1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng ly hôn trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an

63 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng ly hôn trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thị Quế
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Phương Thảo
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 880,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (7)
  • 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (8)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (9)
  • 5. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài (10)
  • 6. Kết cấu của đề tài (10)
  • B. NỘI DUNG (11)
  • Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN (11)
    • 1.1. Khái niệm (11)
      • 1.1.1. Khái niệm ly hôn (11)
      • 1.1.2. Chế định ly hôn của một số nước trên thế giới (16)
    • 1.2. Quyền yêu cầu ly hôn (19)
    • 1.3. Các trường hợp ly hôn (23)
      • 1.3.1. Thuận tình ly hôn (23)
      • 1.3.2. Ly hôn theo yêu cầu của một bên (25)
    • 1.4. Hậu quả pháp lý của ly hôn (29)
      • 1.4.1. Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng (29)
      • 1.4.2. Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn (30)
      • 1.4.3. Giải quyết cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn (35)
      • 1.4.4. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con sau khi ly hôn (36)
  • Chương 2. THỰC TRẠNG LY HÔN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN (38)
    • 2.1. Thực trạng ly hôn trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An (38)
      • 2.1.1. Khái quát về thị xã Hoàng Mai (38)
      • 2.1.2. Thực trạng ly hôn trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An (40)
      • 2.2.2. Khó khăn về kinh tế (47)
      • 2.2.3. Bị đánh đập, ngược đãi (48)
      • 2.2.4. Một bên vợ hoặc chồng ngoại tình hoặc nghi ngờ ngoại tình (49)
      • 2.2.5. Mâu thuẫn gia đình (50)
      • 2.2.6. Nguyên nhân khác (51)
  • Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ VẤN ĐỀ LY HÔN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN (53)
    • 3.1. Những tác động của việc ly hôn đến đời sống xã hội ở thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An (53)
      • 3.1.1. Những tác động tích cực (53)
      • 3.1.2. Những tác động tiêu cực (53)
    • 3.2. Một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng ly hôn hiện nay (54)
      • 3.2.1. Hoàn thiện quy định của pháp luật (55)
      • 3.2.2. Phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình (57)
      • 3.2.3. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân (57)
      • 3.2.4. Tuyên truyền kiến thức về cuộc sống gia đình, sức khỏe sinh sản vị thành niên (58)
      • 3.2.5. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị , các ban ngành đoàn thể các tổ chức hòa giải cơ sở (58)
      • 3.2.6. Đẩy mạnh công tác xây dựng gia đình văn hóa, phường văn hóa (59)
    • 3.3. Một số kiến nghị (59)
    • C. KẾT LUẬN (62)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, xã hội ngày càng phát triển và các mối quan hệ xã hội không ngừng biến đổi Để xây dựng một xã hội tươi đẹp và thịnh vượng, việc phát triển theo hướng của pháp luật là điều kiện thiết yếu Ngành Luật Hôn nhân và Gia đình giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân, gia đình và liên quan đến quyền nhân thân của công dân Do tính chất phức tạp và thiết thực của các quan hệ này, pháp luật về lĩnh vực này luôn được nhà nước quan tâm, sửa đổi và hoàn thiện nhằm phù hợp với sự phát triển của thời đại.

Gia đình là tế bào của xã hội, và sự vững mạnh của gia đình đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của xã hội Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, nền kinh tế thị trường cũng gặp phải một số hạn chế, trong đó điển hình là tình trạng ly hôn gia tăng.

Trong những năm gần đây, số lượng các vụ ly hôn ở Việt Nam gia tăng đáng báo động, gây ra những mâu thuẫn và bất ổn trong xã hội Theo thống kê của Tòa án Nhân dân các cấp, năm 2013 có khoảng 80.000 vụ ly hôn, chiếm khoảng 55% các án dân sự, phản ánh tình trạng đáng lo ngại về gia đình và xã hội Để đối phó với thực trạng này, pháp luật về Hôn nhân và gia đình đã được đổi mới nhằm phù hợp hơn với tình hình; đồng thời, việc nghiên cứu quy định về ly hôn không chỉ là yêu cầu của các nhà khoa học mà còn là nhu cầu thực tiễn của cộng đồng.

Tình trạng ly hôn ngày càng gia tăng tại thị xã Hoàng Mai đã trở thành vấn đề xã hội đáng lo ngại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống gia đình và sự phát triển bền vững của cộng đồng Sự phức tạp ngày càng tăng của các vụ ly hôn không chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực đến các cặp đôi mà còn tác động đến nhiều khía cạnh của xã hội và cuộc sống người dân địa phương Chính vì vậy, việc nghiên cứu nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hạn chế tình trạng ly hôn là cần thiết để giảm thiểu các tác động tiêu cực và đảm bảo sự ổn định xã hội Đây chính là lý do tôi chọn đề tài “Thực trạng ly hôn trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An” làm đề tài khóa luận của mình để góp phần tìm ra các giải pháp phù hợp cho tình hình hiện nay.

Tôi mong muốn đóng góp công sức nhỏ bé vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ly hôn, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về ly hôn tại Việt Nam Đặc biệt, tôi hy vọng góp phần nâng cao hiệu quả thi hành các quy định này tại thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, đáp ứng nhu cầu giải quyết các vụ việc ly hôn một cách công bằng và hợp lý.

Dù chọn đề tài có thể chưa đầy đủ, tôi vẫn nhận thấy nó gần gũi với cuộc sống và có ý nghĩa nghiên cứu sâu sắc Trong quá trình thực hiện, do còn thiếu kinh nghiệm, đề tài của tôi còn tồn tại một số thiếu sót Tôi mong nhận được sự hướng dẫn, góp ý từ thầy cô để hoàn thiện và phát triển đề tài nghiên cứu của mình một cách tốt nhất.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của đề tài dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác-Lênin, đảm bảo phân tích toàn diện và khách quan về lĩnh vực hôn nhân và gia đình Đề tài còn kết hợp chặt chẽ các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta nhằm phản ánh chính xác thực tiễn pháp luật về ly hôn Các phương pháp tiếp cận này giúp làm rõ các yếu tố lịch sử, xã hội ảnh hưởng đến quy định pháp lý, đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả luật pháp về hôn nhân gia đình trong tình hình mới.

Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu và so sánh giữa lý luận và thực tiễn để làm rõ các quy định của pháp luật về ly hôn Bên cạnh đó, việc áp dụng phương pháp thống kê và đánh giá tổng hợp giúp đảm bảo tính chính xác và khách quan của kết quả nghiên cứu, nâng cao hiệu quả phân tích các vấn đề pháp lý liên quan.

Ý nghĩa nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu đề tài “Thực trạng ly hôn trên địa bàn Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An” giúp nhận thức đúng đắn về thực tế của hiện tượng ly hôn trong gia đình - một vấn đề xã hội mới nổi bật Đây cũng làm nổi bật vai trò quan trọng của gia đình trong quá trình phát triển xã hội và hình thành nhân cách con người Bên cạnh đó, đề tài cung cấp những hiểu biết rõ nét về các quy định pháp luật mới liên quan đến hôn nhân và gia đình, như khái niệm hôn nhân, kết hôn, gia đình, ly hôn, góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận trong khoa học pháp lý.

Hiện nay, tình trạng ly hôn tại thị xã Hoàng Mai đang gia tăng đáng báo động, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống gia đình và xã hội Việc nắm rõ thực trạng này giúp xác định nguyên nhân chính gây ly hôn như mâu thuẫn về tài chính, xung đột về giá trị sống và thiếu sự hiểu biết lẫn nhau Để hạn chế tình trạng ly hôn, cần có các giải pháp cụ thể như nâng cao công tác tư vấn hôn nhân gia đình, tuyên truyền giáo dục về giá trị của hạnh phúc gia đình, và thúc đẩy các hoạt động hỗ trợ giúp các cặp vợ chồng vượt qua khó khăn Thực hiện những biện pháp này sẽ góp phần giảm tỷ lệ ly hôn, xây dựng cộng đồng ổn định và hạnh phúc hơn tại thị xã Hoàng Mai trong giai đoạn hiện nay.

Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 03 chương:

Chương 1 Lý luận chung về ly hôn

Chương 2 Thực trạng ly hôn trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Chương 3 Một số giải pháp nhằm hạn chế vấn đề ly hôn trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG

LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN

Ly hôn là một vấn đề phức tạp trong quan hệ Hộ gia đình, với các quy định pháp luật khác nhau tùy theo từng quốc gia Tại Việt Nam, quan điểm về ly hôn đã có sự thay đổi đáng kể theo từng thời kỳ, phản ánh sự phát triển của xã hội và nhận thức xã hội về hạnh phúc gia đình.

Luật cổ và tục lệ cổ Ly hôn là một biện pháp chấm dứt hôn nhân được thừa nhận từ rất sớm trong luật Việt Nam Tại Bộ Quốc triều hình luật Điều

308 có ghi: “Phàm chồng đã bỏ lửng vợ 5 tháng mà không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng) thì mất vợ Nếu vợ đã có con, thì cho hạn một năm Vì việc quan phải đi xa, thì không theo luật này Nếu đã bỏ vợ, mà lại ngăn cản người khác lấy vợ mình, thì phải tội biếm” Thực ra, điều luật được viết không tốt lắm, nhưng thực tiễn ly hôn vẫn được ghi nhận như một biện pháp chế tài dành cho người chồng vi phạm nghĩa vụ đối với vợ và gia đình Ngoài ra, người làm luật cũng thừa nhận việc ly hôn do sự thuận tình của vợ và chồng (Vũ Văn Mẫu, Dân luật Việt Nam lược khảo, Sài gòn, 1962, tr.559 và 560) bằng cách cùng nhau thảo một văn thư, vợ chồng bày tỏ ý chí về việc chấm dứt cuộc sống chung và việc ly hôn có hiệu lực sau khi người chồng ký và người vợ điểm chỉ vào giấy đó mà không cần có sự can thiệp của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Việc ly hôn được coi là hình phạt đối với người chồng theo Bộ luật Gia Long Điều 108, phù hợp với quy định thời Lê Điều này cho phép người vợ chấm dứt hôn nhân để kết hôn với người khác khi chồng mất tích do loạn lạc hoặc bỏ trốn Cụ thể, nếu chồng bỏ đi biệt tăm và vợ cũng bỏ trốn trong vòng ba năm mà không nộp đơn hay có hành động gì để giữ liên lạc, thì vợ có quyền ly hôn hợp pháp.

LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN

Khái niệm

Ly hôn là vấn đề phức tạp trong quan hệ HNGĐ, chịu ảnh hưởng bởi các quy định pháp luật khác nhau ở từng quốc gia Tại Việt Nam, quan điểm về ly hôn đã có sự thay đổi theo từng thời kỳ, phản ánh sự phát triển của xã hội và các nghị định pháp luật liên quan.

Ly hôn là một hình thức chấm dứt hôn nhân được thừa nhận từ rất sớm trong luật lệ Việt Nam, phản ánh sự phát triển của pháp luật cổ đại và các tập quán truyền thống Trong các bộ luật cổ như Bộ Quốc triều hình luật, quyền ly hôn đã được quy định rõ ràng, thể hiện quan điểm của xã hội xưa về quyền tự do chọn lựa cuộc sống riêng tư Các tục lệ cổ đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến quy trình và nguyên tắc thực hiện ly hôn, góp phần hình thành nên hệ thống luật pháp hiện đại ngày nay.

Điều 308 quy định rằng nếu chồng bỏ lửng vợ trong vòng 5 tháng mà không còn liên lạc, vợ có thể làm đơn trình tại cơ quan địa phương, và nếu có chứng cứ, sẽ bị mất quyền kết hôn với chồng Trong trường hợp vợ đã có con, thời hạn ly hôn là một năm, trừ khi lý do là do chồng phải đi xa Việc chồng ngăn cản người khác lấy vợ là vi phạm và có thể bị xử lý hình sự Dù điều luật không hoàn hảo, thực tiễn ly hôn vẫn được sử dụng như một biện pháp xử lý vi phạm nghĩa vụ của chồng đối với vợ và gia đình Ngoài ra, luật còn công nhận ly hôn thuận tình, khi vợ chồng cùng nhau ký giấy thể hiện ý chí chấm dứt quan hệ, và việc này có hiệu lực sau khi chồng ký và vợ điểm chỉ, không cần sự can thiệp của cơ quan nhà nước.

Việc ly hôn theo Bộ luật Gia Long quy định rõ ràng về chế tài đối với người chồng trong các trường hợp như bỏ trốn hoặc mất tích, đồng thời cho phép người vợ chấm dứt quan hệ hôn nhân để kết hôn với người khác khi chồng mất tích do loạn lạc Tuy nhiên, chế độ gia trưởng dưới thời Nguyễn dựa trên mô hình Trung Quốc, nơi vai trò của người đàn ông hoàn toàn áp đảo, khiến ly hôn thuận tình trở nên không phù hợp trong hệ thống pháp luật gia đình dựa trên chế độ phụ quyền Trong thời kỳ này, hầu hết các vụ ly hôn thuận tình đều là do chồng đưa ra quyết định, còn người vợ thường chỉ chấp nhận hoặc cam chịu, phản ánh rõ nét về ảnh hưởng của tư duy pháp lý và xã hội của thời kỳ đó.

Trong thời kỳ thuộc địa, chế định ly hôn được xây dựng dựa trên khuôn mẫu pháp luật Pháp, đồng thời vẫn bảo vệ quyền và lợi ích của người chồng Luật cận đại quy định việc ly hôn do tòa án quyết định trong các trường hợp luật định, đồng thời công nhận khả năng ly hôn theo thuận tình của vợ và chồng, điều mà luật Pháp cùng thời kỳ không thừa nhận Ngoài ra, dân luật giản yếu còn ghi nhận quyền xin ly hôn khi vợ hoặc chồng mất tích, phù hợp với quy định của Bộ luật Gia Long.

Quyền xin ly hôn được thừa nhận cho cả vợ và chồng theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, trong thực tiễn, người vợ không có quyền tự mình xin ly hôn khi lý do là người chồng ngoại tình, trong khi người chồng vẫn có thể xin ly hôn dựa trên lý do là người vợ ngoại tình Điều này khiến quyền ly hôn của người vợ bị hạn chế so với người chồng.

Khi ly hôn, người vợ được phép mang đi quần áo, tư trang và đồ dùng cá nhân từ nhà chồng Việc phân chia tài sản có giá trị lớn dựa trên các thỏa thuận trước trong hôn ước hoặc theo quy định của pháp luật nếu không có hôn ước Luật pháp quy định về phân chia tài sản sau ly hôn tùy thuộc vào việc gia đình có con hay không, cũng như có hay không ngoại tình Trong đó, con trong gia đình gồm các con của chồng, bất kể do vợ chính hay vợ hai sinh ra, còn các con riêng của người vợ không được tính nếu chồng không có con riêng Việc trông giữ con thường ưu tiên giao cho người cha, trừ khi việc giao con cho mẹ hoặc người thứ ba phù hợp hơn lợi ích của con Con đủ 15 tuổi có thể tự nguyện chọn cha hoặc mẹ để sống theo mong muốn của mình.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, việc ly hôn được xem là một biện pháp quan trọng giúp phụ nữ thoát khỏi chế độ hôn nhân phong kiến đầy bất công Văn bản pháp lý đầu tiên quy định về ly hôn là Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950, thể hiện chủ trương xoá bỏ hệ thống pháp lý cũ dựa trên quan niệm bất bình đẳng giữa nam và nữ Sắc lệnh cho phép ly hôn do lỗi, bệnh tâm thần, bệnh hiểm nghèo hoặc không hợp tính tình, cũng như ly hôn thuận tình giữa vợ và chồng Dù còn ngắn gọn, văn bản này đã đặt nền móng cho sự hoàn thiện các quy định về ly hôn sau này.

Năm 1959, người làm luật bắt đầu xây dựng chế độ ly hôn mới dựa trên tư tưởng chủ đạo, cho phép ly hôn khi “tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” (Điều 26 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959) Trong chế độ ly hôn mới này, các trường hợp ly hôn được phân loại dựa trên yêu cầu xuất phát từ ý chí của cả vợ và chồng hoặc của một trong hai người, thay vì dựa vào tính chất hoặc đặc điểm của các sự kiện nguyên nhân dẫn đến tan vỡ quan hệ vợ chồng như trước.

Trong giai đoạn đất nước chia đôi, các nhà lập pháp miền Nam từng ban hành quy định cấm ly hôn dựa trên lý do tôn giáo, phản ánh quan điểm truyền thống thời đó Tuy nhiên, quy định này không kéo dài lâu và nhanh chóng bị thay đổi để phù hợp với xu hướng tiến bộ về quyền tự do cá nhân và luật pháp hiện đại.

Từ năm 1964 đến khi hệ thống luật của chế độ Sài Gòn bị huỷ bỏ, quy trình ly hôn tại miền Nam chịu sự chi phối của hệ thống pháp luật pha trộn giữa luật thời kỳ thuộc địa và luật Pháp Các quy định này đặc biệt tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi của người chồng, phản ánh rõ nét đặc điểm của hệ thống pháp luật thời đó.

Sau khi đất nước thống nhất, pháp luật về ly hôn tiếp tục được hoàn thiện dựa trên quan niệm bắt nguồn từ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 Ban đầu, chế định ly hôn phát triển từ tư tưởng giải phóng phụ nữ, nhưng sau đó ngày càng tập trung hơn vào việc bảo đảm sự phát triển lành mạnh của con trong môi trường gia đình không hạnh phúc Yêu cầu này được khẳng định rõ trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, được củng cố trong Luật năm 2000 và mới nhất là Luật năm 2014, nhằm tạo ra khung pháp lý phù hợp để giải quyết các mối quan hệ hôn nhân và ly hôn một cách công bằng, hợp lý.

14 Điều 3 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án”

Ly hôn là mặt trái của quan hệ hôn nhân, phản ánh thực tế khi các cuộc hôn nhân đã thực sự tan vỡ và cần thiết để giải thoát cho các bên khỏi xung đột, mâu thuẫn kéo dài Theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân gắn liền với nhân thân của vợ chồng, chỉ có vợ, chồng hoặc cả hai mới có thể yêu cầu pháp luật chấm dứt quan hệ hôn nhân Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 mở rộng đối tượng có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn, bao gồm cha mẹ, người thân thích khi một bên vợ chồng mắc bệnh tâm thần hoặc gặp bạo lực gia đình ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe và tinh thần Tòa án nhân dân là cơ quan có thẩm quyền xét xử các vụ việc ly hôn tại Việt Nam, đảm bảo quyền tự do hôn nhân và ly hôn theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ.

Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt điều kiện hạn chế quyền này Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, là kết quả của ý chí của họ trong việc chấm dứt quan hệ hôn nhân khi tình cảm đã tan vỡ và mục đích kết hôn không còn phù hợp Nhà nước không cưỡng ép phụ nữ và nam giới phải chung sống khi đã hết yêu thương, mà việc giải quyết ly hôn là cần thiết để bảo vệ lợi ích của vợ chồng, con cái và gia đình Theo Lênin, tự do ly hôn không làm tan rã các mối liên hệ gia đình mà trái lại, củng cố chúng dựa trên cơ sở dân chủ trong xã hội văn minh Quyền tự do ly hôn là quyền bình đẳng giữa vợ chồng, và việc đòi hỏi quyền này là cần thiết để chống lại sự ức hiếp, đặc biệt đối với phụ nữ trong xã hội xã hội chủ nghĩa Chân lý rõ ràng rằng, khi công nhận quyền tự do ly hôn cho phụ nữ, không có nghĩa là khuyến khích họ bỏ chồng, mà là bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ trong bối cảnh bình đẳng giới và công bằng xã hội.

Nhà nước bảo hộ hôn nhân và đảm bảo quyền tự do ly hôn của vợ chồng, nhưng việc giải quyết ly hôn không diễn ra theo ý chí cá nhân mà dựa trên pháp luật Nhà nước kiểm soát chặt chẽ quá trình ly hôn để đảm bảo trật tự, công bằng và phù hợp với lợi ích chung Trong quan hệ hôn nhân, không chỉ có lợi ích riêng tư của vợ chồng mà còn bao gồm lợi ích của Nhà nước, xã hội, và đặc biệt là quyền lợi của con cái – thành viên của gia đình và xã hội Điều này thể hiện rõ vai trò của gia đình như một tế bào của xã hội và trách nhiệm của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

Quyền yêu cầu ly hôn

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền yêu cầu ly hôn được quy định rõ ràng, cho phép vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn Ngoài ra, cha mẹ và người thân thích khác cũng có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp khi một bên vợ hoặc chồng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác khiến họ không thể nhận thức hoặc kiểm soát hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe và tinh thần của họ Đây là những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong quá trình giải quyết ly hôn theo pháp luật.

So sánh với Luật HNGĐ năm 2000, luật mới năm 2014 đã mở rộng quyền yêu cầu ly hôn, cho phép cha, mẹ, người thân thích của một trong hai bên vợ chồng yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong các trường hợp đặc biệt Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của những người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác, không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và tính mạng của họ Trước đó, Luật HNGĐ năm 2000 không có quy định về quyền yêu cầu ly hôn đối với những đối tượng này, dẫn đến vi phạm quyền lợi hợp pháp của họ Chính sách mới này nhằm đảm bảo quyền lợi cho những người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác, đồng thời giúp họ thoát khỏi tình trạng hôn nhân có thể coi là “địa ngục,” giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe tinh thần và thể chất của họ.

Quyền yêu cầu ly hôn thuộc về cả vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Tuy nhiên, quyền này bị hạn chế trong các trường hợp cụ thể, như khi vợ đang mang thai, đang sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, theo Khoản 3 Điều 51 của luật.

Theo Điều 51, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi Luật quy định rõ ràng rằng, trong trường hợp vợ mang thai hoặc đang chăm sóc con dưới 12 tháng tuổi, chồng không thể yêu cầu ly hôn bất kể lý do hoặc tình trạng của người vợ Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong giai đoạn nhạy cảm này.

Trong trường hợp vợ đang mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà người chồng yêu cầu ly hôn, việc xử lý sẽ dựa trên các quy định pháp luật liên quan, đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho vợ và con Khi vợ đang trong thời kỳ mang thai hoặc chăm sóc con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, tòa án thường xem xét cẩn trọng để quyết định việc ly hôn, nhằm bảo vệ quyền lợi của người mẹ và trẻ sơ sinh Các nguyên tắc ưu tiên bảo vệ trẻ nhỏ và quyền lợi của người phụ nữ khi có yêu cầu ly hôn trong những trường hợp này sẽ được áp dụng một cách linh hoạt và nhân đạo.

Trong trường hợp Toà án chưa thụ lý vụ án, theo Khoản 24 Điều 1 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011, Toà án sẽ trả lại đơn kiện cho người nộp đơn Đây là quy định quan trọng nhằm đảm bảo quy trình tố tụng dân sự đúng luật Việc trả lại đơn kiện giúp người khởi kiện điều chỉnh hoặc bổ sung hồ sơ phù hợp trước khi được thụ lý và xem xét Chính sách này góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Trong trường hợp đã thụ lý vụ án, Toà án cần giải thích rõ cho người nộp đơn biết rằng họ chưa có quyền yêu cầu ly hôn Nếu người nộp đơn rút đơn yêu cầu, Toà án sẽ áp dụng Khoản 31 Điều 1 của Bộ Luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 để ra quyết định đình chỉ vụ án Ngược lại, nếu người nộp đơn không rút đơn, Toà án sẽ tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và quyết định bác yêu cầu xin ly hôn của họ.

Trong trường hợp người vợ mang thai nhưng đã sảy thai hoặc sau sinh con mà đứa trẻ không qua khỏi, người chồng vẫn được quyền ly hôn mà không bị hạn chế Điều này thể hiện quyền tự nguyện của người chồng trong việc đưa ra quyết định ly hôn dù có các sự kiện liên quan đến thai kỳ hoặc sinh nở Chính sách này giúp đảm bảo quyền lợi và tự do cá nhân của chồng trong quá trình giải quyết hôn nhân, bất kể các tình huống liên quan đến sự sinh thành của con cái.

Trong quy định về ly hôn, hạn chế yêu cầu ly hôn chỉ áp dụng đối với người chồng, còn người vợ có thể yêu cầu ly hôn bất cứ lúc nào, kể cả khi đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nếu có bằng chứng cho thấy tình cảm vợ chồng đã mất, mâu thuẫn gia đình sâu sắc và việc duy trì hôn nhân gây bất lợi cho sức khỏe của người vợ, thai nhi hoặc trẻ sơ sinh Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết các yêu cầu ly hôn theo thủ tục chung trong những trường hợp này, thể hiện tính nhân văn và tiến bộ của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, những người dễ bị tổn thương.

Phân tích các khía cạnh của quy định hạn chế yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cho thấy, quy định này không chỉ mang ý nghĩa pháp lý quan trọng mà còn thể hiện giá trị đạo đức, nhằm duy trì sự ổn định của gia đình và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong xã hội.

- Trong giai đoạn vợ đang mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới

Trong giai đoạn 12 tháng đầu đời của trẻ, người mẹ thường gặp phải tình trạng tâm sinh lý bất ổn và cần được chăm sóc, quan tâm đặc biệt Thời kỳ này, khả năng lao động của người vợ thường bị hạn chế hoặc không còn khả năng làm việc để tạo thu nhập, do đó cần nhận sự hỗ trợ về kinh tế từ người chồng Việc người chồng làm đơn ly hôn trong hoàn cảnh này sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm sinh lý và cuộc sống của người làm mẹ.

Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em, đồng thời đảm bảo an toàn cho phụ nữ có thai và thai nhi Trong quan hệ vợ chồng, việc sinh đẻ không chỉ là trách nhiệm của người vợ mà còn là trách nhiệm chung của cả hai vợ chồng, phản ánh chức năng xã hội của gia đình Do đó, cần xác định rõ trách nhiệm chung này để giải quyết các vấn đề ly hôn một cách phù hợp, hợp lý, nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái Việc này còn góp phần bảo vệ lợi ích của gia đình và xã hội trong tổng thể.

Quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn phản ánh rõ nét nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em trong Luật Hôn nhân và Gia đình, nhằm đảm bảo sự an toàn và quyền lợi của phụ nữ có thai cùng thai nhi Đây là nguyên tắc toàn cầu nhằm thúc đẩy sự bảo vệ đặc biệt đối với các đối tượng yếu thế trong quá trình giải quyết các tranh chấp hôn nhân Việc quy định này thể hiện cam kết của pháp luật trong việc giữ gìn hạnh phúc gia đình, đồng thời đảm bảo quyền lợi và sự an toàn cho phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ.

Các trường hợp ly hôn

Thuận tình ly hôn là tình trạng khi cả vợ và chồng đồng ý chấm dứt hôn nhân và có đơn xin ly hôn thống nhất Đây là hình thức ly hôn thuận tiện, giúp quá trình giải quyết thủ tục dễ dàng và nhanh chóng hơn Việc đồng thuận trong ly hôn thể hiện qua việc hai bên cùng ký vào đơn thuận tình ly hôn, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ được thực hiện đầy đủ Thuận tình ly hôn phù hợp khi cả hai bên đã thoả thuận về quy định về tài sản, con cái và các vấn đề liên quan khác.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ về trường hợp thuận tình ly hôn tại Điều 55, giữ nguyên nội dung như Điều 90 của luật năm 2000, đề cập đến việc vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn khi đều tự nguyện và đã thỏa thuận về bàn giao tài sản, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Tòa án sẽ công nhận thuận tình ly hôn nếu các bên thỏa thuận bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thỏa thuận hoặc có thỏa thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của vợ và con, tòa sẽ tiến hành giải quyết theo quy trình pháp luật.

Việc chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn phải được thực hiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật Pháp luật quy định rõ rằng việc thuận tình ly hôn được công nhận, đảm bảo quyền tự do ly hôn hợp pháp của cả hai vợ chồng.

Trong trường hợp hai vợ chồng yêu cầu thuận tình ly hôn, sự tự nguyện của họ không phải là căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân, mặc dù khi kết hôn, sự tự nguyện của hai bên là cơ sở xác lập quan hệ vợ chồng Trong quá trình giải quyết ly hôn, tòa án dựa trên sự tự nguyện của hai vợ chồng để xem xét, xử lý đơn thuận tình ly hôn, đảm bảo quyền lợi và quyền tự chủ của các bên.

Mặc dù pháp luật về ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Luật HNGĐ năm 2014 không có sự khác biệt về quy định trường hợp thuận tình ly hôn, nhưng cách hiểu về căn cứ ly hôn lại có sự khác biệt Theo Luật HNGĐ năm 2000, dù vợ chồng thuận tình ly hôn vẫn cần đảm bảo căn cứ quy định tại Điều 89, đó là tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hoặc mục đích hôn nhân không đạt được mới được Tòa án chấp thuận Trong khi đó, Luật HNGĐ năm 2014 có cách hiểu khác về các căn cứ ly hôn, điều này dẫn đến sự khác biệt trong thực thi pháp luật liên quan đến việc xác định điều kiện thuận tình ly hôn.

Năm 2014, việc thuận tình ly hôn không yêu cầu phải có căn cứ ly hôn, khác với trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên, nơi mà các căn cứ chứng minh là bắt buộc Điều này giúp các cặp đôi thuận tiện hơn trong quá trình giải quyết ly hôn mà không cần phải chứng minh lý do cụ thể Luật pháp đã điều chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên, đặc biệt trong các trường hợp đồng thuận và muốn nhanh chóng kết thúc quan hệ hôn nhân.

Theo Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, trong quá trình thuận tình ly hôn, vợ chồng cần có ý chí tự nguyện và đồng thuận về việc chia tài sản cũng như việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con cái Nếu vợ chồng không thể thỏa thuận hoặc thỏa thuận mà không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con, tòa án sẽ có trách nhiệm quyết định phù hợp.

Trong quá trình thuận tình ly hôn, tòa án sẽ tiến hành hòa giải nếu cả vợ và chồng cùng yêu cầu ly hôn Nếu hòa giải không thành công, tòa án sẽ lập biên bản ghi nhận việc tự nguyện ly hôn và không tiếp tục hòa giải Trong vòng 7 ngày kể từ ngày lập biên bản, nếu không có sự thay đổi ý kiến của vợ chồng hoặc phản đối từ viện kiểm sát, tòa án sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không cần mở phiên tòa, đảm bảo các điều kiện pháp lý đã đầy đủ.

- Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn;

- Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;

Trong các trường hợp cụ thể, sự thỏa thuận giữa hai bên về tài sản và con cái giúp đảm bảo tính tự nguyện và tự thỏa thuận của các bên Điều này không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ chồng mà còn đặc biệt quan tâm đến quyền lợi của các con Các thỏa thuận rõ ràng và hợp lý góp phần thúc đẩy quá trình giải quyết tranh chấp ly hôn một cách công bằng, minh bạch Chính vì vậy, việc thống nhất về tài sản và quyền nuôi dưỡng con cái là yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên liên quan.

Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay lập tức, giúp các bên tiến hành thủ tục ly hôn nhanh chóng và thuận tiện Theo quy định, các bên không có quyền kháng cáo đối với quyết định này, đảm bảo quá trình giải quyết ly hôn diễn ra một cách thống nhất và rõ ràng Bên cạnh đó, Viện kiểm sát cũng không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm đối với quyết định công nhận thuận tình ly hôn, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong việc chấm dứt mối quan hệ hôn nhân.

Trong trường hợp hòa giải tại Tòa án thiếu một trong các điều kiện cần thiết, Tòa án sẽ lập biên bản về việc hòa giải đoàn tụ không thành và những vấn đề hai bên không thể thống nhất hoặc có thỏa thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con Sau đó, Tòa án sẽ mở phiên xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cùng các văn bản liên quan.

Trong những năm gần đây, đã xuất hiện các trường hợp xin thuận tình ly hôn giả tạo nhằm lừa đảo cơ quan pháp luật để đạt được lợi ích cá nhân Những người này thường tự dựng lên các mâu thuẫn và lý do ly hôn nhìn qua có vẻ hợp lệ nhưng thực chất không phản ánh đúng thực tế, vì họ không thực sự mong muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng Nếu không tiến hành điều tra kỹ lưỡng, tòa án dễ bị đánh lừa và đưa ra quyết định chấp thuận thuận tình ly hôn, dẫn đến việc các cá nhân lợi dụng để chuyển hộ khẩu, trục lợi hoặc trốn tránh nghĩa vụ tài chính đối với người phối ngẫu Đối với những trường hợp này, tòa án cần xem xét, bác đơn xin ly hôn giả tạo, đồng thời áp dụng các biện pháp chế tài phù hợp nhằm ngăn chặn hành vi sai trái, phối hợp giáo dục và tuyên truyền để người dân nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật.

1.3.2 Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Ly hôn theo yêu cầu của một bên là hình thức chấm dứt quan hệ hôn nhân chỉ dựa trên yêu cầu của một trong hai bên vợ hoặc chồng Trong trường hợp này, chỉ có một phía gửi đơn yêu cầu ly hôn, còn phía còn lại không cần đồng ý hoặc tham gia vào quá trình này Đây là một dạng ly hôn đơn phương, thường xảy ra khi mâu thuẫn hoặc xung đột không thể hòa giải giữa các vợ chồng Các quy định pháp luật về ly hôn một bên nhằm đảm bảo quyền lợi của người xin ly hôn trong những tình huống đặc biệt.

Tòa án xem xét giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên khi có một trong hai căn cứ sau:

* Vợ chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vủa vợ chồng

Bạo lực gia đình là vấn đề nhức nhối đang nhận được sự quan tâm lớn từ xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của nhiều người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em Đây là vấn đề cần được giải quyết kịp thời để đảm bảo an toàn và hạnh phúc cho các thành viên trong gia đình Các chiến dịch tuyên truyền và nỗ lực phòng chống bạo lực gia đình đang góp phần nâng cao nhận thức và thúc đẩy sự thay đổi tích cực trong cộng đồng.

Theo Khoản 2 Điều 1 của Luật Phòng chống bạo lực gia đình, bạo lực gia đình được định nghĩa là hành vi cố ý của thành viên trong gia đình gây tổn hại về thể chất, tinh thần hoặc kinh tế đối với các thành viên khác Đây là hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và sự an toàn của các thành viên trong gia đình, cần được pháp luật quy định rõ ràng để ngăn chặn và xử lý kịp thời.

Hậu quả pháp lý của ly hôn

Ly hôn ảnh hưởng sâu sắc đến lợi ích của vợ, chồng, gia đình và xã hội từ góc độ xã hội Từ khía cạnh pháp luật, việc tòa án giải quyết ly hôn gây ra các hậu quả pháp lý quan trọng như chấm dứt quan hệ hôn nhân, phân chia tài sản, quyết định cấp dưỡng và giải quyết các vấn đề về con cái nếu có Do đó, tòa án cần thận trọng để đưa ra những quyết định đúng đắn, đảm bảo quyền lợi và lợi ích chính đáng của các bên Đồng thời, các cơ quan nhà nước cần triển khai các biện pháp nhằm hạn chế tối đa tác động tiêu cực của ly hôn đối với gia đình và xã hội.

1.4.1 Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

Khi bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồng chính thức chấm dứt Người đã ly hôn có quyền kết hôn với người khác theo quy định pháp luật Sau khi ly hôn, tất cả các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng sẽ hoàn toàn chấm dứt, kể cả khi hai bên có cùng thỏa thuận hay không, theo quyết định của Tòa án Các quyền và nghĩa vụ nhân thân phát sinh từ khi kết hôn như nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, chung thủy, quyền đại diện sẽ tự động hết hiệu lực, trong khi những quyền nhân thân khác với tư cách công dân sẽ không bị ảnh hưởng bởi việc ly hôn.

Trong xã hội hiện nay, có nhiều trường hợp vợ chồng đã ly hôn và có quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên sau đó họ lại tái hợp và chung sống cùng nhau mà không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy trình luật định Việc này gây ra những hậu quả pháp lý phức tạp và ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan Chính vì vậy, việc đảm bảo đăng ký kết hôn đúng thủ tục pháp luật là rất quan trọng để tránh các rủi ro pháp lý không mong muốn.

Họ chung sống với nhau một thời gian, có con chung và tài sản chung, nhưng sau đó họ yêu cầu chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, trong trường hợp này, Tòa án không giải quyết việc ly hôn nữa Nếu vợ chồng đã ly hôn và có quyết định có hiệu lực pháp luật, thì khi họ muốn tái hôn, vẫn phải thực hiện đăng ký kết hôn theo thủ tục luật định (Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014).

1.4.2 Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Chia tài sản vợ chồng khi ly hôn là vấn đề phức tạp và thường gặp nhiều tranh chấp trong thực tiễn xét xử Để đảm bảo chia công bằng, nếu vợ chồng không thể tự thỏa thuận, Tòa án phải điều tra quan hệ tài sản, xác định tài sản riêng của từng bên, tài sản chung của cả hai, nguồn gốc, giá trị, tình trạng tài sản, cũng như công sức đóng góp của mỗi người Sau đó, Tòa áp dụng các nguyên tắc theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để phân chia hợp lý và công bằng.

Dưới quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn ban đầu do các bên tự thỏa thuận; nếu không đạt được thỏa thuận, Tòa án sẽ can thiệp để giải quyết Nguyên tắc này yêu cầu các bên thỏa thuận phù hợp với pháp luật về hôn nhân và gia đình Trước đó, theo Điều 42 Luật Hôn nhân và Gia đình 1986, việc chia tài sản cần được Tòa án công nhận, nhưng Luật 2014 đã nhấn mạnh quyền tự định đoạt của vợ chồng mà không bắt buộc sự thỏa thuận phải được Tòa án công nhận.

Trong trường hợp vợ chồng không thể thỏa thuận, yêu cầu Tòa án giải quyết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên Thực tiễn xét xử cho thấy, tự thỏa thuận hoặc được Tòa án hướng dẫn, giải thích, giúp đỡ để các đương sự tự dàn xếp dưới sự giám sát và công nhận của Tòa án là biện pháp hiệu quả nhất, giúp tránh mâu thuẫn sau ly hôn Việc hòa giải thành tại Tòa án trong các vụ kiện dân sự giúp đảm bảo tính đúng pháp luật, giữ gìn đoàn kết cộng đồng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho thi hành án vì các bên đều phù hợp ý chí, nguyện vọng của mình Khi vợ chồng không thể tự thỏa thuận, Tòa án sẽ ra quyết định dựa trên các quy định tại Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 59 và các điều 60, 61, 62, 63, 64 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Đối với phần tài sản riêng của vợ chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật, các quyết định của Tòa án sẽ phù hợp với các quy định pháp luật về quyền sở hữu tài sản.

Sau khi ly hôn, người chồng hoặc người vợ có tài sản riêng có quyền lấy lại tài sản đó Tuy nhiên, để được thực hiện điều này, họ phải chứng minh rằng đó là tài sản riêng của mình, bằng cách sử dụng giấy tờ xác nhận quyền sở hữu hoặc sự chứng nhận từ bên kia Việc chứng minh rõ ràng quyền sở hữu là yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp khi lấy lại tài sản riêng sau ly hôn.

Khi chia tài sản là tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng có tranh chấp, cần lưu ý đã có sự trộn lẫn hoặc ẩn chứa các loại tài sản chung và tài sản riêng đang trong quá trình sử dụng trong thời kỳ hôn nhân Trong trường hợp vợ chồng tự nguyện nhập tài sản riêng vào tài sản chung hoặc sử dụng tài sản riêng cho gia đình mà không còn riêng nữa, người có tài sản riêng không có quyền đòi lại hoặc đền bù Tài sản riêng tăng giá trị do sử dụng chung để cải tạo, nâng cao giá trị thì tòa án cần xác định phần tăng giá trị đó thuộc về tài sản chung để chia đều Các trang sức tặng riêng trong ngày cưới từ cha mẹ vợ hoặc chồng được coi là tài sản riêng, nhưng nếu được đầu tư chung như tạo dựng vốn cho vợ chồng thì xem như là tài sản chung.

Trong trường hợp vợ hoặc chồng vay mượn tiền của người khác để chi tiêu cho mục đích riêng, họ có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ bằng tài sản riêng của mình theo quy định tại Khoản 3 Điều Khi đó, trách nhiệm thanh toán không thuộc về tài sản chung của vợ chồng mà dựa trên tài sản cá nhân của người vay Điều này giúp làm rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong các khoản nợ phát sinh từ mục đích cá nhân Các quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan khi áp dụng các khoản vay cá nhân trong hôn nhân.

Theo quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khi tài sản riêng không đủ để thanh toán các nghĩa vụ tài chính, các bên phải thực hiện thanh toán bằng phần tài sản riêng của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng Ngoài ra, vợ chồng có thể thỏa thuận để thực hiện việc thanh toán bằng tài sản chung của cả hai nhằm đảm bảo quyền lợi của mỗi bên trong quan hệ hôn nhân.

Khi con đã thành niên có đóng góp đáng kể vào việc xây dựng và phát triển tài sản của cha mẹ, họ có quyền yêu cầu được chia phần đóng góp trong tài sản chung khi ly hôn Đối với con chưa thành niên có tài sản riêng, Tòa án không tiến hành chia sẻ tài sản; thay vào đó, Tòa án quyết định sẽ giao cho người phù hợp để nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con, đồng thời quản lý tài sản riêng của con.

Khi vợ chồng ly hôn, nếu một bên yêu cầu tòa án xác định một tài sản là tài sản riêng nhưng không có căn cứ chứng minh, thì tài sản đó sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng Theo quy định tại điều (bạn cần điền số điều), tài sản chung của vợ chồng trong quá trình ly hôn được xác định dựa trên các quy định pháp luật liên quan để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cả hai bên.

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên hoặc sẽ do Toà án quyết định nếu không thể thống nhất Nguyên tắc chung là phần tài sản của mỗi người trong khối tài sản chung là bằng nhau, nên thường được chia đôi khi ly hôn Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp và các lợi ích khác của các bên, trong từng trường hợp cụ thể, tài sản chung không nhất thiết phải chia đều mà còn phải tính đến các yếu tố như công sức đóng góp, hoàn cảnh, và các yếu tố liên quan khác.

Trong quá trình hình thành và duy trì khối tài sản chung của vợ chồng, cần xem xét hoàn cảnh gia đình và công sức đóng góp của cả hai bên, đồng thời xem lao động trong gia đình có giá trị như lao động có thu nhập Các yếu tố quyết định bao gồm nguồn gốc tài sản, khả năng chia tài sản bằng hiện vật, thời gian chung sống và cư trú, cũng như mức độ đóng góp của từng người vào việc phát triển tài sản Đặc biệt, cần xác định ai là người có công sức lao động chính trong gia đình để đảm bảo quyền lợi hợp pháp phù hợp với quy định pháp luật.

THỰC TRẠNG LY HÔN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ VẤN ĐỀ LY HÔN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thống kê về tương quan số vụ án ly hôn  trên địa bàn Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An - Thực trạng ly hôn trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 2.1. Thống kê về tương quan số vụ án ly hôn trên địa bàn Thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An (Trang 41)
Bảng 2.3. Số con trong gia đình khi vợ chồng ly hôn - Thực trạng ly hôn trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 2.3. Số con trong gia đình khi vợ chồng ly hôn (Trang 43)
Bảng 2.4. Thực tế giải quyết các vụ án ly hôn của TAND thị xã Hoàng Mai. - Thực trạng ly hôn trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 2.4. Thực tế giải quyết các vụ án ly hôn của TAND thị xã Hoàng Mai (Trang 44)
Bảng 2.5. Nguyên nhân xin ly hôn - Thực trạng ly hôn trên địa bàn thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 2.5. Nguyên nhân xin ly hôn (Trang 45)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w