Hôn nhân là khởi nguồn của gia đình, gia đình là tế bào của xã hội vì thế mà các vấn đề về hôn nhân và gia đình luôn được Nhà nước, Nhân dân quan tâm và luôn có mối liên hệ chặt chẽ, khăng khít với xã hội. Giữ gìn tình nghĩa vợ chồng trong gia đình là một nét truyền thống của người Việt được hình thành và lưu giữ qua hàng ngàn năm. Tuy nhiên sau hơn 30 năm đất nước đổi mới, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập văn hóa thế giới đã làm cho nhận thức của người Việt Nam, của xã hội Việt Nam thay đổi sâu sắc, tình nghĩa vợ chồng cũng được nhìn nhận khác đi.
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO THỰC TẬP
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN DO MỘT BÊN VỢ HOẶC CHỒNG
YÊU CẦU TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Lê Thành Vinh Lớp: DH34LK02
Mã số sinh viên: 030734180117 Khóa học: 2018 – 2022
Giảng viên hướng dẫn: Ths Bùi Kim Dung
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Ngân hàng
Hồ Chí Minh, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích cho em, đó chính là những nền tảng cơ bản, những hành trang vô cùng quý giá Đặc
biệt, em xin chân thành cảm ơn cô Bùi Kim Dung, cảm ơn cô đã quan tâm, giúp đỡ
em giải quyết những thắc mắc và hướng dẫn cụ thể để hoàn thành bài báo cáo này
Bên cạnh đó em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Tổ nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã trực tiếp giúp đỡ, tạo điều kiện cho em thực tập và hoàn thành bài báo cáo Các anh chị đã tạo cơ hội giúp em có thể nhìn nhận
và hiểu rõ hơn về môi trường làm việc thực tế của một tòa án mà khi ngồi trên ghế nhà trường em chưa biết được, tạo điều kiện thuận lợi nhất để tìm hiểu, trau dồi và thu thập thông tin phục vụ cho việc hoàn thành bài báo cáo này
Trong quá trình thực tập và làm báo cáo vì chưa có nhiều kinh nghiệm nên bài báo cáo sẽ không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét của quý thầy, cô cũng như các anh chị trong tòa án để kiến thức của em ngày càng hoàn thiện và rút ra kinh nghiệm hữu ích để có thể áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả trong tương lai
Kính chúc mọi người luôn dồi dào sức khỏe gặp nhiều niềm vui, hạnh phúc
và thành công trong công việc
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Lê Thành Vinh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CƠ QUAN THỰC TẬP VÀ NHIỆM VỤ ĐƯỢC GIAO: 5
1 Sơ lược về lịch sử hình thành 5
2 Cơ cấu tổ chức…… 6
3 Nhiệm vụ được giao và kế hoạch thực tập 7
4 Mục đích và đối tượng nghiên cứu 7
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT LY HÔN DO VỢ HOẶC CHỒNG YÊU CẦU 9
1.1.Khái niệm ly hôn 9
1.2 Mục đích chung của việc giải quyết ly hôn do vợ hoặc chồng yêu cầu 10
1.3 Căn cứ giải quyết ly hôn do vợ hoặc chồng yêu cầu 11
1.3.1 Các quy định của pháp luật về giải quyết ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu 11
1.3.2 Các quy định về tố tụng giải quyết ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu 13
1.3.3 Các quy định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi ly hôn 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT LY HÔN DO VỢ HOẶC CHỒNG YÊU CẦU TẠI TAND TỈNH ĐỒNG NAI 18
2.1 Thực trạng ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trên một số phương diện 18
2.1.1 Tình hình ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu 18
2.1.2 Về chủ thể 19
2.1.3 Về độ tuổi ly hôn 19
2.2 Một số nguyên nhân ly hôn do vợ hoặc chồng yêu cầu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 20
2.2.1 Nguyên nhân khách quan 20
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan 22
2.3 Thực tiễn áp dụng luật HN&GĐ năm 2014 giải quyết các trường hợp ly hôn do một bên yêu cầu tại TAND tỉnh Đồng Nai 22
2.4 Đường lối giải quyết các trường hợp ly hôn do vợ hoặc chồng yêu cầu tại TAND tỉnh Đồng Nai 24
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC LY HÔN DO VỢ HOẶC CHỒNG YÊU CẦU TẠI TAND TỈNH ĐỒNG NAI 25
3.1 Nhận xét về thực tiễn áp dụng LHN&GĐ năm 2014 tại cơ sở thực tập và những thuận lợi, khó khăn 25
3.2 Kiến nghị nhằm hạn chế ly hôn 27
3.3 Kiến nghị đối với cán bộ Tòa án: 28
KẾT LUẬN 30
Danh mục tài liệu tham khảo 31
Trang 4Danh mục bảng biểu:
Bảng thống kê số 1……….…………14
Bảng thống kê số 2……….…………15
Bảng thống kê số 3……….…………15
Bảng thống kê số 4……….…………21
Danh mục viết tắt
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Hôn nhân là khởi nguồn của gia đình, gia đình là tế bào của xã hội vì thế mà các vấn đề về hôn nhân và gia đình luôn được Nhà nước, Nhân dân quan tâm và luôn có mối liên hệ chặt chẽ, khăng khít với xã hội
Giữ gìn tình nghĩa vợ chồng trong gia đình là một nét truyền thống của người Việt được hình thành và lưu giữ qua hàng ngàn năm Tuy nhiên sau hơn 30 năm đất nước đổi mới, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập văn hóa thế giới đã làm cho nhận thức của người Việt Nam, của xã hội Việt Nam thay đổi sâu sắc, tình nghĩa vợ chồng cũng được nhìn nhận khác đi Hiện nay vấn đề này đã không được coi trọng như xưa nên việc vợ chồng ly hôn diễn ra ngày càng phổ biến Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, những câu chuyện về các cặp vợ chồng
ly hôn cũng thường xuyên được nhân dân quan tâm, bàn tán ở khắp ngõ phố, thôn quê
Vợ chồng ly hôn, giải thoát cho nhau khi tình cảm không còn, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được là hoàn toàn chấp nhận được bời vì khi đó hôn nhân “đã chết” Nhưng cũng có nhiều cặp vợ chồng xem nhẹ tình cảm sẵn sàng viết đơn ly hôn khi vừa xảy ra mâu thuẫn, thậm chí chỉ vì cãi vã nhỏ không nhường nhịn nhau mà lấy ly hôn để đe dọa nhau nhằm giải quyết mâu thuẫn Việc vội vàng ly hôn, không coi trọng tình cảm, tình nghĩa mà quyết định chấm dứt quan hệ vợ chồng khi chưa cân nhắc kỹ đã khiến cho số lượng các vụ án hôn nhân và gia đình ngày càng gia tăng góp phần tạo áp lực công việc cho Tòa án và gây nhiều hệ lụy xấu cho xã hội
Bởi tính chất đa dạng và phức tạp trong quan hệ hôn nhân và gia đình ngày càng cao, số lượng án ngày càng có xu hướng tăng lên nên việc giải quyết các vụ
án hôn nhân và gia đình ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn, đặc biệt là trong các
vụ án ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu
Để không ngừng học hỏi, rèn luyện bản thân, tuyên truyền pháp luật và góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết, xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình tại Tòa
án Nhân dân tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung do đó em xin lựa chon
Trang 6đề tài “Thực tiễn giải quyết ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu tại Tòa án
Nhân dân tỉnh Đồng Nai” làm báo cáo thực tập của mình
GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CƠ QUAN THỰC TẬP VÀ NHIỆM VỤ ĐƯỢC
GIAO:
- Tên đơn vị thực tập: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- Địa chỉ hiện nay: 40 Cách Mạng Tháng 8, Quang Vinh, Tp.Biên Hòa, Đồng Nai
- Điện thoại: 012513 842 226
1 Sơ lược về lịch sử hình thành
“Ngày 16 tháng 4 năm 1976, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Trương Như Tảng (thay
mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt nam) ban hành
Quyết định số 07 về việc thành lập 21 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, trong đó có Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai Với những ngày đầu khó
khăn, thiếu thốn về cơ sở, vật chất; đội ngũ cán bộ làm công tác Toà án thiếu và
chưa được đào tạo căn bản về chuyên môn nghiệp vụ, nhưng được Đảng giao phó,
nhân dân tin yêu, bám sát các nhiệm vụ chính trị, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
phối hợp chặt chẽ với các ngành bảo vệ pháp luật, bằng hoạt động xét xử hình sự,
Tòa án đã kịp thời đưa ra xét xử nghiêm minh, trừng trị đích đáng góp phần quan
trọng vào nhiệm vụ trấn áp có hiệu quả đối với bọn phản Cách mạng, bọn phản
động đội lốt tôn giáo, bọn giết người Tòa án nhân dân tỉnh thường xuyên mở các
phiên tòa xét xử lưu động tại nơi xảy ra vụ án và xử phạt đối với mức án thật
nghiêm khắc đối với bọn tổ chức, cầm đầu, đồng thời khoan hồng đối với những
người bị lôi kéo, bị dụ dỗ, mua chuộc Việc xét xử đã có tác dụng tuyên truyền sâu
rộng về pháp luật trong nhân dân, và tác dụng về răn đe phòng ngừa tội phạm
Thông qua việc xét xử Tòa án đã bóc trần các âm mưu của phần tử phản Cách
mạng, phá hoại công việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, vạch trần những hành động
tuyên truyền xuyên tạc nhằm gieo rắc các hoang mang, nghi ngờ và chia rẽ trong
nội bộ nhân dân
Trang 7Trong thời kỳ đất nước bước vào đổi mới, Hội nhập kinh tế, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã có nhiều cố gắng vươn lên, bám sát và phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước, ngành Tòa án nhân dân đã nhận thức rõ tầm quan trọng của cuộc đấu tranh chống các loại tội phạm mới trong thời kỳ đổi mới đất nước, đã khẩn trương đưa ra xét xử các vụ án tham nhũng, buôn lậu, các vụ
án ma túy, các vụ án về tệ nạn xã hội, xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của công dân, xâm phạm tài sản của Nhà nước, của công dân ”1
c) Bộ máy giúp việc.
2 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Chánh án, các Phó Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động.”
Dựa trên quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, cơ cấu tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bao gồm các Phòng và Đơn
1 Theo https://dongnai.toaan.gov.vn/webcenter/portal/dongnai/home
Trang 8vị trực thuộc với nhiệm vụ cụ thể khác nhau Cụ thể bao gồm: Ủy ban Thẩm phán; Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa gia đình
và người chưa thành niên; Bộ máy giúp việc Các bộ phận của tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đều hoạt động hướng tới thực hiện chức năng tư pháp, giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hình sự, hành chính xảy ra trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, lợi ích nhà nước và xã hội Về cơ cấu nhân sự, hiện nay biên chế Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bao gồm 102 nhân sự Trong đó bao gồm 01 Chánh án, 02 Phó Chánh
án cùng các chức danh Thẩm phán, Thư ký và Thẩm tra viên do Tòa án nhân dân tối cao quyết định
3 Nhiệm vụ được giao và kế hoạch thực tập
Trong quá trình thực tập tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai em được giao nhiều nhiệm vụ khác nhau trong đó một số công việc chính gồm:
- Làm các công việc văn phòng như photo, đánh máy, nhập số liệu, đóng dấu, ghi bút lục hồ sơ các vụ án HN&GĐ, Kinh doanh thương mại, Hình sự, Dân sự;
- Nghiên cứu mốt số hồ sơ vụ án HN&GĐ, Hình sự;
- Cùng cán bộ Tòa đi: chuyển hồ sơ phúc thẩm; tống đạt giấy triệu tập; xác minh thu thập thông tin của đương sự; tống đạt một số quyết định, văn bản tới trại giam
Kế hoạch: Trong thời gian hoàn thành công việc được giao, em kết hợp thu thập tái liệu tham khảo về chủ đề thực tập; vạch ý định hướng viết báo cáo; luôn nhiệt tình năng nổ nhận việc để làm; tham khảo ý kiến Thẩm phán và Thư ký về chủ đề thực tập; xin Thẩm phán nghiên cứu một số hồ sơ điển hình về các trường hợp ly hôn do vợ hoặc chồng yêu cầu Xin số liệu thụ lý và giải quyết ly hôn từ năm 2016
4 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
- Nêu phân tích một số vấn đề lý luận chung
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng ly hôn, thực tiễn xét xử ly hôn
do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
Trang 9- Vấn đề trong quá trình giải quyết ly hôn do vợ hoặc chồng yêu cầu từ thời
điểm tiếp nhận đơn đến giai đoạn xét xử
- Đánh giá ưu, khuyết điểm sau đó đưa ra một số đề xuất, giải pháp nâng cao hoạt động giải quyết vụ án ly hôn do vợ hoặc chồng yêu cầu
Trang 10NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT LY HÔN DO VỢ HOẶC CHỒNG YÊU CẦU
1.1.Khái niệm ly hôn
Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án (khoản 14 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014) Ly hôn có giá trị pháp lý chính thức khi được Tòa án nhân danh Nhà nước công nhận
do đó có thể nói đây là biện pháp cuối cùng chấm dứt tình trạng hôn nhân không thể cứu vãn được
Khi có yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của cá nhân,
tổ chức (theo quy định của pháp luật) thì Tòa án sẽ xem xét để ra bản án, quyết định theo yêu cầu hay không Theo đó ly hôn gồm: thuận tình ly hôn hai bên cùng yêu cầu Tòa công nhận việc ly hôn, đơn phương ly hôn và ly hôn theo khoản 3 điều 56 LHN&GĐ
Đơn phương ly hôn được hiểu là việc ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng, tuy nhiên trong quá trình xét xử xảy ra hai trường hợp :
-Trường hợp 1: quá trình giải quyết hoặc tại phiên tòa hai bên đồng ý thỏa thuận và tòa án ra quyết định, bản án công nhận thỏa thuận đó
-Trường hợp 2: trong quá trình giải quyết bên còn lại vẫn không đồng ý hòa giải tức hai bên không thuận tình Trường hợp này Tòa án sẽ xem xét quyết định Trường hợp ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu thuộc trường hợp 2 và quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 56 LHN&GĐ gồm:
-Ly hôn do vợ hoặc chồng yêu cầu mà hòa giải tại Tòa án không thành -Ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu mà bên còn lại bị Tòa án tuyên bố mất tích
Trang 11Giải quyết ly hôn do vợ hoặc chồng yêu cầu là việc mà Tòa án tiếp nhận, xử
lý, xem xét có chấm dứt hôn nhân hay không và giải quyết yêu cầu của đương sự thuộc chức năng, nhiệm vụ của Tòa án được quy định trong pháp luật, cụ thể trong
đó Tòa án sẽ tiếp nhận đơn khởi kiện, phân công Thẩm phán, Thư ký xem xét giải quyết, ra các yêu cầu hoặc thông báo thụ ly hay trả lại đơn khởi kiện, đánh giá, xác minh, thu thập, xử lý chứng cứ, mở phiên họp hòa giải, mở phiên tòa xét xử, ra bản
án và các công việc khác theo luật định nhằm giải quyết yêu cầu của đương sự
1.2 Mục đích chung của việc giải quyết ly hôn do vợ hoặc chồng yêu cầu
Về bản chất mục đích cuối cùng của việc ly hôn là hai bên giải thoát cho nhau
vì không còn tình cảm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được Do đó mục đích cuối cùng của việc giải quyết ly hôn do một bên
vợ hoặc chồng yêu cầu là xem xét có đồng ý hay không đồng ý yêu cầu của đương
sự, xem xét giải quyết yêu cầu đó theo quy định của pháp luật
Đồng thời phổ biến, phán ánh pháp luật một cách đúng đắn
Đảm bảo quyền khởi kiện của đương sự
Việc giải quyết loại yêu cầu ly hôn này cũng đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân được quy định trong Hiến Pháp, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình và quy định khác có liên quan
Qua đó thể hiện được thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của Tòa án trong hoạt động xét xử nói chung và trong vụ án Luật hôn nhân và gia đình nói riêng
Trong qua trình xem xét, giải quyết cũng thể hiện tính độc lập của Tòa án trong xét xử và chỉ tuân theo pháp luật Hoạt động đánh giá chứng cứ, hồ sơ, tài liệu khởi kiện mà đương sự cung cấp, hoạt động xét xử của Thẩm phán là độc lập
Trang 121.3 Căn cứ giải quyết ly hôn do vợ hoặc chồng yêu cầu
1.3.1 Các quy định của pháp luật về giải quyết ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu
Pháp luật căn cứ ly hôn không dựa trên ý chí chủ quan của nhà làm luật mà thực chất dựa vào mối quan hệ của vợ chồng Trong xã hội hiện nay hôn nhân đích thực là điều kiện vun đắp tình yêu giữa hai người khác giới, với ý nghĩa như vậy
xã hội không chấp nhận việc coi nhẹ kết hôn và ly hôn nhằm bảo vệ đạo đức, truyền thống xã hội Mặt khác quan hệ hôn nhân không chỉ liên quan đến lợi ích riêng của
vợ chồng mà nó còn ảnh hưởng tới lợi ích chung của xã hội vì thế việc giải quyết
ly hôn không chỉ dựa trên ý chí của một bên vợ hoặc chồng hay cả hai vợ chồng cùng đồng thuận mà phải dựa vào thực chất của quan hệ hôn nhân vì thế phải đánh giá khách quan thực chất mối quan hệ hôn nhân đó thì mới có thể chấm dứt Tòa
án giải quyết ly hôn chính là xem xét quan hệ hôn nhân đó có cải thiện được hay không, nếu đồng ý ly hôn thì hôn nhân đó đã kết thúc và không thể cải thiện được
Để pháp luật được áp dụng hiệu quả và quyền lợi, yêu cầu của đương sự được đảm bảo thì việc xem xét, giải quyết việc ly hôn cũng phải tuân theo một trình tự nhất định theo quy định của BLTTDS hiện hành
Kế thừa và phát triển LHN&GĐ các năm: 1959; 1986; 2000; Kế thừa chủ nghĩa Mac-Lenin, kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh luật HN&GĐ 2014 quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 56 LHN&GĐ 2014 như sau:
“1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì
Tòa án giải quyết ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được
2.Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.”
Như vậy điều đó cho thấy chỉ khi tình trạng hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài hoặc việc hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức
do một bên mất tích cần phải giải thoát cho bên còn lại mục đích hôn nhân không đạt được là những căn cứ ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu
Trang 13Và quan hệ của vợ chồng được coi là trầm trọng quy định tại Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HDTP hướng dẫn một số luật nội dung LHN&GĐ năm 2000:
- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như:
Người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hòa giải nhiều lần
- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau như: Thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hòa giải nhiều lần
- Vợ hoặc chồng không chung thủy với nhau như: Có quan hệ ngoại tình,
đã được người chồng hoặc người vợ hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan,
tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có hành vi ngoại tình
Còn mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình bình đẳng, ấm no, hạnh phúc, sống với nhau đến hết đời Ngược lại nếu họ sống bất hạnh, thờ ơ, bị xúc phạm về tinh thần lẫn thể xác thì hôn nhân đã không đạt được mục đích Theo nghị quyết số 02/2000/NQ-HDTP, tại điểm a3 mục 8 hướng dẫn về việc xác định mục đích hôn nhân không đạt được là:
“ Không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền
giữa vợ chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.”
Ngoài những hướng dẫn trên thì trong thực tế còn có nhiều thứ ảnh hưởng đến mục đích sống như: thói quen sinh hoạt, quan điểm tư tưởng, sở thích cá nhân, đạo đức, lối sống, nếu có những mâu thuẫn như vậy thì hai người phải sớm thích nghi
và dung hòa nếu cứ lặp lại thường xuyên sẽ gâp áp lực cho nhau và xẩy ra mâu thuẫn trong cách sống vì thế mà mục đích hôn nhân không đạt được
Nếu trong quá trình giải quyết đơn phương ly hôn mà hai bên lại thống nhất thỏa thuận thì Tòa án sẽ công nhận thỏa thuận đó như thuận tình ly hôn
Đối với việc ly hôn do một người bị tuyên bố mất tích thì thi xẩy ra hai trường hợp: một là người đó đã được tuyên bố mất tích trước đó, sau đó mới yên cầu ly hôn; trường hợp hai là mất tích thời gian dài nay vừa yêu cầu tòa án giải quyết ly
Trang 14hôn và đồng thời yêu cầu tuyên bố một người mất tích (Trường hợp này Tòa án vẫn chấp nhận yêu cầu xét xử nếu có đủ căn cứ người này đã mất tích như luật định, nếu không đủ căn cứ sẽ bác cả hai yêu cầu) Việc một người mất tích thì người còn lại có quyền ly hôn là hoàn toàn đúng, bởi vì lúc đó hôn nhân chỉ mang tính hình thức nên giải phóng để họ tìm cho mình cơ hội mới, thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân và việc người bị mất tích không trở về dưới góc độ nào đó cũng đã vi pham nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong xây dựng gia đình
chồng yêu cầu
Pháp luật tố tụng quy định trình tự, thủ tục giải quyết theo Bộ luật tố tụng dân
sự 2015, đảm bảo việc giải quyết nhanh chóng, đúng đắn bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự trong vụ án ly hôn
Với nguyên tắc khi vợ hoặc chồng có yêu cầu ly hôn mà kèm theo hồ sơ tài liệu chứng cứ, xét thấy có đủ căn cứ thụ lý thì Tòa án sẽ tiến hành thụ lý theo thủ tục luật định Cụ thể hơn là tuân thủ theo điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; điều
191, điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và các điều luật có liên quan để xem xét từng trường hợp cụ thể sau đó ra quyết định thụ lý hay không
Thủ tục ly hôn phải thông qua bước hòa giải tại Tòa án Trong trường hợp
vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn
và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ
và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án xem xét, giải quyết việc ly hôn
Trong quá trình giải quyết ly hôn, Tòa án bắt buộc phải tiến hành điều tra và hòa giải nếu trong hồ sơ vụ án không có biên bản hòa giải thì vụ án sẽ bị hủy Qua
Trang 15công tác điều tra Tòa án sẽ tìm hiểu nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng và đánh giá mức độ mâu thuẫn, hoàn cảnh, tâm tư nguyện vọng của đương sự Kết quả điều tra tốt là căn cứ để giải hòa giải và ra quyết định tại phiên tòa một cách đúng đắn nhất
Trình tự xét xử tại phiên tòa theo đúng trình tự quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Đương sự có quyền kháng cáo, viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo trình
tự phúc thẩm trong vòng 15 ngày kể từ ngày ra bản án, quyết đinh ly hôn
*Lưu ý: Trong vụ án ly hôn đương sự phải chính mình tham gia giải quyết không được phép ủy quyền cho người khác, trừ các tranh chấp liên quan đến tài sản
1.3.3 Các quy định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi ly hôn
Nguyên tắc chung khi giải quyết ly hôn là ưu tiên sự thỏa thuận một cách tự nguyện của các cặp vợ chồng khi có yêu cầu ly hôn
“Trường hợp không thỏa thuận được thì sẽ giải quyết theo yêu cầu của pháp luật
Cụ thể:
1 Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên
bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
Trang 16- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp
để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
- Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch
- Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết
* Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn
- Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của
vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thoả thuận với gia đình; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết
- Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia
* Chia quyền sử dụng đất của vợ, chồng khi ly hôn
- Quyền sử dụng đất riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó
- Việc chia quyền sử dụng đất chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:
+ Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thoả thuận của hai bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết theo nguyên tắc chung
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền
sử dụng đất mà họ được hưởng;
+ Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;