Theo tác giả ly hôn vừa là vấn đề mang tính gia đình vừa là vấn đề mang tính xã hội sâu sắc. Nó là mặt đối lập của việc kết hôn. Nếu kết hôn là việc hình thành quan hệ hôn nhân giữa hai người khác giới tính thì ly hôn là việc chấm dứt mối quan hệ đó về mặt pháp lý theo luật Hôn nhân và gia đình.
Trang 2HỌC KỲ 3, NĂM HỌC 2020 - 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài tiểu luận thực tập tốt nghiệp của tôi Các nộidung trong đề tài nghiên cứu của tôi không trùng lắp với bất kỳ ai, những tư liệu thuthập được dùng cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá của tôi trong đề tài này cónguồn chính thống và được trích dẫn nguồn trong phần danh mục tài liệu tham khảo
Ngoài ra, đề tài còn tham khảo, sử dụng một số nhận xét, phân tích từ các tácgiả, cơ quan, tổ chức có liên quan và đều có trích dẫn về nguồn gốc
Nếu có phát hiện bất cứ sự gian lận nào trong đề tài này, tôi xin chịu hoàntoàn trách nhiệm
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
7 Kết cấu của tiểu luận 3
Chương 1 5
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HÔN, LY HÔN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA LY HÔN 5
1.1 Lý luận chung về kết hôn, hôn nhân 5
1.1.1 Hôn nhân 5
1.1.2 Kết hôn 5
1.2 Lý luận chung về ly hôn 6
1.2.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác Lê nin về ly hôn 6
1.2.2 Khái niệm ly hôn 8
1.2.3 Căn cứ ly hôn 9
1.3 Hậu quả pháp lý việc ly hôn 10
1.3.1 Quan hệ nhân thân giữa vợ chồng 11
1.3.2 Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn 11
1.3.3 Quyền lưu cư của một bên vợ, chồng khi ly hôn 11
1.3.4 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con sau khi ly hôn 12
1.4 Bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết ly hôn 12
Kết luận chương 1 16
Chương 2 17
THỰC TRẠNG LY HÔN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT 17
Trang 52.1 Vài nét về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của Thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tác động đến quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và ly hôn
nói riêng 17
2.2 Thực trạng ly hôn trên địa bàn Thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước 17
2.3 Nguyên nhân của tình trạng ly hôn trên địa bàn TX Phước Long, tỉnh Bình Phước 18
2.3.1 Một số nguyên nhân khách quan 18
2.3.2 Một số nguyên nhân chủ quan 20
2.4 Một số kiến nghị, giải pháp từ thực trạng ly hôn trên địa bàn Thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước 22
2.4.1 Giải pháp trong lĩnh vực pháp luật 22
2.4.2 Các giải pháp khác 23
Kết luận chương 2 25
KẾT LUẬN 26
Trang 61
Trang 75.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, tiểu luận
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phươngpháp phân tích hệ thống; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh; phương phápthống kê cụ thể như sau:
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa nội dung nghiên cứumột cách có hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu
- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ mức độ tương quan giữa cácqui định, các quan điểm để từ đó có những đánh giá, nhận định khách quan về nộidung nghiên cứu
- Phương pháp phân tích: được sử dụng để làm sáng tỏ những nội dung thuộcphạm vi nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận khoa học: đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận cũngnhư thực tiễn ly hôn trên địa bàn nghiên cứ, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp
- Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu thamkhảo có giá trị cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết thựctrạng ly hôn trên địa bàn TX Phước Long
7 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo kết cấu của tiểuluận gồm 2 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kết hôn, ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hônChương 2: Thực trạng ly hôn trên địa bàn thị xã Phước Long, tỉnh BìnhPhước và hướng giải quyết
2
Trang 8Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HÔN, LY HÔN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA
LY HÔN 1.1 Lý luận chung về kết hôn, hôn nhân
1.1.1 Hôn nhân
Nhìn nhận từ góc độ xã hội, hôn nhân là sự tạo lập cuộc sống chung hoàn toàncủa một người nam và một người nữ, sự sống chung hoàn toàn này thể hiện từ nhữngthành phần vật chất như ở chung cùng một mái nhà, ăn chung cùng một mâm cơm,hưởng chung những sung sướng vật chất, cùng lao động để đáp ứng nhu cầu củacuộc sống, đáp ứng cho hạnh phúc hôn nhân Trong xã hội, hôn nhân được coi nhưmột thiết chế xã hội, là một yêu cầu cần thiết đối với mỗi cá nhân, hôn nhân như làmột nếp sống cần phải theo, ý thức hôn nhân luôn tồn tại trong đầu óc của từng conngười thông qua sự xã hội hoá trong gia đình và ngoài xã hội
Dưới góc độ pháp luật: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kếthôn Ở một số nước phương Tây, hôn nhân đồng giới đã được công nhận, nhưng ởViệt Nam, vấn đề này các nhà lập pháp còn đang nghiên cứu, trong Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014 quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những
a Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồngvới người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợchồng với người đang có chồng, vợ;
d Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu
về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con
1Khoản 2, điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 9nuôi; giữa những người từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu,
mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ Yêu sách của cải trong kết hôn;
e Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
g Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại,mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
h Bạo lực gia đình;
i Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người,bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trụclợi
1.2 Lý luận chung về ly hôn
1.2.1 Quan điểm chủ nghĩa Mác Lê nin về ly hôn
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hôn nhân nói chung, ly hôn nóiriêng là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp Pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN)thừa nhận quan hệ hôn nhân xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính, tự do và tựnguyện của đôi nam nữ, điều này được thể hiện trong việc kết hôn cũng như ly hôn
Có thể nói, quyền tự do ly hôn xuất phát từ bản chất của chế độ xã hội Ở chế độXHCN là chế độ duy nhất xây dựng một nền dân chủ thực sự mà trong đó quyền lợicủa tất cả mọi người thuộc các tầng lớp khác nhau đều được đảm bảo Ly hôn chính
là sự giải phóng cho vợ chồng khi bản chất cuộc hôn nhân không tồn tại trên thực tế
và Nhà nước cho phép họ ly hôn Điều này không những đem lại lợi ích cho cả vợchồng mà còn bảo vệ được lợi ích của Nhà nước và xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, hôn nhân trong đó có ly hôn làmột hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc Với tư cách là một trong nhữngquan hệ chủ đạo trong xã hội, quan hệ HN&GĐ chịu sự chi phối sâu sắc của hệ tưtưởng của giai cấp thống trị mỗi thời kỳ
Tư tưởng trọng nam khinh nữ, bảo vệ uyền gia trưởng của người đàn ông, chophép chế độ đa thê và những quy định hà khắc, những căn cứ bất bình đẳng về ly hôn
là đặc trưng của quan hệ HN&GĐ dưới chế độ phong kiến Bản chất của ly hôn trong
xã hội phong kiến là duy trì chế độ gia trưởng, quyền đa thê, bảo vệ cho hệ tư tưởngcủa chế độ phong kiế cũng như lợi của giai cấp thống trị Quan hệ HN&GĐ trong xã
Trang 10hội tư sản thường được coi như là một khế ước, một hợp đồng dân sự mà khi có bất
kì hành vi nào vi phạm hợp đồng ấy thì bên đối tác có thể đặt vấn đề chấm dứt hônnhân Theo đó, ly hôn thường căn cứ vào lỗi của một bên đương sự Lỗi là yếu tốquyết định cuộc hôn nhân đó có thể tồn tại được hay không và ai là người có quyềnxin ly hôn Như vậy, ly hôn không được phản ánh đúng bản chất của nó Chịu ảnhhưởng của tư tưởng tự do, bình đẳng, các luật gia tư sản cho rằng tự do ly hôn phảiđược thừa nhận như một quyền pháp định và đưa ra các quy định nhằm đảm bảoquyền tự do ly hôn Song, trên thực tế đó là những quy định mang tính hình thức,thực chất khi ly hôn họ vẫn bị ràng buộc bởi các quy định ngăn cấm của nhà làmluật: “dưới chế độ tư bản chủ nghĩa quyền ly hôn cũng như tất cả các quyền dân chủkhác, không loại trừ quyền nào đều không thể thực hiện một cách dễ dàng, nó lệthuộc vào nhiều điều kiện, bị giới hạn, bị thu hẹp và có tính chất hình thức”
Đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật XHCNkhông coi hôn nhân là một hợp đồng dân sự hay một khế ước dân sự mà coi hônnhân là sự tự nguyện của hai bên nam - nữ, là sự liên kết suốt đời giữa vợ và chồng,
vì thế ly hôn cũng là một lối thoát khi cuộc hôn nhân mà họ đã chọn là thực sự sailầm Bởi vì, bản chất của ly hôn “chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhânnày chỉ là một cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối”
Như vậy, bản chất của ly hôn là sự tan vỡ của cuộc hôn nhân, là chấm dứtquan hệ vợ chồng trước pháp luật Pháp luật của nhà nước XHCN công nhận và tôntrọng quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không thể cấm hoặc đặt ra nhữngđiều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợchồng, nó là kết quả của hành vi, ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền tự do lyhôn Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam nữ yêu nhau và kết hôn vớinhau thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng sống phải duy trì quan hệ hôn nhân khitình cảm yêu thương gắn bó không còn, mục đích của cuộc hôn nhân đã không đạtđược Khi ấy, ta không thể nhìn nhận ly hôn đơn thuần chỉ là mặt tiêu cực, mà cầnphải nhận thức được rằng nó là mặt trái nhưng là mặt không thể thiếu được của quan
hệ hôn nhân Nếu như cuộc hôn nhân đã thực sự tan vỡ và ly hôn đã trở thành mongmuốn của vợ chồng thì việc ghi nhận quyền tự do ly hôn là hoàn toàn chính đáng, thểhiện tính chất dân chủ và nhân đạo của pháp luật XHCN bởi vì: Tự do ly hôn không
Trang 11có nghĩa là làm tan rã những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố nhữngmối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vữngchắc trong một xã hội hiện nay Theo đó, tự do ly hôn là một quyền cơ bản và bìnhđẳng giữa vợ và chồng, là quyền gắn liền với nhân thân của vợ chồng Như vậy, chỉdưới chế độ XHCN, các nhà làm luật mới nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng vàbản chất của cuộc hôn nhân để xem xét và quyết định hợp tình, hợp lý yêu cầu ly hôncủa vợ, chồng Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của việc ly hôn, thì ly hôn cónhiều điểm tiêu cực: gây chia rẽ quan hệ gia đình, gây ảnh hưởng trực tiếp tới đờisống và tương lai của các thành viên, đặc biệt là các con, bên cạnh đó còn ảnh hưởngtới xã hội.
1.2.2 Khái niệm ly hôn
Theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, ly hôn đượchiểu là: “chấm dứt quan hệ vợ chồng do TAND công nhận hoặc quyết định theo yêucầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”2 Theo khái niệm này, ly hôn đượcphản ánh rõ nét, đó là việc “chấm dứt quan hệ vợ chồng”, nghĩa là giữa hai bên vợchồng không còn tồn tại quan hệ hôn nhân, mọi quyền và nghĩa vụ của hai bên sẽđược pháp luật giải quyết thỏa đáng, đảm bảo quyền lợi cho các bên Trong khoa họcpháp lý nói chung và khoa học Luật HN&GĐ nói riêng, việc đưa ra khái niệm đầy đủ
về ly hôn có ý nghĩa quan trọng, phản ánh quan điểm chung nhất của nhà nước ta về
ly hôn, tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của ly hôn, xác định nộidung, phạm vi điểu chỉnh của các quan hệ pháp luật HN&GĐ về ly hôn và các vấn
đề phát sinh khác Điều 8 Khoản 8 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 quy định: “Lyhôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêucầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng” Điều 3 Khoản 14 Luật HN&GĐViệt Nam năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” Như vậy, khái niệm ly hôn củaLuật HN&GĐ năm 2014 có sự thay đổi cơ bản so với khái niệm ly hôn trong LuậtHN&GĐ năm 2000 Tuy nhiên, về bản chất, hai điều luật đó đều phản ánh được lyhôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng, chấm dứt quan hệ hôn nhân, để giúp các bêntrong quan hệ hôn nhân được giải thoát khỏi tình trạng hôn nhân đổ vỡ
2Viện khoa học pháp lý (1999), Từ điển lu ật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội tr460
Trang 12Khái niệm ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 mang tính chất chặt chẽ hơnkhi đề cập tới nội dung: “bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” Nhưvậy, ly hôn chính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án,quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợchồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôncủa mình Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan
vỡ, điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ, chồng, con cái và các thành viên trong giađình
1.2.3 Căn cứ ly hôn
Luật HN&GĐ năm 2014 của Nhà nước ta được quy định dựa trên quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, có cơ sở khoa học và thực tiễn kiểm nghiệm trong nhiềunăm, từ khi Nhà nước ta ban hành Luật HN&GĐ năm 1959 Khi giải quyết ly hôn,cần hiểu điều đó nói lên một thực trạng hôn nhân đã tan vỡ, quan hệ vợ chồng khôngthể tồn tại được nữa, vì “sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối” và ly hôn là mộtgiải pháp tích cực để giải phóng cho vợ chồng cũng như các thành viên khác tronggia đình khỏi cảnh “bất bình thường” đó, đảm bảo lợi ích của vợ chồng, của gia đình
và xã hội Quan điểm của nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do ly hôn và giải quyết
ly hôn dựa vào thực chất của quan hệ hôn nhân có còn tồn tại hay không, hay sự tồntại chỉ là hình thức bề ngoài Do vậy, việc quy định căn cứ ly hôn là rất cần thiết vàquan trọng Nó thể hiện quan điểm của nhà nước ta về vấn đề này Việc quy định căn
cứ ly hôn rõ ràng là cơ sở quan trọng để Tòa án, Thẩm phán giải quyết việc ly hônđúng đắn, thấu tình đạt lý, có ý nghĩa quan trọng giúp vợ chồng nhận thức, điềuchỉnh hành vi của mình để có thể dàn xếp, thỏa thuận trước khi đưa ra quyết định lyhôn, góp phần bình ổn quan hệ hôn nhân, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của xã hội,củng cố chế độ một vợ, một chồng, tự nguyện, tiến bộ Xuất phát từ thực tiễn của đờisống xã hội trong lĩnh vực HN&GĐ, thực hiện quyền tự do ly hôn chính đáng của vợchồng, đồng thời nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng, các con vàcác thành viên trong gia đình, trên cơ sở kế thừa quy định về nội dung căn cứ ly hôntrong hệ thống pháp luật HN&GĐ, Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định nhữngcăn cứ ly hôn riêng biệt mà quy định căn cứ ly hôn chung nhất, dựa vào bản chất củaquan hệ hôn nhân đã tan vỡ
Trang 13Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định tương đối cụ thể về căn cứ ly hôn tạiĐiều 55, 56 Điều 55 quy định về thuận tình ly hôn:
Vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đãthỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục contrên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuậntình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảmquyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn Điều 56 quyđịnh về ly hôn theo yêu cầu của một bên: Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòagiải tại Tòa án không thành và nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lựcgia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụcủa vợ, chồng làm cho hôn nhânlâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hônnhân không đạt được; hoặc trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa ántuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn Hoặc trường hợpcha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ,chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủđược hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của
họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, tinh thần, sức khỏe của họ thìTòa án giải quyết cho ly hôn
Như vậy, dù đã sửa đổi bổ sung nhiều lần nhưng Luật HN&GĐ của nhà nước
ta từ năm 1959 đến nay quy định về căn cứ ly hôn vẫn giữ nguyên quan điểm là dựavào thực trạng của cuộc hôn nhân để công nhận tính không thể tồn tại, tự hôn nhân
đã đổ vỡ Tóm lại, các quy định về HN&GĐ, trong đó có các quy định về ly hôn, căn
cứ ly hôn đã tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử và phát triển của nhà nước ta Điềunày cho thấy tầm quan trọng và ảnh hưởng rất lớn của pháp luật về HN&GĐ đối vớiđời sống xã hội của nhân dân ta
1.3 Hậu quả pháp lý việc ly hôn
1.3.1 Quan hệ nhân thân giữa vợ chồng
Theo nguyên tắc chung, khi bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lựcpháp luật, quan hệ vợ chồng được chấm dứt Người vợ, chồng đã ly hôn có quyền kếthôn với người khác Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng
Trang 14sẽ chấm dứt hoàn toàn, dù vợ chồng có thỏa thuận hay không thỏa thuận được Tòa
án cũng sẽ quyết định Nghĩa là những quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồngphát sinh khi kết hôn, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu kính trọng, chăm sóc giúp
đỡ nhau tiến bộ, nghĩa vụ chung thủy giữa vợ chồng, quyền đại diện cho nhau sẽđương nhiên chấm dứt
Một số quyền nhân thân khác mà vợ chồng với tư cách là công dân thì khôngảnh hưởng, không thay đổi dù vợ chồng ly hôn (như họ tên, nghề nghiệp.)
1.3.2 Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Trước hết, việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn sẽ do vợ chồng tự thỏathuận, nếu không thỏa thuận được, vợ, chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn có hai trường hợp: Đối với chế
độ tài sản của vợ chồng theo luật định: Theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ năm
2014 thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏathuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Đối với chế độ tài sản theo thỏa thuận:Theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 thì việc giải quyết tài sản khi lyhôn sẽ theo thỏa thuận đó, nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng theo quyđịnh Điều 59- Điều 64 Luật HN&GĐ
Về nguyên tắc, phần của vợ, chồng trong khối tài sản chung là ngang bằngnhau, do đó khi vợ chồng ly hôn thì tài sản chung sẽ được chia đôi Tuy nhiên, đểbảo vệ quyền và lợi ích của các bên và lợi ích khác, trong từng trường hợp cụ thể tàisản chung của vợ chồng không thể chia đôi mà còn phải tính đến các yếu tố nhưhoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩavụ được quy định khoản 2 Điều 59 Luật HN & GĐ
1.3.3 Quyền lưu cư của một bên vợ, chồng khi ly hôn
Theo quy định tại Điều 63 Luật HN & GĐ Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ,chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó.Tuy nhiên, trong trường hợp vợ hoặc chồng thực sự có khó khăn về chỗ ở thì đượcquyền lưu cư trong thời hạn sáu tháng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.Đây là quy định nhằm để cho các bên nhận thức được về tình nghĩa của vợ chồng đãtồn tại trước đó, mặc dù về pháp lý là đã chấm dứt hôn nhân nhưng đã từng là vợ
Trang 15chồng nên vẫn có tình nghĩa và phải giúp đỡ nhau lúc khó khăn.
1.3.4 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con sau khi ly hôn
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếpnuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏathuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vàoquyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyệnvọng của con”3 Và về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi,nếu các bên không có thỏa thuận khác Ngoài ra, để bảo vệ quyền và lợi ích của conđặc biệt là con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vidân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, pháp luậtquy định sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc,giáo dục, nuôi dưỡng
1.4 Bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết ly hôn
Thứ nhất, bảo đảm quyền nhân thân của phụ nữ và trẻ em trong giải quyết ly
hôn Quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân và vẫn được giữ nguyên giá trị khi cánhân đó kết hôn Vì vậy, với tư cách là công dân vợ, chồng có đầy đủ các quyền vànghĩa vụ của một công dân Bên cạnh đó, vợ chồng còn có các quyền và nghĩa vụ vớinhau, với gia đình, xã hội Quyền lợi về nhân thân của vợ, chồng mang yếu tố tìnhcảm, là lợi ích tinh thần giữa vợ và chồng, gắn liền với bản thân vợ chồng trong suốtthời kỳ hôn nhân Quyền này xuất phát từ những chuẩn mực về đạo đức, cách ứng xửmang tính tự nhiên và truyền thống giữa vợ và chồng vốn nảy sinh từ trước Quyềnnhân thân giữa vợ và chồng gắn liền với nhân thân của vợ chồng mà không thểchuyển giao cho người khác Chỉ với tư cách là vợ chồng của nhau thì họ mới có cácquyền đó Nội dung của quyền nhân thân giữa vợ và chồng là những lợi ích tinhthần, tình cảm không mang nội dung kinh tế và cũng không phụ thuộc vào yếu tố tàisản Nó bao gồm cả tình yêu, sự hòa thuận, tôn trọng lẫn nhau, việc xử sự trong giađình, quan hệ đối với cha mẹ, các con và những thành viên trong gia đình
Khi vợ chồng ly hôn, theo nguyên tắc chung, khi bản án quyết định ly hôn củaTòa án có hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồng được chấm dứt Người vợ, chồng đã
ly hôn có quyền kết hôn với người khác Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ nhân
3Khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.