1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016

124 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã Chí Linh, Hải Dương, năm 2016
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (16)
    • 1.1. Một số khái niệm (16)
    • 1.2. Gánh nặng bệnh tật và các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm (17)
    • 1.3. Mô hình cung ứng dịch vụ phòng chống BKLN theo khuyến cáo của WHO (19)
    • 1.4. Một số chính sách về phòng, chống bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam (22)
    • 1.5. Khung lý thuyết (27)
  • CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (31)
    • 2.1. Phạm vi nghiên cứu (31)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (31)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (32)
    • 2.4. Nghiên cứu định lượng (32)
    • 2.5. Nghiên cứu định tính (34)
    • 2.6. Đạo đức trong nghiên cứu (37)
  • CHƯƠNG III: KẾT QUẢ (38)
    • 3.1. Thực trạng cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN tại Y tế cơ sở (38)
    • 3.2. Sự sẵn có của dịch vụ chẩn đoán, trang thiết bị, vật tư y tế và thuốc thiết yếu cho kiểm soát BKLN (44)
    • 3.3. Sự sẵn có của thông tin, báo cáo, giám sát BKLN (50)
    • 3.4. Nhân lực thực hiện hoạt động phòng, chống BKLN tại Y tế cơ sở (52)
    • 3.5. Nguồn tài chính cho hoạt động phòng, chống BKLN tại y tế cơ sở (55)
    • 3.6. Phương tiện cấp cứu và hoạt động chuyển tuyến (55)
    • 3.7. Quản lý, chính sách về BKLN (56)
    • 3.8. Phối hợp liên ngành trong phòng, chống BKLN (57)
  • CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN (58)
    • 4.1. Cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN (58)
    • 4.2. Sự sẵn có của trang thiết bị và thuốc cho BKLN (58)
    • 4.3. Hệ thống thông tin, báo cáo, giám sát BKLN (59)
    • 4.4. Nhân lực (60)
    • 4.5. Tài chính (60)
    • 4.6. Chính sách và quản lý hoạt động phòng, chống BKLN (61)
    • 4.7. Phối hợp các bên liên quan (61)
    • 4.8. Hạn chế của nghiên cứu (61)
  • KẾT LUẬN (63)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (66)

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá năng lực dự phòng, khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và quản lý các bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở, bao gồm Bệnh viện huyện, Trung tâm Y tế và Trạm Y tế, tại Thị xã Chí Linh, Hải Dương trong năm nay.

2016 và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng trên

Nghiên cứu tập trung vào 4 bệnh mạn tính không lây nhiễm thường gặp bao gồm:

 Bệnh tăng huyết áp (THA)

 Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ)

 Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD)

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2016 tại thị xã Chí Linh, Hải Dương, nơi trường đại học Y tế Công cộng phát triển hệ thống giám sát dân số-dịch tễ học CHILILAB Từ năm 2004 đến 2012, CHILILAB đã ghi nhận biến động nhân khẩu học của gần 18.000 hộ gia đình với khoảng 60.000 người dân tại 3 thị trấn và 4 xã Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành tại CHILILAB, tập trung vào đặc điểm hộ gia đình, sức khoẻ và hành vi sức khoẻ của người dân.

Tại thị xã hiện có 1 bệnh viện đa khoa hạng 3, 1 TTYT đang quản lý 20 trạm

Các trạm Y tế tại Chí Linh hiện đang triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh không lây nhiễm (BKLN) như quản lý bệnh tăng huyết áp, truyền thông về đái tháo đường và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn có của dịch vụ phòng chống BKLN tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu ở xã/phường trong thị xã.

Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính

 Thu thập số liệu định lượng: phiếu tự điền và quan sát trực tiếp

 Thu thập số liệu định tính: PVS và TLN

Nghiên cứu định lượng

2.4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng: Bệnh viện đa khoa thị xã, TTYT và 20 TYT tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Có 20 TYT và TTYT, và Bệnh viện đa khoa Thị xã Chí Linh được lựa chọn vào nghiên cứu

2.4.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Trong nghiên cứu sử dụng các nhóm biến số, chỉ số chính nhằm mô tả năng lực cung cấp dịch vụ phòng chống BKLN bao gồm:

‐ Số lượng nhân viên y tế tại các CSYT

‐ Số lượng nhân viên y tế thôn đội

‐ Số lượng NVYT được đào tạo về BKLN

2 Hoạt động dự phòng nâng cao sức khỏe và giám sát BKLN

- Các hoạt động dự phòng nâng cao sức khỏe phòng chống BKLN được triển khai

- Các hoạt động phòng chống yếu tố nguy cơ BKLN được triển khai

- Các hoạt động truyền thông, GDSK phòng chống BKLN (hình thức truyền thông,…) được triển khai

- Hoạt động theo dõi, giám sát BKLN (thu thập số liệu định kỳ, hệ thống lữu giữ số liệu, có cán bộ chuyên trách, được đào tạo…)

Sự sẵn có dịch vụ phòng, chống BKLN

- Chăm sóc và điều trị

- Có cán bộ chuyên trách, được đào tạo

3 Các dịch vụ xét nghiệm, TTB, vật tư y tế và thuốc thiết yếu cho kiểm soát BKLN

Các dịch vụ xét nghiệm: Sẵn có các dịch vụ xét nghiệm cần thiết cho hoạt động dự phòng, chẩn đoán và điều trị BKLN (Số chủng loại)

Trang thiết bị y tế: Sẵn có TTB cơ bản, cần thiết cho hoạt động tại CSYT (theo quy định BYT và WHO PEN)

Vật tư y tế: Sự sẵn có các vật tư y tế cần thiết cho hoạt động dự phòng, chẩn đoán và điều trị BKLN (Số chủng loại)

Thuốc thiết yếu: Số lượng thuốc thiết yếu theo 4 bệnh (theo danh mục của BYT và được BHYT thanh toán

4 Tài chính: Nguồn chi trả chi phí thuốc điều trị cho các BKLN (BHYT trả hoàn toàn/ BHYT trả 1 phần/Tự chi trả/ Không có dịch vụ)

 Tại CSYT lưu trữ những thông tin gì về BKLN? (tỷ lệ mắc chết, yếu tố nguy cơ, )

 Những thông tin gì về BKLN? (tỷ lệ mắc chết, yếu tố nguy cơ, ….) được quản lý như thế nào? (ghi chép, máy tính, phần mềm riêng)

 Số lượng sổ theo dõi bệnh nhân, các biểu mẫu (nhận, chuyển, quản lý)

 Sử dụng công nghệ thông tin/ máy tính trong quản lý thông tin: số máy tính được sử dụng?

 Máy tính có kết nối internet không?

6 Hệ thống cấp cứu và chuyển tuyến

- Phương tiện vận chuyển cấp cứu

2.4.4 Bộ công cụ thu thập số liệu định lượng

Bộ công cụ đo lường khả năng cung ứng dịch vụ của Bệnh viện, Trung tâm Y tế và Trạm Y tế được thiết kế dưới dạng tự điền kết hợp với quan sát, dựa trên Bộ công cụ SARA.

Tổ chức Y tế Thế giới đã điều chỉnh cho phù hợp với các quy định, tiêu chí và

21 chính sách của Việt Nam

2.4.5 Quy trình thu thập số liệu

Sơ đồ 1: Quy trình thu thập số liệu định lượng của nghiên cứu

Tập huấn giám sát viên

Các giám sát viên là những cán bộ có kinh nghiệm làm việc tại Viện đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý cũng như Trung tâm Nghiên cứu Sức khỏe cộng đồng thuộc Trường Đại học Y tế công cộng Trước khi tham gia giám sát thu thập số liệu nghiên cứu, nhóm giám sát viên đã được đào tạo bài bản.

Tập huấn bộ công cụ tự điền cho đại diện các cơ sở CSSK ban đầu tại thị xã

& phát các mẫu phiếu về cho các CSYT tự điền

Nhóm nghiên cứu đã tổ chức tập huấn Bộ công cụ đo lường khả năng cung ứng dịch vụ y tế cho 20 cán bộ Trạm Y tế, 1 cán bộ Bệnh viện huyện và 1 Trung tâm Y tế thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương Sau buổi tập huấn, nhóm đã phát các mẫu phiếu để các đơn vị tự điền thông tin.

Thu thập phiếu tự điền và quan sát tại 20 TYT

Việc thu thập dữ liệu được thực hiện thông qua phiếu tự điền và quan sát trực tiếp tại TTYT thị xã cùng với 20 TYT xã, nhằm đảm bảo chất lượng số liệu thu thập.

2.4.6 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu

Số liệu định lượng sẽ được kiểm tra và làm sạch trước khi nhập vào phần mềm Excel, nơi chúng sẽ được quản lý và phân tích.

Nghiên cứu định tính

Đối tượng của nghiên cứu định tính gồm:

Đại diện ban giám đốc và cán bộ phụ trách BKLN tại trung tâm y tế thị xã và bệnh viện huyện đã có những buổi làm việc quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đảm bảo an toàn sức khỏe cho cộng đồng.

+ Trạm trưởng và cán bộ phụ trách BKLN tại 12 trạm Y tế

Nhóm nghiên cứu sẽ tổ chức thảo luận với 5-10 người dân tại 3 xã và bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện huyện Tiêu chí lựa chọn người tham gia là những người hiện đang mắc một trong các bệnh lý không lây nhiễm (BKLN) như tăng huyết áp (THA), đái tháo đường (ĐTĐ), bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), hen suyễn và ung thư cổ tử cung.

Thảo luận nhóm với các bên liên quan như UBND xã, đoàn thanh niên, hội phụ nữ và hội người cao tuổi nhằm phối hợp phòng, chống BKLN tại ba xã đại diện cho các vùng của thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

2.5.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích, bao gồm: đại diện lãnh đạo và cán bộ phụ trách chương trình BKLN tại TTYT và 12 TYT xã đại diện 3 vùng 1, 2 và 3 theo quy định của BYT và theo danh sách phân vùng TYT xã của huyện Chí Linh như trình bày trong bảng 2.1

Bảng 2.1: Danh sách các TYT xã, phường phân theo tiêu chí phân vùng theo quyết định 466/QD-BYT ngày 07/11/2004

Vùng 1 Thái Học, Phả Lại, Văn An, Sao đỏ, Bến Tắm

Vùng 2 Tân dân, Văn Đức, An Lạc, Cổ Thành

Vùng 3 Hoàng Tiến, Kênh Giang, Hoàng Hoa Thám,

2.5.2 Các chủ đề của nghiên cứu định tính

Các chủ đề nghiên cứu định tính bao gồm:

- Hoạt động cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN

- Chính sách, công tác điều hành, quản lý

- Trang thiết bị và thuốc

- Hệ thống thông tin, báo cáo

- Chuyển tuyến và phương tiện cấp cứu

- Phối hợp với các bên liên quan

2.5.3 Bộ công cụ thu thập số liệu

 Bộ hướng dẫn phỏng vấn sâu dành cho đại diện lãnh đạo TTYT, bệnh viện

 Bộ hướng dẫn phỏng vấn sâu Trạm trưởng TYT

 Bộ hướng dẫn phỏng vấn sâu Bệnh nhân đang điều trị tại BV huyện

 Bộ hướng dẫn thảo luận nhóm với người dân

 Bộ hướng dẫn thảo luận nhóm với các ban ngành, đoàn thể

2.5.4 Quy trình thu thập số liệu

Sơ đồ 2: Quy trình thu thập số liệu định tính của nghiên cứu

Liên hệ với địa phương, lên danh sách các đối tượng tham gia nghiên cứu, hẹn lịch phỏng vấn sâu & thảo luận nhóm

Trước khi thực hiện phỏng vấn sâu, nhóm nghiên cứu sẽ gửi Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu đến các đối tượng Sau khi nhận được sự chấp thuận, nhóm sẽ sắp xếp lịch hẹn phù hợp với từng đối tượng tham gia.

Thời gian và địa điểm phỏng vấn sâu sẽ do các đối tượng nghiên cứu lựa chọn để đảm bảo sự thoải mái nhất khi phỏng vấn sâu

Thảo luận nhóm người dân và các bên liên quan sẽ được tiến hành tại 6 TYT đã lựa chọn tại thị xã Chí Linh, Hải Dương

Họp nhóm nghiên cứu, trao đổi nội dung phỏng vấn sâu, sau đó tiến hành thu thập số liệu

Các nghiên cứu viên có kinh nghiệm từ Trường Đại học Y tế công cộng sẽ tiến hành phỏng vấn sâu với đại diện lãnh đạo TYT, TTYT thị xã và các trạm trưởng TYT xã.

Trước khi bắt đầu thu thập số liệu, nhóm nghiên cứu sẽ tổ chức họp để thảo luận về nội dung phỏng vấn sâu và các hoạt động thảo luận nhóm Sau khi hoàn tất, các nghiên cứu viên sẽ được phân công đến địa phương để tiến hành thu thập dữ liệu.

2.5.5 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu

Sau khi thu thập, số liệu định tính sẽ được gỡ băng thu âm, tổng hợp và mã hóa Tiếp theo, chúng sẽ được phân tích bằng phương pháp phân tích nội dung dựa trên 6 cấu phần của hệ thống y tế, kết hợp với các kết quả từ cấu phần định lượng.

Đạo đức trong nghiên cứu

Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng xem xét, phê chuẩn trước khi thực hiện

Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu được cung cấp thông tin tóm tắt về mục tiêu, đối tượng tham gia, sự bảo mật, cách thức sử dụng thông tin và quyền lợi khi đồng ý tham gia.

Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi các đối tượng tham gia đồng ý tham gia Tất cả thông tin thu thập sẽ được mã hóa để đảm bảo tính bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không vì lý do nào khác.

KẾT QUẢ

Thực trạng cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN tại Y tế cơ sở

Bảng 3.1: Cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN tại BV và TYT

TT Các BKLN TTGDSK/tư vấn

Khám sàng lọc Chẩn đoán và Điều trị

BV TYT BV TYT BV TYT BV TYT

Vào năm 2015, xã An Lạc và bảy xã thuộc CHILILAB đã triển khai dịch vụ phòng, chống BKLN Bệnh viện huyện đã thực hiện tư vấn trực tiếp cho bệnh nhân khi họ đến khám, đồng thời sử dụng tờ rơi để truyền thông và tiến hành khám sàng lọc cho tất cả mọi người.

Bài viết đề cập đến 4 loại bệnh và quy trình chẩn đoán, điều trị cho 3 bệnh chính là tăng huyết áp (THA), đái tháo đường (ĐTĐ) và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)/hen đơn thuần Đối với ung thư, việc phát hiện chỉ có thể thực hiện qua nội soi và chụp X-quang, và nếu có nghi ngờ, bệnh nhân sẽ được chuyển lên tuyến trên Về quản lý, bệnh viện huyện hiện có hồ sơ bệnh án cho các bệnh nhân khám và điều trị bệnh lý không lây nhiễm (BKLN), nhưng chỉ mới quản lý bệnh nhân ĐTĐ tại phòng khám ngoại trú của bệnh viện.

Hiện tại, TYT chủ yếu cung cấp dịch vụ truyền thông, tư vấn, khám sàng lọc, chẩn đoán điều trị và quản lý bệnh tăng huyết áp và hen phế quản Đối với bệnh ĐTĐ, COPD và ung thư, TYT chỉ mới thực hiện truyền thông mà chưa tiến hành khám sàng lọc, chẩn đoán và điều trị do chưa được phân cấp trách nhiệm và chưa đủ điều kiện thực hiện.

Một số xã thực hiện khám sàng lọc tại trạm y tế thông qua việc phối hợp với các đơn vị khác hoặc nhờ vào nguồn kinh phí tài trợ Chẳng hạn, xã Hoàng Tiến đã nhận được nhiều hỗ trợ tài chính do vị trí gần trung tâm và sự năng động của trạm trưởng, từ đó triển khai sàng lọc các bệnh lý như tăng huyết áp, đái tháo đường và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cho người dân trong xã Tương tự, xã Cổ Thành cũng thực hiện các hoạt động khám sàng lọc thông qua sự hợp tác với các tổ chức khác.

Vào năm 2015, Trạm Y tế (TYT) đã phối hợp với Bệnh viện Quân y 103 để tổ chức đợt khám sàng lọc cho người dân Nhờ vào mối quan hệ tốt giữa TYT và bệnh viện, đợt khám này đã được thực hiện thành công Người dân đã đến tham gia khám và tự chi trả phí dịch vụ, cho thấy họ rất sẵn lòng chi trả cho các dịch vụ y tế này.

Về quản lý bệnh nhân tại trạm y tế (TYT), hiện tại chỉ có danh sách bệnh nhân đến khám mà không có hồ sơ để thực hiện khám và tư vấn định kỳ Một nhân viên cho biết: "TYT không có hồ sơ, chỉ dừng lại ở việc có danh sách bệnh nhân và sổ khám bệnh để theo dõi Mỗi tháng, bệnh nhân đến lĩnh thuốc tại trạm một lần và mang theo sổ khám bệnh Đáng lẽ TYT cần có sổ quản lý riêng, nhưng hiện tại chưa thấy triển khai."

3.1.1 Hoạt động TTGDSK về BKLN và các yếu tố nguy cơ

Tất cả 20 Trạm Y tế (TYT) đã thực hiện hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) về bệnh tăng huyết áp (THA) và đái tháo đường (ĐTĐ) Tuy nhiên, 4 xã Tân Dân, Bắc An, Chí Minh và Hoàng Hoa Thám vẫn chưa thực hiện TTGDSK về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và ung thư Một nhân viên y tế cho biết: “Về COPD, chúng tôi chỉ mới viết bài truyền thông và đăng bài qua loa, chủ yếu là truyền thông trực tiếp Nội dung truyền thông qua loa chủ yếu về nhiễm khuẩn đường hô hấp nói chung, còn về COPD thì chưa bao giờ có Thực tế, mảng này vẫn còn yếu.”

Bảng 3.2: Hình thức truyền thông các yếu tố nguy cơ tại 20 TYT

Hút thuốc lá/thuốc lào n (%)

Dinh dưỡng không hợp lý n (%)

1 Truyền thông trên hệ thống loa đài địa phương 19 (95%) 19 (95%) 19 (95%) 16 (80%)

2 Tư vấn trực tiếp khi đi khám tại TYT 18 (90%) 18 (90%) 19 (95%) 14 (70,0)

3 Câu lạc bộ sức khỏe 0 0 1 (5,0) 1 (5%)

4 Thực hiện sinh hoạt theo nhóm nhỏ/ họp 3 (15%) 4 (20%) 6 (30%) 4 (20%)

6 Tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao 6 (30%) 6 (30%) 6 (30%) 5 (25%)

Hình thức truyền thông chính của các TYT là sử dụng hệ thống loa đài để truyền tải thông tin về BKLN và các vấn đề như phòng chống hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia và dinh dưỡng không hợp lý Tuy nhiên, hiệu quả của phương thức này còn hạn chế, như một TYT đã nhận xét: “Truyền thông trên loa truyền thanh không thể phổ biến đến toàn bộ phường, vì không phải ai cũng nghe Thời gian phát thường là 6h sáng và 6h tối, mỗi quý chỉ phát 1-2 lần, với mỗi bài phát sóng kéo dài 2-3 ngày Nội dung chủ yếu xoay quanh phòng bệnh, chẩn đoán bệnh THA, chế độ ăn cho người THA và các yếu tố nguy cơ như thuốc lá và rượu bia, nhưng hiệu quả vẫn chưa cao.”

Trong quá trình khám sàng lọc hoặc khi người bệnh đến khám tại bệnh viện huyện hoặc trạm y tế, việc tư vấn trực tiếp cho bệnh nhân là rất quan trọng Đối với bệnh tăng huyết áp (THA), bệnh nhân sẽ được cung cấp thông tin về bệnh, cách phòng ngừa biến chứng, hướng dẫn sử dụng thuốc, cũng như tư vấn về chế độ dinh dưỡng và tập luyện thể dục.

Hình thức sinh hoạt nhóm nhỏ trong cộng đồng và tổ chức sự kiện văn hóa, thể thao hiện đang bị hạn chế, với chỉ 20-30% các trạm y tế xã triển khai Đặc biệt, hoạt động truyền thông qua câu lạc bộ sức khỏe chỉ được thực hiện tại xã Đồng Lạc.

Phương tiện truyền thông chủ yếu tại các TYT xã bao gồm tờ rơi, sách mỏng, pano và áp phích, chiếm khoảng 60-80% tổng số tài liệu Tuy nhiên, số lượng tờ rơi và tài liệu hiện có rất hạn chế.

Hiện tại, trạm y tế có một số tài liệu truyền thông từ trung tâm y tế, nhưng tờ rơi về tăng huyết áp đã hết Trước đây, chương trình tăng huyết áp được cung cấp định kỳ, nhưng hiện nay chỉ còn tranh lớn để treo Số lượng tài liệu hiện có tạm đủ cho công tác truyền thông của trạm y tế.

Do thiếu kinh phí riêng cho công tác truyền thông về phòng, chống BKLN, hoạt động tuyên truyền chủ yếu được lồng ghép vào các sự kiện khác, chẳng hạn như trong các buổi họp của Hội người cao tuổi và Hội phụ nữ.

Khi phỏng vấn người bệnh ĐTĐ về hoạt động truyền thông, tư vấn được biết:

Bệnh nhân ĐTĐ cho biết rằng họ nhận được tư vấn từ bác sĩ tại bệnh viện, nhưng thời gian khám ngắn khiến thông tin không đầy đủ Họ cũng không chú ý nhiều đến thông tin tuyên truyền tại trạm y tế xã do phát vào khung giờ không hợp lý, nhà xa loa không nghe rõ, và nội dung không hấp dẫn Một trạm trưởng TYT nhận định rằng hoạt động truyền thông hiện tại chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế, chủ yếu do vấn đề kinh phí Nếu có đủ kinh phí, họ có thể tổ chức các buổi truyền thông trực tiếp cho cộng đồng, giúp giải đáp thắc mắc của người dân một cách hiệu quả hơn.

Người dân mong muốn được phát hiện sớm và điều trị duy trì bệnh lý ung thư tại trạm y tế (TYT) Họ cho biết lý do phải vượt tuyến là do TYT không cung cấp dịch vụ chẩn đoán và điều trị ung thư, dẫn đến việc phải lên tuyến trên Nhiều người không muốn đi vì chi phí tốn kém, trung bình khoảng 3 triệu đồng cho mỗi lần khám, và không được hưởng bảo hiểm y tế Họ cũng gặp khó khăn về chi phí đi lại, ăn ở, và thời gian chờ đợi có thể kéo dài đến 3 ngày.

3.1.2 Hoạt động khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh Tăng huyết áp

Bảng 3.3: Hoạt động khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh THA tại 20 TYT

1 Sàng lọc, phát hiện sớm 12 60

4 Tư vấn cho bệnh nhân đến khám 20 100

5 Quản lý bệnh nhân (Có sổ quản lý bệnh nhân tại TYT) 20 100

Sự sẵn có của dịch vụ chẩn đoán, trang thiết bị, vật tư y tế và thuốc thiết yếu cho kiểm soát BKLN

3.2.1 Dịch vụ chẩn đoán BKLN

Bảng 3.5: Sự sẵn có của dịch vụ chẩn đoán BKLN tại Y tế cơ sở

STT Tên dịch vụ BV huyện TYT

1 Chẩn đoán tim mạch/tăng huyết áp Đo điện tâm đồ X O Đo huyết áp X X Đo tổng hàm lượng cholesterol X O Đo hàm lượng cholesterol LDL X O Đo hàm lượng Triglycerides X O

2 Chẩn đoán Đái tháo đường Đo đường huyết/ xét nghiệm nhanh đường huyết X 7/20

Uống thử nghiệm dung nạp đường O O

Kiểm tra mạch máu chân bằng Doppler O O

3 Chẩn đoán hen phế quản/COPD Đo lưu lượng đỉnh phế dung O O

4 Chẩn đoán/sàng lọc ung thư

Tế bào cổ tử cung X X

Xét nghiệm acetic (Ung thư cổ tử cung) X X

Khám sàng lọc ung thư vú X O

Các dịch vụ chẩn đoán bệnh lý không lây nhiễm (BKLN) chủ yếu được thực hiện tại bệnh viện tuyến huyện Tại trạm y tế (TYT), chỉ có thể thực hiện đo huyết áp, trong khi 7 TYT đã thực hiện xét nghiệm nhanh đường máu vào năm 2016, bao gồm TYT xã Hoàng Tiến, Kênh Giang, An Lạc, Lê Lợi, Phả Lại, Văn An và Bến Tắm Những TYT này được lựa chọn và trang bị máy đo đường huyết nhằm triển khai điều tra nhân trắc học và xét nghiệm đường huyết trong khuôn khổ nghiên cứu về sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân.

Chí Linh, Hải Dương năm 2016” thuộc hệ thống giám sát thực địa về dịch tễ và dân số học (Chililab) của trường Đại học Y tế công cộng

Tại TYT xã, các dịch vụ như xét nghiệm huyết học, xét nghiệm sinh hóa máu, xét nghiệm vi sinh, xét nghiệm sinh hóa nước tiểu, X-quang, điện tim và siêu âm hiện chưa được triển khai.

Hiện tại, TYT cung cấp máy đo huyết áp, nhưng các bệnh nhân tăng huyết áp cũng rất cần điện tim Ngoài ra, trạm mong muốn có thêm máy thử nước tiểu, vì thiết bị này cũng rất quan trọng.

3.2.2 Trang thiết bị y tế và vật tư Y tế

Bệnh viện huyện cũng thiếu trang thiết bị phục vụ cho chẩn đoán và điều trị BKLN ví dụ thiếu máy thở và máy đo dung tích khí thở

Bảng 3.6: Sự sẵn có của trang thiết bị y tế kiểm soát BKLN tại 20 TYT xã so với tiêu chí của TCYTTG và BYT

TT Trang thiết bị Tiêu chuẩn

7 Máy đo điện tâm đồ (ECG) x -

10 Máy đo lưu lượng đỉnh x -

12 Dụng cụ khám cổ tử cung x 20

13 Dụng cụ phết tế bào cổ tử cung/ Làm phiến đồ âm đạo

15 Máy xét nghiệm huyết học x -

16 Máy xét nghiệm sinh hóa x -

17 Sắc kế hoặc Hemoglobin kế 1

20 Máy xét nghiệm nước tiểu x x -

TTB tại các TYT hiện nay chưa đạt tiêu chuẩn của BYT và TCYTTG Các TYT chỉ được trang bị những thiết bị cơ bản như thước đo chiều cao, thước đo vòng bụng, cân, nhiệt kế, ống nghe, máy đo huyết áp và dụng cụ khám cổ tử cung, phục vụ cho công tác khám chữa bệnh thông thường.

Trường đại học YTCC đã trang bị cho 7 trạm y tế xã máy đo đường huyết và 7 trạm có máy khí dung Ngoài ra, 5 xã được cung cấp dụng cụ phế tế báo cổ tử cung và 8 xã thực hiện xét nghiệm axit acetic Tuy nhiên, các trạm y tế xã không thường xuyên sử dụng các trang thiết bị này Chẳng hạn, tại trạm y tế xã Cổ Thành, máy khí dung không thể sử dụng do bị mất ống khí.

Bảng 3.7: Sự sẵn có của vật tư y tế sử dụng cho kiểm soát BKLN tại 20 TYT xã

3 Lam kính để thực hiện xét nghiệm máu/đờm 4 20

Tại các Trạm Y tế xã, vật tư y tế hiện có còn hạn chế, với chỉ 35% (7/20) trạm có que thử đường huyết, 75% (15/20) trạm có que thử nước tiểu, và 20% (4/20) trạm có lam kính để thực hiện xét nghiệm máu/đờm Các vật tư y tế khác như hóa chất xét nghiệm huyết học, gel siêu âm và điện tim vẫn chưa có mặt tại tất cả các xã.

Sự thiếu hụt vật tư và trang thiết bị y tế cần thiết cho việc kiểm soát bệnh không lây nhiễm (BKLN) đã hạn chế khả năng cung cấp dịch vụ khám sàng lọc, chẩn đoán và kiểm soát BKLN tại các trạm y tế xã Hơn nữa, sự không đồng đều trong việc trang bị vật tư và thiết bị y tế giữa các trạm y tế cũng dẫn đến sự chênh lệch trong khả năng cung cấp dịch vụ y tế liên quan đến kiểm soát BKLN.

Việc trang bị máy siêu âm, xét nghiệm và thiết bị y tế tại trạm y tế, cùng với việc thanh toán bảo hiểm, sẽ mang lại lợi ích lớn cho người dân Chẳng hạn, những bệnh nhân tăng huyết áp cần khám định kỳ để theo dõi tình trạng sức khỏe như mỡ máu và men gan Nếu trạm y tế có đủ trang thiết bị và nhân viên có khả năng thực hiện các xét nghiệm này, người dân sẽ không cần phải di chuyển xa, từ đó tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ y tế.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu trang thiết bị y tế (TTB) là do thiếu kinh phí và chưa được cung cấp TTB theo nhu cầu Tài chính cho công tác phòng chống và quản lý bệnh không lây nhiễm (BKLN) tại trạm y tế (TYT) hoàn toàn không có nguồn hỗ trợ nào Trong suốt một năm, TYT chỉ nhận được 12 triệu đồng cho tất cả các hoạt động, nhưng không có quyền tự chủ trong việc sử dụng nguồn kinh phí này Trung tâm y tế (TTYT) phải đứng ra mua sắm và chuyển giao cho trạm, dẫn đến tình trạng bị động trong việc đáp ứng nhu cầu mua sắm TTB.

35 các dụng cụ nhưng không được quyền quyết định.” (PVS 6, TYT)

3.2.3 Thuốc thiết yếu cho BKLN

Bảng 3.8: Một số thuốc sẵn có cho phòng và điều trị BKLN tại BV huyện

TT Nội dung kỹ thuật BV huyện

12 Liệu pháp thay thế Nicotin O

Tại bệnh viện, các loại thuốc có sẵn đều được cung cấp bởi bảo hiểm y tế (BHYT) Tuy nhiên, bệnh viện thường xuyên gặp phải tình trạng thiếu thuốc do danh mục thuốc của BHYT không đầy đủ, đặc biệt là thiếu thuốc giãn phế quản dạng khí.

Bảng 3.9: Sự sẵn có của thuốc thiết yếu cho kiểm soát BKLN tại 20 TYT xã

TT Thuốc thiết yếu TYT BHYT cung cấp

1 Thuốc điều trị tăng huyết áp

2 Thuốc điều trị đái tháo đường

3 Thuốc điều trị hen phế quản/COPD

Bảng 3.9 cho thấy sự sẵn có của thuốc thiết yếu cho kiểm soát bệnh tăng huyết áp tại các trạm y tế xã, với hai loại thuốc chính là Amplodipin và Nifedipine có mặt tại 18/20 trạm Ngoài ra, một số trạm còn cung cấp Furosemide (8/20), Bisoprolol (3/20) và Enalapril (3/20), trong khi thuốc lợi tiểu Thiazide chỉ có tại 2/20 trạm.

Trong điều trị đái tháo đường, 20 trạm y tế (TYT) xã không có thuốc do quy định phân tuyến kỹ thuật Hiện tại, chỉ có 12/20 TYT (chiếm 60,0%) cung cấp glucose tiêm truyền.

Tại 20/20 TYT xã, các loại thuốc điều trị hen phế quản và COPD như Salbutamol, Paracetamol, và Amoxicillin đều có sẵn Những thuốc này nằm trong danh mục thuốc thiết yếu được BHYT chi trả.

Ngoài ra, một số TYT còn có các thuốc khác như Erythromycin (18/20 TYT sẵn có), NaCl 0,9% (18/20 TYT), Morphine (17/20 TYT), Penicillin (17/20 TYT), Codein (16/20 TYT), thuốc long đờm-Acetyl Cystein (14/20 TYT)

Trong danh mục thuốc, một số loại được bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả, trong khi những loại còn lại do trạm y tế (TYT) cung cấp hoặc bệnh nhân tự mua Tuy nhiên, thuốc BHYT thường xuyên thiếu về cả số lượng lẫn chủng loại Sự thiếu hụt thuốc tại bệnh viện huyện đã dẫn đến tình trạng thiếu thuốc cho TYT, như nhận xét của một trạm trưởng.

Thuốc bảo hiểm y tế (BHYT) đang bị cấp không đầy đủ, chỉ đáp ứng khoảng 1/3 nhu cầu điều trị Việc cắt giảm đơn thuốc là cần thiết để tránh vượt trần quỹ BHYT, dẫn đến quỹ giảm từ 30 triệu xuống 10 triệu Hơn nữa, việc dự trù thuốc gặp khó khăn do chỉ dựa vào số lượng bệnh nhân của tháng trước, trong khi số lượng bệnh nhân có thể thay đổi theo từng thời điểm, dẫn đến tình trạng thuốc có thể hết chỉ sau 15-20 ngày phát.

Sự sẵn có của thông tin, báo cáo, giám sát BKLN

Bảng 3.10: Hoạt động báo cáo, giám sát BKLN tại BV huyện và TTYT

TT Nội dung BV huyện

1 Ghi nhận và báo cáo tử vong liên quan đến

BKLN tại TYT và BV

2 Ghi nhận và báo cáo các ca bệnh liên quan đến

Tăng huyết áp X X Đái tháo đường X O

3 Điều tra các yếu tố nguy cơ của BKLN O O

Hoạt động ghi nhận và báo cáo tử vong liên quan đến BKLN tại Bệnh viện đều được thực hiện tại BV và TTYT huyện

Tại bệnh viện, hồ sơ bệnh án của bệnh nhân mắc bệnh không lây nhiễm (BKLN) như tăng huyết áp, đái tháo đường, hen phế quản/COPD và ung thư được lưu trữ giống như các trường hợp khác, nhưng chưa được tách riêng để báo cáo Mặc dù thông tin về BKLN có thể được trích xuất từ số liệu khám chữa bệnh chung, nhưng việc này gặp khó khăn do thiếu cán bộ chuyên trách và kinh phí Hiện tại, chưa có phần mềm quản lý bệnh không lây nhiễm (NCD) Trung tâm Y tế nhận báo cáo về NCD hàng quý, bao gồm số lượng bệnh nhân và hoạt động tuyên truyền cho hai bệnh tăng huyết áp và COPD.

Riêng hoạt động điều tra các yếu tố nguy cơ của BKLN đều chưa được triển khai tại BV và TTYT huyện

Bảng 3.11: Hoạt động báo cáo, giám sát BKLN tại 20 TYT xã

1 Hoạt động ghi nhận tử vong

Thực hiện hoạt động thu thập số liệu định kỳ 19 95

Có sổ lưu giữ số liệu 20 100

Thực hiện báo cáo số liệu định kỳ 19 95

2 Hoạt động ghi nhận ca bệnh

Thực hiện hoạt động thu thập số liệu định kỳ 20 100

Có sổ lưu giữ số liệu 20 100

Thực hiện báo cáo số liệu định kỳ 20 100

3 Điều tra yếu tố nguy cơ 0 0

4 Đánh giá sự đáp ứng của y tế 0 0

Bảng 3.11 trình bày hoạt động báo cáo và giám sát liên quan đến BKLN tại 20 TYT xã ở Chí Linh, Hải Dương trong năm 2015 Hoạt động này chủ yếu tập trung vào việc ghi nhận số ca tử vong và ca bệnh, ngoại trừ xã Cộng Hòa Hiện nay, các TYT thực hiện báo cáo giấy hàng quý về số lượng bệnh nhân và hoạt động tuyên truyền liên quan đến hai bệnh lý THA và COPD gửi lên TTYT huyện.

“Hiện nay riêng 4 bệnh này thì TYT có sổ quản lý bệnh không lây chung này

Báo cáo lưu chỉ có cho bệnh nhân tăng huyết áp và COPD/hen phế quản, trong khi không có báo cáo lưu cho bệnh đái tháo đường Đối với ung thư, chỉ có báo cáo chung mà không có báo cáo riêng cho từng loại bệnh ung thư.

Chất lượng báo cáo hiện tại chỉ mang tính tương đối do nhiều bệnh nhân chưa được đưa vào danh sách quản lý vì thiếu thông tin Tính chính xác và đầy đủ của báo cáo chưa được đảm bảo, đặc biệt khi người dân thực hiện khám chữa bệnh tại các cơ sở khác mà không thông báo cho Trạm Y tế (TYT) Nguyên nhân chính của sự thiếu cập nhật này là do kết nối thông tin giữa bệnh viện và TYT chưa hiệu quả Để cải thiện tình hình, TYT đã đưa ra một số đề xuất.

Để quản lý hiệu quả, cần có phần mềm hỗ trợ phối hợp giữa các tuyến, giúp trạm y tế (TYT) nắm rõ số lượng đối tượng đang điều trị tại huyện hoặc tỉnh Nếu không có phần mềm, việc thông báo theo tuyến cũng có thể thực hiện qua phòng chỉ đạo tuyến Ví dụ, trong lĩnh vực lao hoặc tâm thần kinh, sự phối hợp giữa các trạm rất hiệu quả Thông tin có thể được gửi qua email hoặc đến trung tâm y tế, từ đó trung tâm có thể tách ra và thông báo cho các trạm.

Hoạt động điều tra yếu tố nguy cơ và đánh giá sự đáp ứng của y tế hiện chưa được thực hiện tại các TYT xã.

Nhân lực thực hiện hoạt động phòng, chống BKLN tại Y tế cơ sở

TTYT thị xã Chí Linh quản lý 20 TYT và hiện có một bác sĩ phụ trách hoạt động phòng chống BKLN tại các TYT.

Bệnh viện huyện chịu trách nhiệm về chuyên môn khám chữa bệnh BKLN tại bệnh viện và 20 trạm y tế trên địa bàn Hiện tại, bệnh viện không có cán bộ chuyên trách về BKLN, chỉ có một phó giám đốc phụ trách chuyên môn chung, bao gồm cả hoạt động KCB BKLN thuộc khối nội Các bệnh nhân BKLN được khám và điều trị tại phòng khám và khoa nội, với tổng số bác sĩ nội là 20 người Tuy nhiên, bệnh viện chưa có bác sĩ chuyên khoa về tim mạch, nội tiết, bệnh phổi hay ung thư Đối với bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và tăng huyết áp (THA), cán bộ được bệnh viện tỉnh tập huấn định kỳ, trong khi bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) chỉ được tập huấn 1-2 lần mỗi năm.

Bảng 3.12: Tình hình nhân lực tại 20 TYT xã

Cử nhân YTCC 3 3 Điều dưỡng đại học/cao đẳng 7 6

KTV, điều dưỡng trung học 15 13

Trong tổng số 113 cán bộ y tế tại 20 trạm y tế (TYT), có 16 bác sĩ, trong khi 4/20 TYT xã chưa có bác sĩ, bao gồm Hoàng Tiến, Chí Minh, Lê Lợi và Hoàng Hoa Thám Đối tượng y sĩ chiếm tỷ lệ lớn với 55 người, tương đương 49% tổng số cán bộ tại các trạm.

Theo nhận định của TTYT và các TYT, nhân lực tham gia phòng chống BKLN hiện đang thiếu về số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng Chẳng hạn, tại TYT Sao Đỏ chỉ có 6 cán bộ, không đủ để thực hiện các hoạt động thường quy như tiêm chủng.

Chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu (KCB BHYT) hiện chưa đảm bảo do đội ngũ cán bộ y tế (CBYT) chưa được đào tạo và cập nhật thường xuyên, dẫn đến sự không đồng đều trong năng lực Mặc dù bác sĩ có thể có trình độ cao, nhưng điều dưỡng và y sĩ lại thiếu kiến thức về điều trị bệnh lý không lây nhiễm (BKLN) Do đó, cần thiết phải tổ chức đào tạo phác đồ điều trị cho toàn bộ CBYT để nâng cao đồng đều kiến thức và khả năng làm việc Hiện tại, việc đào tạo vẫn chưa thường xuyên; ví dụ, vào năm 2015 chỉ có một lớp tập huấn ngắn hạn về BKLN, không đủ quy mô và không có giảng viên chuyên nghiệp, chỉ là buổi chia sẻ kiến thức.

Bảng 3.13: Số cán bộ đã tham gia tập huấn phòng chống BKLN tại 20 TYT Đối tượng Bệnh THA ĐTĐ Hen/ COPD Ung thư

Bác sỹ 10 8 10 7 Điều dưỡng CĐ/ĐH 3 3 2 4

Số lượng cán bộ TYT tham gia tập huấn chủ yếu tập trung vào bệnh tăng huyết áp (THA), tiếp theo là đái tháo đường (ĐTĐ), sau đó là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và ung thư Công tác đào tạo BKLN được tổ chức hàng năm, nhưng gặp khó khăn do việc thuyên chuyển vị trí công việc, khiến người mới không nắm bắt kịp thời Ngoài ra, quy định về chứng chỉ hành nghề cũng tạo ra thách thức cho TYT.

Quy định về chứng chỉ hành nghề hiện nay đang gây bất cập, bởi vì các đơn vị y tế tuyến cơ sở (TYT) là cơ quan công, và cán bộ tuyển dụng vào viên chức đã phải đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định Do đó, việc yêu cầu chứng chỉ hành nghề là không cần thiết, vì những người không đủ điều kiện sẽ không được tuyển dụng Cần xem xét bỏ quy định này để giảm bớt thủ tục phiền hà, vì trước đây, khi chưa có chứng chỉ, họ vẫn có thể hành nghề.

Bảng 3.14: Số lượng cán bộ chuyên trách đã từng được đào tạo

Nội dung Có tài liệu hướng dẫn

Có CB chuyên trách BKLN

CB được đào tạo trong năm 2015

Tăng huyết áp 19 20 16 Đái tháo đường 16 20 14

Sàng lọc ung thư vú/ cổ tử cung

Tất cả 20 Trung tâm Y tế (TYT) đều có cán bộ chuyên trách về bệnh không lây nhiễm, nhưng không phải tất cả các cán bộ này đều được đào tạo trong năm 2015.

Nguồn tài chính cho hoạt động phòng, chống BKLN tại y tế cơ sở

Tại bệnh viện huyện, nguồn kinh phí chủ yếu đến từ bảo hiểm y tế (BHYT) và viện phí cho chẩn đoán và điều trị, trong khi không có ngân sách dành cho các hoạt động truyền thông, khám sàng lọc, giám sát và quản lý.

TTYT huyện và TYT xã đang gặp khó khăn về kinh phí cho các hoạt động truyền thông GDSK, thống kê báo cáo, và khám sàng lọc Năm 2015, chỉ có nguồn kinh phí từ chương trình phòng chống THA của tỉnh cho việc khám sàng lọc thí điểm tại TYT xã An Lạc Do đó, các hoạt động khám sàng lọc THA phải được lồng ghép với các hoạt động khám sức khỏe tại xã/phường, dẫn đến việc sử dụng tiền từ khám BHYT để chi cho các hoạt động của TYT, bao gồm cả chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm và in báo cáo.

TYT thông báo khám cho cả đối tượng trên 45 tuổi, mặc dù nhóm tuổi trên 65 tuổi là chính Người dân dưới 65 tuổi có thể phải trả thêm một khoản chi phí khám chữa bệnh, nhưng họ vẫn sẵn sàng chi trả để được khám.

Phương tiện cấp cứu và hoạt động chuyển tuyến

Trong trường hợp chuyển tuyến, bệnh viện huyện cung cấp xe cấp cứu để đưa bệnh nhân lên tuyến trên Trong khi đó, các trạm y tế xã không có xe cấp cứu riêng, do đó chủ yếu phải sử dụng các phương tiện khác để vận chuyển bệnh nhân.

Sử dụng taxi và phương tiện cá nhân như xe máy, xe đạp để vận chuyển bệnh nhân từ Trạm Y tế (TYT) lên các cơ sở y tế tuyến trên là phổ biến Trong trường hợp khẩn cấp, TYT xã thường thông báo và gọi xe cấp cứu từ Bệnh viện Đa khoa huyện, nhưng dịch vụ xe cấp cứu của bệnh viện thường chậm và phải chờ đợi lâu.

Bệnh nhân tăng huyết áp (THA) và hen phế quản sau khi ổn định sẽ được chuyển tuyến điều trị đến trạm y tế xã để duy trì điều trị Đối với bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ), bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và ung thư, họ sẽ được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện huyện hoặc các cơ sở y tế tuyến cao hơn.

Từ năm 2016, chính sách thông tuyến BHYT tuyến huyện đã giúp người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện huyện mà không cần giấy giới thiệu từ trạm y tế xã Tuy nhiên, điều này cũng gây khó khăn cho trạm y tế xã trong việc theo dõi và quản lý số ca bệnh mới, dẫn đến việc không thể tư vấn và tuyên truyền hiệu quả cho bệnh nhân Sự thiếu phối hợp giữa các cơ sở y tế tuyến trên và tuyến dưới đã ảnh hưởng đến việc chẩn đoán và điều trị bệnh, đặc biệt là đối với các bệnh không lây nhiễm.

Quản lý, chính sách về BKLN

Tại tuyến cơ sở, Trung tâm Y tế (TTYT) quản lý trực tiếp các Trạm Y tế (TYT) và nhận báo cáo định kỳ về bệnh không lây (BKLN) từ các TYT TTYT đóng vai trò quan trọng trong việc tập huấn, giám sát và hỗ trợ các TYT Đồng thời, bệnh viện huyện cũng hợp tác với TTYT trong công tác đào tạo chuyên môn và khám sàng lọc BKLN tại các TYT.

Theo nhận xét của TTYT huyện, việc thực hiện các văn bản gặp khó khăn do thiếu kinh phí và nhân lực Một trạm trưởng cũng cho rằng chương trình phòng, chống BKLN chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến tình trạng không đồng đều giữa các xã Tình trạng này tạo ra sự thiếu hiệu quả do không có ai quản lý và chịu trách nhiệm.

Trong quản lý hoạt động phòng, chống BKLN tại y tế cơ sở, Trung tâm Y tế huyện là đơn vị chủ chốt, có trách nhiệm chỉ đạo và quản lý các hoạt động tại các Trạm Y tế.

Tại các Trạm Y tế (TYT), 44 biện pháp phòng, chống Bệnh lây nhiễm (BKLN) được thực hiện, tuy nhiên không trực tiếp cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN Các TYT định kỳ gửi báo cáo về tình hình BKLN đến Trung tâm Y tế (TTYT).

Hiện nay, cơ quan BHYT đã ký hợp đồng với bệnh viện huyện để cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh BHYT cho người có thẻ BHYT, bao gồm cả bệnh lý không lây nhiễm (BKLN) Bệnh viện huyện có trách nhiệm quản lý chuyên môn và quỹ KCB BHYT cho các trạm y tế (TYT), đồng thời định kỳ cung cấp thuốc cho các TYT theo đề xuất Do đó, bệnh viện huyện và TYT là những đơn vị trực tiếp thực hiện dịch vụ phòng và chống BKLN.

Phối hợp liên ngành trong phòng, chống BKLN

Các bên liên quan bao gồm hội người cao tuổi, hội phụ nữ và đoàn thanh niên, tham gia vào các chương trình phòng, chống bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, an toàn vệ sinh thực phẩm và dinh dưỡng cho người cao tuổi, cũng như phòng chống hút thuốc lá và rượu bia Hoạt động phối hợp chủ yếu tập trung vào truyền thông và tổ chức khám sàng lọc Tại xã Cổ Thành, hội người cao tuổi đã phối hợp mời các cụ đến hội trường UBND để nghe tư vấn về bệnh tăng huyết áp và COPD từ cán bộ y tế 1-2 lần mỗi năm, với sự hỗ trợ từ UBND về tiền nước và hội trường, trong khi TYT cung cấp thuốc Hội phụ nữ cũng hợp tác với TYT để truyền thông cho các hội viên trong các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, đặc biệt vào các sự kiện lớn như ngày 8/3 và 20/10 hàng năm.

Hội người cao tuổi và hội phụ nữ đã phối hợp tổ chức các hoạt động thể thao như cầu lông, bóng bàn, bóng chuyền hơi và câu lạc bộ thể dục dưỡng sinh Tuy nhiên, do phần lớn người tham gia bận rộn với công việc, nên các hoạt động này không diễn ra đều đặn.

BÀN LUẬN

Cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN

Tại Thị xã Chí Linh, bệnh viện huyện cung cấp dịch vụ chẩn đoán và điều trị cho ba bệnh chính là tăng huyết áp (THA), đái tháo đường (ĐTD) và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), đồng thời có khả năng phát hiện sớm ung thư qua nội soi và chụp X-quang Các trạm y tế xã/phường chủ yếu thực hiện truyền thông, khám sàng lọc và quản lý bệnh THA, trong khi đối với ĐTD, COPD và ung thư, chỉ mới thực hiện truyền thông mà chưa có khám sàng lọc hay điều trị do thiếu nhân lực, trang thiết bị và thuốc Về quản lý bệnh không lây nhiễm (BKLN), các trạm y tế chỉ lưu danh sách bệnh nhân mà không có hồ sơ khám và tư vấn định kỳ Kết quả này tương tự như nghiên cứu tại Huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên và Hà Nam, cho thấy dịch vụ phòng, chống BKLN chủ yếu tập trung vào truyền thông mà chưa cung cấp đầy đủ các dịch vụ khác theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới Nghiên cứu cũng chỉ ra nhu cầu của người dân trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ phát hiện sớm, điều trị và duy trì BKLN tại các trạm y tế.

Sự sẵn có của trang thiết bị và thuốc cho BKLN

Thiếu hụt trang thiết bị y tế tại các trạm y tế cơ sở ở thị xã Chí Linh đã không đáp ứng tiêu chí của Bộ Y tế và khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO-PEN) Nghiên cứu cho thấy các trạm y tế không có các thiết bị cần thiết như máy đo điện tâm đồ (ECG), phế dung kế, máy đo mỡ máu, và máy siêu âm, điều này ảnh hưởng đến khả năng phát hiện và chẩn đoán bệnh không lây nhiễm (BKLN) Tình trạng này cũng được xác nhận trong nghiên cứu của Hoàng Văn Minh tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên, cho thấy các trạm y tế chưa đủ trang thiết bị cơ bản để cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới Sự thiếu hụt này hạn chế khả năng cung cấp dịch vụ khám sàng lọc và phát hiện BKLN tại các trạm y tế xã hiện nay.

Thuốc BHYT không đủ chủng loại và thường xuyên thiếu

Tình trạng thiếu thuốc điều trị BKLN tại bệnh viện thị xã và các TYT thường xuyên xảy ra do danh mục thuốc BHYT không đầy đủ, đặc biệt là thiếu các thuốc giãn phế quản dạng khí cho cấp cứu Nguyên nhân chính là do quỹ BHYT bị cắt giảm và cơ chế đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế không đáp ứng kịp thời nhu cầu điều trị tại tuyến cơ sở Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Huy tại Quốc Oai, Hà Nội cũng cho thấy số lượng thuốc trong danh mục thiết yếu cho TYT còn hạn chế, không đủ để phục vụ nhu cầu của người dân.

Việc dự trù của TYT chưa chính xác do cơ sở không ước tính đúng số lượng bệnh nhân, cho thấy công tác quản lý và năng lực cán bộ TYT còn hạn chế trong lập kế hoạch Hiện tượng này có thể dẫn đến tình trạng người dân phải tự chi trả nhiều hơn.

Hệ thống thông tin, báo cáo, giám sát BKLN

Thông tin về BKLN là yếu tố quan trọng trong việc đo lường và lập kế hoạch nhằm nâng cao độ bao phủ cũng như chất lượng hoạt động phòng chống BKLN Tuy nhiên, hiện tại chưa có hệ thống điều tra về yếu tố nguy cơ, báo cáo ca bệnh và tử vong trong cộng đồng tại thị xã Chí Linh, điều này khác với kết quả nghiên cứu đã được thực hiện tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên và Hà Nam.

Tại TYT, mẫu báo cáo và sổ quản lý các bệnh lý không lây nhiễm (BKLN) đã được gửi từ SYT Trong số đó, chỉ có sổ theo dõi và quản lý bệnh tăng huyết áp (THA) cung cấp đầy đủ thông tin về quản lý và theo dõi bệnh nhân, tình trạng bệnh, cũng như quá trình điều trị Các sổ sách quản lý các bệnh khác chỉ ghi danh sách bệnh nhân mà không cung cấp thông tin chi tiết về tình trạng bệnh, quá trình điều trị, loại thuốc đang sử dụng, dẫn đến việc theo dõi bệnh nhân chưa được thực hiện hiệu quả.

Hiện nay, việc báo cáo bệnh nhân mắc BKLN chủ yếu dựa vào hệ thống sổ sách và giấy tờ, thiếu phần mềm quản lý chuyên dụng tại TTYT và bệnh viện Để cải thiện quy trình này, TTYT và TYT đề xuất ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, theo dõi và báo cáo, giúp gửi báo cáo qua email nhanh chóng và thuận tiện hơn.

Nhân lực

Kết quả cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN phụ thuộc vào đội ngũ nhân lực y tế có trình độ và năng lực chuyên môn Tuy nhiên, lãnh đạo bệnh viện nhận định rằng vẫn thiếu số lượng và yếu về chất lượng Bệnh viện đa khoa thị xã chưa có bác sĩ được đào tạo chuyên khoa về BKLN, và chất lượng dịch vụ chưa đạt yêu cầu do sự không đồng bộ trong đào tạo, như việc không được đào tạo thường xuyên hoặc thiếu thiết bị thực hành.

Hình thức đào tạo BKLN hiện tại chưa đáp ứng nhu cầu của cán bộ y tế do đào tạo không thường xuyên Mặc dù mỗi xã có hơn 100 bệnh nhân mắc THA và ĐTĐ, nhưng chỉ có một chuyên trách, và chưa có chế độ ưu đãi đặc thù để khuyến khích cán bộ Nghiên cứu của Hoàng Văn Minh năm 2013 tại Thái Nguyên cũng chỉ ra rằng sự thiếu hụt cán bộ được đào tạo chuyên sâu về BKLN là một hạn chế lớn trong hệ thống y tế cơ sở Nhân lực là yếu tố quyết định để triển khai hiệu quả các dịch vụ phòng chống BKLN.

Cán bộ y tế thôn chỉ thực hiện các công việc đơn giản và hướng dẫn bệnh nhân đến khám tại trạm y tế, không thể đảm nhận các nhiệm vụ chuyên môn Do đó, cần xem xét áp dụng chế độ ưu đãi để thu hút và khuyến khích cán bộ y tế tham gia vào các hoạt động phòng chống bệnh không lây nhiễm, nhằm ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám sang khu vực tư nhân TTYT cũng đề xuất cần đủ số lượng cán bộ theo yêu cầu thực tế, nhưng hiện tại gặp khó khăn do HDND tỉnh chưa phê duyệt biên chế.

Việc yêu cầu giấy phép hành nghề gây khó khăn cho hoạt động tại TYT, nơi mà một người cần phải đảm nhận nhiều công việc và sở hữu đa kỹ năng, nhưng lại bị hạn chế thực hiện do vượt quá phạm vi hành nghề.

Tài chính

Trước đây, TTYT và TYT đã triển khai dự án về các bệnh không lây nhiễm (BKLN) với kinh phí dành cho các hoạt động như khám sàng lọc tăng huyết áp (THA) và thu thập phiếu điều tra các yếu tố nguy cơ THA Tuy nhiên, hiện tại, ngoài nguồn kinh phí bảo hiểm y tế (BHYT) cho khám chữa bệnh liên quan đến BKLN, không còn kinh phí nào cho các hoạt động phòng, chống BKLN.

Chính sách và quản lý hoạt động phòng, chống BKLN

Chính sách và thực hiện chính sách về phòng chống bệnh không lây nhiễm chưa đồng bộ Vào tháng 3/2015, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng các bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015-2025 Tuy nhiên, đến tháng 8/2016, thị xã Chí Linh vẫn chưa triển khai chiến lược mới mà chủ yếu tiếp tục các hoạt động của chương trình phòng, chống bệnh không lây nhiễm trước đó Theo tiêu chí số 28 trong 10 tiêu chí chuẩn quốc gia của TYT ban hành năm 2014, TYT cần tham gia phát hiện, điều trị, quản lý và theo dõi các dịch bệnh nguy hiểm, bệnh xã hội, bệnh mãn tính và bệnh không lây theo hướng dẫn của y tế tuyến trên.

Mặc dù đã có chiến lược và quy định về phòng chống bệnh không lây nhiễm, việc thực hiện vẫn gặp khó khăn do thiếu kinh phí, nhân lực, thuốc và trang thiết bị Bệnh viện và Trung tâm Y tế cũng chưa được giao chỉ tiêu cụ thể về bệnh không lây nhiễm Để cải thiện tình hình, cần thành lập ban chỉ đạo và gắn hoạt động phòng chống bệnh không lây nhiễm với kinh phí và chỉ tiêu cụ thể.

Phối hợp các bên liên quan

Tại thị xã Chí Linh, các trạm y tế (TYT) đã hợp tác với hội người cao tuổi, hội phụ nữ và đoàn thanh niên trong công tác truyền thông và khám sàng lọc Tuy nhiên, sự phối hợp này phụ thuộc vào chỉ đạo của UBND từng xã và cần có kinh phí cho hoạt động Nghiên cứu trước đây cho thấy sự phối hợp liên ngành trong phòng, chống bệnh không lây nhiễm (BKLN) còn hạn chế, và việc huy động cộng đồng tham gia chưa trở thành chủ trương tại các địa phương, mặc dù chiến lược quốc gia về phòng, chống BKLN đã nhấn mạnh nội dung quan trọng này.

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cung cấp hỗ trợ tài chính, cùng với công tác tổ chức và quản lý nhà nước, nhằm khuyến khích sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng trong hoạt động phòng, chống BKLN tại các địa phương.

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu trường hợp này được thực hiện tại thị xã Chí Linh, Hải Dương, miền Bắc Việt Nam, do đó có thể hạn chế tính đại diện về năng lực cung ứng dịch vụ.

Nghiên cứu này tập trung vào 49 phòng, chống bệnh không lây nhiễm trong hệ thống cung cấp dịch vụ y tế cơ sở của nhà nước Tuy nhiên, nghiên cứu chưa xem xét năng lực và sự phối hợp với y tế tư nhân.

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế và Nhóm đối tác Y tế, Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2014: Tăng cường dự phòng và kiểm soát bệnh không lây nhiễm. 2015. Nhà xuất bản Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2014: Tăng cường dự phòng và kiểm soát bệnh không lây nhiễm
Tác giả: Bộ Y tế, Nhóm đối tác Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2015
2. Chính phủ, Quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch. đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm, giai đoạn 2015, Số 376/QD-TTg. 2015. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch. đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm, giai đoạn 2015
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
4. Bộ Y tế. Chương trình phòng chống Bệnh không lây nhiễm. 2015; Truy cập tại địa chỉ: http://ncd.org.vn/index.php?limitstart=5&lang=v Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phòng chống Bệnh không lây nhiễm
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
5. Lozano R and et al, Global and regional mortality from 235 causes of death for 20 age groups in 1990 and 2010: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2010. The Lancet, 2012. 380(9895): p. 2095-128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global and regional mortality from 235 causes of death for 20 age groups in 1990 and 2010: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2010
Tác giả: Lozano R, et al
Nhà XB: The Lancet
Năm: 2012
6. Tạ Văn Bình, Hoàng Kim Ước và cộng sự, Báo cáo tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu Dịch tễ học bệnh đái tháo đường, các yếu tố nguy cơ và vấn đề liên quan đến quản lý bệnh đái tháo đường trong phạm vi toàn quốc. 2004. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội. p. 339-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu Dịch tễ học bệnh đái tháo đường, các yếu tố nguy cơ và vấn đề liên quan đến quản lý bệnh đái tháo đường trong phạm vi toàn quốc
Tác giả: Tạ Văn Bình, Hoàng Kim Ước, cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
7. Bệnh viện Nội tiết Trung ương, Tổng kết hoạt động năm 2012 triển khai kế hoạch năm 2013 Dự án phòng chống đái tháo đường quốc gia, hoạt động phòng chống các rối loạn thiếu I-ốt. 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết hoạt động năm 2012 triển khai kế hoạch năm 2013 Dự án phòng chống đái tháo đường quốc gia, hoạt động phòng chống các rối loạn thiếu I-ốt
Tác giả: Bệnh viện Nội tiết Trung ương
Năm: 2013
8. Shaw J.E, Sicree R.A, and Zimmet P.Z, Global estimates of the prevalence of diabetes for 2010 and 2030. Diabetes Res Clin Prat, 2010. 87: p. 4-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global estimates of the prevalence of diabetes for 2010 and 2030
Tác giả: Shaw J.E, Sicree R.A, Zimmet P.Z
Nhà XB: Diabetes Research and Clinical Practice
Năm: 2010
9. Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự, Dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở Việt Nam và các biện pháp dự phòng, điều trị. 2009, Bệnh viện Phổi Trung ương. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở Việt Nam và các biện pháp dự phòng, điều trị
Tác giả: Đinh Ngọc Sỹ, cộng sự
Nhà XB: Bệnh viện Phổi Trung ương
Năm: 2009
10. Trần Thúy Hạnh và cộng sự, Nghiên cứu thực trạng Hen phế quản ở Việt Nam năm 2010-2011. 2011, Bệnh viện Bạch Mai. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng Hen phế quản ở Việt Nam năm 2010-2011
Tác giả: Trần Thúy Hạnh, cộng sự
Nhà XB: Bệnh viện Bạch Mai
Năm: 2011
11. Bộ Y tế, Cục Y tế dự phòng, Điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam năm 2015. 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam năm 2015
Tác giả: Bộ Y tế, Cục Y tế dự phòng
Năm: 2016
12. Hoang Van Minh, Young Kyung Do, and Mary Ann Cruz Bautista, Describing the primary care system capacity for the prevention and management of non- communicable diseases in rural Vietnam. The International of Health Planning and Management, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Describing the primary care system capacity for the prevention and management of non-communicable diseases in rural Vietnam
Tác giả: Hoang Van Minh, Young Kyung Do, Mary Ann Cruz Bautista
Nhà XB: The International of Health Planning and Management
Năm: 2013
13. Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, Đánh giá 3 năm thực hiện Luật Bảo hiểm Y tế. 2013. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá 3 năm thực hiện Luật Bảo hiểm Y tế
Tác giả: Viện Chiến lược và Chính sách Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
14. Bộ Y tế và Nhóm đối tác y tế, Báo cáo chung tổng quan ngành y tế Việt Nam năm 2010: Hệ thống Y tế Việt Nam trước thềm kế hoạch 5 năm 2011 - 2015. 2010, WHO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế Việt Nam năm 2010: Hệ thống Y tế Việt Nam trước thềm kế hoạch 5 năm 2011 - 2015
Tác giả: Bộ Y tế, Nhóm đối tác y tế
Nhà XB: WHO
Năm: 2010
15. World Health Organization. Projections of mortality and causes of death, 2015 and 2030. 2014; Available from:http://www.who.int/healthinfo/global_burden_disease/2004_report_update/en/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Projections of mortality and causes of death, 2015 and 2030
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2014
16. Nguyễn Văn Huy, Hoàng Thị Ái Xuân, Thực trạng hoạt động của hệ thống y tế huyện Quốc Oai, Hà Nội, năm 2015. Tạp chí nghiên cứu y học. 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hoạt động của hệ thống y tế huyện Quốc Oai, Hà Nội, năm 2015
Tác giả: Nguyễn Văn Huy, Hoàng Thị Ái Xuân
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu y học
Năm: 2015
17. Hanoi Medical University and H.S.o.P. Health, Evaluation of intergrated model for NCD and Mental disorder prevention and management at commune health station and community in Hanam Province. 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of intergrated model for NCD and Mental disorder prevention and management at commune health station and community in Hanam Province
Tác giả: Hanoi Medical University, H.S.o.P. Health
Năm: 2015
18. WHO, Package of Essential Noncommunicable (PEN) Disease Interventions for Primary Health Car in Low-Resource Setting, WHO, Editor. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Package of Essential Noncommunicable (PEN) Disease Interventions for Primary Health Care in Low-Resource Setting
Tác giả: WHO
Nhà XB: WHO
Năm: 2010
19. HT, C. and C. JC, Financing universal coverage in Malaysia: a case study. BMC HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financing universal coverage in Malaysia: a case study
Tác giả: HT, C., C. JC
Nhà XB: BMC HUPH

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Khung năng lực hệ thống y tế theo TCYTTG - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Hình 1 Khung năng lực hệ thống y tế theo TCYTTG (Trang 28)
Hình 2: Khung lý thuyết về năng lực cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN và - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Hình 2 Khung lý thuyết về năng lực cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN và (Trang 29)
Sơ đồ 1: Quy trình thu thập số liệu định lượng của nghiên cứu - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Sơ đồ 1 Quy trình thu thập số liệu định lượng của nghiên cứu (Trang 34)
Sơ đồ 2: Quy trình thu thập số liệu định tính của nghiên cứu - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Sơ đồ 2 Quy trình thu thập số liệu định tính của nghiên cứu (Trang 36)
Bảng 3.1: Cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN tại BV và TYT - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Bảng 3.1 Cung cấp dịch vụ phòng, chống BKLN tại BV và TYT (Trang 38)
Hình thức truyền thông chủ yếu mà các TYT thực hiện là truyền thông trên hệ  thống loa đài về BKLN và phòng chống hút thuốc lá/thuốc lào, lạm dụng rượu bia và  dinh dưỡng không hợp lý - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Hình th ức truyền thông chủ yếu mà các TYT thực hiện là truyền thông trên hệ thống loa đài về BKLN và phòng chống hút thuốc lá/thuốc lào, lạm dụng rượu bia và dinh dưỡng không hợp lý (Trang 40)
Bảng 3.3: Hoạt động khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh THA  tại 20 TYT - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Bảng 3.3 Hoạt động khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh THA tại 20 TYT (Trang 41)
Bảng 3.4: Hoạt động khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh ĐTĐ tại - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Bảng 3.4 Hoạt động khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh ĐTĐ tại (Trang 42)
Bảng 3.5: Sự sẵn có của dịch vụ chẩn đoán BKLN tại Y tế cơ sở - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Bảng 3.5 Sự sẵn có của dịch vụ chẩn đoán BKLN tại Y tế cơ sở (Trang 44)
Bảng 3.9 mô tả sự sẵn có của thuốc thiết yếu cho kiểm soát BKLN tại các TYT - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Bảng 3.9 mô tả sự sẵn có của thuốc thiết yếu cho kiểm soát BKLN tại các TYT (Trang 49)
Bảng 3.10: Hoạt động báo cáo, giám sát BKLN tại BV huyện và TTYT - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Bảng 3.10 Hoạt động báo cáo, giám sát BKLN tại BV huyện và TTYT (Trang 50)
Bảng 3.11: Hoạt động báo cáo, giám sát BKLN tại 20 TYT xã - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Bảng 3.11 Hoạt động báo cáo, giám sát BKLN tại 20 TYT xã (Trang 51)
Bảng 3.12: Tình hình nhân lực tại 20 TYT xã - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Bảng 3.12 Tình hình nhân lực tại 20 TYT xã (Trang 53)
Bảng 3.14: Số lượng cán bộ chuyên trách đã từng được đào tạo - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Bảng 3.14 Số lượng cán bộ chuyên trách đã từng được đào tạo (Trang 55)
Bảng 8: HỆ THỐNG CẤP CỨU CHUYỂN TUYẾN - Sự sẵn có và một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm tại hệ thống y tế cơ sở thị xã chí linh, hải dương năm 2016
Bảng 8 HỆ THỐNG CẤP CỨU CHUYỂN TUYẾN (Trang 108)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w