KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về NVYT khoa Sản tham gia vào nghiên cứu
Thông tin chung nH Tỷ lệ %
Nhóm tuổi: (trẻ nhất 20 tuổi, lớn tuổi nhất là 68 tuổi)
Trên đại học 15 31,3 Đào tạo về CSTY
Trong nghiên cứu, có 48/85 nhân viên y tế (NVYT) của khoa Sản tham gia, với 83,3% nhân viên dưới 40 tuổi và 83,3% là nữ Thời gian công tác từ 1-3 năm chiếm 70,8% Về trình độ, 37,4% nhân viên có trình độ trung cấp, trong khi tỷ lệ nhân viên đại học và sau đại học lần lượt là 31,3% Đáng chú ý, 83,3% NVYT đã được đào tạo về chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau khi mổ lấy thai.
Bảng 3.2 Thông tin chung về bà mẹ
Các bà mẹ trong nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 32, với 68% trong số họ trên 29 tuổi Đối tượng chủ yếu là người Kinh (98,4%) và có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên (96,7%) Tỷ lệ sinh con lần đầu là 26,2%, trong khi tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên là 20,5% Đáng chú ý, 87,7% các bà mẹ đã nắm rõ thông tin về chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh.
Bảng 3.3 Thông tin chung về tuổi thai, sức khỏe của mẹ của con
Thông tin chung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi min = 22 tuổi, max = 46 tuổi, trung bình 32 tuổi
Trung cấp, cao đẳng, đại học 118 96,7
Thông tin chung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tuổi thai nhỏ nhất = 36 tuần, lớn nhất = 41 tuần, trung bình = 39 tuần
Sức khỏe bà mẹ sau mổ Ổn định 122 100
Sức khỏe con sau mổ Ổn định 122 100
Tuổi thai nhi dao động từ 36 đến 41 tuần, với trung bình là 39 tuần Đặc biệt, 97,5% các bé được sinh ra dưới 40 tuần Tất cả các bà mẹ đều có sức khỏe ổn định sau phẫu thuật.
Thực hiện Quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ lấy thai
Bảng 3.4 Chuẩn bị trước mổ
1 Kiểm tra nhiệt độ phòng; điều hòa 122 (100)
2 Điều dưỡng/hộ sinh chăm sóc trẻ rửa tay 122(100)
3 Chuẩn bị khu vực hồi sức TSS, bật giường sưởi hồi sức 122 (100)
4 Kiểm tra bóng và mặt nạ có làm việc không 3 (2,5) 119 (97,5)
5 Rửa tay ngoại khoa, mặc áo vô khuẩn, đi găng 122 (100)
6 Chuẩn bị dụng cụ kẹp rốn 122 (100)
7 Trải một khăn khô sạch lên hai đùi sản phụ phía dưới vết mổ tại thời điểm lấy thai 122 (100) Tất cả các cuộc mổ đều được thực hiện đủ và đúng 6 bước: Kiểm tra nhiệt độ phòng; Điều dưỡng/nữ hộ sinh chăm sóc trẻ rửa tay; Chuẩn bị khu vực hồi sức TSS; Rửa tay ngoại khoa; Chuẩn bị kẹp rốn và trải khăn khô sạch lên hai đùi sản phụ dưới vết mổ đều được thực hiện đúng và đủ Chỉ có 3 cuộc mổ (2,5%) không kiểm tra bóng và mặt nạ
Một số nhân viên y tế (NVYT) cho rằng việc kiểm tra bóng và mặt nạ không cần thiết, vì họ đã thực hiện hàng ngày và thấy chúng vẫn hoạt động tốt Một nữ NVYT chia sẻ: “Tôi vẫn làm hàng ngày, ngày nào cũng thực hiện mà bóng và mặt nạ vẫn dùng tốt cho nên tôi nghĩ không cần phải mỗi ca đều kiểm tra.”
Bảng 3.5 Thực hiện các bước sau khi mổ lấy thai của bác sĩ, điều dưỡng/ hộ sinh
Các việc cần làm ngay sau khi lấy thai ra
1 Đọc to thời điểm sinh (giờ, phút, giây), giới tính 122 (100)
2 Đặt trẻ lên tấm khăn khô trên đùi bà mẹ 122 (100)
3 Lau khô cho trẻ được bắt đầu trong vòng 5 giây sau khi sinh không? 23 (18,9) 99 (81,1)
4 Lau khô kích thích trẻ theo trình tự (mắt, mặt, đầu, ngực, tay, chân, lưng, mông….) 122 (100)
5 Bỏ tấm khăn ướt, quấn trẻ vào tấm khăn khô và đội mũ cho trẻ 122 (100)
6 Kiểm tra xem có trẻ thứ hai không 116 (95,1) 6 (4,9)
7 Tiêm Oxytocin cho mẹ trong vòng 1 phút 122 (100)
8 Kiểm tra dây rốn trước khi kẹp, chỉ kẹp khi dây rốn ngừng đập (thông thường là 1-3 phút) 8 (6,6) 114(93,4)
9 Kẹp dây rốn cách chân rốn 2 cm, 2 (1,6) 120(98,4)
10 Vuốt máu dây rốn về phía mẹ 41 (33,6) 81 (66,4)
11 Kẹp thứ 2 cách kẹp thứ nhất 3 cm (hoặc cách chân rốn 5cm) 105 (86,1) 17 (13,9)
12 Cắt gần kẹp 1 bằng kéo vô khuẩn 122 (100)
13 Giao trẻ cho hộ sinh/điều dưỡng đang chờ sẵn 122 (100)
14 Đặt trẻ nằm sấp trên ngực mẹ tiếp xúc da kề da 122 (100)
15 Phủ khăn khô che lưng trẻ 122 (100)
16 Tư vấn cho mẹ về những dấu hiệu đòi bú của trẻ
(chảy nước dãi, mở miệng, lè lưỡi/liếm, gặm tay, bò trườn)
17 Hỗ trợ trẻ ngậm bắt vú tốt 122 (100)
Có 3 bước ít được thực hiện đúng và đủ nhất là: Lau khô cho trẻ được bắt đầu trong 5 giây (18,9%); Kiểm tra xem có trẻ thứ hai không (95,1%); Kẹp thứ 2 cách kẹp thứ nhất 3cm (86,1%) Chỉ có 1-8 ca mổ không thực hiện các bước; Kiểm tra dây rốn trước khi kẹp, chỉ kẹp khi dây rốn ngừng đập (6,6%); Kẹp dây rốn cách chân rốn 2 cm (1,6%); Tư vấn cho mẹ về những dấu hiệu đòi bú của trẻ (0,8%) Tất cả các bước còn lại đều thực hiện đúng theo hướng dẫn Đối với các trường hợp không thực hiện bước kiểm tra xem có trẻ thứ hai không là vì tất cả các bà mẹ đăng ký sinh con ở bệnh viện đều sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh và tất cả đều được siêu âm theo định kỳ Các bà mẹ phải mổ đẻ trong nghiên cứu đều có kết quả siêu âm xác định chỉ có 1 thai nên không cần bước kiểm tra có trẻ thứ 2 nữa
Bệnh nhân hiện nay có khả năng mang thai đã thực hiện siêu âm từ tuần thứ 4 cho đến trước khi sinh, thường là nhiều lần Nếu siêu âm xác định chỉ có một thai, thì không cần thiết phải kiểm tra xem có thai thứ hai hay không.
“Trước khi tiến hành mổ chúng tôi còn thực hiện siêu âm cho người bệnh, do đó nếu có thai thứ 2 thì chúng tôi đã biết” (PVS, nam NVYT 3)
Trong quá trình PVS NVYT, chúng tôi nhận thấy rằng một trong những bước thường bị bỏ qua là kẹp cắt rốn chậm Nguyên nhân chủ yếu là do chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc kẹp rốn muộn, cùng với nỗi lo về việc mất thời gian chờ đợi cho đến khi mạch rốn ngừng đập, dẫn đến mong muốn thực hiện nhanh chóng các thao tác trong cuộc mổ.
Kẹp cắt rốn chậm là bước dễ bị bỏ qua nhất trong quá trình sinh, đặc biệt là trong các ca mổ lấy thai Nhiều bác sĩ không thực hiện kiểm tra mạch rốn ngừng đập trước khi cắt, mà thường kẹp cắt rốn ngay khi em bé ra, không chờ đợi để rốn ngừng đập.
Kẹp dây rốn là một bước quan trọng trong quá trình sinh nở, theo quy định của Bộ Y tế, thời gian kẹp nên từ 1-3 phút sau khi dây rốn ngừng đập Tuy nhiên, tại nhiều bệnh viện, việc kẹp thường diễn ra trước khi dây rốn ngừng đập, có trường hợp kẹp đúng thời gian quy định, nhưng cũng có trường hợp diễn ra sớm hơn.
Ngoài ra lý do khác là do các bác sĩ đã quen với việc thực hành cắt dây rốn nhanh rồi nên thường làm theo thói quen sẵn có
Kẹp dây rốn muộn từng là phương pháp phổ biến trong quá khứ, nhưng khi làm việc tại Việt Nam, phần lớn bác sĩ vẫn thực hiện kẹp nhanh Mặc dù cá nhân tôi cho rằng kẹp dây rốn muộn là một thực hành tốt, nhưng đối với những bác sĩ có 30 năm kinh nghiệm quen với phương pháp kẹp nhanh, việc thay đổi nhận thức và thái độ để áp dụng thực hành mới là rất khó khăn.
Một số trẻ sơ sinh sau mổ đẻ chỉ được tiếp xúc da kề da với mẹ khi mẹ đã được chuyển ra phòng hồi tỉnh, không phải ngay sau khi mổ lấy thai Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu nhân lực và thói quen dọn dẹp phòng mổ ngay sau ca phẫu thuật.
Sau khi sinh, em bé cần được lau khô và ủ ấm, nhưng sẽ phải chuyển ra phòng hồi tỉnh trước do cần dọn dẹp phòng mổ cho ca mổ tiếp theo.
Bảng 3.6 Thời gian thực hiện da kề da và bú sớm sau mổ
Thời gian từ lúc trẻ sinh đến khi da kề da ngắn nhất là 45 phút, nhiều nhất là
85 phút, trung bình là 61 phút Thời gian trẻ thực hiện xong bữa bú và da kề da ít nhất là 35 phút, nhiều nhất là 75 phút, trung bình là 57 phút
Thông tin chung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Khoảng thời gian từ lúc trẻ sinh đến khi da kề da mẹ (phút)
Nhỏ nhất = 45 phút, lớn nhất = 85 phút, trung bình = 61 phút
Khoảng thời gian trẻ thực hiện xong bữa bú đầu (phút)
Nhỏ nhất = 35 phút, lớn nhất = 75 phút, trung bình = 57 phút
Bảng 3.7 Tỷ lệ thực hiện đúng quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ lấy thai
Thực hiện quy trình Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đạt (từ 42 điểm trở lên) 24 19,7
Theo bảng 3.7 có 19,7% thực hiện đúng quy trình, có 80,3% thực hiện quy trình còn thiếu bước, không đủ bước
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ lấy thai
3.3.1 Các yếu tố từ bệnh viện
(1) Cơ sở vật chất, trang thiết bị để thực hiện các chăm sóc thiết yếu
Bệnh viện Vinmec nổi bật với cơ sở hạ tầng hiện đại và tiêu chí phục vụ chất lượng cao Được trang bị đầy đủ dụng cụ chăm sóc sản khoa, bệnh viện tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh.
Bệnh viện chúng tôi được xây dựng và đầu tư theo tiêu chuẩn quốc tế, với định hướng chất lượng đạt chuẩn JCI - bộ tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng y tế và an toàn cho người bệnh Năm 2015, Vinmec đã trở thành bệnh viện đa khoa đầu tiên tại Việt Nam đạt chứng chỉ JCI, chứng chỉ uy tín hàng đầu thế giới về đánh giá chất lượng bệnh viện.
Bệnh viện được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cần thiết cho việc chăm sóc sơ sinh, bao gồm dụng cụ, xăng, bồn nước, thuốc, vật tư và trang thiết bị hiện đại.
(2) Nhân lực của bệnh viện
Thiếu nhân lực là nguyên nhân phổ biến được nêu ra khi giải thích lý do không thực hiện một số bước cơ bản, đặc biệt là việc cho trẻ nằm tiếp xúc da kề da với mẹ sau khi sinh mổ.
Da kề da chỉ được thực hiện trong giờ hành chính; ngoài thời gian này, bao gồm cả ngày chủ nhật và các ngày lễ, sẽ không có hỗ trợ cho mẹ và con.
BÀN LUẬN
Thực trạng thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và
Quy trình CSTY trong mổ đẻ được theo dõi từ giai đoạn chuẩn bị, trong và sau mổ, nhằm đảm bảo bà mẹ và trẻ sơ sinh (TSS) nhận đủ các tiêu chí CSTY Đánh giá này được thực hiện cho toàn bộ kíp mổ, không đánh giá riêng lẻ từng nhân viên y tế do hạn chế về thời gian và nguồn lực.
Về công tác chuẩn bị trước mổ
Bước chuẩn bị mổ bao gồm 7 tiêu chí quan trọng: kiểm tra nhiệt độ phòng, chuẩn bị khu vực hồi sức TSS, bật giường sưởi hồi sức, rửa tay ngoại khoa, mặc áo vô khuẩn, đi găng, và chuẩn bị dụng cụ kẹp rốn Việc trải một khăn khô sạch lên hai đùi sản phụ và thực hiện rửa tay thường quy của điều dưỡng/hộ sinh được thực hiện 100% Tuy nhiên, chỉ có 3/119 (2,5%) cuộc mổ không kiểm tra bóng và mặt nạ, điều này cần được nhắc nhở vì bất cứ TSS nào cũng có nguy cơ bị ngạt, đặc biệt trong trường hợp mổ đẻ Bóng và mặt nạ cần được chuẩn bị sẵn sàng và đảm bảo sử dụng được để giúp trẻ thở trong thời điểm vàng, không chỉ cứu sống trẻ mà còn giảm nguy cơ tai biến và hỗ trợ phát triển tinh thần vận động sau này.
Nghiên cứu của Ngô Thị Minh Hà (2017) chỉ ra rằng quy trình chuẩn bị hộ sinh tại bệnh viện Phụ sản Trung ương còn thiếu sót, với tỷ lệ kiểm tra phòng chỉ đạt 12,1%, chuẩn bị khu vực hồi sức TSS 5,1% và kiểm tra bóng, mặt nạ 3% Sự khác biệt này có thể do số lượng ca mổ đông và bệnh viện đang trong quá trình sửa chữa, nâng cấp Hướng dẫn của BYT không phân định rõ ràng về việc rửa tay ngoại khoa, mặc áo vô khuẩn và đi găng cho bác sĩ hay điều dưỡng/hộ sinh Ban đầu, tất cả điều dưỡng/hộ sinh tham gia chăm sóc trẻ đều thực hiện đầy đủ các bước, nhưng sau này, bác sĩ phải tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn, trong khi điều dưỡng/hộ sinh chỉ cần thực hiện các bước cần thiết trong vai trò chăm sóc trẻ.
Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng theo hướng dẫn của Bộ Y tế và đeo găng tay sẽ giúp tiết kiệm thời gian, đồng thời không ảnh hưởng đến cuộc mổ và sức khỏe của trẻ.
Về lau khô và ủ ấm cho trẻ
Lau khô và ủ ấm là những can thiệp quan trọng ngay sau khi mổ lấy thai, nhằm ngăn ngừa hạ thân nhiệt cho trẻ sơ sinh (TSS) bị ướt từ nước ối TSS không thể tự điều chỉnh thân nhiệt do đã quen với môi trường nước ối có nhiệt độ ổn định, dẫn đến việc cần nhiều oxy và năng lượng để duy trì thân nhiệt Việc làm khô em bé và sử dụng chăn ấm cùng đèn sưởi là cần thiết để ngăn ngừa mất nhiệt Một nghiên cứu tại bệnh viện phụ sản Trung ương cho thấy 100% hộ sinh thực hiện lau khô cho trẻ trong 5 giây, tuy nhiên, có 18,9% trẻ không được lau khô kịp thời do quy trình thực hiện Sau khi mổ, trẻ thường được đặt trên khăn khô ở đùi mẹ, trong khi bác sĩ kiểm tra và đánh giá tình trạng trẻ, dẫn đến việc lau khô có thể bị bỏ qua hoặc thực hiện không đầy đủ trước khi chuyển cho điều dưỡng tiếp tục.
Thói quen của các bác sĩ trong quá trình thực hiện PVS cần được thay đổi Việc nhắc nhở các bác sĩ tuân thủ thời gian thực hiện là rất quan trọng để đảm bảo quy trình được thực hiện đúng cách.
100% trẻ được điều dưỡng/hộ sinh thực hiện ủ ấm bằng khăn ủ và sử dụng khăn ủ làm mũ, giúp trẻ giữ thân nhiệt Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu tại bệnh viện phụ sản Trung ương (98%) Việc duy trì các biện pháp đảm bảo thân nhiệt cho trẻ trong vòng 10 phút sau khi sinh là rất quan trọng, giúp trẻ ấm hơn và giảm tỷ lệ hạ thân nhiệt Đặc biệt, đối với trẻ non tháng, những can thiệp này giúp tránh mắc các bệnh về hô hấp và giảm nguy cơ tử vong.
Có đến 95,1% ca mổ không thực hiện bước “kiểm tra có trẻ thứ 2 không”, thấp hơn so với nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương (100%) Tuy nhiên, vấn đề này không đáng lo ngại ở địa bàn nghiên cứu vì tất cả bà mẹ đăng ký sinh con đều được theo dõi chặt chẽ.
Bệnh viện HUPH cung cấp dịch vụ chăm sóc trước sinh và thực hiện siêu âm định kỳ cho các bà mẹ Kết quả siêu âm cho thấy chỉ có một thai, do đó không cần kiểm tra trẻ thứ hai Tuy nhiên, cần nhắc nhở các bác sĩ thực hiện quy trình này thường xuyên để tránh sai sót.
Sử dụng Oxytoxin cho mẹ
Oxytocin được hấp thu tốt qua đường tiêm bắp và truyền tĩnh mạch chậm, vì nó bị phân hủy bởi Pepsin trong dạ dày Tác dụng của Oxytocin xuất hiện nhanh chóng, chỉ sau 3-4 phút khi truyền tĩnh mạch Tất cả các bà mẹ đều được tiêm Oxytocin để phòng ngừa biến chứng đờ tử cung, với quy trình tiêm trong vòng 1 phút Nghiên cứu cho thấy 100% bà mẹ sử dụng Oxytocin, tương đương với các nghiên cứu trước đó Trong trường hợp mổ đẻ, Oxytocin được pha vào dịch truyền và truyền tĩnh mạch ngay từ đầu, giúp giảm đau cho bệnh nhân Việc tiêm Oxytocin ngay sau khi sinh là rất quan trọng để ngăn chặn băng huyết sau sinh, một nguyên nhân gây tử vong mẹ nếu không được quản lý Thực tế cho thấy, tất cả bệnh nhân được truyền Oxytocin ngay sau khi sinh đều có dấu hiệu co hồi tử cung, và chỉ một số ít trường hợp cần tiêm bắp khi có ít sản dịch và tử cung co kém.
Kẹp và cắt dây rốn muộn
Kẹp và cắt dây rốn muộn có thể cung cấp cho trẻ một lượng sắt từ 40-50mg/kg so với cân nặng của trẻ, giúp tăng cường lượng sắt trong cơ thể.
HUPH giúp ngăn ngừa thiếu máu thiếu sắt cho trẻ đủ tháng và đặc biệt là trẻ non tháng, giảm tỷ lệ xuất huyết não do giảm prothrombin Nghiên cứu của Huỳnh Công Lên (2017) cho thấy 97,7% thực hiện kẹp cắt dây rốn muộn, trong khi 91% thực hiện đúng cách Tuy nhiên, việc thực hiện giai đoạn kẹp và cắt dây rốn muộn không đồng đều, với 6,6% nhân viên y tế không kiểm tra dây rốn trước khi kẹp và 1,6% không kẹp dây rốn cách chân rốn 2 cm Tại bệnh viện, nhiều bác sĩ thường cắt dây rốn ngay sau khi kẹp, trong khi một số trường hợp lưu trữ tế bào gốc yêu cầu vuốt dây rốn về phía mẹ Mặc dù hầu hết bác sĩ đã được tập huấn về quy trình, thói quen làm việc dẫn đến việc cắt ngay sau khi kẹp Để đảm bảo quyền lợi của trẻ, nhân viên y tế cần thực hiện đúng các bước và cần có chế tài, tập huấn để giảm tỷ lệ thực hiện không đảm bảo.
Vẫn còn 33,6% ca mổ chưa thực hiện việc vuốt máu về phía mẹ sau khi cặp rốn, điều này cần được chú ý để giảm nguy cơ thiếu máu cho bà mẹ Đặc biệt, bước kẹp thứ hai cách kẹp thứ nhất 3cm có đến 86,1% thực hiện nhưng không đúng, con số này cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Ngô Thị Minh Hà (11,1%) Cần cải thiện thao tác này vì các bước trong quy trình đã được WHO chứng minh là hiệu quả và an toàn cho trẻ.
Cho trẻ tiếp xúc trực tiếp da kề da
Theo WHO, phương pháp da kề da nên được thực hiện liên tục ít nhất 1 giờ ngay sau sinh và lặp lại thường xuyên, đặc biệt trong những tuần đầu Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả trẻ đều được tiếp xúc da kề da với mẹ sau mổ, với thời gian từ 45 đến 85 phút, và 80,3% trẻ được bú sớm trong vòng giờ đầu Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Ngô Thị Minh Hà và Lê Thị Kim Loan, và cao hơn so với các nghiên cứu khác.
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thực hiện da kề da ở các trường hợp đẻ thường đạt cao, với Huỳnh Công Lên ghi nhận 76,5% và Võ Thị Ngọc Diệp là 48% 100% nhân viên y tế thực hiện đúng quy trình da kề da, bao gồm việc giao trẻ cho hộ sinh và đặt trẻ nằm sấp trên ngực mẹ Ngô Thị Minh Hà cũng cho thấy 100% trẻ được thực hiện da kề da Trong khi đó, Lê Thị Kim Loan cho biết tỷ lệ này ở sinh mổ chỉ đạt 54% Kết quả này khẳng định rằng chăm sóc sức khỏe tâm lý hoàn toàn có thể thực hiện tốt cho mọi bà mẹ và trẻ sơ sinh, cả trong trường hợp sinh thường và sinh mổ Tuy nhiên, hiện tại, da kề da chỉ được thực hiện sau khi mẹ được chuyển ra phòng hồi tỉnh đối với sinh mổ Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu tại Madhya Pradesh và Rajasthan, nơi có 63% nhân viên không thực hiện da kề da Sự khác biệt này có thể do các bà mẹ sinh thường không sử dụng thuốc gây tê hay gây mê, giúp họ tỉnh táo trong suốt quá trình chuyển dạ Nhiều bà mẹ mong muốn được thực hiện da kề da ngay sau mổ để tận hưởng những lợi ích mà phương pháp này mang lại.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh
Về cơ sở vật chất
Bệnh viện Vinmec tự hào sở hữu đội ngũ bác sĩ và chuyên gia y tế hàng đầu, với trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm phong phú, nhằm mục tiêu trở thành bệnh viện hàng đầu tại Việt Nam về chuyên môn và công nghệ Bệnh viện được trang bị các thiết bị hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế JCI, tạo điều kiện thuận lợi cho quy trình chăm sóc sức khỏe Kết quả khảo sát cho thấy, cả nhân viên y tế và bệnh nhân đều đánh giá cao cơ sở vật chất của Vinmec, điều này tạo nên sự khác biệt so với các bệnh viện công và một số bệnh viện tư nhân khác.
Bệnh viện Vinmec nổi bật với môi trường làm việc tích cực và tiêu chuẩn quốc tế, mang lại sự thoải mái và vui vẻ cho nhân viên Ngày 26/6/2015, Vinmec trở thành bệnh viện đa khoa đầu tiên tại Việt Nam đạt chuẩn quốc tế JCI, với 285 điều và 1.166 yếu tố đo lường, khẳng định chất lượng y tế cao Trong khi hầu hết các bệnh viện tại Việt Nam chỉ áp dụng 83 tiêu chí chất lượng của Bộ Y tế, Vinmec cam kết "lấy người bệnh làm trung tâm" và tạo ra môi trường làm việc an toàn cho nhân viên Tuy nhiên, quy trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh hiện chỉ được thực hiện trong giờ hành chính do thiếu nhân lực, và cần bổ sung thêm nhân lực để triển khai quy trình này vào tất cả các ngày trong tuần.
Trong bệnh viện, nhân lực được chia thành hai loại: toàn thời gian và bán thời gian Nghiên cứu cho thấy nhân viên y tế (NVYT) làm việc bán thời gian có nguy cơ không tuân thủ quy trình cao hơn do không nắm rõ các quy trình như nhân viên toàn thời gian Nguyên nhân có thể là do họ không thường xuyên có mặt tại khoa, dẫn đến việc không tiếp thu đầy đủ thông tin từ các cuộc họp giao ban Do đó, cần thiết phải có giải pháp cập nhật thông tin liên tục cho NVYT, đặc biệt là những người làm việc bán thời gian, nhằm đảm bảo việc thực hiện quy trình được đồng đều.
Việc sắp xếp lịch mổ cần phải được thực hiện một cách khoa học để tránh tình trạng chồng chéo và dồn việc cho một số bác sĩ trong khoa Điều này không chỉ giúp giảm áp lực công việc cho nhân viên y tế mà còn đảm bảo họ có đủ thời gian để thực hiện đầy đủ các quy trình cần thiết Áp lực gia tăng, đặc biệt khi các bác sĩ phải thực hiện nhiều ca mổ liên tiếp, có thể ảnh hưởng đến chất lượng công việc Do đó, cần có phương pháp sắp xếp lịch mổ hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế tại bệnh viện.
Hoạt động kiểm tra, giám sát hỗ trợ
Nghiên cứu cho thấy rằng quy trình kẹp và cắt dây rốn muộn thường không được thực hiện đúng cách, chủ yếu do thói quen của bác sĩ và thiếu sự giám sát Giai đoạn da kề da chỉ được thực hiện tại phòng hồi tỉnh, và có 0,8% điều dưỡng/hộ sinh không tư vấn cho mẹ về dấu hiệu đòi bú của trẻ, mặc dù 100% trẻ được hỗ trợ ngậm bắt vú tốt Điều này xảy ra vì các điều dưỡng/hộ sinh cho rằng mẹ đã có kiến thức và do khối lượng công việc, dẫn đến việc quên tư vấn Do đó, cần nhắc nhở 100% điều dưỡng/hộ sinh thực hiện tốt việc tư vấn về dấu hiệu đòi bú sớm của trẻ.
Bệnh viện Vinmec hiện có đội ngũ đánh giá chất lượng và chế tài xử phạt, cùng với cán bộ phòng Điều dưỡng phỏng vấn các bà mẹ về tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ và sự hài lòng của người bệnh Tuy nhiên, Khoa Sản đang thiếu nhân lực để thực hiện giám sát, dẫn đến một số ý kiến cho rằng công tác này chưa thực sự sát sao Do đó, cần xây dựng bảng kiểm đánh giá theo quy trình và có đội ngũ giám sát, đồng thời áp dụng chế tài xử phạt để đảm bảo thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình Cần chú ý đến vai trò của bác sĩ, vì nhiều bước trong quy trình chưa được thực hiện đúng Kết quả nghiên cứu của Sumit Malhotra và cộng sự (2014) cho thấy bác sĩ có kiến thức cao hơn điều dưỡng, nhưng kỹ năng lại thấp hơn.
Nhân viên Khoa Sản chủ yếu là nữ (83,3%) và dưới 40 tuổi (83,3%), với 70,8% có thâm niên công tác trên 3 năm và 31,3% có trình độ đại học trở lên Độ tuổi trẻ giúp họ có sức khỏe và khả năng học tập tốt, cùng với trình độ chuyên môn cao, dẫn đến việc kiến thức và thái độ của nhân viên y tế được đánh giá cao Bệnh viện Vinmec đã thực hiện sàng lọc nhân viên, phù hợp với kết quả này Đặc biệt, 83,3% nhân viên y tế được đào tạo về chăm sóc sức khỏe, cho thấy rằng kiến thức và thái độ tích cực ảnh hưởng đến kỹ thuật thực hành Nghiên cứu của Mohadeseh Adeli và Elham Azmoudeh cho thấy 88,1% nữ hộ sinh có thái độ tích cực đối với tiếp xúc da kề da và 90,5% thực hành tốt kỹ thuật này cho bà mẹ và trẻ sơ sinh.
Theo nghiên cứu của chúng tôi, bác sĩ thường không thực hiện đầy đủ các bước cần thiết, như kiểm tra sự hiện diện của trẻ thứ hai và thực hiện kẹp rốn muộn cho trẻ sơ sinh Do đó, cần tổ chức các buổi tập huấn và chia sẻ để nâng cao nhận thức và cải thiện quy trình thực hiện.
HUPH cần cải thiện việc phối hợp thực hiện lau khô và ủ ấm cho trẻ, đồng thời tư vấn hướng dẫn da kề da và khuyến khích cho con bú sớm trong 1 giờ đầu Cần tăng cường công tác đào tạo, kiểm tra và giám sát để nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề này.
Điều kiện về trình độ học vấn và hoàn cảnh kinh tế có ảnh hưởng tích cực đến thái độ và thực hiện da kề da cũng như cho con bú sớm của các bà mẹ Nhiều bà mẹ trong nghiên cứu này chọn Bệnh viện Vinmec để sinh mổ nhằm được hưởng chế độ chăm sóc và thực hiện da kề da ngay sau khi sinh Họ nhận thông tin về chăm sóc sức khỏe trẻ em từ các nguồn như sách, internet, và các lớp học tiền sản tại bệnh viện Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó, cho thấy kiến thức và giáo dục sức khỏe về chăm sóc sơ sinh giúp các bà mẹ thực hiện tốt hơn các biện pháp chăm sóc thiết yếu cho trẻ.
Tình trạng thể chất và tinh thần của bà mẹ sau sinh, bao gồm mệt mỏi và đau vết mổ, có ảnh hưởng tiêu cực đến thời gian thực hiện da kề da và cho con bú sớm Điều này cũng được xác nhận bởi các nghiên cứu khác trên thế giới.
Mỗi bệnh nhân có mức độ chịu đau khác nhau, ảnh hưởng đến thời gian thực hiện da kề da và cho con bú sớm Những bà mẹ ít đau có thể thực hiện các biện pháp này sớm hơn, trong khi những bà mẹ đau nhiều sẽ gặp khó khăn hơn Việc thực hiện da kề da và cho bú sớm không chỉ thúc đẩy việc gọi sữa và co hồi tử cung tốt hơn mà còn giúp trẻ giảm nguy cơ sử dụng sữa công thức.
Nghiên cứu này gặp một số hạn chế, bao gồm việc quan sát trực tiếp quy trình CSTY của nhân viên y tế (NVYT), dẫn đến tính chính xác tương đối do sự khác biệt trong ý thức thực hiện của từng NVYT Quy trình CSTY bao gồm nhiều bước và được thực hiện bởi một ekip, khiến cho quan sát viên không thể theo dõi chi tiết từng bước của NVYT Hơn nữa, nghiên cứu chỉ đánh giá quy trình CSTY của toàn bộ ekip mà không phân tích riêng lẻ từng NVYT, do đó các đề xuất cải thiện chỉ mang tính chung cho khoa mà không cụ thể cho từng cá nhân Cuối cùng, nghiên cứu này cũng thiếu các nghiên cứu trước đó để so sánh, làm hạn chế khả năng đánh giá và đối chiếu kết quả.