Về quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn

Một phần của tài liệu Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn – thực trạng và hướng hoàn thiện (Trang 45 - 50)

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

2.3. Về quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn

2.3.1. Thực trạng pháp luật về quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006 định nghĩa: “Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác”80. Theo quy định của Luật BVMT 2020, quy chuẩn kỹ thuật môi trường là quy định bắt buộc áp dụng mức giới hạn của thông số về chất lượng môi trường, hàm lượng của chất ô nhiễm có trong nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, thiết bị, sản phẩm, hàng hoá, chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật81. Và tiếng ồn được quy định thuộc hệ thống quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh82. Quy chuẩn kỹ thuật môi trường về chất lượng môi trường xung quanh trong đó có tiếng ồn phải quy định mức giá trị giới hạn cho phép của các thông số môi trường sao cho giá trị tối thiểu của các thông số môi trường bảo đảm sự sống và phát triển bình thường của con người, sinh vật; giá trị tối đa cho phép của các thông số môi trường trong thành phần môi trường bảo đảm không gây tác động xấu đến sự sống và sự phát triển bình thường của con người và sinh vật83.

Hệ thống quy chuẩn quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam hiện nay bao gồm: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) và Quy chuẩn kỹ thuật địa phương (QCĐP)84. Trách nhiệm xây dựng, thẩm định, ban hành QCVN thuộc về Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ dưới sự thẩm định của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ. Đối với QCĐP, QCĐP do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức xây dựng và ban hành để áp dụng trong phạm vi quản lý của địa phương mình85.

Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn hiện nay có QCVN 26:2010/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn. Ngoài ra, còn có

80 Khoản 2 Điều 3 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật 2006.

81 Khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020.

82 Điểm đ khoản 1 Điều 97 Luật Bảo vệ môi trường 2020.

83 Khoản 1 Điều 100 Luật Bảo vệ môi trường 2020.

84 Điều 26 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật 2006.

85 Điều 27 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật 2006

40

QCVN 24:2016/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn – mức tiếp xúc cho phép tiếng ồn tại nơi làm việc và QCVN 80:2014/BGTVT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kiểm soát tiếng ồn trên tàu biển.

QCVN 26:2010/BTNMT chia hai khu vực giới hạn tối đa các mức tiếng ồn là:

khu vực đặc biệt và khu vực thông thường. Khu vực đặc biệt bao gồm: các cơ sở y tế, thư viện, nhà trẻ, trường học, nhà thờ, đình, chùa và các khu vực có quy định đặc biệt khác. Khu vực thông thường bao gồm: khu chung cư, các nhà ở riêng lẻ nằm cách biệt hoặc liền kề, khách sạn, nhà nghỉ, cơ quan hành chính. Trong đó, mức giới hạn tối đa cho phép về tiếng ồn đối với khu vực đặc biệt là 55dB từ 6 giờ đến 21 giờ và 45dB từ 21 giờ đến 6 giờ; khu vực thông thường với mức giới hạn âm thanh là 70dB từ 6 giờ đến 21 giờ và 55dB từ 21 giờ đến 6 giờ. Đối chiếu với Tiêu chuẩn Quốc gia của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tiêu chuẩn Chất lượng Môi trường Tiếng ồn GB 3096 - 2008, nước này quy định khu vực đặc biệt cần sự yên tĩnh như các cơ sở y tế vào ban ngày là 50dB86; tại Nga mức âm thanh tối đa tại khu vực bệnh viện là 50dB từ 7 giờ đến 23 giờ và 40dB từ 23 giờ đến 7 giờ, riêng đối với khu vực trường học, thư viện, nhà thờ, các cơ sở giáo dục khác,.. mức âm thanh giới hạn là 55dB kể cả ban ngày và ban đêm87. Đối với khu vực thông thường, QCVN 26:2010/BTNMT quy định ở mức cao nhất là 70dB. Trong khi đó, tại Trung Quốc khu vực các cơ quan hành chính âm thanh chỉ tối đa là 55dB88. Ở Nga, các khu vực thông thường như: hội trường, chung cư, nhà nghỉ, khách sạn,.. mức âm thanh tối đa chỉ dao động trong khoảng từ 50dB – 60dB89. Qua so sánh có thể thấy mức giới hạn âm thanh tại Việt Nam hiện nay đang cao hơn so với Trung Quốc và Nga. Theo tác giả mức giới hạn âm thanh tại Việt Nam đối với các khu vực đặc biệt vẫn nằm trong khoảng an toàn cho thính giác của con người nhưng đối với khu vực thông thường nên được giảm xuống. Vì theo như Centers for Disease Control and Prevention (Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ) thông tin cho biết mức âm thanh từ 70dB trở lên nếu phải tiếp xúc thường xuyên, tiếp xúc trong thời gian dài sẽ gây khó chịu, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và thậm chí có thể dẫn đến mất thính lực90. Do đó với mức âm thanh 70dB được quy định trong QCVN 26:2010/BTNMT trong khoảng

86 声环境质量标准 (Tiêu chuẩn Quốc gia của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tiêu chuẩn Chất lượng Môi trường Tiếng ồn GB 3096 – 2008).

87 СВОД ПРАВИЛ ЗДАНИЯ И ТЕРРИТОРИИ (Bộ quy tắc tòa nhà và lãnh thổ, Matxcova 2016).

88 声环境质量标准 (Tiêu chuẩn Quốc gia của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tiêu chuẩn Chất lượng Môi trường Tiếng ồn GB 3096 – 2008).

89 СВОД ПРАВИЛ ЗДАНИЯ И ТЕРРИТОРИИ (Bộ quy tắc tòa nhà và lãnh thổ, Matxcova 2016).

90 “What Noises Cause Hearing Loss?”,

https://www.cdc.gov/nceh/hearing_loss/what_noises_cause_hearing_loss.html#:~:text=Noise%20above%20 70%20dB%20over,sources%20can%20affect%20your%20hearing.&text=Sounds%20at%20these%20dB%2 0levels,t%20cause%20any%20hearing%20damage, truy cập ngày 06/6/2023.

41

thời gian từ 6 giờ đến 21 giờ như hiện nay là chưa an toàn với con người và nên được điều chỉnh.

Bên cạnh đó, theo quan điểm của tác giả, việc phân chia thành khu vực đặc biệt và khu vực thông thường theo QCVN 26:2010/BTNMT vẫn còn tồn tại một số điểm bất cập. Thứ nhất, mỗi khu vực sẽ có một mức ồn khác nhau, việc phân chia thành hai khu vực đặc biệt và thông thường là chưa hợp lý và bao quát. Một số khu vực công cộng khác như: trung tâm thương mại, nhà hát, công viên, khu vui chơi giải trí,… thuộc khu vực có phát sinh tiếng ồn cần được kiểm soát nhưng lại không nằm trong khu vực được quy định giới hạn về tiếng ồn. Khu vực đặc biệt được liệt kê bao gồm “các khu vực có quy định đặc biệt khác”, vậy “các khu vực có quy định đặc biệt khác” ở đây được hiểu là những khu vực nào vẫn còn bị bỏ ngỏ, chưa có hướng dẫn và giải thích cụ thể. Thứ hai, việc đưa khu chung cư, nhà ở riêng lẻ, cơ quan hành chính và khách sạn, nhà hàng vào cùng một khu vực là chưa phù hợp. Khách sạn, nhà hàng là các điểm kinh doanh dịch vụ nên khả năng gây ra tiếng ồn và mức tiếng ồn sẽ cao hơn so với các khu dân cư và cơ quan hành chính, do đó nếu gộp chung các khu vực này lại với nhau sẽ gây ra tình trạng các cơ sở kinh doanh trên vẫn đảm bảo mức tiếng ồn phát ra nhưng lại gây ảnh hưởng đến người dân tại các khu dân cư và hoạt động của các cơ quan hành chính. Thứ ba, ô nhiễm tiếng ồn từ hoạt động giao thông và xây dựng vẫn diễn ra hằng ngày, ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của con người, tuy nhiên vẫn chưa có quy định về mức giới hạn tối đa cho phép về tiếng ồn đối với khu vực diễn ra các hoạt động này.

Tham khảo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Singapore, có thể thấy pháp luật của các quốc gia này quy định rất chi tiết về mức giới hạn tiếng ồn đối với từng lĩnh vực, từng khu vực cụ thể. Tại Nga, pháp luật nước này giới hạn mức tiếng ồn đối với từng bộ phận của cơ sở y tế, từng cơ sở kinh doanh dịch vụ và các công trình công cộng. Mỗi khu vực sẽ có một mức giới hạn riêng về tiếng ồn để đảm bảo kiểm soát tốt nhất vấn đề ô nhiễm tiếng ồn91. Tiêu chuẩn tiếng ồn ở Trung Quốc chia thành bốn khu vực giới hạn mức tiếng ồn, trong từng khu vực sẽ liên quan đến các hoạt động chủ yếu như: y tế, hành chính, công cộng, dân cư, giao thông vận tải, kinh doanh và sản xuất công nghiệp92. Cơ quan Môi trường quốc gia Singapore (NEA) cũng đặt ra tiêu chuẩn về độ ồn phát ra đối với các phương tiện giao thông vận tải; giới hạn độ ồn của các công trường xây dựng có ảnh hưởng đến bệnh viện và các cơ sở giáo dục. Trong lĩnh vực giao thông vận tải, NEA cũng đã

91 СВОД ПРАВИЛ ЗДАНИЯ И ТЕРРИТОРИИ (Bộ quy tắc tòa nhà và lãnh thổ, Matxcova 2016).

92 声环境质量标准 (Tiêu chuẩn Quốc gia của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tiêu chuẩn Chất lượng Môi trường Tiếng ồn GB 3096 - 2008).

42

cấm làm việc vào Chủ nhật và ngày lễ đối với các công trường xây dựng nằm trong phạm vi 150m so với khu dân cư và cơ sở nhạy cảm với tiếng ồn. Không được phép làm việc từ 22 giờ thứ bảy hoặc đêm trước ngày lễ đến 07 giờ sáng ngày thứ hai tiếp theo hoặc ngày sau ngày lễ. Bên cạnh đó, NEA cũng đặt ra mức giới hạn tiếng ồn cho các cơ sở nhà máy, các cơ sở công cộng và các hành vi được khuyến nghị để cư dân giảm thiểu tiếng ồn, tuân thủ giờ yên tĩnh từ 22 giờ 30 đến 7 giờ sáng hôm sau93. Ngoài ra, từ ngày 01/4/2023, Singapore cũng sẽ áp dụng các tiêu chuẩn mới nhất của Liên hợp quốc về tiếng ồn của các phương tiện giao thông cơ giới. Theo đó, tiếng ồn phát ra từ các phương tiện cơ giới sẽ phải giảm xuống và nằm trong dải từ 68 dB (đối với ô tô) đến 77 dB (đối với xe máy), tương đương độ ồn của một cuộc trò chuyện bình thường94.

Có thể thấy quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn của pháp luật Việt Nam được ban hành đã cho thấy sự nỗ lực, quan tâm của Nhà nước dành cho vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nói riêng. Tuy nhiên, khi so sánh với pháp luật nước ngoài quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn hiện nay ở nước ta vẫn còn khá chung chung và chưa có sự bao quát.

2.3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện đối với quy chuẩn kỹ thuật môi trường về tiếng ồn trong việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn.

Việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật phải dựa trên sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, nhu cầu hiện tại, xu hướng phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn nước ngoài làm cơ sở để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật nếu các tiêu chuẩn đó phù hợp với tình hình của quốc gia95. Tuy nhiên, quy chuẩn kỹ thuật tiếng ồn hiện nay của nước ta đã được xây dựng, triển khai ban hành tương đối lâu, do đó cần có sự sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và thay thế nhằm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại.

Tác giả xét thấy cần có sự xem xét phân chia lại các khu vực bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn vì việc phân chia khu vực bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn như QCVN 26:2010/BTNMT hiện nay vẫn chưa hợp lý và đầy đủ. Khu vực cần sự yên tĩnh như cơ quan hành chính đang được quy định nằm trong khu vực thông thường chung với khách sạn, nhà hàng

93 Noise Regulations in Singapore, https://www.mnd.gov.sg/mso/infosheet-on-noise-regulations-in- singapore#:~:text=PERTAINING%20TO%20NOISE-

,Noise%20from%20Neighbours,for%20residents%20include%20the%20following%3A&text=Keep%20volu me%20levels%20low%20at%20home&text=Avoid%20noisy%20recreational%20activities%2C%20especial ly%20during%20the%20quiet%20hours, truy cập ngày 25/4/2023.

94 Cục đăng kiểm VN, “Singapore thắt chặt kiểm soát tiếng ồn và khí thải của phương tiện giao thông”, https://mt.gov.vn/tk/tin-tuc/72540/singapore-that-chat-kiem-soat-tieng-on-va-khi-thai-cua-phuong-tien-giao- thong.aspx, truy cập ngày 25/4/2023.

95 Khoản 4 Điều 6 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006.

43

khi đây là những địa điểm kinh doanh dịch vụ có phát sinh tiếng ồn cần giới hạn. Một số khu vực công cộng như: công viên, trung tâm thương mại,…cần được bổ sung các quy định về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn. Ngoài ra, hoạt động giao thông cũng là một trong những nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn do đó nên có các quy định giới hạn tối đa cho phép về tiếng ồn đối với hoạt động này.

Những nội dung kiến nghị như trên của tác giả cũng đã được đề cập trong Dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn (sửa đổi, bổ sung QCVN 26:2010/BTNMT).

Trong năm 2021, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiến hành thu thập thông tin, lấy ý kiến các địa phương, các đơn vị có liên quan để đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong việc áp dụng QCVN 26:2010/BTNMT. Và đến năm 2022, Bộ tài nguyên và Môi trường đã thực hiện việc rà soát, xây dựng và ban hành dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn (sửa đổi, bổ sung QCVN 26:2010/BTNMT). Dự thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn phân loại thành năm khu vực bị ảnh hưởng, trong đó quy định rất cụ thể, rõ ràng từng giá trị tối đa cho phép đối với từng nguồn tiếng ồn, bao gồm: tiếng ồn phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, giao thông vận tải và xây dựng. Mức giới hạn tiếng ồn trong từng khoảng thời gian được quy định về cơ bản là hợp lý hơn so với QCVN 26:2010/BTNMT. Điển hình có thể kể đến như đối với khu vực A là các khu vực cần sự yên tĩnh đặc biệt, giới hạn tối đa dành cho tiếng ồn đã giảm còn 50 dB so với QCVN 26:2010/BTNMT là 55dB. Năm khu vực phân chia đã có sự bao quát, chi tiết về mức giới hạn âm thanh đối với từng khu vực. Dự thảo mới cũng đã chia khoảng thời gian để giới hạn mức tiếng ồn thành ba mốc (ngày, tối, đêm) so với Quy chuẩn hiện hành là hai mốc thời gian (từ 6 giờ đến 21 giờ và từ 21 giờ đến 6 giờ). Ngoài ra, dự thảo cũng quy định cho phép điều chỉnh ngưỡng giá trị tối đa cho phép đối với tiếng ồn phát sinh từ những nguồn trên với mức chênh lệch ngưỡng khá phù hợp. Một điểm tiến bộ nữa có thể thấy ở Dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn đã liệt kê được danh mục chủng loại và số lượng các thiết bị phát sinh tiếng ồn đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ.

Như vậy, Dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn đã được xây dựng dựa trên tình hình phát triển hiện tại của đất nước cũng như tham khảo tiêu chuẩn, quy chuẩn của một số quốc gia trên thế giới nhằm điều chỉnh sao cho phù hợp nhưng vẫn đảm bảo có tính khả thi trên thực tế.

Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy Dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn về cơ bản là phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội hiện tại, có sự quy định cụ thể từng khu vực cần giới hạn mức tiếng ồn cũng như giá trị tối đa cho phép tiếng ồn được phát ra trong những khu vực đó. Chính vì vậy, tác giả mong rằng trong tương lai Dự thảo về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn sẽ sớm được ban hành, thay

44

thế QCVN 26:2010/BTNMT để góp phần giúp cho việc kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn hiện nay có hiệu quả hơn.

Một phần của tài liệu Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn – thực trạng và hướng hoàn thiện (Trang 45 - 50)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(62 trang)