Tuy nhiên, để có một bản di chúc hợp pháp theo pháp luật lại cần những điều kiện mà người lập di chúc không biết dẫn đến việc di chúc trở nên không hợp pháp và không được thực hiện theo
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-BÀI TẬP LỚN
MÔN: LUẬT DÂN SỰ 1
ĐỀ BÀI:Pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về di chúc hợp pháp Đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.
Họ và tên: Hoàng Thu Trang
MSSV: 452429 Lớp: 4524A
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC……….1
MỞ ĐẦU ……… 2 NỘI DUNG……… 2
……… 3
3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về di chúc hợp
pháp……….6
4 Một số kiến nghị hoàn thị pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật……… 11
KẾT LUẬN……….………….…… 13 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….13
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống hiện nay, đôi khi ta không thể lường trước điều gì sẽ xảy
ra, vì vậy việc chuẩn bị di chúc là một điều cần thiết Việc lập di chúc có thể thể hiện ý chí nguyện vọng của mình khi còn sống để người thân thực hiện sau khi mình chết và cũng vừa là cơ sở cho việc phân chia tài sản của mình để lại một cách nhanh chóng, tránh khỏi những phát sinh tranh chấp giữa những người mà mình yêu quý Tuy nhiên, để có một bản di chúc hợp pháp theo pháp luật lại cần những điều kiện mà người lập di chúc không biết dẫn đến việc di chúc trở nên không hợp pháp và không được thực hiện theo nguyện vọng của người lập di
chúc Vì vậy, để làm rõ vấn đề này em xin chọn đề tài số 26: “Pháp luật và thực
tiễn thực hiện pháp luật về di chúc hợp pháp Đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luạt và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.”
NỘI DUNG
1 Di chúc
1.1 Khái niệm
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết
Di chúc thể hiện ý nguyện cuối cùng của người lập di chúc, do vậy pháp luật thừa kế tôn trọng và bảo hộ ý nguyện cuối cùng đó của người lập di chúc trong việc phân chia di sản của người đó cho những người thừa kế được chỉ định
hưởng di sản theo di chúc
1.2 Hình thức của di chúc
Di chúc có thể được thành lập thành văn bản hoặc bằng miệng Đối với di chúc bằng văn bản tồn tại ở 4 dạng sau đây:
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
Trang 4Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
Di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực
Di chúc bằng văn bản có giá trị như công chứng, chứng thực
2 Di chúc hợp pháp
Để có một bản di chúc hợp pháp và có hiệu lực cần có những điều kiện sau 2.1 Điều kiện về chủ thể
Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị mất năng lực hành vi dân sự
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc
Với tư cách là chủ sở hữu tài sản, cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự
và cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế là bất kỳ ai Năng lực hành vi dân sự của người lập di chúc là điều kiện có hiệu lực của di chúc, do vậy người lập di chúc phải hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép Cá nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên, không mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình, có quyền lập di chúc
2.2 Điều kiện về mục đích và nội dung
Mục đích và nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm pháp luật trái với đạo đức xã hội Nội dung của di chúc là nội dung của một giao dịch dân sự đơn phương vì vậy nó phải thể hiện rõ ý chí mà mục đích lập di chúc của chủ thể, không có sự áp đặt ý chí của người khác Nội dung của di chúc chỉ định những người hưởng di sản là cá nhân, tổ chức phải rõ ràng, xác định và phải còn tồn tại đối với tổ chức Phần nội dung của di chúc liên quan đến người được thừa kế di sản có thể là bất kì ai, bất kì cá nhân, tổ chức nào hoặc Nhà nước; nhưng không thể chỉ định cho một tổ chức phản động đang bị truy tố về hành vi phạm tối là chống lại nhà nước Việt Nam hoặc một cá nhân nòa đó có hành vi xâm phạm đến các quyền tài sản hay quyền nhân thân với người thứ ba
Trang 52.3 Điều kiện về ý chí người lập di chúc
Người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt và tự nguyện khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép Minh mẫn là việc cá nhân làm chủ hành vi của mình, tự mình suy nghĩ và thể hiện ý chí trên bản di chúc của mình nhằm mục đích chuyển giao tài sản của mình cho bất kì ai là cá nhân hoặc tổ chức nhất định Điều luật quy định trong việc xác định trạng thái của người lập di chúc trong khi minh mẫn, sáng suốt, làm chủ hành vi của mình kho lập di chúc Vì vậy, người lập di chúc mà do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép mà lập di chú trái với
ý chí của mình thì di chúc đó không hợp pháp và không có hiệu lực
2.4.1 Đối với di chúc bằng miệng
Điều kiện di chúc miệng: trong trường hợp tính mạng của một người bị cái chết đe dạo không thể lập di chúc bằng văn bản, phải thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc chỉ điểm hoặc chứng thực, trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng Nếu sau 3 tháng, kể
từ thời điểm di chúc miệng được lập mà người lập di chúc còn sống minh mẫn thì
di chúc bị hủy bỏ Tuy nhiên trong trường hợp dù đã quá hạn ba tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc miệng vẫn còn sống nhưng không còn minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng có hiệu lực thi hành sau khi người di chúc miệng chết Khẳng định trên xuất phát từ các nguyên tắc của pháp luật dân sự chủ thể định đoạt tài sản của mình theo di chúc hoàn toàn tự do, tự nguyện, tự định đoạt nhưng điều kiện thể hiện ý chí không còn tồn tại do cá nhân không còn minh mẫn, sáng suốt nữa
2.4.2 Đối với di chúc bằng văn bản
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: có giá trị pháp lý nếu nội dung của di chúc tuân theo những quy định tại điều 631 của Bộ luật dân sự 2015 Người lập di chúc phải tự tay viết và kí vào văn bản di chúc Điều này nằm xác định đúng người có tài sản lập di chúc bằng chữ viết của mình, tránh sự gian lận và là chứng cứ chứng minh di chúc do người có tài sản lập ra mà không phải người khác
Trang 6Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: là trường hợp di chúc có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng Người lập
di chúc phải ký hoặc chỉ điểm vào văn bản di chúc trước mặt những người làm chứng, những người làm chứng phải xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc đó Người làm chứng phải là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và không được là những người thừa kế theo di chúc, những người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc, chủ nợ hoặc con nợ của người lập di chúc Bên cạnh đó, người làm chứng không phải là người có quyền và nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung của di chúc
Di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực: người lập di chúc
có thể yêu cầu công chứng nhà nước chứng nhận bản di chúc của mình hoặc có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực vào bản di chúc do mình lập ra Người lập di chúc không được phép ủy quyền cho người khác mang di chúc của mình đi công chứng Công chứng viên có nghĩa vụ công chứng vào bản di chúc theo yêu cầu của người lập di chúc trừ những trường hợp có sự nghi ngờ người lập di chúc có dấu hiệu mất nhận thức và không làm chủ được hành vi của mình hoặc di chúc được lập
ra do bị người khác lừa dối áp đặt ý chí đối với người lập di chúc thì yêu cầu của người lập di chúc sẽ bị công chứng viên từ chối
Di chúc văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực gồm các trường hợp sau: di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực; di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhân của người chỉ huy phương tiện đó; di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó; di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị; di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài
có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại
Trang 7giao Việt Nam ở nước đó; di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách
cơ sở đó
3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về di chúc hợp pháp
Pháp luật đã quy định rất rõ về những điều kiện để một bản di chúc trở nên hợp pháp và có hiệu lực Tuy nhiên, trên thực tế có lại có rất nhiều trường hợp bản di chúc bị tòa tuyên không hợp pháp do không đáp ứng đủ đầy đủ các điều kiện để trở thành một bản di chúc hợp pháp theo quy định của Bộ luật dân sự
2015 dẫn đến ý nguyện cuối cùng của người lập di chúc không đươc thực hiện và xảy ra những tranh chấp về việc thừa kế theo di chúc
Trong các điều kiện xác định hiệu lực của di chúc, điều kiện xác định di chúc hợp pháp xảy ra thường xuyên và khó khăn trong việc đánh giá kết luận Vấn đề này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nguyên nhân đó có thể đến từ phía người lập di chúc không hiểu rõ quy định của pháp luật về điều kiện hợp pháp của di chúc hoặc đến từ phía các cơ quan chính quyền địa phương, các
tổ chức có thẩm quyền công chứng, chứng thực, công chứng viên công chứng di chúc khi thực hiện công chứng, chứng thực di chúc không triệt để tuân theo các quy định của Bộ luật dân sự về trình tự thủ công chứng, chứng thực di chúc Việc xác định tính hợp pháp của di chúc đã dẫn đến nhiều vụ án tranh chấp về thừa kế với những nguyên nhân như: một trong số các thừa kế không công nhận di chúc
là của người mất để lại, di chúc miệng không hợp pháp, di chúc bằng văn bản thiếu chữ ký hoặc điểm chỉ hoặc người làm chứng không đủ tư cách theo quy định của pháp luật,…Dưới đây là một số bản án về tranh chấp thừa kế do di chúc không hợp pháp
Bản án 11/2016/DSPT ngày 22/06/2016 về yêu cầu tuyên bố di chúc không hợp pháp
Nguyên đơn: Ông Lê Quang B
Bị đơn: Ông Lê Quang T
Trang 8Người đại diện hợp pháp của bị đơn: bà Trần Thị L- cán bộ nghiệp vụ Công ty luật V là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền ngày 06/04/2016 của ông Lê Quang T)
Theo lời khai của ông Lê Quang B: Ngày 21/10/2010, bà Trần thị B (mẹ của ông B cùng ông Lê Quang T (em của ông B) đến UBND phường Đ lập bản di chúc Tại thời điểm lập di chúc bà Trần Thị B 87 tuổi, đã già yếu, không còn minh mẫn và không biết chữ Bà B lập di chúc để lại toàn bộ diện tích 1.048m2 đát cảu bố , mẹ cho vợ chồng ông Lê Quang T, bà Trần Thị L Đến tháng 8/ 2014, ông B và một số chị em ruột thấy ông T tự ý chuyển nhượng đất cho người khác thì mới biết có bản di chúc Ông Lê Quang B yêu cầu Tòa án tuyên bố bản di chúc do bà Trần thị B lập ngày 21/10/2010 là không hợp pháp
Theo lời khai của ông Lê Quang T: Theo nguyện vọng của bà Trần Thị B thì sau khi bà b mất sẽ để lại toàn bộ ngôi nhà cấp bốn và diện tích đất 1.084m2 cho vợ chồng ông T, bà L Bà B là người không biết chữ nên ngày 21/10/2010 ông B đã lấy một tờ giấy vở học sinh và tự viết di chúc theo nguyện vọng của bà
B Viết xong ông B cùng ông T chở bà B đến UBND phường Đ để chứng thực Khi đến trụ sở UBND phường Đ thì gặp ông Võ Văn T là cán bộ tư pháp phường Sau khi kiểm tra các giấy tờ tùy thân và hồ sơ liên quan ông T gợi ý đánh máy cho rõ ràng nên ông T, công B cùng đi đánh máy và cùng đưa bà B đến UBND phường Đ Tại UBND phường Đ ông T đã làm các thủ tục và đọc lại bản di chúc cho bà B nghe và bà B điểm chỉ vào di chúc Sau khi chứng thực xong, UBND phường giữ lại một bản, còn giao hai bản cho chúng tôi mang về
Theo lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND phường Đ: Ngày 21/10/2010, UBND phường Đ tiếp nhận hồ sơ yêu cầu chứng thực di chúc của bà Trần Thị B, khi đến trụ sở UBND phường thì có ông Lê Quang B và ông Lê Quang T Quá trình thực hiện việc chứng thực, UBND phường Đ đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục và công khai các bước kiểm tra điều kiện, năng lực hành vi và tính tự nguyện của bà Trần Thị B Do bà B không biết chữ và không đọc được cho nên đã đọc lại bản di chúc cho bà B nghe, bà B hiểu rõ toàn bộ nội dung di chúc và tự nguyện điểm chỉ vào bản di chúc trước sự chứng kiến của
Trang 9ông B và ông T Việc UBND phường Đ chứng thực bản di chúc của bà Trần Thị
B là hoàn toàn đúng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 và nghị định 75/2000/NĐ- CP của chính phủ ngày 08/12/2000 về công chứng, chứng thực
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2016/DSST ngày 29/01/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Đ quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quang B
- Tuyên bố bản di chúc của bà Trần Thi B lập ngày 21/10/2010 tại UBND phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị là không hợp pháp
- Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 11/2016/DSPT ngày 22/06 của Tòa án nhân dân thành phố Đ quyết định:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Quang T và giữ nguyên bản án sơ thẩm
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Quang B
- Tuyên bố bản di chúc của bà Trần Thị B lập ngày 21/10/2010 tại UBND phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị là không hợp pháp
- Những phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
Bản án 183/2017/DS-PT ngày 01/12/2017 về tranh chấp yêu cầu tuyên
bố tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành L
Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu P Theo lời khai của anh Nguyễn Thành L: Cha mẹ anh là ông Nguyễn Văn H (chết năm 1992) và bà Trần Thị X (chết năm 2015) có 06 người con gồm: Nguyễn Thành L2, Nguyễn Phú C, Nguyễn Thành B, Nguyễn Đức V, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Thành L Ngày 15/9/2012, bà Trần Thị X lập di chúc tại Phòng công chứng B để lại cho Nguyễn Hữu P (con của anh Nguyễn Thành L2) được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa 538, tờ bản đồ
Trang 10số 7, diện tích 2.940m2, thửa 539, tờ bản đồ số 7, diện tích 820m2, loại đất trồng cây lâu năm do bà Trần Thị X được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thị xã B) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 06/01/2004, đất tọa lạc tại ấp
M, xã H, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long Anh yêu cầu vô hiệu văn bản di chúc do bà X lập vào ngày 15/9/2012, do bà X đã lớn tuổi, lập di chúc trong khi không được minh mẫn, mắt mờ, ù tai nhưng không có người làm chứng nên di chúc không hợp pháp Đồng thời, anh yêu cầu công nhận phần đất thửa 538, 539 nói trên cho anh được quyền sử dụng vì bà X đã cho anh khoảng hơn 20 năm, anh lên liếp lập vườn và xây dựng căn nhà cấp 4
Theo lời khai của anh Nguyễn Hữu P: Khi còn sống bà X đã chia đất cho các con chỉ còn 02 thửa đất 538, 539 Sau khi chồng bà X qua đời, anh L hất hủi, ngược đãi bà X nên bà cất nhà tạm ở riêng Căn nhà của bà X ở trước đây thì anh
L tiếp tục ở và sửa chữa thành nhà kiên cố Ngày 15/9/2012 bà X lập di chúc tại phòng công chứng B cho anh phần đất thửa 538, 539 Lúc lập di chúc bà X minh mẫn, có giấy chứng nhận về sức khỏe, mẹ ruột anh tên Nguyễn Thị Ngọc N (vợ của ông Nguyễn Thành L2) có hỏi công chứng viên cần người làm chứng hay không thì công chứng viên trả lời không cần Anh không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của anh L và yêu cầu công nhận bản di chúc do bà X lập ngày 15/9/2012 là hợp pháp, công nhận cho anh được quyền sử dụng đất tại các thửa đất 538, 539 Đồng thời, anh yêu cầu anh L giao trả cho anh các thửa đất 538,
539 Anh không đồng ý hoàn trả giá trị căn nhà và các tài sản khác cho anh L Tại bản án số 04/2016/DSST ngày 26/10/2016 của Tòa án nhân dân thị
xã B, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành L do anh Đặng Minh T1 đại diện
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Hữu P do anh
Nguyễn Minh T2 đại diện
- Tuyên bố văn bản công chứng Di chúc do bà Trần Thị X lập ngày
15/9/2012 tại Văn phòng công chứng B (Số công chứng 01/quyển số 01/TP/CC-SCC/DC) bị
vô hiệu và di chúc này không có hiệu lực pháp luật