1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

105 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
Tác giả Tào Viết Ka
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Văn Thức
Trường học Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Chuyên ngành Quản lý Văn hóa
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của luận văn Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam nhằm nghiên cứu thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Nông Sơn.

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA - BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TÀO VIẾT KA

QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN,

TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

THANH HÓA, 2021

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA - BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TÀO VIẾT KA

QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN,

TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa

Mã số: 8.319.042

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Thức

THANH HÓA, 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đề tài luận văn “Quản lý DTLSVH trên địa bàn huyện

Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn Thức

Các trích dẫn, bảng biểu số liệu nhận xét nêu trong luận văn là trung thực.Về những ý kiến khoa học đề cập trong luận văn, nếu có điều gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 10 năm 2021

Tác giả luận văn

Tào Viết Ka

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Dự kiến kết quả đạt được 7

7 Bố cục của luận văn 7

Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH, TỔNG QUANVỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 8

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích 8

1.1.1 Một số khái niệm: Di sản văn hóa, QLNN về di sản văn hóa, DTLSVH, Quản lý DTLSVH 8

1.1.2 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo vệ di sản văn hóa, quản lý DTLSVH 13

1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 15

1.2 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn 17

1.2.1 Vài nét về huyện Nông Sơn 17

1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn 18

Tiểu kết chương 1 25

Trang 5

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 26

2.1 Hệ thống tổ chức quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn 26

2.1.1 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam 26

2.1.2 Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Nông Sơn 28

2.1.3 Ban Văn hóa xã, thị trấn 30

2.2 Thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn 33

2.2.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về DTLSVH 33

2.2.2 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, dự báo bảo vệ DTLSVH 35

2.2.3 Công tác tu bổ, trùng tu, tôn tạo di tích 39

2.2.4 Công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 44

2.2.5 Hoạt động nghiên cứu khoa học 46

2.2.6 Hoạt động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 47

2.2.7 Tổ chức tranh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật tại các di tích lịch sử văn hóa 50

2.3 Nhận xét, đánh giá hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa 51

2.3.1 Những kết quả đạt được 52

2.3.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân 54

Tiểu kết chương 2 60

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 62

3.1 Quan điểm và mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa huyện Nông Sơn 62

Trang 6

3.1.1 Quan điểm 62

3.1.2 Mục tiêu 63

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn 65

3.2.1 Tăng cường công tác lãnh, chỉ đạo trong quản lý DTLSVH 65

3.2.2 Nâng cao nhận thức và đang dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục 67

3.2.3 Kiện toàn bộ máy và phân cấp quản lý 69

3.2.4 Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 71

3.2.5 Cơ chế chính sách phù hợp 73

3.2.6 Bảo tồn, phát huy giá trị của DTLSVH gắn với phát triển du lịch bền vững 75

3.2.7 Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học 77

3.2.8 Tăng cường thanh tra, kiểm tra và khen thưởng, xử lý vi phạm 78

Tiểu kết chương 3 82

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 92

Trang 7

DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật VHTT Phòng Văn hóa và Thông tin VHTTDL Sở Văn hóa thể thao và du lịch

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý DTLSVH trên địa bàn huyện Nông Sơn,

tỉnh Quảng Nam 26

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức của phòng VHTT huyện Nông Sơn 28

Bảng 2.1 Danh sách các di tích xếp hạng cấp tỉnh được tu bổ, tôn tạo 40

giai đoạn 2003 - 2018 40

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

DTLSVH là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta DTLSVH là những di sản văn hóa quý báu của mỗi địa phương, mỗi dân tộc và của cả nhân loại, là những dấu vết, dấu tích còn lại của quá khứ, phản ánh những biến cố, những sự kiện lịch

sử, văn hóa hay nhân vật qua các thời kỳ lịch sử, là những tư liệu, tài liệu để cho lớp lớp con cháu mai sau tìm hiểu, nghiên cứu về các thời kỳ đã trải qua của lịch sử của dân tộc, của đất nước Cho nên, việc bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH góp phần thiết thực vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Trên cơ sở kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa của cha ông để lại, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn, tôn tạo hệ thống di tích nói chung cũng như di tích lịch sử văn hóa và đã đạt được nhiều thành tựu đáng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Cùng với đó nhiều DTLSVH được xếp hạng, tu bổ, tôn tạo; với các lễ hội mang đặc trưng vùng miền được lưu giữ và phát triển

Nông Sơn là một huyện trung du thuộc tỉnh Quảng Nam, được chia tách từ huyện Quế Sơn theo Nghị định số 42/2008/NĐ-CP ngày 08/4/2008 của Chính phủ, có điều kiện địa lý: Phía Bắc giáp với huyện Duy Xuyên và Đại Lộc, phía Nam giáp với huyện Hiệp Đức và huyện Phước Sơn, phía Đông giáp với huyện Quế Sơn, phía Tây giáp với huyện Nam Giang Nông Sơn là vùng đất đầu nguồn sông Mẹ Thu Bồn của xứ Quảng có nhiều thắng cảnh, DTLSVH như đèo Le, Trung Phước, Hòn Kẽm Đá Dừng, Đại Bình, căn cứ Tân Tỉnh, lăng Bà Thu Bồn…

Trang 10

Trong những năm qua, đặc biệt là từ khi Luật Di sản văn hóa được ban hành (có hiệu lực từ năm 2001 đến nay), công tác quản lý di tích lịch sử -văn hóa ở huyện Nông Sơn đã có nhiều chuyển biến tích cực Các di tích trọng điểm của huyện đã được quản lý, trùng tu, tôn tạo Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý, bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa vẫn tồn tại một số vấn đề như: một số di tích bị xuống cấp, mai một, thu hẹp về diện tích, đội ngũ làm trong các DTLSVH còn thiếu, yếu, chưa được đào tạo đúng chuyên ngành, cơ sở vật chất ở nhiều di tích còn nghèo nàn, môi trường

di tích chưa thật sự trong sạch, kinh phí đầu tư cho việc trùng tu, tôn tạo, khôi phục phát huy giá trị di sản còn thấp; hoạt động dịch vụ trong các di tích, lễ hội chưa phong phú, đa dạng; bản sắc của địa phương chưa rõ nét, Chính vì vậy, công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các DTLSVH của huyện Nông Sơn trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết

Xuất phát từ thực tiễn trên, nhận thức được tầm quan trọng trong việc quản lý các DTLSVH trên địa bàn huyện Nông Sơn, tôi đã lựa chọn đề tài:

“Quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh

Quảng Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học Quản lý văn hóa với mong muốn nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động quản lý, bảo tồn và phát huy một cách có hiệu quả các DTLSVH đang hiện tồn tại trên mảnh đất Nông Sơn - Quảng Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những năm gần đây, các đề tài nghiên cứu về di tích đã được rất nhiều tác giả, các nhà nghiên cứu quan tâm, giới thiệu Trên cơ sở điểm luận các tài liệu đã tìm hiểu chúng tôi nhận thất việc nghiên cứu này đã có một số thành tựu cơ bản, tác giả xin chỉ ra một số công trình tiêu biểu sau:

2.1 Các công trình nghiên cứu về di tích nói chung

Năm 2010, tác giả Lê Hồng Lý (chủ biên) đã biên soạn cuốn “Giáo

trình quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch” Cuốn giáo trình đã đưa ra

một số khái niệm về di sản văn hóa, quản lý, quản lý di sản văn hóa, các

Trang 11

nguyên tắc và nội dung của công tác quản lý di sản văn hóa, vai trò của di sản đối với sự phát triển du lịch hiện nay

Tác giả Trần Vân Anh (2011) với đề tài: “Quản lý DTLSVH trên địa

bàn quận Long Biên thành phố Hà Nội”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học

Văn hóa Hà Nội, nghiên cứu đã đi sâu vào khảo sát phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cũng như hạn chế trong công tác quản lý di tích của quận Long Biên Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý DTLSVH và phát huy giá trị của di tích trên địa bàn quận Long Biên trong thời kỳ công nghiệp hoá - đô thị hoá, hội nhập quốc tế [2]

Trong bài viết của Đặng Văn Bài (1995), “Vấn đề QLNN trong lĩnh

vực bảo tồn di tích”, tạp chí Văn hóa thông tin (Số 2), tác giả đã đưa ra một

số nội dung chủ yếu của công tác QLNN đối với DSVH, coi đây là các vấn đề then chốt, cần quan tâm Các nội dung bao gồm: QLNN bằng văn bản pháp quy (gồm có các văn bản pháp quy về bảo vệ, phát huy giá trị DSVH; quyết định về cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết định phân cấp quản lý ); việc phân cấp quản lý di tích; Hệ thống tổ chức ngành bảo tồn - bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích - là yếu tố có tính chất quyết định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý [3, tr.11- 13]

Năm 2012, trong cuốn “Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi

mới và hội nhập quốc tế” do hai tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn

(đồng chủ biên) đã đề cập đến nhiều lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý văn hóa ở nước ta hiện nay trong đó có quản lý di sản văn hóa Ở lĩnh vực này, hai tác giả đưa ra thực trạng quản lý DTLSVH, bảo tàng và di sản văn hóa phi vật thể Nội dung quản lý được đề cập trên 2 khía cạnh là công tác QLNN và công tác phát triển sự nghiệp Từ thực trạng này hai tác giả đã đề ra những giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực của di tích như đầu tư đồng bộ trong bảo tồn, tôn tạo, triển khai việc quy hoạch chi tiết đối với các di tích để giải quyết hợp lý, hài hòa bền vững [27]

Trang 12

Ngoài các công trình trên, một số luận văn, luận án đã được bảo vệ đề cập đến việc quản lý DTLSVH, quản lý lễ hội như: Quản lý DTLSVH ở tỉnh Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa do tác giả Trần Đức Nguyên thực hiện (2015) [39], Quản lý DTLSVH ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc do tác giả Hoàng Thị Liên thực hiện (2016) [37], Quản lý DTLSVH cấp quốc gia ở huyện Hà Trung, tỉnh Quảng Nam do tác giả Nguyễn Văn Tùng thực hiện (2017) [44]…

2.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Sách “Địa chí Quảng Nam – Đà Nẵng” (2010) của NXB Khoa học Xã

hội xuất bản năm 2010, do tác giả Thạch Phương và Nguyễn Đình An chủ biên: dày gần 1.850 trang gồm 6 phần, khảo tả từ địa lý tự nhiên, địa lý hành chính đến lịch sử, kinh tế, văn hóa – xã hội và những người con tiêu biểu của đất Quảng [38]

Trung tâm quản lý bảo tồn di tích Hội An biên soạn tập sách “Di sản

Văn hóa Hội An - Nhìn lại một chặng đường” năm 2013 đã khái quát những

thuận lợi, khó khăn, những kết quả trong công tác quản lý, bảo tồn và phát

huy di sản văn hóa Hội An [48]

Bên cạnh đó còn có những tọa đàm, hội thảo về DTLSVH trên địa bàn tỉnh Quảng Nam như:

Hội thảo khoa học về “Đa dạng sinh thái Mỹ Sơn nhằm bảo tồn gắn với

phát triển bền vững Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam” do Viện Sinh thái

và Bảo vệ công trình chủ trì vào tháng 8/2016 Hội thảo đã nghiên cứu để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mô hình cụ thể và những sản phẩm thụ hưởng để đơn vị sở tại tiếp quản áp dụng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị của khu di tích [50]

Trang 13

Hội thảo quốc tế chủ đề “Thông điệp từ di sản thế giới ở Quảng Nam -

Thực trạng và tương lai” với sự tham dự của nhiều nhà khoa học thuộc cơ

quan Hợp tác quốc tế VN- Nhật Bản JICA, trường Đại học nữ Chiêu Hoà, ĐH Chi Ba (Nhật ) và VN [51] Hội thảo đã khẳng định, từ sau ngày được UNESCO công nhận Di sản văn hóa, Khu di tích Mỹ Sơn và Đô thị cổ Hội

An đã có những thay đổi lớn: các nhà khoa học quan tâm đến 2 di sản này hơn, lượng khách đến tham quan ngày càng nhiều, lợi nhuận từ kinh tế du lịch tăng nhanh, ý thức về gìn giữ, bảo tồn, trùng tu trong chính quyền và nhân dân ngày càng được nâng cao, nhiều tổ chức quốc tế và ngành hữu quan trong nước cũng đã quan tâm đầu tư kinh phí góp phần trùng tu di tích Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được, đã phát sinh nhiều vấn đề bất cập ảnh hưởng đến

di tích đang cần được chấn chỉnh, đặc biệt là cả 2 di sản đang cần sự quan tâm, hỗ trợ tích cực của cả cộng đồng trong nước và sự hỗ trợ của quốc tế để tiếp tục tồn tại cùng năm tháng

Nhìn chung các công trình trên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về DTLSVH trên địa bàn huyện Nông Sơn Tuy nhiên các tài liệu của các tác giả đi trước là nguồn tư liệu quý để trong quá trình triển khai đề tài, tác giả luận văn tiếp thu, kế thừa các kết quả này phục vụ cho mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài Từ đó giúp tác giả có cái nhìn khái quát về vấn đề đang nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống lý luận chung về quản lý DTLSVH, luận văn đi vào khảo sát phân tích, đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế trong công tác quản lý DTLSVH đã xếp hạng trên địa bàn huyện Nông Sơn, từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý DTLSVH huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

Trang 14

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về QLNN, về quản lý di sản văn hóa và quản lý DTLSVH

- Nghiên cứu những đặc điểm, các giá trị tiêu biểu của các DTLSVH ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý DTLSVH ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

- Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý DTLSVH ở huyện Nông Sơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác QLNN đối với hệ thống DTLSVH ở huyện Nông Sơn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Nghiên cứu công tác quản lý DTLSVH chỉ trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

Về thời gian: từ năm 2003 cho đến 2020

Vấn đề nghiên cứu: Chỉ tập trung vào các hoạt động QLNN đối với hệ thống DTLSVH ở Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ mục đích nghiên cứu được xác định ở trên, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tổng hợp phân loại tài liệu, phân tích

tài liệu, đọc, ghi chép và tóm tắt tài liệu khoa học Các tài liệu nghiên cứu và đánh giá như hệ thống các văn bản pháp quy có liên quan đến vấn đề quản lý DTLSVH; …Phương pháp nghiên cứu này sẽ giúp tác giả làm rõ được các yếu tố cơ bản của vấn đề quản lý DTLSVH địa phương

Trang 15

Phương pháp phỏng vấn: Qua các buổi gặp gỡ, trao đổi với các nhà

nghiên cứu, các nhà quản lý tại khu di tích, người dân địa phương, người nghiên cứu sẽ thu thập được những thông tin, kiến thức quan trọng trong công tác quản lý DTLSVH tại địa bàn

Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê: Dựa trên những thông tin đã

thu thập được của công tác điều tra, khảo sát, phỏng vấn trực tiếp, nghiên cứu tài liệu, tác giả sẽ tổng hợp, phân tích những điểm mạnh, yếu, những khó khăn, hạn chế, thách thức trong công tác quản lý DTLSVH từ đó đưa ra

hướng khắc phục

6 Dự kiến kết quả đạt được

- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về công tác QLNN đối với DTLSVH trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

- Mô tả và đánh giá thực trạng công tác quản lý DTLSVH trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay

- Cung cấp một số kiến giải và giải pháp khả thi trong quá trình quản

lý, bảo vệ và phát huy giá trị DTLSVH ở huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích, tổng quan về hệ thống

DTLSVH trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

Chương 2: Thực trạng quản lý DTLSVH trên địa bàn huyện Nông

Sơn, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý DTLSVH trên địa bàn

huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH, TỔNG QUAN

VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích

1.1.1 Một số khái niệm: Di sản văn hóa, QLNN về di sản văn hóa, DTLSVH, Quản lý DTLSVH

Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009

có viết: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [40, tr.25]

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa có liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo

và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [40, tr.26]

UNESCO chia di sản văn hóa thành hai loại: DSVH vật thể và DSVH phi vật thể DSVH vật thể bao gồm các di tích, công trình lịch sử, đền đài, cung điện, sách cổ, mẫu vật ở bảo tàng, công cụ sản xuất ở từng giai đoạn lịch

sử, các di tích danh thắng DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí

Trang 17

quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược cổ truyền, về văn hóa

ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [1, tr.60]

Như vậy, di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là thành quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta qua hàng nghìn năm lịch sử; phản ánh tiến trình phát triển, thành tựu và khả năng của chính dân tộc đó; phản ánh những đặc trưng

cơ bản để làm rõ sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác Trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, vai trò của di sản văn hóa có những đóng góp nhất định vào công cuộc bảo vệ đất nước; là những bài học lịch sử hun đúc nên lòng yêu nước, ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm của toàn dân tộc Trong các cuộc chiến đấu đó, những người ra trận hay những người ở hậu phương đều mang trong mình chiều sâu văn hiến mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

Theo Luật Di sản Văn hóa được sửa đổi, bổ sung năm 2009: "Di tích lịch sử-văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học" [40, tr 7]

Điểm 1, Điều 28, Chương IV Luật DSVH quy định để trở thành DTLSVH phải có các tiêu chí sau:

a Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước;

b Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước;

c Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng kháng chiến;

d Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;

Trang 18

đ Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [40, tr 7]

Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật DSVH có nêu tại Điều 11: “Di tích là các di tích lịch

sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân), di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh” Nội dung Nghị định này cũng nêu rõ 04 loại hình di tích: di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh

Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng các khái niệm đó đều được xác định đặc điểm chung: DTLSVH là những không gian vật chất cụ thể, khách quan của quá khứ còn tồn tại đến ngày nay, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử

Từ những nội dung nêu trên, có thể thấy, quan niệm DTLSVH chứa đựng hai yếu tố chính [12]:

Một là: Di tích là một loại di sản văn hóa vật thể còn lại của lịch sử,

gắn với một địa điểm một không gian nhất định, có gắn kết với một cộng đồng văn hóa nhất định Nghĩa là di tích tồn tại ở nơi có liên quan đến việc sinh ra, tồn tại (hoặc có một hay nhiều hoạt động), hoặc cũng có thể là nơi một nhân vật nào đó qua đời sau đó được nhân dân tưởng nhớ, lập nên chốn thờ phụng; hoặc có thể chỉ là nơi chôn cất một nhân vật tiêu biểu nào đó, người có ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân, được nhân dân biết ơn, tưởng nhớ; thậm chí cũng có thể đó chỉ là những nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp,

mà một nhân vật tiêu biểu nào đó trong lịch sử đã từng nghỉ chân, sau này được nhân dân biết ơn, tạo dựng lại những sinh hoạt đó tạo nên một nét đẹp văn hóa, một phong tục, hoặc có thể là một lễ hội ở chính địa điểm, không gian đó

Trang 19

Hai là: DTLSVH được hình thành và tồn tại luôn gắn với không gian

nhất định và có tiến trình thời gian; DTLSVH được con người sáng tạo ra và được các thế hệ con người bồi đắp, lưu truyền để tạo thành sản phẩm mang kết tinh văn hóa của nhiều thế hệ trong tiến trình lịch sử xã hội Mỗi di tích đều tích hợp nhiều tầng, lớp văn hóa mang giá trị nghiên cứu cho dù di tích đó được kiến tạo bằng chất liệu gì đi chăng nữa, được đan xen những giá trị văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau

Như vậy cần khẳng định: DTLSVH là sản phẩm vật thể do con người sáng tạo ra; mỗi DTLSVH tiềm ẩn nhiều giá trị và thông tin của nhiều lĩnh vực khoa học Mỗi DTLSVH có những thông tin sống động mà các nguồn sử liệu không thể ghi chép đầy đủ được

Khái niệm quản lý

Quản lý là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của một chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi con người, nhằm duy trì sự ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định Đây có thể là khái niệm có ý nghĩa thông thường và phổ biến nhất về quản lý [28, tr.14] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Quản lý” là việc chăm nom và điều khiển các hoạt động trong một tổ chức ban quản lý nhân sự; trông nom, giữ gìn và sắp xếp quản lý thư viện; quản lý sổ sách…” [30, tr.688]

Trong cuốn Tư bản, C Mác cho rằng: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [20]

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tùy thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

Trang 20

QLNN là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người QLNN là quá trình nắm và điều hành bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch và các công cụ khác của Nhà nước trong mọi lĩnh vực

mà hoạt động xã hội có liên quan do hệ thống các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) từ trung ương đến cơ sở tiến hành theo chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, quyền hạn của mỗi cơ quan

Quản lý DSVH là “một quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các DSVH trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn

và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư, chủ nhân của các DSVH đó” [37]

Quản lý DTLSVH là một hoạt động nằm trong công tác quản lý DSVH Theo quan điểm khoa học phổ biến hiện nay, quản lý DTSVH không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị vật thể mà quan trọng hơn là người làm công tác quản lý phải biết cách “đánh thức” những giá trị văn hóa phi vật thể để có tác động tích cực đến đời sống cộng đồng

Quản lý DTLSVH cũng chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLSVH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Các DTLSVH cần được tôn trọng

và bảo vệ vì đây là tài sản vô giá, là tài nguyên kinh tế du lịch không bao giờ cạn kiệt nếu chúng ta biết khai thác một cách khoa học Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng có hiệu quả những di tích có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tham quan du lịch, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước như đặc thù của nước ta hiện nay thì văn hóa cần được quản lý và định hướng để phục vụ cho mục tiêu phát triển KT-XH của đất nước, đồng thời bảo tồn được các giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 21

Như vậy, có thể hiểu: “Quản lý DTLSVH là quá trình tác động của chủ

thể quản lý (chính là hệ thống các cơ quan quản lý di tích) tới đối tượng quản

lý (là hệ thống DTLSVH) Để công tác quản lý có hiệu quả cần thông qua phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hoặc làm thay đổi tình trạng hiện hữu Trong trường hợp cụ thể với các đối tượng là DTLSVH thì mục tiêu cần hướng tới là bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH phục vụ quần chúng nhân dân và đáp ứng các yêu cầu của công cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [7]

1.1.2 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo vệ di sản văn hóa, quản lý DTLSVH

DTLS-VH là tài sản vô cùng quý báu mà cha ông ta đã để lại cho hậu thế Việc gìn giữ DTLS-VH chính là tiếp tục kế thừa những truyền thống tốt đẹp của lịch sử và thực sự rất cần thiết Đảng và Nhà nước đã ban hành và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật Sau cách mạng Tháng Tám, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65-SL về quản lý DSVH Sắc lệnh có 6 điều, ấn định nhiệm vụ cho Đông phương Bác cổ học viện có nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, và nghiêm cấm việc phá hủy đền, chùa, đình, miếu, điện, thành quách, lăng mộ Tinh thần của sắc lệnh này đã được quán triệt trong suốt hệ thống văn bản quy phạm pháp luật QLNN di sản văn hóa được xây dựng từ năm 1945 đến ngày nay

Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm

15 đà bản sắc dân tộc” Đề ra các nhiệm vụ cụ thể, trong đó có nhiệm vụ Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa Nhiệm vụ đặt ra Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể

Trang 22

Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009: Luật Di sản văn hóa ra đời đã tạo ra cơ sở pháp lý để triển khai hàng loạt các hoạt động cần thiết trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH; xác định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với DSVH; chỉ rõ những việc cần làm và không được làm, những hành vi nghiêm cấm, khen thưởng, tôn vinh những người có nhiều đóng góp tích cực trong việc bảo tồn, và phát huy giá trị DSVH, xử phạt những hành vi vi phạm di tích; quy định rõ trách nhiệm của các cấp, ngành từ Trung ương đến địa phương trong việc bảo tồn DSVH Nghị định số 92/NĐ-

CP, ngày 11/11/2002 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Di sản văn hóa; Nghị định số 98/NĐ-CP, ngày 06/11/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 Đây là những văn bản quy phạm dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành và cụ thể hoá những quy định trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, đặc biệt những nội dung có liên quan đến công tác quản lý DTLSVH Nghị định số 70/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ Quy định thẩm quyền, trịnh từ, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch,

dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi DTLSVH, danh lam thắng cảnh Nghị định nhằm hướng dẫn, cụ thể hoá việc quy hoạch bảo tồn và khôi phục di tích lịch sử; thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi DTLSVH, danh lam thắng cảnh

Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Thông tư quy định

về điều kiện năng lực, điều kiện hành nghề của tổ chức, cá nhân tham gia lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, thiết kế bản vẽ thi công bảo quản, tu bổ, phục

Trang 23

hồi di tích và thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; nội dung thiết kế tu

bổ di tích, thẩm quyền thẩm định hồ sơ thiết kế tu bổ; thi công tu bổ di tích Thông tư số 17/2013TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi

di tích Thông tư hướng dẫn việc xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo thiết kế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi DTLSVH, danh lam thắng cảnh sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên

Ngoài ra có một số văn bản QLNN về công tác QLDSVH như: Nghị định 166/2018; TT –CP; ngày 25/12/2018 qui định thẩm quyền, trình tự, thủ tục phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi DTLS; Thông tư 15/2019/TT – BVHTT&DL ngày 3/12/2019…

1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa

Luật Di sản văn hóa năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009; các Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật Di sản văn hóa đã cụ thể hóa đường lối, chính sách pháp luật, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay Nội dung QLNN và cơ quan QLNN về DSVH được quy định tại Điều 54

và Điều 55 của Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm

2009, cụ thể như sau [40]:

Điều 54: Nội dung QLNN về di sản văn hóa bao gồm:

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH

2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa

3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về DSVH

4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH

Trang 24

5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH

Nội dung QLNN về di sản văn hóa đã góp phần định hướng, điều chỉnh

sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, từ đó phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan QLNN

về di sản văn hóa tại điều 55, của Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã ban hành [40]:

Điều 55: Cơ quan QLNN về di sản văn hóa:

4 UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc QLNN về DSVH ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ

Từ khi Luật di sản văn hóa ra đời và đặc biệt hai Điều 54 và 55 đã xác định rõ nội dung QLNN và cơ quan QLNN về DSVH, giúp cho người trực tiếp quản lý công tác di tích lịch sử văn hóa nói riêng và di sản văn hóa nói

Trang 25

chung có cơ sở thuận lợi trong công tác quản lý của mình, đem lại chất lượng hiệu quả quản lý bảo tồn và phát huy di tích lịch sử trong thời đại công nghiệp

hoá hiện đại hoá

1.2 Tổng quan về hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn

1.2.1 Vài nét về huyện Nông Sơn

Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên

Huyện Nông Sơn được chia tách từ huyện Quế Sơn theo Nghị định số 42/2008/NĐ-CP ngày 08/4/2008 của Chính phủ, có điều kiện địa lý:

- Phía Bắc giáp với huyện Duy Xuyên và Đại Lộc, - Phía Nam giáp với huyện Hiệp Đức và huyện Phước Sơn, - Phía Đông giáp với huyện Quế Sơn, - Phía Tây giáp với huyện Nam Giang Huyện Nông Sơn có tổng diện tích tự nhiên 457,92 km².Toàn huyện có 6 xã 01 thị trấn, dân số là 31.954 người Trung tâm hành chính huyện đặt tại thôn Trung Phước 1, xã Quế Trung Đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Nhiệt độ trung bình từ 24 – 260 C Độ ẩm trung bình trong năm 82%

Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

So với toàn tỉnh Quảng Nam thì mật độ tăng trưởng bình quân toàn giai đoạn 2010 - 2015 của huyện thấp hơn (Nông Sơn: 10,23%; Quảng Nam: 14,85%) Năm cuối giai đoạn 2015, tốc độ tăng trưởng Nông Sơn giảm mạnh chỉ còn 5,56%, Quảng Nam: 12,16% Trong giai đoạn 5 năm qua, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, cơ cấu giá trị sản xuất huyện Nông Sơn đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: tăng tỷ trọng kinh tế phi nông nghiệp và giảm dần tỷ trọng kinh tế nông nghiệp Cơ cấu kinh tế chuyển dịch khá nhanh theo hướng tích cực, phù hợp với xu hướng tiến bộ chung là tăng tỷ trọng của các ngành phi nông nghiệp

Trang 26

Đặc điểm lịch sử văn hóa

Nông Sơn là nơi hội tụ của nhiều phong tục, tập quán Phong phú về văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh và lễ hội Nơi đây cũng là vùng đất học với nhiều nhà tri thức nổi tiếng như “Tứ kiệt” Nguyễn Đình Hiến, bác sỹ Bùi Kiến Tín, giáo sư Hoàng Châu Ký, nhà thơ Tường Linh …

Nông Sơn xưa là căn cứ cách mạng với những địa danh lịch sử nổi tiếng như căn cứ Tân Tỉnh – Trung Lộc của cụ Hường Hiệu thời kỳ 1885 –

1887, khu chiến khu Hoàng Văn Thụ thời kỳ 1946 – 1954…ghi dấu một thời oanh liệt của bao thế hệ cách mạng anh hùng đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần tô thắm thêm những trang sử vẻ vang của quê hương, dân tộc Đây cũng là nơi hội tụ nhiều phong tục, tập quán, văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh và lễ hội hết sức phong phú, như lễ Hội Bà Thu Bồn, lễ Hội đua ghe Con người nơi đây chịu thương, chịu khó và cũng rất hiếu học với nhiều nhà tri thức nổi tiếng như “Tứ Kiệt” Nguyễn Đình Hiến, bác sỹ Bùi Kiến Tín, giáo sư Hoàng Châu Ký, nhà thơ Tường Linh…

1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn

Trang 27

số di tích của huyện Loại hình di tích lịch sử chủ yếu là các di tích lịch sử gắn với sự kiện lịch sử, các di tích lưu niệm danh nhân Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm như: Đình, chùa, đền, nhà thờ họ, lăng mộ, nhà cổ

Hệ thống DTLSVH ở huyện Nông Sơn phân bố tương đối đồng đều khắp trên 7 xã và 01 thị trấn bao quanh hai nhóm di tích đã được xếp hạng và chưa được xếp hạng Như vậy, theo số liệu thống kê cho đến nay, xã Quế Trung, Phước Ninh và Quế Ninh là các xã có số lượng di tích đã được xếp hạng nhiều nhất Số di tích được xếp hạng DTLSVH quốc gia nhiều nhất là xã Quế Trung với 04 di tích [49]

Trang 28

cổ đã phát hiện trên mảnh đất Nông Sơn Tính đến nay, trên địa bàn huyện các nhà khảo cổ học xác định được 02 di chỉ khảo cổ học: di chỉ khảo cổ học Phước Hội (thôn Phước Hội, Quế Lâm, Nông Sơn, khai quật năm 2011) và di chỉ khảo cổ học đình Trung Lộc (thôn 3, xã Quế Lộc, huyện Nông Sơn, khai quật năm 2010)

Qua quá trình khai quật đã tìm thấy nhiều di vật, cổ vật hai mộ chum, một mộ đất, ba cụm gốm và một số đồ tùy táng chôn theo…Ông Nguyễn

Chiều, Trưởng đoàn cho biết: “Địa điểm khai quật là một di chỉ mộ táng của

người Sa Huỳnh cổ, có niên đại cách ngày nay khoảng từ 2.000 - 2.500 năm

Do tính chất khai quật hướng tới bảo tồn tại chỗ nên khai quật chỉ lấy lên những hiện vật, các dấu tích nền móng được giữ lại hố khai quật” [Phỏng vấn

tháng 6/2021] Hiện nay, các di tích gắn với di chỉ khảo cổ học chiếm số lượng rất ít và ít được quan tâm hoặc do thiếu nguồn kinh phí nên việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích khảo cổ học trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều khó khăn, các di tích khảo cổ học vẫn đối mặt với nguy cơ bị “xóa sổ”

* Loại hình di tích lịch sử

Với bề dày truyền thống lịch sử văn hóa Đồng thời, nơi đây còn ghi dấu lại nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của địa phương Đó là những địa chỉ gắn liền với các di tích lịch sử cách mạng như:

Mộ cụ Nguyễn Đình Hiến

Danh sĩ Nguyễn Đình Hiến sinh ngày 6.4.1872 tại làng Lộc Đông, tổng

Trung Lộc nay là thôn Lộc Đông, xã Quế Lộc, huyện Nông Sơn Cụ Nguyễn Đình Hiến có tên chữ là Dực Phu, hiệu Ấn Nam, thụy là Mạnh Khả, là con trai trưởng của ông Nguyễn Đăng Khoa, người đã tích cực ủng hộ và tham gia phong trào Cần Vương tại căn cứ Tân Tỉnh; là hậu duệ thứ 10 của Dặc trấn phụ quốc, Thượng tướng quân Mậu Lâm bá Nguyễn Văn Địch, quê gốc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Đầu thế kỉ XV Nguyễn Văn Địch và nhiều người

Trang 29

cùng quê đi vào phương Nam theo đoàn quân nam chinh của nhà Hồ vượt đèo ngang đến an cư lập nghiệp, khai hoang, quy dân lập ấn, hình thành nên làng Lộc Đông, xã Quế Lộc ngày nay

Sau những năm tháng cống hiến trên chốn quan trường, năm 1928 ông được điều về kinh đô rồi xin về hưu trí ở tuổi 56 với hàm Hiệp tá Đại học sĩ Trở về Huế ông sống ở ấp Bình An dưới dốc Nam Giao cùng vợ con, lập ngôi nhà vườn có tên Thủy Thạch Quỳnh Năm 1931, sau khi vợ là bà Tôn Nữ Thị Trinh qua đời, ông trở về nguyên quán ở làng Lộc Đông dựng túp lều tranh sống bình dị, an dưỡng tuổi già và ra đi thanh thản vào ngày 17 tháng 3 năm

1947, hưởng thọ 75 tuổi Hiện, mộ cụ Nguyễn Đình Hiến được nhà nước xây dựng dưới chân núi Bờ Gà thuộc thôn Lộc Tây 2, xã Quế Lộc (Nông Sơn) và

được Chủ tịch UBND tỉnh công nhận là di tích lịch sử vào ngày 8.2.2017

Khu Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ Hóc Thượng

Giai đoạn 2014-2019, công trình khu Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ Hóc Thượng (thôn Trung Nam, Quế Trung, Nông Sơn) được hình thành, đầu năm

2021, từ nguồn xã hội hóa, công trình nhà bia tưởng niệm được nâng cấp, hoàn thiện Đây là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ Năm 2014, Ban liên lạc Cựu chiến binh (CCB) Trung đoàn 31 đã lặn lội

đi tìm lại nơi đồng đội mình yên nghỉ, phối hợp cùng cán bộ, hội viên Hội CCB huyện Nông Sơn, Hội CCB xã Quế Trung tích cực kêu gọi vận động, đặt nền móng đầu tiên xây dựng nhà bia tưởng niệm để có nơi hương khói cho đồng đội Cuối năm 2019, công trình nhà bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Trung đoàn 31 hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã khánh thành, đáp ứng nguyện vọng của các cựu binh, thân nhân liệt sĩ, chính quyền và nhân dân Năm 2020, công trình một lần nữa được nâng cấp với nhiều hạng mục: 4 bia tưởng niệm, vườn hoa, cây cảnh trên khuôn viên có tổng diện tích 1.000m2, tổng giá trị hơn 4 tỷ đồng

Trang 30

Khu căn cứ Tân tỉnh Trung Lộc - Căn cứ của Nghĩa hội Quảng Nam

Khu trung tâm căn cứ kháng chiến của nghĩa quân đặt ngay làng Trung Lộc (sau chia ra là Trung Lộc Đông, Trung Lộc Tây nay là Lộc Đông, Lộc Trung, Lộc Tây xã Quế Lộc) có ba mặt là núi cao như những dãy trường thành che chắn, một mặt là sông Thu Bồn chảy qua - và bên kia sông, phía Đại Bình cũng là những dãy núi cao sừng sững

Khu căn cứ Tân Tỉnh ghi dấu một phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi nhất, rầm rộ nhất có tính chất quần chúng rộng rãi của Nhân dân Quảng Nam trong những năm 80 của thế kỷ XIX, đánh dấu sự khởi đầu cho các phong trào yêu nước, đấu tranh chống thực dân Pháp ở các năm tiếp theo của thế kỷ XX và sau này Chính nhãn quan sáng suốt của Nguyễn Duy Hiệu khi chọn vùng đất Trung Lộc làm căn cứ đã soi rọi cho thế hệ sau tiếp tục dựa vào thế đất này để chống quân xâm lược

*Di tích Danh lam thắng cảnh

Ngoài các khu di tích lịch sử, trên địa bàn huyện Nông Sơn còn có một

số khu di tích danh lam thắng cảnh tiêu biểu sau:

Khu du lịch Dinh Bà Thu Bồn

Khu du lịch Dinh Bà Thu Bồn có diện tích khoảng 40ha, tại thôn Trung An, xã Quế Trung Phía Tây giáp sông Thu Bồn, phía Nam giáp đường quốc lộ 14H, phía Đông và phía Bắc giáp đất nông nghiệp, đồi núi Khu du lịch Dinh Bà Thu Bồn gồm các tiểu khu: khu Dinh Bà, khu giếng Bà, ao Bà, khu vườn Bà, ao sen, khu ghềnh Bà, bến thuyền, khu vọng cảnh, khu ẩm thực, khu lưu trú, khu sinh thái,… Ngày 30/9/2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra Quyết định công nhận Lễ hội Bà Thu Bồn (xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên; xã Quế Trung, huyện Nông Sơn) vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Trang 31

Khu danh thắng Hòn Kẽm Đá Dừng

Hòn Kẽm Đá Dừng là một nơi phong cảnh sơn thủy hữu tình nằm ở thượng nguồn sông Thu Bồn Hòn Kẽm Đá Dừng là một thắng cảnh đẹp, nổi tiếng của xứ Quảng Xưa kia đây là một dãy núi đá kỳ vĩ như một bức tường thành soi bóng xuống dòng sông Thu Bồn

Qua thời gian, ngọn núi này đã bị xẻ thành 2 vách núi cao hơn 500m ở hai bên thượng nguồn sông Thu Bồn Hai vách núi đá dựng đứng, mang những hình thù kỳ lạ, nhô ra cản lấy dòng chảy của dòng sông tạo nên khung cảnh thơ mộng, trữ tình, tựa như một bức tranh tuyệt vời của tạo hóa

Tại khu vực này dòng sông trôi hiền hòa, miệt mài, len lỏi giữa hai dãy núi với những vách đá sừng sững oai nghiêm, hình thù kỳ dị, liêu xiêu, cây dại ken dày, khỉ sống thành đàn, chiều chiều ra sông tắm nắng, tạo nên cảnh quang thơ mộng và trữ tình Ngày thường ít nắng, nhiều sương khói và mát lạnh hơn bên ngoài

Hòn Kẽm Đá Dừng còn gắn liền với những giai thoại về cuộc khởi nghĩa nổi tiếng của thủ lĩnh Nguyễn Duy Hiệu (1847 - 1887) trong Phong trào Cần vương chống ách đô hộ của thực dân Pháp

Hòn Kẽm Đá Dừng không chỉ cuốn hút bởi cảnh quan sông núi hữu tình, hiền hòa mà còn hấp dẫn du khách bởi những dòng chữ cổ Chiêm Thành khắc ghi trên những phiến đá nặng hàng mấy chục tấn, đứng sừng sững soi mình xuống dòng sông Thu Bồn Với những dòng chữ Chăm ẩn hiện trên những phiến đá, những du khách nhiều mơ mộng sẽ dễ liên tưởng đang được

dấn mình đến những kho báu xa xưa khuất nẻo sơn cước

1.2.2.3 Hiện trạng của di tích lịch sử văn hóa

Trải qua thời gian tồn tại hàng nghìn năm các DTLSVH do mưa nắng, bão lụt, là những di tích lộ thiên nên khó tránh khỏi sự xuống cấp Thêm vào

đó nhân dân ta phải đối mặt với hai cuộc kháng chiến ác liệt chống thực dân

Trang 32

Pháp và chống đế quốc Mỹ nên không có thời gian chăm lo bảo vệ, chiến tranh tàn phá cũng làm cho các di tích hư hỏng nhiều, ngày nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế xuất hiện những nhu cầu hiện đại hoá, các giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ xuống cấp, với tốc

độ đô thị hoá, kinh tế, giao thông đã ảnh hưởng tới các di tích

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Quản lý DTLSVH là một trong các hoạt động quan trọng của cơ quan quản lý văn hóa nhằm thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với lĩnh vực DTLSVH Để hoạt động này có hiệu quả cao cần làm rõ một số vấn đề cơ bản như: Khái niệm DSVH, DTLSVH, quản lý DTLSVH, cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý, nội dung QLNN

về DSVH nói chung và di tích LSVH nói riêng

Chương 1 đã tập trung phân tích hệ thống DTLSVH ở huyện thông qua các nội dung cần thiết cho quá trình phân tích quản lý di tích cụ thể về số lượng di tích; các loại hình di tích; thực trạng và tình trạng kỹ thuật của di tích; phân tích tình trạng sở hữu di tích để tiến tới áp dụng cho mô hình quản

lý phù hợp hiệu quả Xác định giá trị của di tích, giá trị lịch sử, giá trị văn hóa trong đó có văn hóa vật thể và phi vật thể, phân tích vai trò của hệ thống DTLSVH đối với phát triển đời sống kinh tế, văn hóa xã hội trên địa bàn huyện Nông Sơn

Trang 34

Chương 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Hệ thống tổ chức quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn

2.1.1 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam

Cũng giống như các ngành khác trong cơ cấu bộ máy QLNN, ngành VHTT&DL được tổ chức và hoạt động theo tuyến ngành từ Trung ương đến địa phương, cụ thể ngành dọc là: Từ Bộ VHTT&DL đến Sở VHTT&DL đến phòng VHTT huyện, cấp dưới là ban QLDT cơ sở

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý DTLSVH trên địa bàn huyện

Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam

(Nguồn: UBND huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam)

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện QLNN về: Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Gia đình, Quảng cáo (trừ quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm) ở địa phương, các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo

sự ủy quyền của UBND tỉnh và theo quy định của pháp luật Theo đó, Sở

Trang 35

VHTT&DL ban hành Quyết định thành lập các phòng chức năng; giao trách nhiệm cho Phòng Nghiệp vụ tham mưu giúp lãnh đạo Sở về các nội dung:

Dự thảo quyết định, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm;

đề án, dự án, chương trình phát triển văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước; phân cấp quản lý và xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình ở địa phương; Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định

cụ thể tiêu chuẩn chức danh đối với trưởng, phó các tổ chức, đơn vị trực thuộc

Sở VHTT&DL; Trưởng, phó phòng VHTT thuộc UBND cấp huyện, sau khi phối hợp và thống nhất với Sở Thông tin và Truyền thông Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích thuộc địa phương quản lý sau khi được địa phương phê duyệt; Tổ chức điều tra, phát hiện, thống

kê, phân loại và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể thuộc địa bàn tỉnh; Hướng dẫn thủ tục và cấp giấy phép nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh cho tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Tổ chức thực hiện kiểm kê, phân loại, lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh thuộc địa bàn tỉnh; Thẩm định dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích cấp tỉnh có khả năng ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường của di tích; Tổ chức việc thu nhận, bảo quản các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do tổ chức,

cá nhân giao nộp và thu giữ ở địa phương theo quy định của pháp luật; Đăng

ký và tổ chức quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong phạm vi tỉnh; cấp giấy phép làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng cấp tỉnh

và sở hữu tư nhân; Quản lý, hướng dẫn tổ chức các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích, nhân vật lịch sử tại địa phương Như vậy, Sở VHTT&DL là cơ quan đầu mối tham mưu giúp UBND tỉnh Quảng Nam quản lý các DTLSVH trên địa bàn

toàn tỉnh

Trang 36

2.1.2 Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Nông Sơn

*Phân cấp quản lý

Phòng VHTT là bộ phận chịu sự quản lý trực tiếp của UBND huyện Nông Sơn, chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý các hoạt động văn hóa, thể thao,

du lịch trên địa bàn huyện

Phòng VHTT hiện có 04 cán bộ, trong đó: 01 trưởng phòng, 01 phó

trưởng phòng và 02 chuyên viên

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức của phòng VHTT huyện Nông Sơn

(Nguồn: Phòng VHTT&DL huyện Nông Sơn)

Với 100% cán bộ có trình độ đại học và được đào tạo đúng chuyên ngành và ngành phù hợp nên đáp ứng cơ bản các nhiệm vụ được giao Điểm hạn chế là khối lượng công việc nhiều, song đội ngũ lại mỏng, chỉ có một chuyên viên đảm nhiệm các mảng công tác chuyên môn (văn hóa, thể thao, du lịch, gia đình, truyền thanh…) dẫn đến khó hoàn thành công việc một cách tốt nhất Và có một số công việc không thuộc chuyên môn đào tạo nên gặp khó khăn trong triển khai chuyên môn, nghiệp vụ Trong đó có nhiệm vụ quản

lý thể thao quần chúng

Để khắc phục và nâng cao chất lượng đội ngũ, hàng năm UBND huyện Nông Sơn thường xuyên quan tâm, cử cán bộ đi đào tạo và tham gia các lớp học bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn ở bậc Sau Đại học để mỗi cán

01 Trưởng phòng

01 chuyên viên phụ trách hành

chính, kế toán của đơn vị 01 chuyên viên phụ trách hoạt động chuyên môn

01 Phó trưởng phòng

Trang 37

bộ tiếp thu được chủ trương, tinh thần, nghiệp vụ mới, bổ sung vào quá trình thực hiện hoạt động quản lý ở địa phương

*Chức năng, nhiệm vụ

Chức năng, nhiệm vụ của Phòng VHTT được thực hiện theo Thông tư liên tịch số: 07/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV của Bộ VHTT&DL - Bộ Nội vụ Thông tư đã nêu rõ: Phòng VHTT là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện QLNN về văn hóa, gia đình, TDTT, du lịch và quảng cáo; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật Phòng VHTT là cơ quan chuyên môn tham mưu cho UBND huyện quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa Công tác ban hành các văn bản quản lý Nhà nước được UBND huyện và phòng VHTT in xây dựng sát với tình hình thực tế của địa phương Phòng VHTT thường xuyên tham mưu cho Huyện uỷ, UBND huyện xây dựng, ban hành các Nghi quyết, các Đề án, Chỉ thị, kế hoạch văn bản hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan có liên quan và UBND các xã, thị trấn, các Ban quản lý di tích, những người được giao nhiệm vụ trông coi di tích thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ di tích, nhất là trong các dịp đầu năm, dịp lễ hội tại các di tích

Ngoài ra phòng VHTT còn đảm nhận một số nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Thực hiện các công tác QLNN về hoạt động văn hóa cơ sở Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương;

- Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn huyện thực hiện phong trào VHVN; phong trào luyện tập TDTT; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; xây dựng gia đình văn hóa, thôn văn hóa, khu phố văn hóa, đơn vị văn hóa; bảo vệ các di tích lịch sử - văn hóa và danh

Trang 38

lam thắng cảnh; bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch trên địa bàn

- Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các thư viện, trung tâm văn hóa, trung tâm TDTT hoặc trung tâm VHTT, các TCVH cơ sở, các cơ sở hoạt động dịch vụ văn hóa, TDTT, du lịch và quảng cáo điểm vui chơi công cộng thuộc phạm vi quản lý của Phòng trên địa bàn

- Tổ chức các hoạt động văn hóa, bồi dưỡng năng khiếu nhằm nâng cao đời sống văn hóa, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hóa và giải trí nhân dân Như vậy, việc QLNN về lĩnh vực DTLSVH là một trong các nhiệm

vụ chính của Phòng VHTT huyện Nông Sơn

2.1.3 Ban Văn hóa xã, thị trấn

Ban QLDT cơ sở ở huyện Nông Sơn được thành lập đúng theo Quyết định 2060/2013/QĐ-UBND ngày 17/6/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam về ban hành quy định quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Từ đó tổ chức kiện toàn, củng cố và phát huy hiệu quả hoạt động của các cơ quan QLNN về

di tích, các ban QLDT từ tỉnh đến cơ sở Đối với các di tích đã được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và UBND tỉnh ra quyết định xếp hạng, các địa phương đã thành lập ban QLDT cơ sở, do đại diện lãnh đạo UBND xã, phường, thị trấn làm trưởng ban, các ngành văn hóa - xã hội, công an, hội người cao tuổi, địa chính, mặt trận Tổ quốc, trưởng thôn, cụm dân cư nơi có di tích và người phụ trách di tích (người trụ trì hoặc thủ từ, thủ nhang đình, đền, chùa, nhà thờ…) làm ủy viên

Cũng theo Quyết định 2060/2013/QĐ-UBND, ngày 17/6/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam về ban hành quy định quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Trong quy định có nhấn mạnh việc củng cố, kiện toàn ban

Trang 39

QLDT cơ sở, xây dựng quy chế hoạt động, phân công rõ trách nhiệm của từng thành viên, sử dụng kinh phí và tiền công đức công khai, minh bạch, đúng mục đích chú trọng công tác xã hội hóa trong việc bảo vệ di tích, có thể ký hợp đồng, bố trí người có năng lực, trách nhiệm trông coi di tích

Cụ thể: ngoài những di tích cấp tỉnh có giá trị, quy mô rộng, phức tạp, yêu cầu chuyên môn cao đã được Chủ tịch UBND cấp huyện xác định) và di tích được kiểm kê bảo vệ: UBND tỉnh giao UBND các xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) trực tiếp quản lý Chủ tịch UBND cấp

xã căn cứ vào đặc điểm, tình hình và yêu cầu công tác bảo vệ, phát huy giá trị

di tích ở địa phương để báo cáo, đề nghị Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định thành lập (sáp nhập, giải thể, chia tách, tổ chức lại) Ban quản lý di tích

cơ sở và quy định tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, thành phần tham gia Ban quản lý theo quy định của pháp luật Thành viên ban quản lý được hưởng phụ cấp do UBND cấp xã chi từ nguồn thu của di tích hoặc các nguồn khác do UBND cấp xã tự cân đối

Theo số liệu phòng VHTT huyện Nông Sơn đến tháng 12 năm 2019, huyện đã thành lập 07 ban QLDT cơ sở cấp xã, thị trấn theo quy định, tương ứng với 12 di tích trên địa bàn của 07 xã, thị trấn có di tích đã được cấp có thẩm quyền xếp hạng Ngoài ra những xã có số lượng di tích nhiều hơn cũng thành lập các tiểu ban QLDT để bảo vệ di tích theo đúng quy định, từng Ban QLDT cơ sở có trách nhiệm như sau:

Xây dựng quy chế hoạt động, phân công rõ trách nhiệm của từng thành viên, sử dụng kinh phí và tiền công đức công khai, minh bạch, đúng mục đích; chú trọng công tác xã hội hóa trong việc bảo vệ di tích, có thể ký hợp đồng, bố trí người có năng lực, trách nhiệm trông coi di tích Hàng năm, ban QLDT cơ sở có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện việc bảo vệ, phát huy giá trị di tích về phòng VHTT tin huyện Ban QLDT cơ sở phải có các biện

Trang 40

pháp tích cực, hiệu quả trong việc bảo vệ di tích, bố trí người có trách nhiệm trông coi di tích, không để xảy ra tình trạng mất cắp di vật, cổ vật, đồ thờ tại các di tích Nếu lễ hội được tổ chức ở địa điểm gắn với di tích thì ban tổ chức

lễ hội phải kết hợp chặt chẽ với ban QLDT cơ sở để bảo vệ di tích, phòng chống cháy nổ, trộm cắp, môi trường và các hoạt động xâm hại khác làm ảnh hưởng đến di tích, để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho di tích

Tiểu ban quản lý di tích

Thực tế cho thấy ngoài ban QLDT cơ sở thì một số ít di tích trên địa bàn huyện Nông Sơn đã thành lập những tiểu ban QLDT, tùy theo loại hình, quy mô di tích của mỗi địa phương mà thành lập vì không quy định bắt buộc trong hướng dẫn của tỉnh ban hành Di tích có tiểu ban QLDT thường có từ 03 đến 05 thành viên do Hội người cao tuổi thôn bầu ra; Trưởng tiểu ban QLDT thường do hội trưởng người cao tuổi thôn, hoặc con cháu của các dòng họ đảm nhiệm, thành viên gồm lãnh đạo thôn, làng, thủ từ và một số thành phần khác do nhân dân trong làng bầu ra

Khi thành lập tiểu ban QLDT đều xin phép và được sự đồng ý phê chuẩn của UBND xã, thị trấn Như vậy có thể thấy việc thành lập các tiểu ban QLDT tại một số di tích như một nhu cầu thiết yếu của địa phương, trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH hiện nay cụ thể như: Tiểu ban QLDT Mộ cụ Nguyễn Đình Hiến, khu Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ Hóc Thượng, khu căn cứ Tân tỉnh Trung Lộc – Căn cứ của Nghĩa hội Quảng Nam, khu du lịch Dinh Bà Thu Bồn, Miếu Ngũ Nương, Dinh Hố Chuối, Hồ Trung Lộc (đập ông Đà), địa điểm chiến thắng Thạch Bích, Nhụ Sơn, địa điểm căn

cứ Tân Tỉnh…

Như vậy trên một xã thì có Ban QLDT cấp cớ sở được thành lập còn có các tiểu ban QLDT được thành lập từ các làng, thôn trên địa bàn mục đích để bảo vệ và trông coi di tích

Ngày đăng: 01/12/2022, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương (tái bản năm 2000), Nxb. Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương (tái bản năm 2000)
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 1938
2. Trần Vân Anh (2011), Quản lý DTLSVH trên địa bàn quận Long Biên thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Quản lý văn hóa, Thư viện trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý DTLSVH trên địa bàn quận Long Biên thành phố Hà Nội
Tác giả: Trần Vân Anh
Năm: 2011
3. Đặng Văn Bài (1995), “Vấn đề QLNN trong lĩnh vực bảo tồn di tích”, Tạp chí Văn hóa thông tin (Số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề QLNN trong lĩnh vực bảo tồn di tích”
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 1995
4. Đặng Văn Bài (2005), “Tiếp cận thực trạng công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích theo tinh thần của Luật Di sản văn hóa”, Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiếp cận thực trạng công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích theo tinh thần của Luật Di sản văn hóa”, Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2005
5. Đặng Văn Bài (2007), “Về vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích lưu niệm danh nhân”, Tạp chí Di sản văn hóa (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích lưu niệm danh nhân”
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2007
6. Ban Chấp hành Trung ương 5 khóa VIII (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương 5 khóa VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
7. Ban quản lý Di tích và thắng cảnh Hà Nội (2000), DTLSVH Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: DTLSVH Hà Nội
Tác giả: Ban quản lý Di tích và thắng cảnh Hà Nội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
9. Bộ Văn hóa - Thông tin (2000), Đề cương văn hóa Việt Nam 1943: Những giá trị tư tưởng - văn hóa, Viện Văn hóa - Thông tin và Văn phòng Bộ xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương văn hóa Việt Nam 1943
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
12. Nguyễn Chí Bền (2003), “Di sản văn hóa phi vật thể, từ sưu tầm, nghiên cứu đến bảo tồn và phát huy”, Văn hóa Nghệ thuật (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di sản văn hóa phi vật thể, từ sưu tầm, nghiên cứu đến bảo tồn và phát huy
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2003
13. Nguyễn Chí Bền (2009), Đề tài KX09. 09 “Bảo tồn và phát huy giá trị những di tích lịch sử - văn hóa - cách mạng tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài KX09. 09 “Bảo tồn và phát huy giá trị những di tích lịch sử - văn hóa - cách mạng tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2009
14. Nguyễn Chí Bền (2010), “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội”, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội”
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
15. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2003
17. Chu Quang Chứ (1999), Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam, Nxb. Mỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Chứ
Nhà XB: Nxb. Mỹ Thuật
Năm: 1999
18. Chu Quang Chứ (1999), Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam, Nxb. Mỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Chứ
Nhà XB: Nxb. Mỹ Thuật
Năm: 1999
22. DTLSVH Việt Nam (1991), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: DTLSVH Việt Nam (1991)
Tác giả: DTLSVH Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1991
23. Nguyễn Xuân Đức (2004), Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa dân gian trong cuộc sống mới, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3, tr.3-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa dân gian trong cuộc sống mới
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Năm: 2004
24. Trịnh Minh Đức, Nguyễn Đăng Duy (1993), Bảo tồn DTLSVH, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn DTLSVH
Tác giả: Trịnh Minh Đức, Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1993
25. Trịnh Thị Minh Đức, Phạm Thu Hương (2007), Bảo tồn DTLSVH, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn DTLSVH
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức, Phạm Thu Hương
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 2007
26. Trịnh Thị Minh Đức (2007), Bảo tồn DTLSVH (Giáo trình dành cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành bảo tàng), Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn DTLSVH (Giáo trình dành cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành bảo tàng)
Tác giả: Trịnh Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2007
28. Học viện hành chính Quốc gia (2009), QLNN về xã hội, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: QLNN về xã hội
Tác giả: Học viện hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HĨA Ở HUYỆN NƠNG SƠN - VĂN HĨA Ở HUYỆN NƠNG SƠN - Luận văn Thạc sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HĨA Ở HUYỆN NƠNG SƠN - VĂN HĨA Ở HUYỆN NƠNG SƠN (Trang 102)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HĨA Ở HUYỆN NƠNG SƠN - VĂN HĨA Ở HUYỆN NƠNG SƠN - Luận văn Thạc sĩ Quản lý văn hóa: Quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HĨA Ở HUYỆN NƠNG SƠN - VĂN HĨA Ở HUYỆN NƠNG SƠN (Trang 102)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm