳ (DLBK) năm 1931 áp dụng tại miền Bắc, Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936 áp dụng tại miền Trung và Bộ Dân luật Giản Yếu Nam Kỳ (DLGY) áp dụng tại miền Nam

Theo quy định tại Bộ DLBK và DLTK thì có một điểm chung là đều quy định tuổi kết hôn của nam là đầy mười tám tuổi và nữ là đầy mười lăm tuổi Trong khi đó, Bộ DLGY lại quy định tuổi kết hôn của nữ ít nhất là đầy mười bốn tuổi, nam ít nhất là đầy mười sáu tuổi Như vậy, so với thời kỳ phong kiến, tuổi kết hôn theo pháp luật thời kỳ Pháp thuộc đã có những chuyển biến nhất định, tuổi kết hôn dần được tăng lên là dấu hiệu thể hiện điểm tiến bộ đáng kể trong việc điều chỉnh pháp luật về kết hôn hướng tới việc bảo vệ quyền tự do kết hôn đối với mỗi cá nhân Tiếp nhận những giá trị trong cổ luật Việt Nam thì cả ba Bộ luật đều quy định việc kết hôn phải có sự ưng thuận của cha

mẹ Tuy nhiên nếu có lý do chính đáng, các tỉnh trưởng có quyền miễn cho các người con thành niên khỏi phải có sự ưng thuận của cha mẹ (Bộ DLBK và Bộ DLTK quy định điều này) Bộ DLGY có điểm tiến bộ vượt xa so với quy định của pháp luật phong kiến khi trao cho người kết hôn quyền được phép ưng thuận Bộ DLBK và DLTK quy định điều kiện khi cưới là không được mắc bệnh điên cuồng hoặc vô tri thức, nếu không giá thú

vô hiệu (Điều 84) “Khi một bên vì lầm hay bị cưỡng ép thì có thể tố cáo được” (Điều 86 DLBK) Điều đó thể hiện sự quan tâm đến quyền của cá nhân dần dần được thừa nhận và bảo vệ

b Những quy định về kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975

Quy định về kết hôn trái pháp luật từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1954: Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một mốc quan trọng trong

lịch sử dân tộc, nước Việt Nam dân chủ ra đời Trong những năm đầu (1945 – 1950), Nhà nước ta quy định vẫn cho phép vận dụng những quy định trong pháp luật cũ có chọn lọc, theo nguyên tắc không trái với lợi ích của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và lợi ích của nhân dân lao động (theo Sắc lệnh số 90 – SL ngày 10/10/1945 của Chủ Tịch

Ngày đăng: 03/08/2023, 07:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Sơ đồ tổ chức UBND Phường Trường Chinh - Pháp luật về kết hôn trái pháp luật  thực tiễn tại ủy ban nhân dân phường trường chinh
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ tổ chức UBND Phường Trường Chinh (Trang 14)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w