PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ ngàn đời nay gia đình luôn là cái nôi hình thành và nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con người. Những gia đình tốt đẹp sẽ xây dựng được một xã hội tiến bộ văn minh, một xã hội tiến bộ văn minh là cơ sở để xây dựng một gia đình tốt đẹp. Chính vì vậy, vai trò và vị trí của gia đình ngày càng được quan tâm và đề cao trong xã hội. Khởi nguồn của quan hệ gia đình đó chính là quan hệ hôn nhân, là việc kết hôn giữa người nam và người nữ theo những điều kiện mà pháp luật quy định. Như vậy, chúng ta thấy một cuộc hôn nhân tốt đẹp sẽ là nền tảng để xây dựng một gia đình và một xã hội tốt đẹp. Xã hội ngày càng thay đổi và phát triển, điều này đã khiến cho các bộ phận đã tạo nên xã hội cũng thay đổi và phát triển không ngừng. Sự vận động, sự biến đổi của gia đình cũng là điều tất yếu. Bởi gia đình là tế bào của xã hội. Trong những năm vừa qua cùng với sự thâm nhập của nền kinh tế thị trường đã và đang đem lại cho chúng ta nhiều thành tựu kinh tế khởi sắc, thì đi cùng với nó còn xuất nhiều tệ nạn xã hội¬ là mặt trái của nó. Có thể nói ly hôn là một trong những hệ quả của các tệ nạn đó. Vấn đề ly hôn đang là một thực trạng đáng lo ngại, đang ngày càng trở nên phổ biến và trở thành vấn đề được cả xã hội quan tâm. Ly hôn vừa là vấn đề mang tính gia đình vừa là vấn đề mang tính xã hội sâu sắc. Nó là mặt đối lập của việc kết hôn. Nếu kết hôn là việc hình thành quan hệ hôn nhân giữa hai người khác giới tính thì ly hôn là việc chấm dứt mối quan hệ đó về mặt pháp lý theo quy định Luật HN&GĐ năm 2014. Tuy nhiên, hậu quả của việc ly hôn không chỉ là chấm dứt mối quan hệ hôn nhân giữa hai người mà nó còn kéo theo các hậu quả xấu khác: gia đình đổ vỡ, những đứa trẻ bị khuyết tật về tình cảm của bố hoặc mẹ, thiếu tự tin trong cuộc sống sa vào các tệ nạn xã hội, nghiện hút cướp giật,… Thực trạng đáng lo ngại này đang diễn ra ngày càng rất phổ biến ở huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai - một huyện có truyền thống văn hoá tốt đẹp. Các cơ quan quản lý Nhà nước cũng như các cơ quan pháp luật của huyện luôn quan tâm bên cạnh xây dựng và phát triển nền kinh tế là xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội. Số lượng gia đình văn hoá ngày một lớn. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực đó thì các vụ án ly hôn vẫn ngày một tăng và phổ biến. Thực trạng này kéo theo những hậu quả mang tính tiêu cực không chỉ về mặt đạo đức mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế xã hội của huyện. Để tìm hiểu xem vì sao, nguyên nhân gì mà địa phương nơi tác giả sinh ra và lớn lên lại có thực trạng ly hôn cao như vậy? Đồng thời, muốn đóng góp một phần công sức của mình vào việc hạn chế, khắc phục tình trạng ly hôn, để huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai ngày một phát triển mạnh mẽ, xứng đáng hơn nữa với truyền thống tốt đẹp của quê hương. Tác giả xin chọn đề tài: “Khóa luận tốt nghiệp thực trạng ly hôn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai” để nghiên cứu và phân tích. 2. Tình hình nghiên cứu Liên quan đến đề tài đã có một số nhà khoa học nghiên cứu trong các luận văn, tạp chí như: Luận văn thạc sĩ: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn”(2016) của Nguyễn Thị Thanh Xuân; Luận văn thạc sĩ: “Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện”(2017) của Nguyễn Thị Hạnh; Luận văn thạc sĩ:“Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn”(2017) của Đinh Thị Minh Mẫn; Khóa luận tốt nghiệp:“Căn cứ ly hôn: Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng”, (2013) của Dương Thị Hồng Cẩm; “Căn cứ ly hôn trong cổ luật Việt Nam”, thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Vân, tạp chí Nhà nước và pháp luật, tháng 8/2005, Số 208;…Trong những công trình trên, các tác giả đã đề cập đến các quy định của pháp luật về căn cứ tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu một địa phương cụ thể về thực trạng ly hôn. Kế thừa những bài viết, sách của các tác giả đi trước, tác giả nghiên cứu đề tài: Thực trạng ly hôn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đảm bảo không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó và mang tính hoàn toàn mới. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài đặt mục tiêu nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận, pháp luật về ly hôn, thực trạng ly hôn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai; từ đó chỉ ra những nguyên nhân dẫn tới tình trạng ly hôn hiện nay ở nước ta nói chung và huyện Phú Thiện nói riêng. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và hạn chế tình trạng ly hôn hiện nay ở huyện Phú Thiện. Với mục tiêu trên, đề tài có những nhiệm vụ cụ thể sau: - Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ly hôn như: Khái niệm ly hôn, khái niệm căn cứ ly hôn, các căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014. - Tìm hiểu thực trạng ly hôn ở huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai trong những năm gần đây. Từ thực trạng đó, phân tích những nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn của các cặp vợ chồng trên địa bàn huyện Phú Thiện. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Chế độ pháp lý về ly hôn là đề tài có phạm vi rộng nên trong khuôn khổ của đề tài, tác giả tập trung vào nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về căn cứ ly hôn và thực trạng ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, BLDS năm 2015,… Đồng thời, nghiên cứu thực trạng ly hôn hiện nay của các cặp vợ chồng tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. 5. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, như: Phương pháp thu thập thông tin, phương pháp tổng hợp và phân tích. 6. Ý nghĩa của đề tài Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động học tập và nghiên cứu sau này về các chủ đề có liên quan. Những đề xuất, giải pháp mà đề tài nêu ra đều có cơ sở khoa học và thực tiễn, vì vậy chúng có giá trị tham khảo trong việc sửa đổi pháp luật và trong công tác áp dụng pháp luật về ly hôn. 7. Bố cục Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Đề tài được kết cấu gồm 3 chương như sau: Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về ly hôn Chương 2. Thực trạng ly hôn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai Chương 3. Một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng ly hôn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LUẬT - -
NGUYỄN MINH TIẾN
THỰC TRẠNG LY HÔN TẠI HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Quảng Bình, 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LUẬT - -
THỰC TRẠNG LY HÔN TẠI HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI
Niên khóa : 2016 - 2020
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN MINH TIẾN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : Th.S PHAN THỊ THU HIỀN
Quảng Bình, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân em, được xâydựng trên cơ sở thực tế, tiếp thu ý tưởng khoa học của các tác giả đi trước và dưới
sự hướng dẫn, giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn
Các tài liệu, kết quả sử dụng trong đề tài là trung thực Em xin hoàn toàn chịutrách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy định cho lời cam đoan củamình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và học tập tại giảng đường trường đại học, em
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của các thầy cô, gia đình và bạn bè.Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáoKhoa Luật - Trường Đại học Quảng Bình, những người đã truyền đạt cho em nhiềukiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập vừa qua Đặc biệt em xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc đến cô Phan Thị Thu Hiền đã hướng dẫn, giúp đỡ em tận tình trong quátrình thực hiện đề tài
Nhân dịp này, em cũng xin được cảm ơn các cô, chú, anh, chị tại Tòa án nhândân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em tiếp cận, thuthập tài liệu, thông tin liên quan đến đề tài
Do trình độ lý luận cũng như thời gian nghiên cứu còn ngắn nên chuyên đềbáo cáo khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhậnđược những chia sẻ và những lời chân thành từ thầy cô để em có thể hoàn thiện hơnchuyên đề báo cáo của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Minh Tiến
Trang 5BẢNG THỐNG KÊ TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
2 Bộ luật dân sự năm 2015
3 Các văn bản pháp luật hướng dẫn Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014
4 Báo cáo thống kê tháng của Tòa án nhân dân huyện Phú
Thiện, tỉnh Gia Lai năm (2015-2019)
5 Báo cáo thống kê quý của Tòa án nhân dân huyện Phú
Thiện, tỉnh Gia Lai năm (2015-2019)
6 Hồ sơ các vụ án về hôn nhân gia đình của Tòa án dân
nhân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai năm (2015-2019)
7 Sổ thụ lý các vụ án hôn nhân gia đình của Tòa án dân
nhân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai năm (2015-2019)
8
Nguyễn Thị Thanh Xuân (2016), “Pháp luật về giải
quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn”,
Luận văn thạc sĩ, ( Hà Nội)
16, 18, 19
9
Nguyễn Thị Hạnh (2017), “Chia tài sản chung của vợ
chồng theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn áp dụng và
hướng hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ, ( Hà Nội).
26, 33
10
Đinh Thị Minh Mẫn (2017), “Giải quyết tranh chấp về
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn”, Luận văn
thạc sĩ, ( Hà Nội)
28,29, 41
11
Dương Thị Hồng Cẩm (2013), “Căn cứ ly hôn: Quy định
của pháp luật và thực tiễn áp dụng”, Khóa luận tốt
nghiệp, ( Hà Nội)
11, 13, 35,52
12
Nguyễn Thị Kim Oanh (2015), “Căn cứ ly hôn theo quy
định pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện
hành”, Khoá luận tốt nghiệp, ( Hà Nội).
22, 27, 33,63
Trang 6đề lí luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014”, Tập bài giảng, Nxb Chính trị Quốc gia, (Hà Nội). 92
14
Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Vân (2005), “Căn cứ ly hôn
trong cổ luật Việt Nam”, tạp chí Nhà nước và pháp luật
Số 208, tháng 8/2005
9, 10
16 Từ điển luật học, 1989, Nxb Viện khoa học pháp lý – Bộ
17 V.I.Lênin - Toàn tập, 1980, Tập 25, Nxb Tiến bộ,
Maxcơva
355, 378,49718
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
BẢNG THỐNG KÊ TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
DÁNH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Tình hình nghiên cứu
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Ý nghĩa của đề tài
7 Bố cục
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN
1.1 Một số khái niệm liên quan đến ly hôn
1.1.1 Khái niệm ly hôn
1.1.2 Khái niệm về căn cứ ly hôn
1.1.3 Khái niệm thuận tình ly hôn
1.1.4 Khái niệm ly hôn theo yêu cầu của một bên
1.2 Căn cứ ly hôn
1.2.1 Căn cứ ly hôn khi thuận tình ly hôn
1.2.2 Căn cứ ly hôn khi ly hôn theo yêu cầu của một bên
1.3 Vấn đề ly hôn ở ngoài nước và Việt Nam hiện nay
1.3.1 Ngoài nước
1.3.2 Việt Nam
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LY HÔN TẠI HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
Trang 82.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội của huyện Phú
Thiện
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội
2.2 Thực trạng ly hôn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
2.3 Nguyên nhân của việc ly hôn tại huyện Phú Thiện
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG LY HÔN TẠI HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
3.1 Về mặt lý luận
3.2 Về mặt thực tiễn
3.3 Bài học cho bản thân
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DÁNH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Kết quả giải quyết ly hôn năm 2015- 2019 33
Biểu đồ 2.2 Lý do ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện năm 2015 35
Biểu đồ 2.3 Lý do ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện năm 2016 36
Biểu đồ 2.4 Lý do ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện năm 2017 36
Biểu đồ 2.5 Lý do ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện năm 2018 37
Biểu đồ 2.6 Lý do ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện năm 2019 37
Bảng 2.3 Độ tuổi ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện từ năm 2015- 2019 38
Biểu đồ 2.7 Độ tuổi ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện từ năm 2015- 2019 39
Biểu đồ 2.8 Chủ thể yêu cầu ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện từ năm 2015-2019 40
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả giải quyết ly hôn của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện từ năm2015- 2019 33Bảng 2.2 Lý do ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện từ năm 2015- 2019 35Bảng 2.3 Độ tuổi ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện từ năm 2015- 2019 38Bảng 2.4 Chủ thể yêu cầu ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện từ năm 2015- 2019 40
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn đời nay gia đình luôn là cái nôi hình thành và nuôi dưỡng nhân cáchcủa mỗi con người Những gia đình tốt đẹp sẽ xây dựng được một xã hội tiến bộvăn minh, một xã hội tiến bộ văn minh là cơ sở để xây dựng một gia đình tốt đẹp.Chính vì vậy, vai trò và vị trí của gia đình ngày càng được quan tâm và đề cao trong
xã hội Khởi nguồn của quan hệ gia đình đó chính là quan hệ hôn nhân, là việc kếthôn giữa người nam và người nữ theo những điều kiện mà pháp luật quy định Nhưvậy, chúng ta thấy một cuộc hôn nhân tốt đẹp sẽ là nền tảng để xây dựng một giađình và một xã hội tốt đẹp Xã hội ngày càng thay đổi và phát triển, điều này đãkhiến cho các bộ phận đã tạo nên xã hội cũng thay đổi và phát triển không ngừng
Sự vận động, sự biến đổi của gia đình cũng là điều tất yếu Bởi gia đình là tế bàocủa xã hội Trong những năm vừa qua cùng với sự thâm nhập của nền kinh tế thịtrường đã và đang đem lại cho chúng ta nhiều thành tựu kinh tế khởi sắc, thì đi cùngvới nó còn xuất nhiều tệ nạn xã hội là mặt trái của nó Có thể nói ly hôn là mộttrong những hệ quả của các tệ nạn đó. Vấn đề ly hôn đang là một thực trạng đáng longại, đang ngày càng trở nên phổ biến và trở thành vấn đề được cả xã hội quantâm.
Ly hôn vừa là vấn đề mang tính gia đình vừa là vấn đề mang tính xã hội sâusắc Nó là mặt đối lập của việc kết hôn Nếu kết hôn là việc hình thành quan hệ hônnhân giữa hai người khác giới tính thì ly hôn là việc chấm dứt mối quan hệ đó vềmặt pháp lý theo quy định Luật HN&GĐ năm 2014 Tuy nhiên, hậu quả của việc lyhôn không chỉ là chấm dứt mối quan hệ hôn nhân giữa hai người mà nó còn kéotheo các hậu quả xấu khác: gia đình đổ vỡ, những đứa trẻ bị khuyết tật về tình cảmcủa bố hoặc mẹ, thiếu tự tin trong cuộc sống sa vào các tệ nạn xã hội, nghiện hútcướp giật,…
Thực trạng đáng lo ngại này đang diễn ra ngày càng rất phổ biến ở huyện PhúThiện, tỉnh Gia Lai - một huyện có truyền thống văn hoá tốt đẹp Các cơ quan quản
lý Nhà nước cũng như các cơ quan pháp luật của huyện luôn quan tâm bên cạnh xâydựng và phát triển nền kinh tế là xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội Số lượnggia đình văn hoá ngày một lớn Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực đó thì các vụ án ly
Trang 13hôn vẫn ngày một tăng và phổ biến Thực trạng này kéo theo những hậu quả mangtính tiêu cực không chỉ về mặt đạo đức mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
xã hội của huyện
Để tìm hiểu xem vì sao, nguyên nhân gì mà địa phương nơi tác giả sinh ra vàlớn lên lại có thực trạng ly hôn cao như vậy? Đồng thời, muốn đóng góp một phầncông sức của mình vào việc hạn chế, khắc phục tình trạng ly hôn, để huyện PhúThiện, tỉnh Gia Lai ngày một phát triển mạnh mẽ, xứng đáng hơn nữa với truyền
thống tốt đẹp của quê hương Tác giả xin chọn đề tài: “Khóa luận tốt nghiệp thực trạng ly hôn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai” để nghiên cứu và phân tích.
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài đã có một số nhà khoa học nghiên cứu trong các luận
văn, tạp chí như: Luận văn thạc sĩ: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn”(2016) của Nguyễn Thị Thanh Xuân; Luận văn thạc sĩ: “Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn áp dụng
và hướng hoàn thiện”(2017) của Nguyễn Thị Hạnh; Luận văn thạc sĩ:“Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn”(2017) của Đinh Thị Minh Mẫn; Khóa luận tốt nghiệp:“Căn cứ ly hôn: Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng”, (2013) của Dương Thị Hồng Cẩm; “Căn cứ ly hôn trong cổ luật Việt Nam”, thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Vân, tạp chí Nhà nước và pháp luật, tháng 8/2005,
Số 208;…Trong những công trình trên, các tác giả đã đề cập đến các quy định củapháp luật về căn cứ tài sản của vợ chồng khi ly hôn Tuy nhiên, chưa có đề tài nàonghiên cứu một địa phương cụ thể về thực trạng ly hôn
Kế thừa những bài viết, sách của các tác giả đi trước, tác giả nghiên cứu đề tài:
Thực trạng ly hôn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đảm bảo không trùng lặp với
các công trình nghiên cứu trước đó và mang tính hoàn toàn mới
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt mục tiêu nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận, pháp luật về ly hôn,thực trạng ly hôn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai; từ đó chỉ ra những nguyên nhândẫn tới tình trạng ly hôn hiện nay ở nước ta nói chung và huyện Phú Thiện nóiriêng Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và hạn chế tình trạng lyhôn hiện nay ở huyện Phú Thiện
Trang 14Với mục tiêu trên, đề tài có những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ly hôn như: Khái niệm ly hôn, kháiniệm căn cứ ly hôn, các căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014
- Tìm hiểu thực trạng ly hôn ở huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai trong nhữngnăm gần đây Từ thực trạng đó, phân tích những nguyên nhân dẫn đến việc ly hôncủa các cặp vợ chồng trên địa bàn huyện Phú Thiện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chế độ pháp lý về ly hôn là đề tài có phạm vi rộng nên trong khuôn khổ của
đề tài, tác giả tập trung vào nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về căn
cứ ly hôn và thực trạng ly hôn trên địa bàn huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của Luật HN&GĐ năm
2014, BLDS năm 2015,… Đồng thời, nghiên cứu thực trạng ly hôn hiện nay của cáccặp vợ chồng tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, như: Phươngpháp thu thập thông tin, phương pháp tổng hợp và phân tích
6 Ý nghĩa của đề tài
Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu thamkhảo cho các hoạt động học tập và nghiên cứu sau này về các chủ đề có liên quan.Những đề xuất, giải pháp mà đề tài nêu ra đều có cơ sở khoa học và thực tiễn, vìvậy chúng có giá trị tham khảo trong việc sửa đổi pháp luật và trong công tác ápdụng pháp luật về ly hôn
7 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Đề tài được kếtcấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về ly hôn
Chương 2 Thực trạng ly hôn tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
Chương 3 Một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng ly hôn tại huyện PhúThiện, tỉnh Gia Lai
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN
1.1 Một số khái niệm liên quan đến ly hôn
1.1.1 Khái niệm ly hôn
Xã hội ngày càng phát triển, quá trình hội nhập đã thúc đẩy nền kinh tế, chínhtrị – xã hội phát triển một cách mạnh mẽ Mối quan hệ trong xã hội cũng có sự vậnđộng thay đổi theo xu thế của nó Gia đình là tế bào của xã hội nên cũng không nằmngoài quy luật này [13] Xã hội phát triển, đời sống nâng cao cùng với sự du nhậpnhững tư tưởng cách sống mới làm cho mỗi người có một trình độ hiểu biết khácnhau, từ đó cách nhìn nhận, suy nghĩ các vấn đề khác nhau Chính từ những quanđiểm khác nhau đó, nên thường xảy ra các mâu thuẫn đối kháng Nhất là trong vấn
đề hôn nhân nên việc tan vỡ gia đình là rất phổ biến
Những năm gần đây, số lượng án HN&GĐ ngày một gia tăng với nhiều nhữngmâu thuẫn khác nhau đã gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, dẫn đến thực trạng suygiảm về đạo đức, lối sống, bạo lực trong gia đình ngày càng trở nên phổ biến và giatăng Đảng và Nhà nước ta cũng hết sức quan tâm đến vấn đề đạo đức, lối sống,nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội Nhà nước đã ban hành những quyphạm pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mỗi con người trong xã hội, tạonên sự công bằng và bình đẳng trong mọi lĩnh vực Nam nữ được quyền tự do tìmhiểu, tự nguyên kết hôn, được pháp luật cho phép và bảo hộ nếu không ai vi phạmđiều mà pháp luật cấm Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quý trọnglẫn nhau cùng xây dựng một gia đình ấm no và hạnh phúc Nhưng khi ý thức xâydựng cuộc sống chung không còn nữa cũng đồng nghĩa với việc những mâu thuẫnxuất hiện và cuộc sống chung không thể tiếp tục Pháp luật luôn bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mỗi con người
Cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra những xung đột, mâu thuẫn sâu sắcđến mức họ không thể chung sống với nhau nữa Ly hôn là giải pháp cho cả vợ vàchồng khi mà tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thể hiện quyền tự do kết hôn củanam nữ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn của vợ chồng nhằm
Trang 16chấm dứt quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn theo đúng bản chất của một sựkiện - đó là hôn nhân “đã chết”, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối [14].Pháp luật về ly hôn của mỗi nước trên thế giới là khác nhau Pháp luật củaNhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng,không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn.Pháp luật của nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản quy định có thể cấm ly hôn,không quy định căn cứ ly hôn mà chỉ công nhận quyền vợ chồng được sống táchbiệt nhau bằng chế định ly thân; bằng hạn chế quyền ly hôn theo thời gian xác lậpquan hệ hôn nhân; theo độ tuổi của vợ chồng; và thường quy định xét xử ly hôn dựatrên cơ sở lỗi của vợ, chồng hay của cả hai vợ chồng Một số nước Châu Âu đã từ
bỏ quan niệm cấm ly hôn: ở Ý từ năm 1975, ở Tây Ban Nha từ năm 1982, hay ởcác nước theo đạo Thiên Chúa, với quan niệm sự gắn bó giữa vợ chồng để trở nênmột là do Thiên Chúa thiết lập Bởi đó, “ Sở dĩ Thiên Chúa đã kết hợp, loài ngườikhông được phân ly”, vì phá đổ sự kết hợp này chính là phá đổ công trình của ThiênChúa, là bôi bác hình ảnh của Thiên Chúa đã có đó trong cuộc sống hôn nhân.Theo từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, ly hôn đượchiểu là: “chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án nhân dân công nhận hoặc quyếtđịnh theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng” [16] Cách giải thíchnày được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu, giải thích cho các đương sự liên quantrong thực tiễn giải quyết vụ việc ly hôn Theo khái niệm này, ly hôn được phản ánh
rõ nét, đó là việc “chấm dứt quan hệ vợ chồng”, nghĩa là giữa hai bên vợ chồngkhông còn tồn tại quan hệ hôn nhân, mọi quyền và nghĩa vụ của hai bên sẽ đượcpháp luật giải quyết thỏa đáng, đảm bảo quyền lợi cho các bên
Theo Lê-nin: “thực ra tự do ly hôn tuyệt nhiên không có nghĩa là làm “tan rã”những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trênnhững cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hộivăn minh” Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ly hôn là hiện tượng xã hộimang tính giai cấp sâu sắc [14] Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗichế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật(hay tục lệ) quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nhà nước Tức là Nhànước bằng pháp luật quy định những điều kiện nào xác lập quan hệ vợ chồng, đồng
Trang 17thời xác lập trong những điều kiện căn cứ nhất định mới được phép xóa bỏ (chấmdứt) quan hệ hôn nhân.
Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật HN&GĐ nói riêng, việcđưa ra khái niệm đầy đủ về ly hôn có ý nghĩa quan trọng, phản ánh quan điểmchung nhất của nhà nước ta về ly hôn, tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chấtpháp lý của ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điểu chỉnh của các quan hệ phápluật HN&GĐ về ly hôn và các vấn đề phát sinh khác
Điều 8 Khoản 8 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 quy định: “Ly hôn làchấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của
vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”
Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 quy định: “Ly hôn làviệc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật củaTòa án”
Nhìn chung, khái niệm ly hôn của Luật HN&GĐ năm 2014 có sự thay đổi cơbản so với khái niệm ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 Tuy nhiên, về bản chất,hai điều luật đó đều phản ánh được ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng, quan
hệ hôn nhân, để giúp các bên trong quan hệ hôn nhân được giải thoát khỏi tình trạnghôn nhân đổ vỡ Khái niệm ly hôn trong luật HN&GĐ năm 2014 mang tính chấtchặt chẽ hơn khi đề cập tới nội dung: “bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật củaTòa án” Thông qua đó để phản ánh tính quyền lực của nhà nước, cũng như phảnánh bản chất của ly hôn nói riêng là mang tính chất giai cấp
Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, có vai trò quan trọng trongviệc đóng góp phần tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật phán quyết lyhôn của Tòa án thể hiện dưới hình thức: bản án, quyết định Nếu hai bên vợ chồngthuận tình ly hôn, giải quyết với nhau được tất cả các nội dung sau khi ly hôn thìTòa án công nhận ly hôn và ra quyết định dưới hình thức quyết định công nhậnthuận tình ly hôn Nếu vợ chồng mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án xét xử và ra phánquyết ly hôn dưới dạng bản án
Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ,điều đó là để cho vợ, chồng, con cái và các thành viên trong gia đình xây dựng cuộcsông mới Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của việc ly hôn, thì ly hôn có
Trang 18nhiều điểm tiêu cực: gây chia rẽ quan hệ gia đình, gây ảnh hưởng trực tiếp tới đờisống và tương lai của các thành viên, đặc biệt là các con, bên cạnh đó còn ảnhhưởng tới xã hội
Như vậy, ly hôn chính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ hoặc chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ, chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình.
1.1.2 Khái niệm về căn cứ ly hôn
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, hôn nhân (trong đó có ly hôn) làhiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc Trong từng giai đoạn phát triển củalịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước,bằng pháp luật (hay tục lệ) quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nhànước [22] Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy định những điều kiện nào xác lậpquan hệ vợ chồng, đồng thời xác lập trong những điều kiện căn cứ nhất định mớiđược phép xóa bỏ (chấm dứt) quan hệ hôn nhân Đó chính là căn cứ ly hôn đượcquy định trong pháp luật của Nhà nước
Hôn nhân là hiện tượng mang tính xã hội mang tính giai cấp sâu sắc Ở mỗichế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nước, bằng pháp luậtquy định chế độ hôn nhân phù hợp với lợi ích của giai cấp mình nhà nước xác định
rõ những trường hợp được phép kết hôn và những trường hợp được phép ly hôn Nhà nước quy định những căn cứ để được kết hôn và những điều kiện để được
ly hôn, ý chí của các bên đương sự không phải là điều kiện quyết định để phá bỏhôn nhân mà việc ly hôn phải căn cứ vào điều kiện được quy đinh trong LuậtHN&GĐ, nó phản ánh hôn nhân không thể tồn tại được nữa nghĩa là hôn nhân đãchết
Việc quy định những căn cứ ly hôn phải phù hợp với bản chất của sự việc, phùhợp với tình trạng thực tế của hôn nhân, phải xác định trong điều kiện nào thì cuộchôn nhân đã không còn tồn tại Việc tòa án xét xử cho ly hôn chỉ là việc công nhậnmột thực tế khách quan là cuộc hôn nhân đó không tồn tại nữa Chính vì vậy mà căn
cứ ly hôn là rất khó, nó đòi hỏi phải hết sức khoa học, phù hợp với bản chất, đạo
Trang 19đức Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của đông đảoquần chúng nhân dân lao động.
Như vậy, căn cứ ly hôn là những tình tiết hay các điều kiện pháp lý do phápluật quy định Và chỉ khi có những tình tiết, hay điều kiện đó, thì Tòa án mới quyếtđịnh cho vợ chồng ly hôn Đó là điều kiện cần và đủ được quy định một cách thốngnhất trong pháp luật, dựa trên các điều kiện đó thì Tòa án cho phép vợ chồng ly hôn
Hệ thống pháp Luật HN&GĐ của nhà nước ta từ năm 1945 đến nay đã quyđịnh căn cứ ly hôn ngày càng hoàn thiện, phù hợp, là cơ sở pháp lí để tòa án giảiquyết các án kiện ly hôn
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện quyền tự do kết hôn của nam
nữ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn của vợ chồng nhằm chấmdứt quan hệ vợ chồng Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện bản chấtcủa mối quan hệ, theo đó những trường hợp nào về mặt pháp lý hôn nhân được coi
là sự tan vỡ nghĩa là về thực chất, hôn nhân tự nó đã phá vỡ và việc tòa án cho phépphá bỏ hôn nhân chỉ là việc ghi biên bản công nhận sự tan vỡ bên trong của nó vàchỉ khi nào hôn nhân xét về bản chất không còn là hôn nhân nữa, tòa án mới được
xử cho ly hôn
Hệ tư tưởng tôn giáo luôn có ảnh hưởng không nhỏ tới các quy định của phápluật, đặc biệt là vấn đề ly hôn là quan hệ tình cảm, bị chi phối bởi các tư tưởng tôngiáo, xã hội đương thời Đối với những nước chịu ảnh hưởng của tôn giáo theo kinhthánh, hôn nhân là do sự tác hợp của Chúa - không thể tự ý xóa bỏ nên nhiều nướcchịu ảnh hưởng của tôn giáo không cho phép vợ chồng ly hôn
Căn cứ ly hôn được quy định trên cơ sở các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóatrong từng thời kỳ lịch sử Pháp luật phong kiến đề cao bảo vệ quyền gia trưởng củangười đàn ông, trách nhiệm của người đàn ông Do đó, pháp luật phong kiến luôn
“trọng nam, khinh nữ” gây ra sự bất bình đẳng trong vấn đề ly hôn giữa vợ vàchồng Căn cứ ly hôn trên cơ sở đạo đức Nho giáo, đặt ra đối với người đàn ông vớivai trò gia trưởng trong gia đình Tới thời kỳ thực dân Pháp, chủ nghĩa nhân dânảnh hưởng tới từng gia đình, từng quy định pháp lý Luật cho phép thuận tình ly hôntrong trường hợp vợ chồng không hợp tính tình Nhiều quy định của pháp luật hônnhân thời kỳ Pháp thuộc có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống nhân dân ta Khi tới thời
Trang 20kỳ xã hội chủ nghĩa, kinh tế phát triển, vị thế của người phụ nữ ngày càng đượcnâng cao Các quy định của pháp luật về ly hôn nói chung và căn cứ ly hôn nóiriêng có sự quy định cụ thể, rõ ràng hơn, bình đẳng hơn giữa vợ và chồng, nhằmbảo vệ quyền lợi của các bên.
Nhà nước quy định về căn cứ ly hôn, đây là căn cứ pháp lý, công cụ để Tòa án
có thể giải quyết yêu cầu ly hôn một cách chính xác và thỏa đáng Quy định căn cứ
ly hôn trong pháp luật là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng được thể hiện trong một sốnội dung sau:
Thứ nhất, căn cứ ly hôn đảm bảo sự công bằng về lợi ích giữa các bên đương
sự Khi giải quyết ly hôn, cần hiểu điều đó nói lên một thực trạng hôn nhân đã tan
vỡ, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại được nữa, vì “sự tồn tại của nó chỉ là bềngoài và giả dối” và ly hôn là một giải pháp tích cực để giải phóng cho vợ chồng,đảm bảo lợi ích của vợ chồng, của gia đình và xã hội Ly hôn bảo đảm quyền lợi íchcác bên, giải thoát xung đột, bế tắc trong đời sống hôn nhân, đảm bảo quyền và lợiích chính đáng của các bên trong quan hệ hôn nhân
Thứ hai, quy định căn cứ ly hôn giúp cho vợ chồng nhận thức, điều chỉnh hành
vi của mình để có thể tự dàn xếp, thỏa thuận để quan hệ vợ chồng tốt đẹp hơn; hoặcđưa ra quyết định ly hôn Thông qua đó, là biện pháp hữu hiệu trong việc củng cốquan hệ gia đình, bảo vệ lợi ích chính đáng của các đương sự và trên hết là bảo vệcuộc hôn nhân đã được xác lập, vì chỉ có người trong cuộc mới thực sự hiểu tìnhtrạng thực tế của cuộc sống vợ chồng
Thứ ba, căn cứ ly hôn là cơ sơ pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét giảiquyết việc ly hôn của vợ chồng khi có yêu cầu Tòa án chỉ giải quyết ly hôn khi việc
ly hôn là cần thiết, phù hợp với thực tế của quan hệ vợ chồng và đảm bảo sự thốngnhất trong việc xét xử Trường hợp Tòa án xét thấy quan hệ hôn nhân của vợ vàchồng không có đủ căn cứ để đưa ra quyết định, bản án ly hôn thì Tòa sẽ không raquyết định, bản án ly hôn Đồng thời, Tòa tiến hành cho các bên hòa giải tại cơ sở,phân tích, giải thích để cho các bên hiểu và suy nghĩ lại
Thứ tư, căn cứ ly hôn nhằm bình ổn quan hệ hôn nhân, bảo vệ và thúc đẩy sựphát triển của xã hội, góp phần củng cố chế độ một vợ một chồng, tự nguyện, tiến
bộ, góp phần khẳng định nguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng Căn cứ ly hôn là cơ
Trang 21sở đảm bảo sự nhất quán, thống nhất trong việc xây dựng những chế định, nhữngquy phạm pháp Luật HN&GĐ Khi tế bào gia đình của một xã hội ổn định thì xã hội
đó cũng được ổn định Các quy định về căn cứ ly hôn được quy định chặt chẽ thì sẽgóp phần giảm tình trạng ly hôn, khi tình trạng hôn nhân chưa đáp ứng đủ các căn
cứ ly hôn theo pháp luật quy định thì Tòa sẽ không giải quyết ly hôn
1.1.3 Khái niệm thuận tình ly hôn
Thuận tình ly hôn là trường hợp ly hôn theo yêu cầu của cả hai vợ chồng khi
đã thỏa thuận được tất cả những vấn đề quan hệ vợ chồng, quyền nuôi con, cấpdưỡng, chia tài sản (hoặc đồng ý tách riêng yêu cầu chia tài sản vợ chồng thành một
vụ án khác sau khi đã ly hôn)
Thuận tình ly hôn là việc dân sự, không có tranh chấp, hai vợ chồng cùngđồng ý ly hôn và cùng ký tên vào đơn yêu cầu tòa án công nhận việc thuận tình lyhôn Việc giải quyết thuận tình ly hôn được tiến hành theo thủ tục tòa án công nhậnviệc thuận tình ly hôn bằng một quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự
1.1.4 Khái niệm ly hôn theo yêu cầu của một bên
Ly hôn theo yêu cầu của một bên là trường hợp ly hôn theo yêu cầu của mộtbên vợ chồng hoặc một trong các bên không đồng thuận được tất cả những vấn đềquan hệ vợ chồng, quyền nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản
Ly hôn theo yêu cầu của một bên bản chất là vụ án dân sự, giải quyết các tranhchấp liên quan đến tất cả hoặc một trong các vấn đề: Quan hệ vợ chồng, quyền nuôicon, cấp dưỡng, chia tài sản chung, giải quyết nợ chung… Ly hôn theo yêu cầu củamột bên kết thúc bằng bản án có hiệu lực của Tòa án
1.2 Căn cứ ly hôn
1.2.1 Căn cứ ly hôn khi thuận tình ly hôn
Thuận tình ly hôn là trường hợp cả hai bên vợ và chồng tự nguyện đồng ý lyhôn Trong trường hợp Tòa án hòa giải không thành thì Tòa án lập biên bản về việc
tự nguyện ly hôn và hòa giải không thành
Theo Điều 55 Luật HN&GĐ 2014 quy định về thuận tình ly hôn như sau:
“Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì
Trang 22Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.”
Các căn cứ ly hôn khi thuận tình ly hôn bao gồm:
Một là: Việc giải quyết ly hôn cần dựa trên các điều kiện nhất định phải đượctiến hành ở Tòa án nhân dân, pháp luật quy định việc thuận tình ly hôn là công nhận
và đảm bảo quyền tự do ly hôn chính đáng của hai bên vợ chồng Thuận tình ly hôn
là trường hợp cả hai vợ chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân được thể hiện bằngđơn thuận tình ly hôn của vợ chồng Theo quy định của Luật HN&GĐ 2014 thìtrong trường hợp hai vợ chồng cùng có yêu cầu thuận tình ly hôn, sự tự nguyện củahai vợ chồng khi yêu cầu chấm dứt hôn nhân là một căn cứ quyết định việc chấmdứt hôn nhân
Tự nguyện ly hôn là cả hai vợ chồng đều tự do trình bày nguyện vọng, ý chí,không cưỡng ép, không bị lừa dối trong việc thuận tình ly hôn Việc thể hiện ý chíthật sự tự nguyện ly hôn phải xuất phát từ trách nhiệm đối với gia đình, phù hợp vớiyêu cầu của pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội và nhu cầu của bản thân chủ thểtrong việc quyết định ly hôn; đồng thời cả hai bên đều nhận thức được hậu quả củaviệc ly hôn
Theo quy định của pháp luật, người vợ và người chồng cùng thuận tình ly hôn
là thể hiện rõ ý chí, ý nguyện của các bên về việc giải quyết mối quan hệ hôn nhângiữa hai vợ chồng Khi bản thân hai vợ chồng xét thấy cuộc sống gia đình khônghạnh phúc, cuộc sống chung có nhiều khúc mắc, không đạt được mục đích của cuộchôn nhân và họ tự nhận thức được việc ly hôn là cần thiết thì hai vợ chồng đồngtình cùng nhau yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn
Căn cứ để Tòa án quyết định cho vợ chồng ly hôn là ý chí tự nguyện của cácbên, thật sự nghiêm túc và chắc chắn, không bị cưỡng ép, không bị lừa dối của vợ
và chồng trong việc thuận tình ly hôn bảo đảm thật sự tự nguyện ly hôn Trong quátrình hòa giải, thẩm phán có thể tiến hành tất cả các biện pháp điều tra, xác minhcần thiết, thậm chí có thể tìm hiểu để làm rõ động cơ xin ly hôn của các đương sự.Hai là: Cũng trong Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định trong việcthuận tình ly hôn, ngoài ý chí thật sự tự nguyện xin thuận tình ly hôn của vợ chồng,
Trang 23đòi hỏi hai vợ chồng còn phải có sự thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom,nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của
vợ và con Quy định này có nghĩa rằng thỏa thuận của hai bên vợ chồng là việcthống nhất quan điểm về toàn bộ các vấn đề: “tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con”
Về vấn đề tài sản: các bên sẽ tiến hành tự thỏa thuận dựa trên những nguyêntắc chung mà pháp luật dân sự đã quy định tại BLDS 2015 Tài sản chung của vợchồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất,kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp kháctrong thời kỳ hôn nhân Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn làtài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, đượctặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng Tài sản chungcủa vợ chồng được chia đôi Tuy nhiên, việc chia tài sản dựa trên các nguyên tắcsau: một là, hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; hai là: công sức đóng góp của
vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Việc nội trợ của
vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; ba là: bảo vệ lợi íchchính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên cóđiều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; bốn là, lỗi của mỗi bên trong vi phạmquyền, nghĩa vụ của vợ chồng
Vấn đề con cái: về nguyên tắc, việc ai là người nuôi con khi ly hôn có thểđược các đương sự (vợ, chồng) tự thỏa thuận với nhau và được tòa ghi nhận trongbản án Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục,nuôi dưỡng con chưa thành niên (dưới 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật,mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản
để tự nuôi mình Bên còn lại – tức là bên không được trực tiếp nuôi con có nghĩa vụcấp dưỡng (mức cấp dưỡng tuỳ theo điều kiện kinh tế hoặc theo thoả thuận) đểngười kia chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến khi trưởng thành
Về vấn đề bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con: Quy định của LuậtHN&GĐ về việc thuận tình ly hôn cũng đã hướng tới việc bảo vệ quyền làm mẹ của
người vợ bằng việc quy định “…trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ
và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn” (Điều 55 Luật HN&GĐ 2014)
Trang 24Khoản 4 Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định về nguyên tắc vấn đềbảo vệ quyền lợi chính đáng của bà mẹ và trẻ em: “Nhà nước, xã hội và gia đình cótrách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện cácquyền về HN&GĐ; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của ngườimẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình” Quy định về căn cứ ly hôn khi đảm bảoquyền lợi chính đáng của vợ và con đã thể hiện tính thống nhất, quy định chặt chẽcủa pháp Luật HN&GĐ.
Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em bằng pháp luật là việc Nhà nước ghi nhậnquyền phụ nữ và trẻ em đồng thời ban hành những quy phạm pháp luật nhằm bảođảm việc thực hiện các quyền phụ nữ và trẻ em trên thực tế Trẻ em có vai trò quantrọng đối với gia đình, với xã hội, với quốc gia và thế giới Vì vậy, việc bảo vệquyền lợi của trẻ em khi cha mẹ ly hôn phải được đặc biệt quan tâm
Trong trường hợp thuận tình ly hôn, cả vợ và chồng đều thống nhất và đồngthuận trong việc giải quyết các hậu quả của việc ly hôn: hai bên thật sự có ý nguyện
ly hôn, không bị cưỡng ép hay chi phối bởi yếu tố nào khác; hai bên phân chia tàisản rõ ràng, không có khúc mắc gì; hai bên cùng nhau thỏa thuận đầy đủ về việctrông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Với những điều kiện đặt ra nhưtrên mà thật sự có sự đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người vợ và con thì Tòa ánnhất trí giải quyết cho vợ chồng ly hôn Tuy nhiên, pháp luật lại quy định chặt chẽhơn, nếu trong trường hợp những vấn đề đã nêu trên mà không đảm bảo quyền lợichính đáng cho người vợ, người con thì Tòa án sẽ xem xét lại việc thuận tình ly hôncủa hai bên
Pháp luật chưa có quy định cụ thể về khái niệm “không bảo đảm quyền lợichính đáng của vợ và con” Tuy nhiên, ta có thể hiểu rằng, không bảo đảm quyềnlợi chính đáng của vợ và con là việc thỏa thuận về tài sản, nhân thân, con cái của haibên làm ảnh hưởng hoặc chưa đáp ứng được nhu cầu của vợ và con Thông qua quyđịnh này, ta có thể thấy được pháp Luật HN&GĐ Việt Nam có xu hướng bảo vệphụ nữ và trẻ em “thế yếu” trong quan hệ HN&GĐ Không chỉ dừng lại ở đó, việcghi nhận của pháp luật đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản củaphụ nữ và trẻ em khi vợ chồng ly hôn còn là sự tiếp nối truyền thống đạo đức củadân tộc
Trang 25Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về việc vợ/chồng haychồng/vợ là người trực tiếp nuôi con; cũng như nếu vợ/chồng có đủ cơ sở để chứngminh việc chồng/vợ không đảm bảo được các quyền lợi của con (như điều kiện vềnuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; đặc biệt là các điều kiện cần thiết cho sự phát triển
về thể chất, bảo đảm về việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinhthần của con) trong khi đó, vợ/chồng lại đáp ứng được đầy đủ được những điều kiệnnày, thì Tòa án có thể xem xét, quyết định cho vợ/chồng được quyền nuôi con Nhìnchung, khi quyết định trao quyền nuôi con cho người vợ hay người chồng, Tòa ánđều phải xem xét quyền lợi về mọi mặt của cháu bé trên thực tế
Ví dụ: trường hợp anh A và chị B thỏa thuận về việc ly hôn, hai bên thỏathuận về việc con chung là C đủ 6 tuổi – chưa thành niên, sẽ do chị B nuôi nấng, tuynhiên, do tính chất công việc của chị B là thường xuyên đi công tác, không có thờigian chăm sóc con cái; kinh tế khó khăn hơn anh A vì phải nuôi mẹ già Trong khi
đó anh A có kinh tế khá, có thời gian dành cho con nhiều hơn, môi trường giáo dụccon tốt hơn Như vậy, thỏa thuận của A và B là không hợp lý, không đảm bảo đượcquyền lợi chính đáng của C, Toà án sẽ xem xét lại trường hợn này
Trong trường hợp hòa giải tại Tòa mà không thỏa thuận được một trong cácđiều kiện trên thì Tòa án sẽ lập biên bản về việc hòa giải không thành Trong đó nêu
rõ những vấn đề hai bên không thoả thuận được hoặc có thoả thuận nhưng khôngbảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét
xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung
Trường hợp sự thỏa thuận không thể hiện đầy đủ quyền và lợi ích chính đángcủa vợ và con, thẩm phán có thể đi đến quyết định bác đơn xin thuận tình ly hôn củacác bên; tuy nhiên, trên thực tế, thẩm phán chỉ bác đơn khi đã xem xét thỏa thuậnban đầu và đã yêu cầu các bên về việc sửa đổi những chi tiết cần thiết nhằm bảo vệquyền và lợi ích chính đáng của vợ và con mà các bên không sửa đổi hoặc sửa đổikhông thỏa đáng Trong trường hợp các đương sự chỉ báo cho thẩm phán nội dungthỏa thuận về vấn đề con cái mà không làm rõ các thỏa thuận về tài sản, thì thẩmphán phải yêu cầu các đương sự thông báo bổ sung về các thỏa thuận cần thiết đó.Trên thực tế, thẩm phán vẫn quyết định cho ly hôn trong trường hợp này và về phần
Trang 26tài sản được ghi nhận một cách đơn giản trong bản án: các đương sự đã thỏa thuậnxong hoặc các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Thực tế, nguyên nhân phát sinh tranh chấp trong cuộc sống vợ chồng dẫn đến
ly hôn hay thuận tình ly hôn cũng là do tình cảm của vợ chồng bị rạn nứt, một tronghai bên đã không làm tròn nghĩa vụ của mình với gia đình hay vì tự ái cá nhân hoặchiểu lầm trong quan hệ của vợ hoặc chồng mình nên đã quyết định yêu cầu Tòa ángiải quyết cho họ được ly hôn Nhưng khi có sự giải thích, phân tích đúng, sai trongquan hệ của họ của người làm công tác hòa giải để khuyên họ nên bỏ qua nhữnglầm lỗi, tha thứ cho nhau để quay lại chung sống với nhau thì họ đã hiểu ra và quaylại đoàn tụ chung sống với nhau và Tòa án cũng không phải giải quyết về các vấn đềkéo theo như con và tài sản
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Toà án vẫn tiến hànhhoà giải Việc cho ly hôn trong trường hợp thuận tình này đối với Tòa án là khôngphải dễ, bởi vì khó có thể định lượng khi chỉ dựa trên yếu tố thỏa thuận tự nguyệnthật sự của hai vợ chồng nếu không xem xét đến các yếu tố tình trạng mâu thuẫn vợchồng đến đâu, mức độ ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân đến cấp độ nào và gắnvới việc thỏa thuận của họ đến đâu về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con saukhi ly hôn
Trong thực tế có nhiều trường hợp các bên “giả tự nguyện ly hôn” và “giả thỏathuận ly hôn” nhằm lừa dối cơ quan có thẩm quyền vì một mục đích nào đó Việc lyhôn “để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân”xem là hành vi ly hôn giả tạo và bị xử phạt hành chính Khoản 15 Điều 3 LuậtHN&GĐ 2014 có quy định về khái niệm ly hôn giả tạo: “Ly hôn giả tạo là việc lợidụng ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân sốhoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân”.Hiện tượng ly hôn giả tạo nhằm mưu cầu lợi ích riêng Họ tự nghĩ ra những mâuthuẫn và lý do chính đáng nhưng thực tế họ lại không mong muốn chấm dứt quan
hệ vợ chồng và giữa họ không hề có mâu thuẫn Nếu không điều tra kỹ thì Tòa án
có thể kết luận là họ đã có đủ căn cứ để công nhận thuận tình ly hôn Trong nhữngtrường hợp này Tòa án cần xử bác đơn xin thuận tình ly hôn của đương sự đồngthời phê phán, giáo dục đương sự về những hành vi sai trái đó
Trang 27Như vậy, vấn đề xác định căn cứ ly hôn là sự tự nguyện và tự thỏa thuận củacác bên rất khó để xác định sự tự nguyện thực sự Bởi vậy, Tòa án cần đưa ra cácquyết định chính xác để bảo vệ quyền lợi của các bên, tránh trường hợp các bênthuận tình ly hôn giả nhằm mục đích: chuyển hộ khẩu, phụ cấp người ăn theo; lấy
vợ lẽ nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với ngườikhác
1.2.2 Căn cứ ly hôn khi ly hôn theo yêu cầu của một bên
Ly hôn là vấn đề không mong muốn nhưng lại là giải pháp cần thiết cho cả haibên vợ chồng khi đời sống vợ chồng khó có thể tiếp tục duy trì Khác với thuận tình
ly hôn, ly hôn theo yêu cầu của một bên là trường hợp chỉ có một trong hai vợchồng, hoặc cha, mẹ, người thân thích của một trong hai bên yêu cầu được chấmdứt quan hệ hôn nhân
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định tại Điều 56 về ly hôn theo yêu cầu của mộtbên như sau:
“1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3 Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành
vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”
Theo đó, các căn cứ để Tòa án quyết định ly hôn theo yêu cầu của một bên baogồm:
Đối với trường hợp khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành:
Trường hợp này, Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có các căn cứ về việc vợ,chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của
Trang 28vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung khôngthể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Ví dụ: Anh H (chồng chị G) trước đây là người rất yêu thương vợ con, tuynhiên gần đây do có mối quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác nên khi về nhàthường xuyên có những lời nói chê bai, xúc phạm chì chiết chị G, thậm chí cónhững lần dùng đồ vật để đánh đập, hành hung bạo lực chị G
Trong đó:
- Bạo lực gia đình:
“Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” (Khoản 2, Điều 1 Luật Phòng chống bạo lực gia đình).
Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
“a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sứckhoẻ, tính mạng;
b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quảnghiêm trọng;
d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông,
bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tựnguyện, tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tàisản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viêngia đình;
h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khảnăng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụthuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở…” (Điều 2,Luật phòng chống bạo lực gia đình)
Trang 29- Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hônnhân không đạt được:
Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn một số nội dung LuậtHN&GĐ năm 2000 đã đưa ra hướng dẫn khá chi tiết về vấn đề này Tuy quy địnhnày đã hết hiệu lực thi hành nhưng vẫn được sử dụng với tính chất định hướng trongthực tiễn xét xử Cụ thể như sau:
“…a.1 Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:
- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như ngườinào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống rasao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoàgiải nhiều lần
- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyênđánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín củanhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở,hoà giải nhiều lần
- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã đượcngười vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức,nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;
a.2 Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dàiđược, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọngnhư hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoàgiải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống lythân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau,thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dàiđược.
a.3 Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng;không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự,nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáocủa vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt…”
Như vậy, khi có yêu cầu ly hôn của một bên vợ hoặc chổng, Tòa án sẽ tiếnhành điều tra và hòa giải Nếu hòa giải không thành thì Tòa án sẽ xác định tình
Trang 30trạng hôn nhân có căn cứ để ly hôn không để giải quyết.Tòa án sẽ căn cứ vào nhữngtình trạng trên của vợ chồng để quyết định cho vợ chồng ly hôn.
Đối với trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn:
Ở trường hợp này, tuyên bố mất tích của Tòa án đối với một người sẽ là căn
cứ để Tòa án cho ly hôn khi có yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng của người mấttích
Ví dụ: A và B kết hôn hợp pháp năm 2016 trong thời kỳ chung sống hai người
có 2 người con C sinh năm 2016, D sinh năm 2018, hai người tạo lập được tài sảnchung là ngôi nhà trên diện tích đất 100m2 Tháng 3 năm 2018 anh A bỏ nhà đi từ
đó đến tháng 4 năm 2020 không có tin tức A còn sống hay đã chết Vì vậy B nộpđơn lên Tòa án yêu cầu tuyên bố anh A mất tích Sau đó, Tòa án đã tuyên bố anh Amất tích và giải quyết cho ly hôn theo yêu cầu của chị B
Tuyên bố một người mất tích là một sự kiện pháp lý nhằm xác định một người
cụ thể “hoàn toàn không rõ tung tích, cũng không rõ còn sống hay đã chết”[15].Tuyên bố mất tích được quy định tại Điều 68 BLDS 2015 như sau:
“Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích…”.
Trường hợp đồng thời yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích và yêu cầu Tòa ángiải quyết ly hôn, Tòa án chỉ giải quyết cho ly hôn có bằng chứng chứng minh đượcchồng hoặc vợ đã biệt tích từ hai năm trở lên kể từ ngày có tin tức cuối cùng vềchồng (vợ), mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việcngười đó còn sống hay đã chết
Đối với trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014:
Đây là trường hợp “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác
Trang 31mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.” (khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ 2014).
Ví dụ: Anh T và chị K kết hôn từ năm 1990, trong suốt quá trình sinh sốnganh T (bị bệnh tâm thần) thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình, đánh vợ, đánhcon (2 con của anh T và chị K hiện nay đều đã trên 18 tuổi) Đến ngày 10 tháng 1năm 2019 anh T cầm dao chém con và đuổi 3 mẹ con chị K ra khỏi nhà lúc 12hđêm
Như vậy, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai người mới có quyền yêu cầu tòa ángiải quyết ly hôn như Luật HN&GĐ năm 2000 thì Luật HN&GĐ năm 2014 bổ sungquyền yêu cầu giải quyết ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác cũng có quyềnyêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặcmắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời
là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêmtrọng đến tính mạng, sức khỏe; quy định này góp phần giải quyết những bất cập củaLuật HN&GĐ năm 2000
Nhìn chung, căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 đang là một vấn đềnhận được rất nhiều sự quan tâm từ dư luận xã hội Các căn cứ ly hôn này đã gópphần giải quyết tốt nhiều án ly hôn, giải quyết cho nhiều cuộc hôn nhân thoát khỏinhững bế tắc Để từ đó, ly hôn không chỉ đơn thuần là làm tan rã những mối quan
hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dânchủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh
1.3 Vấn đề ly hôn ở ngoài nước và Việt Nam hiện nay
1.3.1 Ngoài nước
Theo thống kê của Liên hợp quốc, những năm gần đây, tỷ lệ ly hôn ở nhiềuquốc gia trên thế giới đều có xu thế gia tăng, trong đó có châu Á
Tại các nước Âu Mỹ, tỷ lệ ly hôn luôn ở mức cao Ở nhiều nước châu Á, tỷ lệ
ly hôn hiện cũng đã đuổi kịp các nước Âu Mỹ, đặc biệt Hàn Quốc hiện đã trở thànhnước có tỷ lệ ly hôn cao thứ ba toàn cầu Cụ thể như sau:
Mỹ: Nước Mỹ hiện có 300 triệu dân, trong đó 59% đã kết hôn Tuy có tới trên90% người thành niên Mỹ lựa chọn cuộc sống có vợ có chồng, nhưng tỷ lệ ly hôn ở
Trang 32Mỹ thường rất cao Hai năm gần đây, ở Mỹ đã xuất hiện tình trạng những ngườitrên 60 tuổi, thậm chí ngoài 90 cũng gia nhập vào đội ngũ những người ly hôn [21].Các chuyên gia Mỹ cho rằng, nguyên nhân ly hôn rất nhiều, bao gồm: người
Mỹ ngày càng trường thọ, quan niệm giá trị của những người trẻ hiện khác với thế
hệ trước, phụ nữ độc lập về kinh tế Ngoài ra, còn có một nguyên nhân là ở Mỹviệc ly hôn rất dễ dàng
Hàn Quốc: Đứng thứ ba thế giới về tỷ lệ ly hôn
Theo số liệu của Cục Thống kê Hàn Quốc, mấy năm gần đây tỷ lệ ly hôn ởHàn Quốc luôn tăng với mức 0,5%/năm Năm 2019, Cục thống kê Hàn Quốc công
bố báo cáo Kết quả thống kê ly hôn năm 2018, cho thấy số vụ ly hôn năm sau luônphá kỷ lục năm trước Mỗi năm Hàn Quốc có khoảng 306 ngàn cặp cưới nhau và
145 ngàn cặp chia tay nhau [21]
Trong 10 năm qua, số vụ ly hôn đã tăng gấp 3 lần Năm 2018, cứ 1.000 dânHàn Quốc thì có 2,8 cặp vợ chồng ly hôn Tỷ lệ ly hôn ở Hàn Quốc xếp thứ 3 thếgiới, chỉ sau Mỹ và Anh
Nguyên nhân có rất nhiều, trong đó nguyên nhân quan trọng là quan hệ mẹchồng – nàng dâu gây nên Người phụ trách Phòng thụ lý ly hôn của Tòa án giađình cho biết:
“Hàng năm cứ đến kết thúc đợt nghỉ Tết Trung thu, Tết năm mới hoặc nghỉ hè
là số vụ ly hôn lại tăng đột biến, có thể do trong kỳ nghỉ, vợ chồng cùng về nhà nênxảy ra tranh cãi về chuyện có nên về hay không và những mâu thuẫn giữa con dâuvới mẹ chồng dẫn tới việc yêu cầu ly hôn”
Ấn Độ: Do dân số nông thôn đông và chế độ hôn nhân chưa được kiện toàn,chính phủ Ấn Độ trước nay không có các số liệu thống kê chính thức về tỷ lệ lyhôn, nhưng mấy năm gần đây, tỷ lệ ly hôn tăng vọt là một thực tế được thừa nhận[21]
Tờ The Hindustan Times số tháng 5-2019 từng hình dung “tỷ lệ ly hôn của Ấn
Độ tăng như tên lửa phóng thẳng đứng” Một số tổ chức xã hội đấu tranh về quyềnlợi phụ nữ thống kê, năm 2019, cả nước Ấn Độ tỷ lệ ly hôn khoảng 0,58%, cao gấpđôi 10 năm trước đó
Trang 33Đức: Mấy năm gần đây, tỷ lệ ly hôn của Đức luôn cao Theo số liệu của CụcThống kê liên bang, năm 2019, nước Đức có 200 ngàn cặp bỏ nhau, phần lớn lythân chỉ sau 6 năm kết hôn, đến năm thứ 7 thì làm thủ tục ly hôn Tờ Mirror đã quykết nguyên nhân là do tỷ lệ thất nghiệp gia tăng đã gây nên sự bất hoà giữa các cặp
vợ chồng rồi dẫn đến ly hôn [21]
Hiện nay, ở Đức đang thịnh hành các hình thức kinh doanh ăn theo tình trạng
ly hôn như các công ty ly hôn, nhà hàng ly hôn, chương trình tivi ly hôn, tạp chíCuộc chiến hoa hồng chuyên về chuyện ly hôn
Brazil: Theo số liệu của Cục Thống kê Brazil, tỷ lệ ly hôn ở nước này từ 1985đến nay đã tăng gấp hai lần Nhiều chuyên gia cho rằng, đó chủ yếu là bắt đầu từnăm 1988, luật pháp Brazil không hạn chế chuyện ly hôn, hủy bỏ quy định mỗingười chỉ được ly hôn tối đa hai lần trong đời, không hạn chế số lần kết hôn và lyhôn Số liệu thống kê cho thấy, trong tình hình xảy ra ly hôn do tranh chấp giữa haibên, 73% số vụ là do phụ nữ đề nghị [21]
Chuyên gia tâm lý Luis nói, Brazil có một hiện tượng kỳ quặc là hiện tượngphụ nữ đơn thân theo đuổi những đàn ông đã có gia đình ngày càng gia tăng Họbám chặt lấy người mà họ đã nhắm tới, bất kể đối phương đã kết hôn hay chưa.Trung Quốc: Số người ly hôn tăng nhanh
Theo thống kê của Bộ Dân chính Trung Quốc, số vụ ly hôn ở Trung Quốcđang gia tăng nhanh chóng
Ông Từ An Kỳ, chuyên viên Sở nghiên cứu khoa học xã hội thuộc ViệnKHXH cho rằng, sự thay đổi trong xã hội là đòn giáng mạnh đối với tính ổn địnhcủa hôn nhân, Bộ Dân chính đã đơn giản hóa thủ tục kết hôn và ly hôn cũng khiếnmột số người dễ dàng quyết định ly hôn
Bà Trần Tân Hân, nghiên cứu viên của Viện nghiên cứu phụ nữ cũng chorằng, địa vị người phụ nữ được nâng cao cũng là một nhân tố làm tỷ lệ ly hôn giatăng Phụ nữ ngày càng độc lập về kinh tế và tinh thần, không cần phải chịu đựngsống chung một mái nhà với người mà họ không còn tình cảm nữa [21]
1.3.2 Việt Nam
Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường,cùng lúc kéo theo những biến đổi trong văn hóa, đạo đức xã hội, làm giá trị đạo đức
Trang 34truyền thống trong mỗi gia đình cũng đang dần bị phá vỡ, tình trạng ly thân, ly hôngần đây có xu hướng năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt trong các gia đình trẻ.
Ví dụ: Cuộc điều tra do Bộ VH-TT&DL, phối hợp với Tổng cục Thống kê chothấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh Nếu năm 2018 cả nước chỉ có 51.361 vụ ly hônthì năm 2019 đã tăng lên 65.929 vụ Đây là thực trạng đáng báo động trong mốiquan hệ gia đình ở Việt Nam hiện nay
Qua công tác thụ lý kiểm sát các vụ án ly hôn thì tỷ lệ người vợ đứng đơn lyhôn cao gấp 2 lần so với người chồng Điều đáng lo ngại là trên 70% số vụ ly hônrơi vào các cặp vợ chồng trẻ ở nhóm tuổi 20-30 và hầu hết đã có con Khi một cuộchôn nhân đỗ vỡ, thì đó là nỗi đau mất mát của hai vợ chồng, trong thực tế phụ nữ sẽgặp khó khăn gấp bội, phải gồng mình để gánh vác trách nhiệm vừa làm cha, vừalàm mẹ, nuôi dạy con và luôn phải chịu áp lực về tài chính, bị thiệt thòi về tâm lý,tình cảm, hiệu suất công việc [22]
Việc ly hôn của cha mẹ chính là nỗi bất hạnh của những đứa con, những đứatrẻ trong các gia đình có bố mẹ ly hôn sẽ ảnh hưởng đến việc trực tiếp đến việc hìnhthành nhân cách và tương lai sau này, thường có những biểu hiện lệch lạc và sa ngã,phạm tội, bố mẹ ly hôn con trẻ thường tỏ ra giận dữ, có những việc làm nông nổi,hung hăng, dễ gặp tai nạn về thể chất, khi lớn lên trẻ gặp khó khăn trong giao tiếpcộng đồng
Một khía cạnh khác, sau ly hôn cha hoặc mẹ tái hôn, cảnh sống chung với chadượng hoặc mẹ kế, tình trạng “con anh, con em”, dẫn đến các bậc cha mẹ có thểthiếu trách nhiệm trong việc giáo dục con cái (bỏ mặc, ngược đãi) tác động sâu sắckhông những lên sự nhận thức còn rất non nớt của các em mà con gây ra những bấthòa và tổn thương tâm lý khó hàn gắn được [22]
Hôn nhân tan vỡ không chỉ làm ảnh hưởng đến gia đình, người thân mà cònảnh hưởng đến xã hội Bởi gia đình là tế bào của xã hội, khi tế bào không “khỏe” thì
xã hội bị ảnh hưởng nhiều mặt Sau những cuộc hôn nhân không thành là nhữngđứa con vô tội phải sống trong cảnh thiếu tình thương và sự chăm sóc, nuôi dưỡngcủa cha hoặc mẹ Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm vàcác tệ nạn xã hội ngày một gia tăng
Trang 35TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Hôn nhân là một thứ thiêng liêng, cao cả, là kết tinh của tình yêu, họ về cùngchung sống và cùng nhau xây dựng một gia đình của riêng họ Tuy nhiên khôngphải bất kì cuộc hôn nhân nào cũng viên mãn và đi được đến cuối đoạn đường Điềuđáng nói là tình trạng ly hôn hiện nay đang ngày một tăng nhanh và đặc biệt là tronggiới trẻ
Kết hôn và ly hôn là hai mặt của một hiện tượng trong đời sống gia đình Nếukết hôn là việc hình thành quan hệ hôn nhân giữa 2 người khác giới tính thì ly hôn
là việc chấm dứt mối quan hệ đó về mặt pháp lý theo Luật HN&GĐ
Ly hôn là một trong những vấn đề nóng bỏng vì vậy mà nó được các cấp,ngành thực sự quan tâm và không ngừng kiểm kê và đưa ra con số cụ thể cho các vụ
ly hôn
Theo đó trong Chương 1, tác giả đã phân tích các vấn đề chung liên quan đến
ly hôn như: Khái niệm ly hôn, khái niệm căn cứ ly hôn, khái niệm thuận tình ly hôn,khái niệm ly hôn theo yêu cầu của một bên, các căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐnăm 2014, thực trạng ly hôn các nước trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay