Mục đích nghiên cứu của luận văn Quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam gắn với phát triển du lịch nhằm làm rõ vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa quản lý di tích lịch sử - văn hóa với phát triển du lịch, Luận văn đi sâu phân tích thực trạng quản lý di tích lịch sử- văn hóa gắn với phát triển du lịch ở huyện Quế Sơn hiện nay. Từ đó, đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động trong thời gian tới, đáp ứng nhu cầu đổi mới công tác quản lý, bảo vệ và khai thác hiệu quả hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn phục vụ phát triển du lịch.
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA - BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
LÊ QUANG TIÊN SƠN
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
THANH HÓA, 2021
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA - BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO & DU LỊCH
LÊ QUANG TIÊN SƠN
QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 8.319.042
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Văn Tuyến
THANH HÓA, 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Vũ Văn Tuyến Tất cả hệ thống lý luận, các số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực Luận văn không sao chép, trùng lặp với bất kỳ công trình nào Tôi xin Hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan của mình
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 10 năm 2021
Tác giả luận văn
Lê Quang Tiên Sơn
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Kết quả đạt được 9
7 Cấu trúc của Luận văn 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN 10
1.1 Cơ sở lý luận quản lý di tích lịch sử - văn hóa 10
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản: 10
1.1.2 Nội dung quản lý di tích lịch sử - văn hóa 15
1.1.3 Quan điểm về quản lý di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 21 1.2 Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn 26
1.2.1 Vài nét về huyện Quế Sơn 26
1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn 27
*Tiểu kết chương 1 31
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH 33
2.1 Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 33
Trang 52.1.1 Tổ chức bộ máy 33
2.1.2 Thực hiện các văn bản pháp lý về quản lý Nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 44
2.1.3 Công tác tuyên truyền phổ hiến trong Nhân dân về pháp luật bảo vệ di tích lịch sử -văn hóa 48
2.1.4 Công tác quản lý bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 52
2.1.5 Công tác xã hội hóa trong việc tham gia quản lý di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 55
2.1.6 Quản lý hoạt động dịch vụ tại di tích lịch sử - văn hóa 57
2.1.7 Quản lý tài chính 59
2.1.8 Công tác Thanh tra, kiểm tra 60
2.2 Đánh giá công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 61
2.2.1 Ưu điểm 61
2.2.2 Hạn chế 63
2.2.3 Nguyên nhân 65
Tiểu kết chương 2 67
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 71
3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về quản lý di sản văn hóa và di tích lịch sử - văn hóa 71
3.2 Dự báo những tác động ảnh hưởng tới công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn 75
3.2.1 Những tác động tích cực 75
3.2.2 Những tác động tiêu cực 77
Trang 63.3 Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử -
văn hóa gắn với phát triển du lịch ở huyện Quế Sơn 78
3.3.1 Nâng cao công tác chỉ đạo, quản lý 78
3.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn trong quản lý di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 81
3.3.3 Đẩy mạnh và đa dạng hóa công tác thông tin tuyên truyền, quảng bá di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 83
3.3.4 Nâng cao hiệu quả quản lý bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 85
3.3.5 Phát huy giá trị của di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 87 3.3.6 Huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích lịch sử - văn hóa phục vụ phát triển du lịch 90
3.3.7 Tăng cường công tác Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm 92
3.4 Một số kiến nghị 93
3.4.1 Kiến nghị với sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam 93
3.4.2 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân huyện Quế Sơn 94
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 104
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
VH - TT Văn hóa -Thông tin
SVHTT&DL Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của
Liên hiệp quốc
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý di tích lịch sử -văn hóa tại huyện Quế Sơn, Quảng Nam 33Biểu đồ 2.1 Nguồn xã hội hóa cho công tác bảo tồn, phát huy di tích ở huyện Quế Sơn giai đoạn 2015 - 2020 56
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quảng Nam là một vùng đất có nhiều di tích lịch sử văn hóa; có lẽ những cái tên quen thuộc như Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn đã làm nên một dấu ấn Quảng Nam Quế Sơn là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Quảng Nam với ưu thế, lợi thế về các di tích lịch sử văn hóa gắn với phát triển du lịch Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận, hội, đoàn thể trên địa bàn huyện Quế Sơn cùng với 13 xã, thị trấn đã chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện cùng với
sự đồng tình, ủng hộ của Nhân dân nên công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa, thắng cảnh bước đầu đạt được những kết quả nhất định Trong nghiên cứu lịch sử dân tộc, Di tích lịch sử văn hóa được coi là nguồn tư liệu để con người quan tâm bởi lẽ các di tích chính là những bằng chứng xác thực cụ thể về từng đặc điểm lịch sử, văn hóa của một vùng miền, là nơi lưu truyền những giá trị truyền thống của dân tộc Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thời gian và sự tác động của thiên nhiên vào di tích lịch sử văn hóa, làm cho giá trị vốn có của di tích đang dần bị mất đi, làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống văn hóa của Nhân dân
Quế Sơn có nhiều điều kiện tự nhiên ưu đãi, đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc trao đổi với các địa phương trong tỉnh như: Hội An, Duy Xuyên, Thăng Bình, Hiệp Đức, Nông Sơn Là một địa phương có bề dày truyền thống lịch sử Theo đó, thực hiện Chương trình hành động số 21-CTr/HU ngày 11/9/2014 của Huyện ủy Quế Sơn về “Thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, ngày 25 tháng 10 năm 2016, Huyện
Trang 10ủy Quế Sơn ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HU về phát triển du lịch, bảo tồn
và phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025
Hiện nay, toàn huyện có 2 di tích cấp Quốc gia, 32 di tích cấp tỉnh, 01
di tích đang được Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Nam lập hồ sơ đã gửi Bộ VHTT&DL công nhận di tích cấp Quốc gia Mặc dù là địa phương có tiềm năng lớn để phát triển du lịch nhưng đến nay kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh cũng như giá trị của hệ thống di tích trên địa bàn huyện
Xuất phát từ những lí do nêu trên, với nguyện vọng tha thiết của một người con Quế Sơn trong việc chung tay, góp sức phục vụ sự nghiệp bảo vệ, khai thác, phát huy giá trị của hệ thống di tích lịch sử văn hóa vào hoạt động
phát triển kinh tế - xã hội địa phương, tôi đã nghiên cứu chọn đề tài: “Quản lý
di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam gắn với phát triển du lịch” làm Luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Quản
lý Văn hóa
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các công trình về quản lý di tích lịch sử - văn hóa nói chung
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tiếp cận quản lý DSVH-VH từ khá sớm, như tác giả Peter Howard trong cuốn “Di sản: Quản lý, diễn giải và bản
4 sắc” đã cho rằng, vào khoảng đầu thế kỷ XIX việc quản lý di sản ban đầu xuất hiện là những người say mê với lòng tin rằng họ bảo tồn những giá trị của di tích Hiệp hội di sản ở châu Âu ra đời vào thế kỷ XX, việc nghiên cứu
di sản đã phát triển về “Quản lý di sản" và phát triển mạnh vào nửa sau thế kỷ
XX và được phân ra các lĩnh vực của di sản như: thiên nhiên, cảnh quan, Đài
kỷ niệm, khu di tích [7]
Trang 11Ngày nay, DSVH được các nhà nghiên cứu cho rằng, không chỉ là một giá trị biểu tượng trong cộng đồng, trong xã hội tức là phải đóng góp vào sự phát triển chung, DTLS-VH phải được phục vụ lại cho cộng đồng dân cư Ashworth G.J - Larkham P.J để triển khai được một ngành công nghiệp cần khai thác các giá trị của di sản Do vậy trong công tác quản lý cần có những phương án của một ngành công nghiệp đề ra các giải pháp quản lý phù hợp với các đặc điểm của các di sản đó [7]
Tại “Hướng dẫn thực hiện công ước di sản thế giới” [35], UNESCO đã đưa ra yêu cầu cho các quốc gia thành viên cần phải xây dựng kế hoạch quản
lý ở khu di sản thế giới với những mục đích như:
- Để di sản có giá trị nổi bật cần phải nhận diện chính xác, toàn cầu của giá trị sản;
- Phải xác định rõ những áp lực từ tự nhiên và các hoạt động kinh tế -
xã hội tới khả năng bảo tồn và phát huy di sản;
- Việc quản lý di sản phải có cơ chế, chính sách phù hợp để thực thi;
- Có phương án, chương trình hành động cụ thể nhằm hạn chế, ngăn ngừa những yếu tố ảnh hưởng tới di sản;
- Thúc đẩy từ các nguồn lực xã hội trong việc hoạt động bảo tồn DSVH Tuy nhiên, trong bối cảnh của đất nước hiện nay, Đảng và Nhà nước
đã dành sự quan tâm tới các DSVH với nhiều chính sách nhằm bảo vệ, lưu giữ và phát huy các giá trị của chúng Theo đó, qua nghiên cứu của các tác giả trong nước việc xoay quanh các vấn đề về kinh nghiệm, lý luận, thực tiễn của hoạt động quản lý, bảo tồn và cần phát huy giá trị của DSVH-VH trong hội nhập và phát triển, từ đó đề ra các giải pháp, kiến nghị phù hợp cụ thể Trong công tác quản lý tập trung vào 3 vấn đề là: công nhận di tích, quản lý cổ vật
và phân cấp quản lý di tích Tác giả nhấn mạnh: để các di tích lịch sử văn hóa bảo vệ và phát huy giá trị cần thực hiện một cách đồng bộ 3 mặt Do đó, cần thiết phải thực hiện:
Trang 12Thứ nhất, các cơ chế, chính sách phải đảm bảo đúng nguyên tắc từ đó mới có tác dụng để thúc đẩy sự nghiệp bảo tồn, bảo tàng trong cả nước; Thứ hai: cần tập trung triển khai sâu rộng chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước;
Thứ ba: đưa các hoạt động bảo tồn DTLS - VH trở thành sự nghiệp của toàn dân
Tác giả Đặng Văn Bài có bài viết: “Vấn đề quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích” đăng trên tạp chí Văn hóa, nghệ thuật số 4 tập trung vào
một số nội dung chủ yếu của công tác quản lý Nhà nước đối với di sản văn hóa, coi đây là các vấn đề then chốt, cần quan tâm Các nội dung bao gồm: Công tác Quản lý Nhà nước bằng các văn bản gồm: (Văn bản về bảo vệ phát huy giá trị di sản văn hóa; Quyết định về cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết định phân cấp quản lý ); Việc phân cấp quản lý DTLS - VH; Hệ thống tổ chức ngành bảo tồn - bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý là tính chất quyết định để tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý [8]
Trần Đức Nguyên đã đưa ra ý kiến đánh giá công tác quản lý di tích tại
địa phương qua Luận án tiến sỹ về “Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Bắc Ninh trong quá trình CNH-ĐTH” Tác giả thông qua lý luận về quản lý di tích
đã tiến hành khảo sát 2 đối tượng là cán bộ quản lý di tích và người dân về các hoạt động quản lý Nhà nước tại địa phương Từ thực tế của các di tích trên địa bàn tác giả đã đặt ra câu hỏi về thực trạng quản lý di tích, những thành công và những thất bại, nguyên nhân thất bại đến từ đâu và có những giải pháp cần thiết để giải quyết vấn đề Bài nghiên cứu hơn 200 trang là công trình có ý nghĩa thực tiễn đối với tỉnh Bắc Ninh và là tài liệu tham khảo có giá trị cho những chuyên đề bảo tồn DTLS - VH sau này [43]
Trang 13Nguyễn Quốc Hùng với bài viết “Tầm nhìn tương lai đối với di sản văn hóa và hệ thống bảo vệ di tích ở nước ta” đã đề cập tới những tác động của
công nghiệp hóa, đô thị hóa làm tổn hại tới hệ thống di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này
là sự thiếu đồng bộ, thiếu ý thức và thiếu quan tâm đến việc bảo tồn di sản của một số ngành, địa phương trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các cơ sở vật chất… Tác giả bài viết đã phân tích khá kỹ cả ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa trong điều kiện công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay [25]
Các bài viết này có xu hướng đề cập cả những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của việc bảo tồn, phát huy và vai trò của DSVH trong bối cảnh phát triển kinh tế, CNH - HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay
2.2 Các công trình về di tích, quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
Theo dòng chảy lịch sử của huyện Quế Sơn, sau ngày quê hương được hoàn toàn giải phóng đến ngày 08/4/2008 thực hiện Nghị định 42/NĐ-CP của Chính phủ về chia tách huyện Quế Sơn thành 02 huyện Quế Sơn và huyện Nông Sơn Ở đây đã hình thành nhiều loại hình văn hóa phong phú, đặc sắc
mà dấu tích còn để lại rõ nét đến ngày nay, những di tích lịch sử - văn hóa đã góp phần vào kho tàng di sản văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú của đất nước ta như: Dân ca, bài chòi, Tuồng, lễ hội, ẩm thực… Đã có những công
trình về lịch sử văn hóa về vùng đất Quế Sơn như: “Vai trò Lịch sử của làng Hương Quế, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong công cuộc mở cõi” của
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam, “Hòn Tàu đi cùng năm tháng” của Ban Tuyên giáo Huyện ủy Quế Sơn, “Quế Sơn hành trình phát triển”,
“Quế Sơn Văn hóa và Tiềm năng” của UBND huyện, “Lịch sử làng Nghi Sơn” của UBND xã Quế Hiệp, Atlat “Quế Sơn, Văn hóa và Du lịch” của
Trang 14Phòng Văn hóa và Thông tin huyện … Ngoài ra, Huyện ủy Quế Sơn cũng đã ban hành nhiều Nghị quyết để bảo tồn, phát huy các loại hình nghệ thuật, Nghị quyết về phát triển Du lịch trên địa bàn huyện
Từ các công trình nghiên cứu nêu trên, có thể thấy, di tích lịch sử - văn hóa là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, thể hiện qua nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đề cập trên cả phương diện lý luận cũng như các hoạt động thực tiễn Các quan điểm về quản lý DSVH - VH đều tập trung
đề cập nhiều đến vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH - VH trong bối cảnh hiện nay
Trong chương trình phát triển du lịch Quảng Nam, ngày 27 tháng 12 năm 2016, Tỉnh ủy Quảng Nam (Khóa XXI) đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TU về phát triển du lịch Quảng Nam đến năm 2020, định hướng đến năm
2025 Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định số 2648/QĐ-UBND ngày 29/8/2014 về điều chỉnh, bổ sung về công tác bảo tồn các di tích trên địa bàn tỉnh Ngoài ra UBND tỉnh Quảng Nam ban hành các Quy hoạch, Kế hoạch đề ra các mục tiêu, giải pháp về công tác quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị di tích trên địa bàn tỉnh
Một số nghiên cứu đã đề cập đến việc bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị, xây dựng dự án quy hoạch những trọng điểm di tích của địa phương, cụ thể
như: Địa điểm Chiến thắng Cấm Dơi, Căn cứ đặc Khu ủy Quảng đà Tuy
nhiên, các nghiên cứu về quản lý DSVH của các tác giả đi trước còn có một
số hạn chế sau: chưa đề cập tới đối tượng quản lý và công cụ quản lý Sự tham gia tự nguyện của cộng đồng như là một nhân tố quan trọng cho quản lý DSVH mới đề cập ở mức độ khái quát
Có thể nói, những nghiên cứu của các học giả đi trước sẽ là nguồn tư liệu quan trọng, có nhiều ý nghĩa, giá trị để tác giả Luận văn tham khảo, kế thừa nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình
Trang 153 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa quản lý di tích lịch sử - văn hóa với phát triển du lịch, Luận văn đi sâu phân tích thực trạng quản lý di tích lịch sử- văn hóa gắn với phát triển du lịch ở huyện Quế Sơn hiện nay Từ đó, đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng
và hiệu quả của hoạt động trong thời gian tới, đáp ứng nhu cầu đổi mới công tác quản lý, bảo vệ và khai thác hiệu quả hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn phục vụ phát triển du lịch
- Trên cơ sở thực trạng, đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng
và hiệu quả của công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, gắn với phát triển du lịch một cách bền vững
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Công tác quản lý hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam gắn với phát triển du lịch
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng quản lý di tích lịch sử - văn hóa, cơ chế quản lý,
tổ chức bộ máy, quan điểm định hướng và giải pháp nhằm vừa bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa vừa phát triển kinh tế du lịch bền vững, từ việc
Trang 16khai thác có hiệu quả những giá trị của di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn
4.3 Thời gian nghiên cứu
Trọng tâm là những số liệu để chứng minh công tác quản lý di tích lịch
sử - văn hóa được cập nhật giai đoạn từ năm 2015 đến 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
- Kế thừa các tài liệu thứ cấp: để hoàn thiện Luận văn, chúng tôi đã
đọc và kế thừa các công trình sách, kết quả các chương trình, dự án, các tài liệu thống kê và báo cáo tổng kết do Ban Quản lý Di tích - Danh thắng huyện Quế Sơn, UBND huyện Quế Sơn thực hiện
- Phương pháp điền dã: chúng tôi quan sát, tham dự việc tổ chức quản
lý và phát huy giá trị của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn để có được sự đánh giá trực tiếp về công tác tổ chức và hoạt động quản lý di tích Phỏng vấn một số cán bộ quản lý di tích lịch sử - văn hóa của huyện và một số người dân sống tại vùng di tích, thống kê các ý kiến và thực hiện đánh giá vấn đề cần nghiên cứu Ngoài ra, tác giả còn tiến hành chụp ảnh
để thu thập thêm nguồn tài liệu ở các di tích lịch sử - văn hóa này
- Phương pháp phân tích: Dựa trên những thông tin đã thu thập được
qua công tác khảo sát, điều tra, trực tiếp phỏng vấn, nghiên cứu tài liệu, phân tích những điểm mạnh, yếu và những khó khăn cũng như hạn chế, thách thức trong công tác quản lý đối với di tích hệ thống di tích lịch sử - văn hóa Từ đó, đưa ra những hướng khắc phục, phát huy tối đa hiệu quả trong công tác quản lý
- Phương pháp tổng hợp: Từ những thông tin cũng như tư liệu đã thu
thập và nghiên cứu, tiến hành tổng hợp và đánh giá về thực trạng quản lý di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Quế Sơn, đưa ra những giải pháp có thể khắc phục, tháo gỡ những khó khăn, hạn chế trong công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch tại huyện Quế Sơn
Trang 17- Cung cấp thêm những cứ liệu khoa học cho các chương trình, dự án bảo tồn các giá trị di tích lịch sử - văn hóa của tỉnh Quảng Nam nói chung và của huyện Quế Sơn nói riêng
7 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm có 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử - văn hóa và tổng quan về hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn
Chương 2: Thực trạng quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, gắn với phát triển du lịch
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích
lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, gắn với phát triển du lịch
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
VÀ TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN 1.1 Cơ sở lý luận quản lý di tích lịch sử - văn hóa
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản:
Khái niệm Di tích:
Theo "Từ điển tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (xuất bản năm 2006) [66] thì “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử”
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm về di tích,
theo Từ điển Bách khoa thì: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học Di tích là di sản văn hóa - lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [37, tr.667]
Theo đó, Di tích là một bộ phận của DSVH, là thành tố quan trọng của môi trường xã hội, góp phần vào việc giáo dục truyền thống cho cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ ngày nay, Di tích là thông điệp của quá khứ truyền lại cho các thế hệ mai sau, nó có chức năng giáo dục và sống cùng thời gian
Di tích là không gian vật chất như các công trình, địa điểm, các di vật báu vật thuộc công trình Trong đó có sự kết hợp giữa các công trình kiến trúc
và cảnh quan thiên nhiên có giá trị dấu ấn của hoạt động con người
Di tích không chỉ kết tinh những giá trị lao động của con người trong lịch sử mà còn kết tinh những giá trị điển hình về văn hóa, khoa học trong thời điểm ra đời Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc khẳng định thuộc về sáng tạo, bảo tồn của con người Chính vì vậy nên bản thân di tích chứa đựng trong nó những giá trị vật chất cũng như tinh thần của con người
Trang 19Theo Luật Di sản Văn hóa, di tích được phân loại như sau: loại hình di tích lịch sử; loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật; loại hình di tích khảo cổ học; loại hình di tích danh lam thắng cảnh
Theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích được chia thành 3 loại: Di tích quốc gia đặc biệt; Di tích quốc gia; Di tích cấp tỉnh
Di tích lịch sử - văn hóa:
Theo Luật Di sản Văn hóa sửa đổi “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc các công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” (Quốc Hội
Việt Nam, 2009, [26, 27]) Với khái niệm này, các di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia được xem như một bộ phận của các DTLS - VH Tuy nhiên, theo Điều 2, Nghị định quy định chi tiết Luật Di sản, các di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia được tách thành nhóm riêng, độc lập với nhóm DTLS - VH (Chính Phủ, 2010) Như vậy, có thể hiểu DTLS-VH là những công trình, địa điểm có giá trị về lịch sử - văn hóa, khoa học và kiến trúc nghệ thuật Trong đó, các di tích lịch sử thiên về giá trị lịch sử; các di tích văn hóa thiên về giá trị văn hóa, khoa học và kiến trúc nghệ thuật
- Theo Đại Từ điển tiếng Việt có ghi:
“Di sản văn hóa là những giá trị tinh thần của văn hóa vật chất, của thế giới hay một quốc gia, một dân tộc để lại” [tr 1796]
Theo Điều 1, Chương 1 trong Luật Di sản Văn hóa ban hành năm 2001
và sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản Văn hóa năm 2009 có quy định rõ:
“Di sản Văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [11, Điều 1, Chương 1]
Để được công nhận di tích lịch sử - văn hóa cần phải đảm bảo các tiêu chí được quy định tại điều 28, chương IV, Luật di sản Văn hóa:
Trang 201 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước
2 Công trình xây dựng địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của Anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước
3 Công trình xây dựng địa điềm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của thời kỳ cách mạng kháng chiến
4 Quần thể các Công trình kiên trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử
Theo Luật Di sản Văn hóa, di tích lịch sử - Văn hóa được phân loại theo những đặc điểm như sau:
1 Các loại hình di tích: Loại hình di tích lịch sử, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình di tích khảo cổ học, loại hình di tích danh lam thắng cảnh
2 Phân loại xếp hạng di tích: Di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia,
di tích cấp tinh
3 Dựa vào hình thức quản lý, di tích được chia thành 3 loại:
Di tích do Nhà nước trực tiếp quản lý, di tích do cộng đồng dân cư (dưới hình thức tập thể) trực tiếp quản lý, di tích do cá nhân, cộng đồng quản lý
4 Theo điều kiện khai thác của di tích thì di tích được phân thành 2 loại:
Di tích có khả năng khai thác, di tích chưa có khả năng khai thác
Di tích kiến trúc nghệ thuật: là những công trình kiến trúc có giá trị
điển hình về kiến trúc nghệ thuật, được xây dựng phục vụ nhu cầu cấu trúc hoặc là nơi tổ chức các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự…
Khái niệm Quản lý:
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa: “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; “Lý” là
tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định
Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý:
Trang 21Theo Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo
đã từng nói rằng: Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi
cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo Theo Haror Kooiìu, quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định Theo Mariparker Fọlit» (1868 - 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”
Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức’’ Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây Luận văn chỉ nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích gì đó mà một con người riêng lẻ không thể đạt đến Một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu
và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích Từ đó, tác giả Luận văn có thể đưa ra quan niệm về quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiến, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hòa hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường
Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao
Trang 22Theo Giáo trình “Quản lý hành chính Nhà nước” của Học viện Hành chính Quốc gia ghi rõ: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình
xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý định của người quản lý” [tr 13] Cũng theo giáo trình này, hoạt động quán lý bao gồm các yếu tố sau:
Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý; Chủ thể luôn
là con người hoặc tổ chức, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý
Tùy từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
Khách thể quản lý: Chịu sự tác động hay điều chỉnh của chủ thể quản
lý, đó là hành vi của con người hoặc quá trình xã hội
Mục tiêu của quản lý: Là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất
định do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Quản lý ra đời chính là hướng đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc [tr 15]
Từ những khái niệm đã nêu ra trên cho thấy: quản lý là một hoạt động cần thiết trong bối cảnh xã hội nói chung, trong lĩnh vực DTLS-VH nói riêng thì vấn đề đặt ra trong lịch sử cũng như hiện nay và trong tương lai luôn là việc làm cần thiết trong tiến trình bảo tôn DTLS của dân tộc
Quán lý di tích lịch sử - văn hóa
Di tích LS - VH là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc, vì vậy có thể hiểu: Quản lý DTLS - VH là sự định hướng, tạo điều kiện của tổ chức điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLS - VH, làm cho giá trị của di
Trang 23tích phát huy theo chiều hướng tích cực Việc quản lý di tích được thực hiện bởi các chủ thể quản lý (cơ quan quản lý, cộng đồng có di tích ) tác động bằng nhiều cách thức khác nhau đến đối tượng quản lý là các di tích, nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá trị của di tích phục vụ sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng dân cư
1.1.2 Nội dung quản lý di tích lịch sử - văn hóa
Nội dung quản lý Nhà nước về DSVH được quy định tại Điều 54 và 55 của Luật Di sản văn hóa, được sửa đổi bổ sung năm 2009 cụ thể như sau: Điều 54: Nội dung quản lý Nhà nước về DSVH bao gồm:
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa;
Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;
Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa;
Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị
Điều 55: Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về di sản văn hóa:
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về di sản văn hóa;
Trang 24Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý Nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về di sản văn hóa;
Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý Nhà nước về Di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [32, tr.35-36]
Đối tượng quản lý của Nhà nước về di tích đã được cụ thể hóa trong Luật Di sản như sau:
Chương IV, Mục 1, Điều 28 sửa đổi bổ sung: Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
1 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương
2 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử
3 Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu
4 Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật
Chương IV, Mục 1, Điều 29 được sửa đổi, bổ sung:
Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địa phương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị trong phạm
Trang 25vi địa phương; Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương; Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương
Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ; Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học
về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù
Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị
và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới; Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật cả giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa đạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.”
Trang 26Chương IV, Mục 1, Điêu 32 được sửa đổi, bổ sung các khu vực bảo vệ
di tích bao gồm:
1 Khu vực bảo vệ I là vùng có các yếu tố gốc cấu thành di tích
2 Khu vực bảo vệ II là vùng bao quanh hoặc tiếp giáp khu vực bảo vệ I Trong trường hợp không xác định được khu vực bảo vệ II thì việc xác định chỉ có khu vực bảo vệ I đối với di tích cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, đối với di tích quốc gia do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định, đối với di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định:
Các khu vực bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều này phải được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định trên bản đồ địa chính, trong biên bản khoanh vùng bảo vệ của hồ sơ di tích và phải được cắm mốc giới trên thực địa
Khu vực bảo vệ I phải được bảo vệ nguyên trạng về mặt bằng và không gian.Trường hợp đặc biệt có yêu cầu xây dựng công trình trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích, việc xây dựng phải được sự đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền xếp hạng di tích đó
Việc xây dựng công trình bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở khu vực bảo vệ II đối với di tích cấp tỉnh phải được sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch
Việc xây dựng công trình quy định tại khoản này không được làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan thiên nhiên và môi trường
- sinh thái của di tích
Quản lý Nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận của DSVH vật thể, do vậy nội dung quản lý DTLS - VH bám sát các nội dung của
Trang 27quản lý DSVH Nội dung quản lý Nhà nước về DSVH được đề cập cụ thể tại Điều 54 và Điều 55 Tại Điều 54, Mục 1, Chương 5 của Luật di sản Văn hóa ban hành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung năm 2009, gồm:
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH
Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về DSVH;
Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về DSVH;
Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;
Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về DSVH [20, tr.65-66]
Trong các nội dung quản lý tại Điều 54 và Điều 55 của Luật Di sản Văn hóa đã cụ thể hóa được chức năng, nhiệm vụ quản lý về DT LSVH Trong đó nội dung quản lý về DT LSVH rất rộng, nên trong quá trình quản lý vẫn phải vận dụng được phương pháp phù hợp để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về DT LSVH nói riêng và DSVH nói chung
Văn bản, luật trong nước về bảo tồn di tích, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ra Sắc lệnh số 65/SL- CTN ngày 23/11/1945 về việc bảo tồn cổ tích trên toàn quốc, tại Điều 4 quy định: “Cấm phá huỷ đình chùa, đền miếu, hoặc những
Trang 28nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn Cấm phá hủy những bia kỷ, đồ vật chiếu sắc, văn bằng, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử mà được bảo tồn” Sau đó, hàng loạt Nghị định, Thông tư, Chỉ thị của Nhà nước ta về việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc cũng đã được ban hành; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc chỉ rõ: “Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hội nghị Trung ương lần thứ 9, (khóa XI) đã đề ra 06 nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời gian tới, trong đó có nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa, nhiệm vụ này chỉ rõ: Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc; Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết quả bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch Xuất phát từ thực tiễn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, để công việc này đi vào nề nếp, trong những năm vừa qua đã có rất nhiều quy định của Nhà nước, Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch liên quan đến vấn đề này được ban hành Riêng trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di tích nói chung, đình làng Việt nói riêng, chúng ta có thể tham khảo, áp dụng những quy định như sau: Pháp lệnh "Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và Danh lam thắng cảnh "Số 14 LCT-HĐHN ngày 4/4/1984 của Hội đồng Nhà nước Luật
di sản Văn hóa được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản Văn hóa được Quốc hội thông qua ngày
Trang 2918/6/2009; Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 của Chính phủ, quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; Quyết định số 1076/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020 Bảo vệ di tích là
sự nghiệp của toàn dân, gìn giữ, bảo vệ ngôi đình làng là việc chung của cả dân làng Nếu được tổ chức, được sự hướng dẫn tuyên truyền của những người làm công tác chuyên môn, làm văn hóa thì người dân sẽ là bộ phận quan trọng cùng các cơ quan quản lý chung tay trong công tác bảo vệ, phát huy giá trị di tích Bên cạnh đó, góp phần đảm bảo và cải thiện từng bước đời sống Nhân dân sống trong khu di tích và vùng phụ cận bằng cách dần dần tạo lập
“sự cộng sinh" giữa di tích và cuộc sống của cộng đồng dân cư địa phương, Nhân dân hiểu được di tích là nguồn sống của họ Bảo vệ di tích tức là bảo vệ
cuộc sống của chính mình và tương lai lâu dài của các thế hệ sau này
1.1.3 Quan điểm về quản lý di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch
Vấn đề bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các quan điểm khác nhau nhưng tựu lại có 03 quan điểm chính đó là:
- Quan điểm bảo tồn nguyên gốc;
Trang 30- Quan điểm bảo tồn trên cơ sở sự kế thừa;
- Quan điểm bảo tồn - phát triển [26, tr.80-86]
Theo quan điểm bảo tồn nguyên gốc, việc giữ gìn các di sản là đảm bảo giữ nguyên trạng nhờ sự vốn có của nó về kích thước, vị trí, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tránh tình trạng làm méo mó, biến dạng di sản Quan điểm này được các nhà bảo tàng học ủng hộ, đặc biệt là nó phù hợp với việc bảo tồn các DSVH vật thể bao gồm các di tích và các sưu tập hiện vật trong các bảo tàng
Về căn bản, đây là những lý thuyết về bảo tồn di tích được hình thành
và tuân thủ ở nhiều quốc gia nhất là các nước phương Tây, cốt lõi của nó là lấy việc bảo tồn tính nguyên gốc làm nguyên tắc và mục tiêu cao nhất Trong khi đó những người theo quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa lại cho rằng di sản cần thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi DSVH ấy tồn tại trong một không gian và thời gian hiện tại, di sản cần phát huy giá trị văn hóa xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại
bỏ những gì không phù hợp với xã hội ấy [26, tr.82]
Các nhà nghiên cứu nhận thấy quan điểm này gặp khó khăn ở chỗ cái nào là cần kế thừa, cần phát huy, yếu tố nào là thứ yếu và cần loại bỏ Ngày nay, công chúng có thể tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hóa của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc khác nhau vì vậy mà quan điểm bảo tồn - phát triển được nhiều học giả tán đồng
Các nhà nghiên cứu nhìn nhận DSVH theo những cách tiếp cận mới
mẻ, phong phú nhất là về vai trò, giá trị của DSVH Theo đó, DSVH không còn được coi là sự vật của quá khứ với những giá trị và hình thái bất di bất dịch, có giá trị vĩnh viễn Thay vào đó, DSVH được nhìn nhận lại nhờ một quá trình sáng tạo văn hóa trong những môi trường vận động hiện tại Nhờ đó, DSVH là sản phẩm của hiện tại, được tạo ra bởi cảm nhận về các giá trị của
Trang 31quá khứ, dẫn đường bởi những mối quan tâm đến vai trò của quá khứ trong các mối lo toan về thực tại và tương lai
A.A Radughin - trong Văn hóa học, những bài giảng có viết: Xu hướng hiện đại của việc suy ngẫm lại vai trò và ý nghĩa của DSVH là ở chỗ, không chỉ cố gắng giữ gìn di sản đó ở dạng ban đầu mà còn cố gắng đưa một cách tích cực di sản đó vào nền móng của đời sống xã hội Tức là bản thân quá trình lịch sử của văn hóa nghệ thuật xuất hiện ở đây không chỉ nhờ quá trình bảo toàn quá khứ và tích lũy các giá trị văn hóa, mà còn nhờ quá trình phát triển cái mới trong cái cũ [tr.646]
Ở đây có nghĩa: một mặt cần gìn giữ, bảo tồn các di tích tránh những nguy cơ bị hủy hoại, bị tàn phá bởi thiên nhiên, con người nhưng mặt khác cần đưa những giá trị của di tích để phục vụ cho sự phát triển của con người Phát huy giá trị của di tích chính là sử dụng có hiệu quả các giá trị vốn có của
di tích (những giá trị mang tính tích cực, có ích cho thời đại) vào việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ và khoa học, coi đó như một nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và trên cơ sở đó tuyên truyền sâu rộng cho cộng đồng, nâng cao trách nhiệm bảo vệ DSVH của cộng đồng Trong trường hợp nghiên cứu của Luận văn, đối tượng của hoạt động quản lý, bảo tồn là các di tích lịch sử - văn hóa ở địa phương Quế Sơn cụ thể, với những đặc trưng về loại hình, vật liệu xây dựng, việc bảo tồn cần tôn trọng tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn và sự bền vững của di tích trong những điều kiện cho phép Việc bảo tồn di tích phải vì mục tiêu và gắn với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt cần gắn với cộng đồng, tôn trọng và đề cao vai trò của cộng đồng với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, chủ sở hữu của di sản, người hưởng thụ giá trị của di sản đó nhưng đồng thời lại đóng vai trò chủ động trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH Các di tích cần được khai thác, phát huy giá trị để tuyên truyền, giáo dục về truyền thống, bản
Trang 32sắc văn hóa, quảng bá hình ảnh địa phương huyện Quế Sơn, góp phần thiết thực phục vụ sự phát triển chung về kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là phải mang lại lợi ích thiết thực cả về tinh thần và vật chất cho cộng đồng cư dân nơi có di tích, di sản Đây chính là quan điểm lý thuyết sẽ được tác giả Luận văn vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài Luận văn sẽ tiếp cận hoạt động quản lý trên các phương diện như việc ban hành các chính sách, văn bản pháp quy, các chiến lược phát triển cũng như việc quản lý các hoạt động cụ thể nhằm bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn hiện nay
Thực tế minh chứng di tích lịch sử - văn hóa tạo sức hấp dẫn vô cùng cho điểm đến du lịch Di tích lịch sử - văn hóa là động cơ, là môi trường tương tác và là những trải nghiệm đáng giá cho du khách, qua đó trở thành tài nguyên, nguồn lực chiến lược cho phát triển du lịch Di sản văn hóa là tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn mạnh mẽ, là động lực thu hút ngày càng nhiều khách tham quan trong nước và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Hiện nay, ngành du lịch xem đây là nền tảng, trụ cột quan trọng để phát triển kinh
tế du lịch bên cạnh các yếu tố về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành và nguồn nhân lực Di sản văn hóa cũng là công cụ hỗ trợ tích cực trong việc định vị hình ảnh, xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam
Bên cạnh đó, ngày nay du lịch di sản hướng thu hút khách tìm đến những giá trị về nguồn, tìm hiểu, tương tác, trải nghiệm để thẩm thấu những giá trị di sản văn hóa đậm đà bản sắc của các dân tộc, các tộc người Ở nước
ta, chủ trương phát triển du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã được thể hiện trong Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, về phát triển du lịch trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn Du lịch văn hóa vì vậy là một dòng sản phẩm chủ đạo của du lịch Việt Nam, từ tham quan di tích lịch sử - văn hóa, hệ thống bảo tàng, các
Trang 33công trình văn hóa, hoạt động nghệ thuật, cho tới tìm hiểu, tương tác, trải nghiệm văn hóa lễ hội, lối sống địa phương, thưởng thức ẩm thực, sản vật vùng miền…
Có thể khẳng định rằng, du lịch đã thúc đẩy việc bảo vệ kho tàng văn hóa của quốc gia Chính nhu cầu tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm của du khách đã thôi thúc chính quyền và người dân biết quý trọng, tự hào, quan tâm chăm lo gìn giữ, bảo tồn, phục dựng và làm sáng tỏ, phát huy những giá trị vốn quý của di sản văn hóa Hoạt động du lịch dựa vào di sản ở nhiều nơi như Huế, Hội An, Mỹ Sơn…đã và đang trở thành cơ sở, động lực sinh kế chính, ngành nghề chủ yếu của người dân cũng như ngành kinh tế chủ lực của địa phương Tuy nhiên, trong xu hướng du lịch tăng trưởng mạnh như hiện nay, đặc biệt là du lịch đại trà đã và đang có những tác động tiêu cực tới di sản văn hóa Do tính chất nhạy cảm và dễ bị tổn thương của di sản mà quá trình vận động du lịch ồ ạt thiếu kiểm soát ở nhiều nơi, đặc biệt là ở những di sản nổi tiếng ở nước ta đang gieo rắc không ít những tác động nhiều mặt như: sự khai thác thương mại hóa quá mức, quá tải về khách, sự lạm dụng di sản, phục dựng sai quy cách, làm mới di sản v.v… làm cho di sản nhanh xuống cấp, méo mó, nhạt nhòa giá trị…
Phát triển du lịch bền vững, gắn với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn cảnh quan và bảo vệ môi trường Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước để đầu tư phát triển du lịch, phát huy tối đa tiềm năng thế mạnh về du lịch của các vùng miền trong cả nước Đây là những định hướng quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển du lịch, đưa du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào năm 2025 và đưa Việt Nam trở thành một nước
có ngành du lịch phát triển vào năm 2030 như mục tiêu tổng quát đã xác định
Trang 341.2 Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn
1.2.1 Vài nét về huyện Quế Sơn
Huyện Quế Sơn là huyện trung du của tỉnh Quảng Nam Nằm cách tỉnh
lỵ thành phố Tam Kỳ 30 km về phía Tây Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 40 km
về phía Tây Nam
Phía Đông giáp huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam;
Phía Tây giáp huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam;
Phía Nam giáp huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam;
Phía Bắc giáp huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
Tổng diện tích tự nhiên của huyện 257,46 km2 trong đó:
Huyện Quế Sơn hiện có 02 thị trấn và 11 xã Theo thống kê, năm 2020 tổng dân số trong toàn huyện 85.600 người
Tốc độ tăng dân số khoảng 1,6%, dân cư trong huyện phân bố không đều giữa các vùng, tập trung nhiều vào các xã như xã Quế Xuân 1, xã Quế Phú và 02 thị trấn Hương An, Đông Phú
Mật độ dân số bình quân là 316 người/km Nhìn chung, huyện Quế Sơn
có dân số trẻ, người dân trong độ tuổi lao động lớn phân bố lao động nhiều ở các ngành như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Tuy nhiên có thể thấy lực lượng lao động nông thôn chiếm đa số Tỷ lệ hộ nghèo tính đến cuối năm
2019 còn 4,31%
Về kinh tế:
Tổng giá trị sản xuất tăng bình quân hằng năm 16,71 % Tính đến năm
2020 tỷ trọng nông - lâm nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch
vụ là 12,14%, 60,63%, 27,23% Thu nhập bình quân đầu người 36 triệu đồng
Về phát triển cơ sở hạ tầng, văn hóa - xã hội
Cùng với phát triển các ngành kinh tế, đời sống văn hóa, tinh thần của người dân trong huyện từng bước được cải thiện Trong những năm qua, Phong trào làm đường giao thông nông thôn mới, đô thị văn minh trên địa bàn
Trang 35có những bước phát triển Số đường làm mới, nâng cấp, kiên cố hóa đường liên huyện, xã tăng nhanh, chất lượng Sở Giao thông - Vận tải Quảng Nam thường xuyên nâng cấp, duy tu, tuyến đường QL1, DT 611, từ đó tạo nên những huyết mạch giao thông thông suốt trong và ngoài huyện
Lĩnh vực Giáo dục - đào tạo là mục tiêu quan trọng hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong đào tạo nguồn nhân lực 100% đội ngũ giáo viên đạt chuẩn theo quy định, tỷ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%, tốt nghiệp THCS đạt 98%, trường đạt chuẩn quốc gia đạt là 35/40 trường, 22/40 trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 2, cấp độ 3 Công tác xã hội hóa, khuyến học, khuyến tài được hưởng ứng tích cực
Công tác y tế chăm sóc sức khỏe Nhân dân được quan tâm, trình độ chuyên môn y bác sỹ, cơ bản đáp ứng được yêu cầu 100% các xã, thị trấn đạt
bộ tiêu chí quốc gia về y tế
Hoạt động văn hóa, văn nghệ diễn ra sôi nổi gắn với các loại hình nghệ thuật hô hát bài chòi, tuồng, dân ca góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của Nhân dân; các hoạt động thể dục, thể thao nhất là phong trào thể thao quần chúng được duy trì thường xuyên, với sự tham gia hưởng ứng đông đảo của cán bộ và Nhân dân Công tác tuyên truyền, cổ động trực quan chào mừng các ngày lễ, tết, sự kiện chính trị của đất nước và địa phương luôn được quan
tâm đã tạo được không khí vui tươi, phấn khởi trong Nhân dân “Cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng Nông thôn mới, đô thị văn minh” gắn với
phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ngày càng đi vào chiều sâu, có sự lan tỏa trong cộng đồng
1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn
Theo thống kê, hiện nay trên địa bàn toàn huyện có 151 di tích, trong
đó có 34 di tích lịch sử được xếp hạng các cấp, trong đó có 02 di tích cấp Quốc gia, 32 di tích cấp tỉnh Công tác chấp hành các quy định của pháp luật
về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, danh thắng trên địa bàn được thực hiện
Trang 36tốt và đạt nhiều kết quả tích cực Hoạt động quản lý các di tích được thực hiện chặt chẽ Các di tích sau khi được công nhận đã phân cấp quản lý theo quy định của Luật Di sản Qua đó, di tích cấp Quốc gia do huyện quản lý; các di tích cấp tỉnh được ủy quyền cho UBND các xã, thị trấn quản lý
+ Công tác quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, danh thắng trên địa bàn huyện được thực hiện theo đúng Luật Quy hoạch Các di tích đều được UBND các xã, thị trấn đưa vào quy hoạch chung của xã (đất di tích, tín ngưỡng) + Trong 34 di tích đã có qui hoạch tổng thể (các di tích khi lập hồ sơ đề nghị công nhận đều lập Biên bản khoanh vùng bảo vệ di tích), có 12 di tích đã
có Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất,09 di tích đã được dựng Bia di tích,
01 di tích được xây Tượng đài (Tượng đài Chiến thắng Mộc Bài)
Một số di tích tiêu biểu:
- Di tích lịch sử Địa điểm Chiến thắng Cấm Dơi
Nằm trên địa phận thị trấn Đông Phú, cách trung tâm hành chính huyện khoảng 150m về hướng Đông Nam và cách trục đường ĐT611 khoảng 100m
về phía Bắc, trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ xâm lược, Quế Sơn là căn cứ địa cách mạng trọng yếu và vững chắc của Khu ủy Khu 5, Tỉnh ủy Quảng Nam và Đặc khu ủy Quảng Đà, là nơi đứng chân của nhiều đơn vị chủ lực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 5
Cấm Dơi là khu đồi có nhiều tảng đá lớn nằm án ngữ trên tuyến tỉnh lộ
105 kết nối từ miền núi xuống đồng bằng nên Mỹ - ngụy tập trung xây dựng thành một căn cứ quân sự chiến lược quan trọng và xem đây như là “ổ khóa” của cánh cửa bảo vệ chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng lúc bây giờ
Chiến thắng Cấm Dơi không những khắc ghi một dấu mốc quan trọng, vẻ vang trong trang sử chiến đấu chống ngoại xâm hào hùng của quân và dân Quế Sơn, mà còn góp phần to lớn vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân cả nước đến thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân Lịch sử năm 1975
Trang 37Từ sau khi Địa điểm Chiến thắng Cấm Dơi được Nhà nước công nhận xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia, Đảng bộ và Nhân dân huyện nhà đã có nhiều nỗ lực tuyên truyền đồng thời từng bước đầu tư, củng cố, nâng cấp các hạng mục để phát huy giá trị của di tích cũng như quản lý bảo vệ nghiêm ngặt theo đúng quy định của Luật Di sản Văn hóa Có thể khẳng định rằng, Địa điểm Chiến thắng Cấm Dơi mà điểm nhấn là Tượng đài Chiến thắng Quế Sơn
là một biểu tượng chiến thắng, một công trình tưởng niệm, một Di tích lịch sử cách mạng được xây dựng để ghi dấu một chiến công oanh liệt, một sự kiện lịch sử quan trọng của quân và dân huyện nhà trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước
- Căn cứ đặc Khu ủy Quảng Đà:
Thuộc xã Quế Long huyện Quế Sơn, “Hòn Tàu là dãy núi thuộc dãy Đông Trường Sơn có độ cao 953m so với mặt nước biển giáp ranh giữa các huyện Duy Xuyên, Nông Sơn và Quế Sơn của tỉnh Quảng Nam Với vị trí chiến lược, Hòn Tàu được chọn làm căn cứ cách mạng của Đặc Khu ủy Quảng Đà trong 8 năm cuối của cuộc chiến chống Mỹ (1967-1975).”
Nhìn tổng thể về địa hình, Hòn Tàu có vị trí rất chiến lược khi cắt ngang bởi sông Thu Bồn, bắt nguồn từ núi Ngọc Linh, uốn khúc trườn qua huyện Nông Sơn và Duy Xuyên trước khi đổ ra biển; chân trải dài từ các xã Quế Phong, Quế Long, Quế Hiệp của huyện Quế Sơn và Duy Sơn của huyện Duy Xuyên Đặc biệt, Hòn Tàu có nhiều núi hiểm trở như Nhà Muỗi, Cù Hang, Mặt Rạng; nhiều hang động chứa lượng người lớn, làm nơi sinh hoạt, hội họp Đây cũng là lý do Hòn Tàu được chọn làm điểm căn cứ chiến lược của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ
Trong những năm đầu chống Pháp, Hòn Tàu là căn cứ Tân Tỉnh của Nghĩa hội Cần Vương do Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo Trong kháng chiến chống Mỹ, để chỉ đạo sát hơn với phong trào, tháng 12-1971, Hội nghị
Trang 38Đặc Khu Quảng Đà đã quyết định chuyển toàn bộ các cơ quan của đặc khu từ khu A7, giáp ranh giữa Đại Lộc và huyện Giằng xuống khu vực núi Hòn Tàu Đặc khu là nơi trú quân, chỉ huy, huấn luyện và là nơi làm việc, hội họp của các cơ quan lãnh đạo Xứ ủy Trung kỳ và Tỉnh ủy Quảng Nam
- Nhà Thờ tộc Phạm và ba miếu thờ
Thuộc Làng Hương Quế, thôn Hương Quế Nam, xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam là một ngôi làng sở hữu bề dày lịch sử dựng nước
và giữ nước Ngày nay, làng Hương Quế vẫn còn nhiều công trình kiến trúc
và di tích gợi nhắc buổi đầu di cư, của những con người đầu tiên vào khai phá vùng đất xứ Quảng; Theo gia phả dòng họ Phạm và các tư liệu lịch sử cho thấy, từ đầu thế kỷ 15, người họ Phạm từ phía Bắc đã vào định cư ở đất Thăng Hoa (Quảng Nam ngày nay)
Đặc biệt, trong khuôn viên nhà thờ có ba miếu cổ thờ các vị: Thánh mẫu Thiên y Ana, bò thần Nandin và một bia ký khắc chữ Chăm-Pa cao khoảng 1,7m, rộng khoảng 0,9m” Theo tìm hiểu, bò thần Nandin còn có tên khác là Kapin hoặc Kapil Tượng bò ở tư thế nằm được tạc từ chất liệu đá đặc biệt, có người cho rằng là thiên thạch Ngoài hai con mắt tròn, bò Nandin còn
có con mắt thứ ba giữa trán Theo quan niệm của người xưa, con mắt này gọi
là thiên nhãn phát ra những phép thuật nhiệm mầu và là mối liên kết giữa con người và thần linh Theo quan niệm của người Chăm, bò Nandin là bò đực và
là vật cỡi của thần Siva Có thể thấy, ba miếu thờ là bằng chứng về mối giao lưu văn hóa, tín ngưỡng và quá trình cộng cư của hai dân tộc Việt - Chăm trong lịch sử một cách sinh động
Với các đặc điểm kiến trúc và công trình tín ngưỡng đặc thù, Nhà thờ tộc Phạm và ba miếu thờ đã được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh vào năm 2007
Trang 39- Chiến thắng Mộc Bài
Thuộc thôn Mộc Bài, xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, “Mộc Bài nằm trên đoạn đường 7,5 km của Quốc lộ 1A ngang qua địa phận huyện Quế Sơn, cách Tam Kỳ khoảng 35 km về phía Bắc Nơi đây, vào ngày 24/3/1967 quân, dân Quế Sơn phối hợp với bộ đội chủ lực Quân khu V đã ghi dấu ấn với chiến thắng vang dội làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân Quảng Nam trên chặng đường đánh Mỹ xâm lược”
- Anh Linh Đài núi Quế
Tọa lạc trên sườn Tây núi Hương Quế, thôn Hương Quế Nam, xã Quế Phú Đền thờ Liệt sĩ Núi Quế ghi danh bốn mươi liệt sĩ Tiểu đoàn 409 Đặc công Quân khu 5 hy sinh trong trận tập kích căn cứ Mỹ tại Núi Quế vào đêm 11/5/1969 Đền là một dấu tích lịch sử về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bi hùng, một minh chứng về tinh thần quả cảm của các chiến sĩ đặc công
và đạo lí uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam
*Tiểu kết chương 1
QLNN về DTLS-VH có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoàn chỉnh hệ thống chính sách về di tích, nhất là những chính sách về giữ gìn các yếu tố gốc đậm đà bản sắc dân tộc trong di tích; Giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn bản sắc và phát triển Từ đó, nâng cao vai trò quản lý và hoàn thiện thể chế, định hướng của Nhà nước, sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội hóa để bảo tồn và phát huy giá trị DTLS-VH Thời gian qua, Quảng Nam đã chủ động tích cực triển khai việc nghiên cứu, sưu tầm, quản lý bảo vệ và phát huy các giá trị DTLS-VH trên địa bàn góp phần thực hiện tốt các mục tiêu lớn về văn hóa, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Giữ gìn và phát huy giá trị DTLS-VH là bảo
vệ, bồi đắp nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh của xã hội, góp phần vào
Trang 40sự phát triển bền vững đất nước đang được các địa phương hết sức quan tâm
Để việc khai thác và phát huy giá trị DTLS-VH có hiệu quả, đem lại nguồn lợi hữu ích, thiết thực cho xã hội cần đảm bảo sự hài hòa trong công tác bảo tồn và phát huy
DSVH Quảng Nam nói chung, huyện Quế Sơn nói riêng là tài sản quý giá của đất nước và là một bộ phận của DSVH nhân loại có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Nhân dân ta Hiện nay, vấn đề QLNN để phát huy giá trị về DTLS - VH có ý nghĩa vô cùng quan trọng và được xem là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của toàn xã hội Vì thế cần nâng cao trách nhiệm quản lý sự phối hợp các ban, ngành, hội, đoàn thể với các phòng, ban chuyên môn quản lý trực tiếp để có các biện pháp, kế hoạch, định hướng đúng đắn, thiết thực nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc gắn với phát triển của xã hội
Để tiến hành nghiên cứu hoạt động quản lý di tích, nhìn nhận các di tích là đối tượng quản lý cần có biện pháp phù hợp nhằm bảo tồn, gìn giữ đồng thời phát huy được giá trị nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của cộng đồng Trải qua thời gian, trên mảnh đất Quế Sơn đã hình thành một hệ thống di tích lịch sử văn hóa đa dạng, phong phú, chứa đựng nhiều giá trị Với các loại hình di tích lịch
sử - văn hóa, với những đặc trưng khác nhau do vậy cần có những phương thức quản lý phù hợp nhằm phát huy hiệu quả giá trị của các di tích đó góp phần vào sự phát triển tiềm năng du lịch chung của huyện Quế Sơn đồng thời giữ gìn bản sắc của vùng đất “Ngũ Phụng Tề Phi”, xứ sở “Địa linh nhân kiệt”