TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG TÊN ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG LY HÔN Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Giảng viên hướng dẫn: Lê Văn Hợp TP. Hồ Chí Minh Năm 2021 A. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài Luật Hôn nhân và gia đình là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, được tạo thành bởi nhiều chế định khác nhau như chế định kết hôn, chế định ly hôn nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình như quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia đình với nhau. Tuy nhiên, so với các quan hệ trong lĩnh vực pháp luật khác thì quan hệ pháp luật trong hôn nhân gia đình đặc biệt hơn. Chế định Ly hôn được coi là chế định quan trọng, thiết yếu của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Đời sống hôn nhân gia đình luôn là một vấn đề rất nhạy cảm và phức tạp. Hiện nay, tình trạng ly hôn ngày càng có xu hướng tăng cao. Lĩnh vực hôn nhân, gia đình đã được nhà nước ta quan tâm từ rất lâu thể hiện qua các văn bản Luật điều chỉnh lĩnh vực này. Vậy Luật Hôn nhân Gia đình 2014 thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những qui định như thế nào về ly hôn và việc áp dụng các thực tiễn này trong thực tiễn xét xử ra sao? Thực tiễn thời gian qua cho thấy, số lượng vụ án ly hôn xảy ra rất nhiều và có xu hướng tăng mạnh, bên cạnh đó có nhiều vụ án chưa được xử lý, giải quyết thỏa đáng, chưa đúng căn cứ ly hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân của vấn đề này đó là: chuyên môn nghiệp vụ chưa đồng đều, một số ít công chức chưa đạt chuẩn về trình độ, chủ yếu mới qua tập huấn đào tạo, chế độ chính sách còn thấp. Việc thực thi công vụ do đó vừa thiếu tính chuyên nghiệp, vừa không đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân. Khi đời sống hôn nhân không thểduy trì được nữa thì ly hôn là một giải pháp cần thiết cho cả đôi bên vợ chồng cũng như cho xã hội. Ly hôn cóthểcoi là điểm cuối của hôn nhân khi quan hệ này thực sư ̣tan ra.̃ Ly hôn giải thoát cho các cặp vơ ̣chồng và những thành viên trong gia đình khỏi xung đột, mâu thuẫn bếtắc 1 trong cuộc sống.̣Dù quan hệ gia đình có đổ vỡ thì sự bình đẳng về quyền và lợi ích giữa vợ và chồng vẫn được đảm bảo. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời đã bảo vệ quyền lợi của mọi thành viên trong gia đình, hướng tới xây dựng hạnh phúc, mô hình xã hội chủ nghĩa, là căn cứ để Tòa án giải quyết các vụ việc hôn nhân gia đình một cách thấu tình đạt lý. Bằng các quy định vềly hôn, Nhà nước cũng hướng tới bảo vệ lợi ích của gia đình, của xã hội khi xác định những điều kiện cho phép chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luât, ̣gọi chung là căn cứ ly hôn. Như vậy, đề tài “Thực trạng ly hôn ở nước ta hiện nay Thực trạng và giải pháp” vẫn là một nội dung nghiên cứu khá mới mẻ. Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài này và lấy thực tiễn để thực hiện bài tiểu luận này. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan tới vấn đề ly hôn. Ly hôn theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và các quy định hiện hành về ly hôn, thực tế giải quyết các vụ án về ly hôn để cho thấy sự thừa kế, phát triển cũng như những bất cập của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời so sánh Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, để từ đó có những nhận xét, những kiến nghị phù hợp, nhằm đóng góp ý kiến về những mặt ưu điểm và hạn chế của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vấn đề về thực trạng ly hôn ở Việt Nam, nghiên cứu cơ sở lý luận của ly hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014; làm rõ thực trạng ly hôn khi áp dụng tại Việt Nam; đưa ra quan điểm, đề xuất giải pháp về căn cứ ly hôn để hoàn thiện hơn pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam. 3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ khái niệm về ly hôn cũng như nêu lên thực trạng và đưa ra giải pháp về việc ly hôn ở nước ta hiện 2 nay. Nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề về ly hôn, đồng thời phân tích đánh giá, nhìn nhận thực trạng và xu hướng phát triển các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn đề Thực trạng ly hôn ở Việt Nam hiện nay và khắc phục hậu quả sau ly hôn. Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tiểu luận cần phải giải quyết được những nhiệm vụ cụ thể sau: Đánh giá thực trạng ly hôn ở nước ta hiện nay, các quy định pháp luật liên quan đến tình trạng ly hôn cũng như việc áp dụng. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thực trạng ly hôn ở nước ta: Những yếu tố tác động đến tình trạng hôn nhân, lý do dẫn đến ly hôn; Hệ quả của việc ly hôn và hướng xử lý. 4. Cơ sở lý luận Tiểu luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đặc biệt là các quan điểm của Đảng chỉ đạo về cải cách tư pháp. B. NỘI DUNG 1. KHÁI NIỆM VỀ LY HÔN “Ly hôn” là hiện tượng xã hội, nó xuất hiện cùng với hiện tượng “kết hôn” khi con người bắt đầu cuộc sống hôn nhân một vợ một chồng. Khái niệm “ly hôn” là một thuật ngữ pháp luật hôn nhân và gia đình mà dân gian thường gọi là “ly dị”. Khái niệm này lần đầu tiên được đề cập ở Việt Nam từ Luật Hôn nhân và gia đình 1959 ở miền Bắc. Sau ngày đất nước thống nhất, Quốc Hội ban hành Luật Hôn nhân và gia đình 1986, khái niệm này được dùng chung cho cả nước.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài
Luật Hôn nhân và gia đình là một ngành luật trong hệ thống pháp luậtViệt Nam, được tạo thành bởi nhiều chế định khác nhau như chế định kết hôn,chế định ly hôn nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình như quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ
và con cái, giữa các thành viên trong gia đình với nhau Tuy nhiên, so với cácquan hệ trong lĩnh vực pháp luật khác thì quan hệ pháp luật trong hôn nhân giađình đặc biệt hơn Chế định Ly hôn được coi là chế định quan trọng, thiết yếucủa Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Đời sống hôn nhân gia đình luôn là một vấn đề rất nhạy cảm và phức tạp.Hiện nay, tình trạng ly hôn ngày càng có xu hướng tăng cao Lĩnh vực hôn nhân,gia đình đã được nhà nước ta quan tâm từ rất lâu thể hiện qua các văn bản Luậtđiều chỉnh lĩnh vực này Vậy Luật Hôn nhân & Gia đình 2014 thay thế cho LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những qui định như thế nào về ly hôn vàviệc áp dụng các thực tiễn này trong thực tiễn xét xử ra sao?
Thực tiễn thời gian qua cho thấy, số lượng vụ án ly hôn xảy ra rất nhiều và
có xu hướng tăng mạnh, bên cạnh đó có nhiều vụ án chưa được xử lý, giải quyếtthỏa đáng, chưa đúng căn cứ ly hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và giađình Việt Nam Có nhiều nguyên nhân của vấn đề này đó là: chuyên môn nghiệp
vụ chưa đồng đều, một số ít công chức chưa đạt chuẩn về trình độ, chủ yếu mới quatập huấn đào tạo, chế độ chính sách còn thấp Việc thực thi công vụ do đó vừa thiếutính chuyên nghiệp, vừa không đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân
Khi đời sống hôn nhân không thểduy trì được nữa thì ly hôn là một giảipháp cần thiết cho cả đôi bên vợ chồng cũng như cho xã hội Ly hôn cóthểcoi làđiểm cuối của hôn nhân khi quan hệ này thực sư ̣tan ra.̃ Ly hôn giải thoát cho cáccặp vơ ̣chồng và những thành viên trong gia đình khỏi xung đột, mâu thuẫn bếtắc
Trang 3trong cuộc sống.̣Dù quan hệ gia đình có đổ vỡ thì sự bình đẳng về quyền và lợiích giữa vợ và chồng vẫn được đảm bảo.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời đã bảo vệ quyền lợi của mọithành viên trong gia đình, hướng tới xây dựng hạnh phúc, mô hình xã hội chủnghĩa, là căn cứ để Tòa án giải quyết các vụ việc hôn nhân gia đình một cáchthấu tình đạt lý Bằng các quy định vềly hôn, Nhà nước cũng hướng tới bảo vệlợi ích của gia đình, của xã hội khi xác định những điều kiện cho phép chấm dứtquan hệ hôn nhân trước pháp luât, ̣gọi chung là căn cứ ly hôn
Như vậy, đề tài “Thực trạng ly hôn ở nước ta hiện nay - Thực trạng
và giải pháp” vẫn là một nội dung nghiên cứu khá mới mẻ Vì vậy, em đã lựa
chọn đề tài này và lấy thực tiễn để thực hiện bài tiểu luận này
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài: Luật hôn nhân và gia đình năm
2014 và các văn bản pháp luật có liên quan tới vấn đề ly hôn Ly hôn theo phápluật Việt Nam qua các thời kỳ và các quy định hiện hành về ly hôn, thực tế giảiquyết các vụ án về ly hôn để cho thấy sự thừa kế, phát triển cũng như những bấtcập của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời so sánh Luật hôn nhân
và gia đình năm 2014 với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, để từ đó cónhững nhận xét, những kiến nghị phù hợp, nhằm đóng góp ý kiến về những mặt
ưu điểm và hạn chế của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vấn đề về thực trạng ly hôn ở Việt Nam,nghiên cứu cơ sở lý luận của ly hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình ViệtNam năm 2014; làm rõ thực trạng ly hôn khi áp dụng tại Việt Nam; đưa ra quanđiểm, đề xuất giải pháp về căn cứ ly hôn để hoàn thiện hơn pháp luật về hônnhân và gia đình Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ khái niệm về ly hôn cũng như nêu lên thực trạng và đưa ra giải pháp về việc ly hôn ở nước ta hiện
Trang 4nay Nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề về ly hôn, đồng thời phân tíchđánh giá, nhìn nhận thực trạng và xu hướng phát triển các quy định của LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm gópphần hoàn thiện chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn đề Thực trạng ly hôn
ở Việt Nam hiện nay và khắc phục hậu quả sau ly hôn
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, tiểu luận cần phải giải quyết đượcnhững nhiệm vụ cụ thể sau:
- Đánh giá thực trạng ly hôn ở nước ta hiện nay, các quy định pháp luật liên quan đến tình trạng ly hôn cũng như việc áp dụng
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thực trạng ly hôn ở nước ta: Nhữngyếu tố tác động đến tình trạng hôn nhân, lý do dẫn đến ly hôn; Hệ quả của việc lyhôn và hướng xử lý
4 Cơ sở lý luận
Tiểu luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộngsản Việt Nam về tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân,
do dân, vì dân đặc biệt là các quan điểm của Đảng chỉ đạo về cải cách tư pháp
B NỘI DUNG
1 KHÁI NIỆM VỀ LY HÔN
“Ly hôn” là hiện tượng xã hội, nó xuất hiện cùng với hiện tượng “kết hôn”khi con người bắt đầu cuộc sống hôn nhân một vợ một chồng Khái niệm “ly hôn”
là một thuật ngữ pháp luật hôn nhân và gia đình mà dân gian thường gọi là “ly dị”.Khái niệm này lần đầu tiên được đề cập ở Việt Nam từ Luật Hôn nhân và gia đình
1959 ở miền Bắc Sau ngày đất nước thống nhất, Quốc Hội ban hành Luật Hônnhân và gia đình 1986, khái niệm này được dùng chung cho cả nước
Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệulực pháp luật của tòa án Chỉ có tòa án là cơ quan duy nhất có quyền thụ lý ly hôn
và ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng thể hiện dưới hình
Trang 5thức bản án hoặc quyết định Theo quy định của pháp luật Việt Nam, ly hôn làchấm dứt quan hệ hôn nhân do tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầucủa vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng khi tình trạng gia đình trầm trọng, đờisống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được Tòa án
có thể căn cứ vào tình trạng của hôn nhân, mục đích của nó đã đến mức trầmtrọng hay chưa để có thể ra phán quyết chấp nhận cho ly hôn hay là không, trừtrường hợp thuận
Pháp luật luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi con người Phápluật sẽ giải phóng hai vợ chồng khỏi cuộc sống chung, để mỗi bên xây dựngcuộc sống mới qua hình thức ly hôn
Ly hôn theo khoản 8 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy địnhthì: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyếtđịnh theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”
Như vậy, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật, domột trong hai bên yêu cầu, hoặc cả hai và được quyết định bởi một bản án hoặcquyết định công nhận của Toà án Ly hôn có hai trường hợp cụ thể:
+ Một là: Thuận tình ly hôn tại Điều 90 của Luật Hôn nhận và gia đình năm
2000 quy định: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tạiToà án không thành nếu xét thấy hai bên thực sự tự nguyện ly hôn và đã thoả
thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dụccon thì Toà công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con cáitrên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con Nếu không thoảthuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đángcủa vợ và con thì Toà án quyết định
+ Hai là: Ly hôn theo yêu cầu của mỗi bên được quy định tại Điều 91 LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000: “ Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn màhoà giả tại Toà án không thành thì Tòa án xem xét việc giải quyết việc ly hôn”
Trang 6Ly hôn là chấm dứt hôn nhân, là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng
và việc chấm dứt hôn nhân giữa hai vợ chồng phải được Toà án có thẩm quyềnquyết định hoặc công nhận thì mới có giá trị pháp lý
Như vậy, trong quá trình xây dựng gia đình xuất hiện mâu thuẫn tư nhiều
lý do khác nhau, làm cho mục đích hôn nhân không đạt được thì ly hôn là mộtgiải pháp tích cực nhằm giải pháp tích cực để giải phóng vợ và chồng để mỗibên tự đi tìm và xây dựng cho mình hạnh phúc mới Thông qua đó, đảm bảođược quyền tự do, bình đẳng và đảm bảo quyền và lợi ích của vợ chồng theoquy định của pháp luật hiện hành
2 THỰC TRẠNG
Ly hôn do chung sống không hợp đã trở thành chuyện “cơm bữa” trong
xã hội hiện đại, đặc biệt là khi đi tới đâu, người ta cũng có thể dễ dàng bắt gặpnhững câu chuyện buồn của cuộc sống vợ chồng Ở Việt Nam tỷ lệ ly hônkhông những tang cao, mà quãng thời gian từ khi kết hôn đến khi ly hôn càng bịrút ngắn lại Tỷ lệ ly hôn cao sẽ dẫn đến rất nhiều hệ lụy, tuy nhiên hệ lụy lớnnhất và trực tiếp nhất là ảnh hưởng đến những thế hệ mầm non tương lai
Theo thống kê cho thấy, ở Việt Nam hiện có khoảng 60.000vụ/năm,tương đương 0,75 vụ/1.000 dân Tỷ lệ ly hôn so với kết hôn 25%, có nghĩa trong
4 đôi đi đăng ký kết hôn thì 1 đôi ra tòa Cuộc sống với nhiều mâu thuẫn khiếnkhông chỉ các cặp đôi trẻ mà nhiều cặp đôi đã chung sống nhiều năm cũng điđến quyết định này Bất cứ ai khi bước chân vào ngưỡng cửa hôn nhân đềumong muốn có một cuộc sống viên mãn, hạnh phúc Nhưng khi cả hai khôngcòn nhìn chung về một hướng, những rạn nứt bắt đầu xuất hiện Ly hôn là giảipháp cuối cùng được đặt ra để kết thúc sự đổ vỡ của tình yêu hoặc chấm dứtquan hệ gia đình khi không còn cảm thấy hạnh phúc
Trong khảo sát hộ gia đình của năm 2019 của Tổng cục Thống kê cho thấy:
tỷ lệ ly hôn của các gia đình Việt Nam tăng lên so với cùng kỳ năm 2009 (tỷ lệ nàytăng lên từ 1,4% lên 2,1%) Theo thống kê cả nước trung bình hàng năm Việt
Trang 7Nam có 600.000 vụ ly hôn, có tới 70% vụ ly hôn do người phụ nữ đệ đơn Tại
Hà Nội trong năm 2018, đã có hơn 16.000 vụ án ly hôn Đến năm 2019, sốlượng không những không giảm mà còn tăng thêm 1000 vụ ly hôn Tại TP.HCMhiện nay cứ bình quân 2,7 cặp kết hôn lại có 1 cặp ly hôn Rõ ràng, tình trạng lyhôn trong giới trẻ ngày càng phổ biến, nhất là tại các khu đô thị, thành phố lớn
Độ tuổi ly hôn dưới 35 tuổi chiếm tỉ lệ 30% và năm sau có xu hướng tăng hơnnăm trước, tình trạng ly hôn trong giới trẻ hiện nay hết sức lo ngại Các vụ án lyhôn chiếm tới 50% các vụ án dân sự Có những cặp vợ chồng kết hôn chỉ sau haitháng đã ly hôn Dễ dàng đến với nhau rồi cũng dễ dàng chia tay nhưng mất mátlớn nhất sau những vụ đỗ vỡ này lại không phải là các cặp vợ chồng Cuộc sốngvới nhiều mâu thuẫn khiến không chỉ các cặp đôi trẻ mà nhiều cặp đôi đã chungsống nhiều năm cũng đi đến quyết định này.Bất cứ ai khi bước chân vào ngưỡngcửa hôn nhân đều mong muốn có cuộc sống viên mãn, hạnh phúc Nhưng khi cảhai không còn nhìn chung về một hướng, những rạn nứt bắt đầu xuất hiện Lyhôn là giải pháp cuối cùng được đặt ra để kết thúc sự đổ vỡ của tình yêu hoặcchấm dứt quan hệ gia đình khi không còn hạnh phúc
Theo thống kê có khoảng 70% đơn ly hôn do phụ nữ đứng tên Sự chịuđựng trong một thời gian dài và quan niệm dễ cưới, dễ bỏ khiến tỷ lệ ly hônngày càng tăng cao Đối với nhiều cặp đôi trẻ, việc “ly hôn xanh” cũng khá phổbiến Thiếu những kỹ năng quan trọng khi bước vào cuộc sống hôn nhân, yêusớm, cưới vội cũng là một nguyên nhân góp phần vào sự gia tăng của tỷ lệ này
3 NGUYÊN NHÂN
3.1 Những nguyên nhân cụ thể dẫn đến ly hôn
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly hôn ngày càng tăng caonhư hiện nay, nhưng chủ yếu tập trung vào một số nguyên nhân chính sau:
Do điều kiện kinh tế xã hội và sự phát triển về tâm sinh lý, giới trẻ thườngyêu nhanh, cưới vội nên họ vẫn chưa tìm hiểu kỹ về nhau cũng như các kỹ năng
Trang 8sống trước khi bước vào đời sống hôn nhân nên khi về chung sống với nhau khônghợp dẫn đến phát sinh mâu thuẫn Một số cặp vợ chồng trẻ ngày nay chưa cảmnhận được hết giá trị của gia đình thậm chí còn thường xuyên sử dụng từ “ly hôn”
để “dọa nhau” mỗi khi xảy ra mâu thuẫn Bên cạnh đó, giới trẻ ngày nay thiên vềlối sống cá nhân nhiều hơn Khi xảy ra mâu thuẫn họ không biết cách xử lý, giảiquyết dẫn đến bạo lực gia đình và hôn nhân đổ vỡ là điều khó tránh khỏi
Do bạo lực gia đình: Bạo lực gia đình để lại nhiều hậu quả nghiêm trọngcho con người, nhất là đối với phụ nữ, nó làm hạn chế sự tham gia của họ vàođời sống cộng đồng, không chỉ gây hậu quả về thể chất, tâm lý cho bản thân phụ
nữ mà còn với cả trẻ em, khi bạo lực xảy ra sẽ gây ra nhiều sứt mẽ trong tìnhcảm, không tìm thấy được sự hoà hợp mà chỉ còn sự ức chế và sợ hãi dần dần
họ không thể chịu đựng nữa và dẫn đến ly hôn
Do điều kiện kinh tế gia đình: Nhiều cặp vợ chồng trẻ, sau khi cưới nhau
cả hai đều không có việc làm ổn định dẫn đến đời sống kinh tế gia đình bấpbênh Không có tiền nuôi con nên mâu thuẫn thường xuyên xảy ra Thêm vào đó
là cái tôi của mỗi người đã khiến cho mâu thuẫn trầm trọng hơn
Do vợ hoặc chồng không chung thủy: Hầu như những gia đình có vợ hoặcchồng ngoại tình đều dẫn đến tan vỡ Điều này dẫn đến xu hướng ngoại tìnhngày càng gia tăng và thực sự trở thành mối lo cho các gia đình
Do những biểu hiện về bình đẳng giới: Hiện nay, tỷ lệ phụ nữ đứng đơn
ly hôn cũng cao gấp nhiều lần so với nam giới Lý do chính là giá trị cá nhânđược đề cao hơn, người phụ nữ chủ động hơn trong hạnh phúc của mình vàcũng chứng tỏ nhận thức của nữ giới về quyền và địa vị của họ đã thay đổi
Ngoài các nguyên nhân trên còn có nguyên nhân từ mâu thuẫn mẹ chồngnàng dâu, sinh con một bề, cách sống, cách quản lý và nuôi dạy con cái cũng nhưcác hành vi ứng xử giao tiếp trong gia đình, nguyên nhân từ sự phát triển về cácdịch vụ hỗ trợ gia đình như giáo dục, y tế, dịch vụ nội trợ, dịch vụ giải trí đã
Trang 9thay thế dần những chức năng trước đây chỉ gia đình mới có thể đảm nhiệmđược, nhiều người chưa nhận thức được vị trí của gia đình cho rằng gia đìnhkhông còn là nơi duy nhất để họ trú ẩn, dần dần vai trò của gia đình được đánhgiá thấp, giá trị gia đình không còn quan trọng.
Với số lượng người mắc các tệ nạn xã hội ngày càng lớn, cũng như tìnhtrạng thôi học sớm và thiếu công ăn việc làm đã ảnh hưởng rất lớn đến các giađình thị xã gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện chính sách pháp luật Nhữnghoàn cảnh trên đã tác động đến việc kết hôn của các cặp vợ chồng khi ở độ tuổicòn rất trẻ Nhận thức của họ về xã hội còn rất thiếu kinh nghiệm dẫn đến tìnhtrạng sự tan vỡ của gia đình.
3.2 Nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp về thực trạng ly hôn
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly hôn thì rất nhiều, muôn hình muôn
vẻ Theo chúng tôi phân tích có thể chia thành hai nguyên nhân : nguyênnhân gián tiếp và nguyên nhân trực tiếp Nguyên nhân gián tiếp là nhữngnguyên nhân có nguồn gốc trước hôn nhân Đó là quan niệm tình yêu, thờigian tìm hiểu, động cơ kết hôn, và sự chuẩn bị những kiến thức cần thiết vềcuộc sống vợ chồng Lẽ dĩ nhiên ở đây cũng phải đề cập đến trường hợp bỏqua giai đoạn tìm hiểu hoặc tìm hiểu quá sơ sài, hay do một sự dàn xếp nào
đó mà đi tới kết hôn
Nguyên nhân trực tiếp là nguyên nhân được hình thành sau thời giankết hôn cho đến lúc “chia tay”
Trong khi nghiên cứu, chúng ta cần đặt vấn đề xem xét mối quan hệqua lại giữa hai loại nguyên nhân này, bởi vì quá trình phát sinh mâu thuẫn
để đi đến ly hôn có những trường hợp không hẳn chỉ bắt nguồn ở giai đoạntrước kết hôn, hoặc giai đoạn sau khi kết hôn
3.2.1 Nguyên nhân gián tiếp
3.2.1.1 Tình yêu cảm tính
Trang 10Có nhiều đôi bạn trẻ yêu nhau say đắm tưởng chừng không thể sốngthiếu nhau được, nhưng khi đã thành vợ chồng, họ lại mong muốn đượcthoát khỏi nhau Bởi vì lúc đó, vẻ đẹp bề ngoài không còn đủ sức hấp dẫnnữa và không thể thay thế cho sự gắn bó tình cảm sâu sắc: họ bắt đầu chánnhau, nhận ra sự nhầm lẫn của mình.
Trong thực tế, tình trạng yêu đương theo cảm tính thường phụ thuộcvào lứa tuổi Kết quả điều tra của Hội đồng nữ thanh niên cho thấy: các emgái ở lứa tuổi 14-17 nhận thức về tình yêu còn hời hợt, nông cạn, thường chỉthiên về hình thức bề ngoài, và yêu theo cảm tính: cao, to, đẹp trai, vui tính.Các em chưa thể nhận thức được cái chất bên trong của người mình yêu.Trái lại, các bạn gái ở lứa tuổi từ 18-22 đã tỏ ra chín chắn hơn, đã có ý thức
đi vào bản chất của tình yêu, gắn liền tình yêu đôi lứa với cuộc sống giađình Điều đó chứng tỏ rằng Luật hôn nhân và gia đình quy định tuổi kết hôncủa nữ 18 và nam 20 là phù hợp với sự phát triển về tâm lý cũng như vềtrình độ nhận thức của nam nữ thanh niên đối với một sự kiện hệ trọng trongđời họ Nhưng, cho đến nay, đáng tiếc là vẫn còn có những trường hợp viphạm Luật hôn nhân và gia đình
Trang 11nhau đã đề ra những điều kiện ràng buộc trái với đạo lý và pháp luật Ví dụ: phải
có nhà, có kinh tế khá giả, có địa vị, bằng cấp… Chủ nghĩa thực dụng đã biến tìnhyêu đôi lứa thành tình yêu “tiền bạc” Có nhiều thanh niên chọn người yêu làmnghề gì đó có thể “hái ra tiền” kể cả những nghề làm ăn phi pháp Thế rồi khi đổ
vỡ xảy ra, họ lại kịch liệt lên án nhau với pháp luật thông qua lá đơn ly hôn
3.2.1.3 Xu hướng tình dục hóa tình yêu
Vấn đề này đang xảy ra ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nướcphương Tây Hậu quả của nó cũng không kém phần nghiêm trọng Kết quả củanhững mối tình này thường tạo nên những tấn bi kịch mà chủ yếu là người congái phải hứng chịu Những đứa con ngoài giá thú ra đời Hiện tượng phá thaiảnh hưởng đến sức khoẻ, tương lai và nhiều khi còn đe doạ cả tính mạng
3.2.1.4 Thời gian tìm hiều
Thời gian tìm hiểu là thước đo của tình yêu đôi lứa Chính trong khoảngthời gian này, đôi bạn trẻ mới hiểu được nhau, mới thấy được những mặt mạnh mặtyếu của đối tượng để đối chiếu với mình rồi đi đến kết luận có thể hợp hay khônghợp, yêu hay không yêu và lấy hay không lấy… Vì vậy khoảng thời gian này đóngvai trò quan trọng đối với độ bền vững của hôn nhân Thế nhưng không ít nhữngngười đã từ chối khoảng thời gian này Họ bỏ qua giai đoạn tìm hiểu, tiến thẳng tớihôn nhân Và rồi trong cuộc sống chung đụng ở gia đình, giữa họ bắt đầu hìnhthành các mâu thuẫn Đây là yếu tố cơ bản để đi đến hình thành nguyên nhân “tínhtình không hợp nhau” chiếm 70% số vụ ly hôn ở Hà Nội
Xu hướng này đang có chiều hướng phát triển mạnh trong những năm gầnđây, nhất là ở nông thôn Có tới 35,2% (trong số 551 cặp vợ chồng) thời gian tìmhiểu từ 1 tháng đến 3 tháng Đáng chú ý là tỷ lệ tìm hiểu dưới 1 tháng tới 19,2%
ở nông thôn và ở Hà Nội 13,6% Có nhiều duyên cớ để dẫn đến hình thành yếu
tố này Đó là: ở nông thôn do nhu cầu về sức lao động, đa số những gia đình cócon trai đi bộ đội, trước khi ra đi, bố mẹ cố dàn xếp cho xong việc, để ở nhà bố