BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC TRẦN NGỌC TÙNG LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT THIỆU QUANG, HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành Lịch sử Vi[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
TRẦN NGỌC TÙNG
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT THIỆU QUANG,
HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lập với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình khoa học đã công bố
Người cam đoan
Trần Ngọc Tùng
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Việc hoàn thành Luận Văn Thạc sỹ với đề tài “Lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa” Cá nhân tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Thị Thúy, Người đã giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng đề tài và dẫn dắt, hướng dẫn cho tôi phương pháp tiếp cận vấn đề về nội dung nghiên cứu luận văn của mình
Tôi xin trân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Hồng Đức, các thầy, cô giáo thuộc Trường Đại học Hồng Đức, đặc biệt là các thầy, cô giáo thuộc Khoa khoa học - Xã hội đã truyền đạt và trang bị cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Hồng Đức Trân trọng cảm ơn UBND huyện Thiệu Hóa, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thiệu Hóa đã tạo điều kiện về thời gian, điều kiện học tập, tài liệu nghiên cứu trong suốt quá trình tham gia học tập tại Trường Đại học Hồng Đức Xin cảm ơn Đảng ủy, UBND xã Thiệu Quang, các ông bà Thôn trưởng, trưởng ban quản lý di tích trên địa bàn xã Thiệu Quang đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, điền dã, thực tế tại địa phương, cung cấp cho tôi nhiều tài liệu và thông tin bổ ích để tôi hoàn thành đề tài của mình
Trân thành cảm ơn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Trung tâm bảo tồn di sản Văn hóa Thanh Hóa; Thư viện tỉnh Thanh Hóa; Thư viện Trường Đại học Hồng Đức; Thư viện huyện Thiệu Hóa cho phép tôi được
sử dụng nguồn tài liệu vô cùng quý hiếm phục vụ cho công tác nghiên cứu xây dựng đề tài luận văn thạc sỹ của mình
Xin trân thành cảm ơn bác Nguyễn Văn Tính, chủ biên cuốn sách
“Thiệu Quang vùng đất ba sông” và một số nguồn tài liệu do bác cung
cấp; cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học và bản luận văn này Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng
để nghiên cứu, sưu tầm và tìm hiểu về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu
Trang 4iii
Quang (Thiệu Hóa, Thanh Hóa), song chắc chắn vẫn không tránh được những thiếu sót, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện luận văn Vì vậy, cá nhân kính đề nghị các thầy giáo, cô giáo, các cấp ủy đảng chính quyền địa phương; đơn vị công tác và các cơ quan, đơn vị chuyên môn, nghiệp vụ tiếp tục quan tâm, giúp đỡ, đóng góp ý kiến để cá nhân tiếp thu, học hỏi hoàn thiện bản luận văn của mình
Xin trân trọng cảm ơn !
Thanh Hóa, ngày 24 tháng 4 năm 2021
Tác giả
Trần Ngọc Tùng
Trang 5iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 8
Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT THIỆU QUANG 9
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 9
1.1.1 Vị trí địa lý 9
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 11
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Thiệu Quang 13
1.2.1 Địa danh vùng đất Thiệu Quang trong lịch sử 13
1.2.2 Quá trình hình thành làng xã 17
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa 26
1.3.1 Truyền thống lịch sử 26
1.3.2 Truyền thống văn hóa 29
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 35
2.1 Đình 35
2.1.1 Đình làng Chí Cường 35
2.1.2 Đình làng Nhân Cao 37
2.1.3 Đình làng Châu Trướng 38
2.2 Đền, lăng mộ và nhà thờ 40
Trang 6v
2.2.1 Đền và Lăng mộ Trần Lựu 40
2.2.2 Nhà thờ Vũ Như Du 43
2.3 Nghè 45
2.3.1 Nghè Thượng làng Nhân Cao 45
2.3.2 Nghè Thượng làng Chí Cường 47
2.3.3 Nghè Hạ làng Chí Cường 49
2.3.4 Nghè Hạ làng Châu Trướng 49
2.4 Chùa 50
2.4.1 Chùa Liên Hoa 50
2.4.2 Chùa Ngọc Hoàng 52
2.5 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 54
2.5.1 Thực trạng 54
2.5.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 56
Tiểu kết chương 2 58
Chương 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 60
3.1 Phong tục - tập quán, tôn giáo - tín ngưỡng 60
3.1.1 Phong tục - tập quán 60
3.1.2 Tôn giáo - tín ngưỡng 62
3.2 Lễ hội truyền thống 67
3.2.1 Lễ hội làng Chí Cường 68
3.2.2 Lễ hội làng Nhân Cao 70
3.3 Nghệ thuật trình diễn dân gian 71
3.3.1 Múa đèn chạy chữ 71
3.3.2 Hát chèo chãi 74
3.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 75
3.4.1 Thực trạng 75
3.4.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị 77
Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC P1
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Văn hóa Việt Nam nói chung, Thanh Hóa nói riêng luôn có một vai trò hết sức to lớn trong việc bồi dưỡng trí tuệ, đạo đức, lối sống và tâm hồn con người, xây dựng cho con người một thế giới quan, nhân sinh quan tốt đẹp Trong dòng chảy lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước dân tộc Việt Nam, Thanh Hóa luôn được coi là vùng đất có lịch sử - văn
hóa lâu đời, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng Đây là nơi “địa linh
nhân kiệt” đã đóng góp cho dân tộc nhiều anh hùng kiệt xuất, danh nhân
văn hóa lỗi lạc
Trong quá trình hình thành và phát triển, ở mỗi địa phương luôn có những dấu ấn, đặc trưng riêng biệt Do đó, việc nghiên cứu về lịch sử - văn hóa làng xã không những góp làm sáng tỏ lịch sử - văn hóa dân tộc mà còn góp phần lý giải cuộc sống hiện tại và những vấn đề tương lai của đất nước
1.2 Thiệu Hóa là vùng đất cổ và là một trong những “cái nôi” cư trú của người tiền sử Di chỉ núi Đọ (Tân Châu), núi Nuông (Thiệu Long) đã khẳng định đây là vùng đất có lịch sử phát triển hàng ngàn năm Trải qua quá trình hình thành và phát triển, vùng đất Thiệu Hóa đã lưu giữ được nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị Có thể nói Thiệu Hóa
là “bức tranh” thu nhỏ các loại hình di sản văn hóa đa dạng, phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc
Hầu như các làng, xã trên địa bàn huyện Thiệu Hóa đều có đình, đền, chùa, miếu, nghè Cùng với hệ thống di sản văn hóa vật thể, vùng đất Thiệu Hóa, cũng là nơi có nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể Hầu như các địa phương đều có các trò chơi, trò diễn, dân gian Vùng đất này còn là kho tàng của ca dao, tục ngữ tài sản vô giá của xứ Thanh nói riêng
và Việt Nam nói chung [30, tr 11]
1.3 Thiệu Quang là một trong 25 xã, thị trấn của huyện Thiệu Hóa Đây là nơi quần tụ, sinh sống của nhiều dòng họ như; họ Trần, Hàn, Vũ,
Trang 92
Nguyễn, Lê, Phạm, Cao, Hoàng, Bùi, Đặng, Đỗ, Mai, Tống… cùng nhiều danh nhân nổi tiếng được lưu danh trong sử sách Tiêu biểu như, Bình Ngô Khai Quốc Công Thần trấn viễn Đại tướng quân Trần Lựu
Vùng đất Thiệu Quang còn lưu giữ nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể có giá trị như, hát chèo chải, múa đèn chạy chữ; lễ hội truyền thống…di sản văn hóa vật thể, hiện đã xếp hạng một số di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh như đền thờ và lăng mộ Trần Lựu, đình làng Chí Cường, nghè Thượng làng Nhân Cao, nhà thờ Vũ Như Du, Chùa Liên Hoa … Ngoài ra, Thiệu Quang cũng được xem là vùng đất hiếu học và được coi trọng từ thời
xa xưa, truyền thống hiếu học ấy hiện nay vẫn đang tiếp tục được các thế
hệ người dân gìn giữ và phát huy
1.4 Nằm ở vị trí hạ lưu sông Mã và cận kề thành phố Thanh Hóa, vùng đất Thiệu Quang không những mang những đặc trưng của vùng đồng bằng mà còn chịu sự tác động không nhỏ của quá trình đô thị hóa Trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập toàn cầu, các xóm, làng ở Thiệu Quang đang có nguy cơ biến đổi mô hình từ “làng lên phố”; một số di sản văn hóa đã và đang dần bị quên lãng, mai một, xuống cấp nghiêm trọng Người dân không có thời gian giành cho những trò chơi, trò diễn dân gian; quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa hiện hữu
Nghiên cứu về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Quang nhằm góp phần nâng cao nhận thức cho người dân trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trên địa bàn; định hướng cho các cấp quản lý nhà nước, đặc biệt là cấp cơ sở có thêm sự nhìn nhận, đánh giá để hoạch định chính sách văn hóa Trên cơ sở giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đồng thời tạo tiềm năng lợi thế cho việc quy hoạch phát triển các điểm du lịch của huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa trong tương lai
Trang 103
Với những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn vấn đề Lịch sử văn hóa
vùng đất Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa làm đề tài luận
văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa Việt Nam nói chung và lịch sử văn hóa địa phương nói riêng là một trong những chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tiếp cận Một số công trình liên quan đến đề tài luận văn tiêu biểu như sau:
- Liên quan đến vùng đất Thiệu Quang nói riêng, Thiệu Hóa nói
chung không thể không kể đến cuốn Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX
(từ Nghệ Tĩnh trở ra) [55], Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch, Nxb Khoa học Xã hội (năm 1981) Tác giả sách đã khảo sát tên làng xã thuộc vùng đất Thiệu Quang
- Sách Đồng Khánh Dư địa chí [56] Nxb Thế giới xuất bản năm
2003 đã ghi chép khái quát về vị trí, giới hạn, số huyện, tổng, xã, thôn, phường, phong tục, thổ sản, khí hậu …của tỉnh Thanh Hóa cùng các địa phương khác Tuy nhiên, những vấn đề về lịch sử thành lập và quá trình biến đổi làng xã trên vùng đất này chưa được đề cập đến (trong đó có xã Như Lăng (làng Chí Cường), Võng Ngư Phường (làng Nhân Cao) xã Thiệu Quang)
Cuốn Chùa xứ Thanh (tập 3) xuất bản năm 2017 [25], Lịch sử Phật
giáo Thanh Hóa của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa xuất bản
năm 2019 [26] đã nghiên cứu về chùa Liên Hoa và nội dung một số tấm bia chùa Liên Hoa…
Cuốn Thiệu Quang Vùng đất ba sông [41] đã khái quát về vùng đất
Thiệu Quang trên nhiều phương diện như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành, phát triển làng xã và truyền thống văn hóa lịch sử, các
di tích lịch sử…Đây là nguồn tài liệu có giá trị để đề tài đi sâu nghiên cứu
về vùng đất Thiệu Quang và các giá trị văn hóa trên vùng đất giàu truyền thống lịch sử - văn hóa
Trang 114
Nhắc đến về lịch sử văn hóa của vùng đất Thiệu Quang còn có các
công trình như Lịch sử Đảng bộ huyện Thiệu Hóa (1996 - 2000) [30], Tên
làng xã Thanh Hóa, tập 2, (2000) [8], Địa chí Thanh Hóa, tập 1, (2000)
[50]; Dư địa chí Thiệu Hóa, (2010) [29] đều có nhắc đến một số địa
danh, thắng tích, nhân vật và các di sản văn hóa của vùng đất Thiệu Hóa; là các công trình có điểm về truyền thống lịch sử, văn hóa và nhân vật, sự kiện vùng đất Thiệu Quang xưa và nay Tuy nhiên, do đây là các công trình viết về lịch sử Đảng bộ nên nội dung chủ yếu tập trung vào giai đoạn từ khi
có Đảng đến nay Các công trình Địa chí Thanh Hóa, Dư địa chí Thiệu Hóa cũng là những công trình đề cập đến địa danh, lịch sử và truyền thống văn hóa của vùng đất Thiệu Quang nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức điểm qua
Có thể nói, đây là những công trình khái quát về lịch sử văn hóa và địa danh của vùng đất Thiệu Hóa, trong đó có Thiệu Quang hiện nay Kết quả nghiên cứu này đã góp phần hiểu biết thêm về một vùng đất có bề dày về lịch sử và truyền thống văn hóa như Thiệu Quang
Như vậy, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau đã đề cập đến vùng đất Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, trong
đó có cả công trình chuyên khảo nhưng vẫn còn mang tính nhỏ lẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về lịch sử văn hóa của vùng đất này Do vậy, luận văn là công trình nghiên cứu và đánh giá toàn diện về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Quang Từ đó, có thể bổ sung thêm tài liệu làm sáng tỏ một số vấn đề về lịch sử văn hóa của một địa phương nhằm góp vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa ở huyện Thiệu Hóa nói chung và Thiệu Quang nói riêng
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vùng đất Thiệu Quang Từ đó, đánh giá thực trạng di sản văn hóa trên vùng đất này để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị
Trang 125
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là nguồn gốc, quá trình phát sinh, phát triển và giá trị của các loại hình di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) trên vùng đất Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành, phát triển các giá trị lịch sử - văn hóa của vùng đất Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Không gian của đề tài được giới hạn trong địa bàn xã Thiệu Quang với 3 làng (làng Chí Cường, làng Nhân Cao, làng Châu Trướng) Ngoài ra,
đề tài có thể mở rộng phạm vi khảo sát đến các làng, xã phụ cận, để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Quang như:
xã Thiệu Thịnh, xã Thiệu Giang, xã Hoàng Khánh thuộc huyện Hoàng Hóa, xã Định Công, thuộc huyện Yên Định
- Thời gian nghiên cứu tập trung vào sự hình thành các làng xã cùng nguồn gốc, quá trình tôn tạo, phục dựng di sản văn hóa trên vùng đất Thiệu Quang trong dòng chảy lịch sử văn hóa dân tộc
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, học viên dựa vào các nguồn tài liệu sau:
- Tài liệu thành văn: bao gồm các bộ sử gốc như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Việt sử thông giám cương
mục, Thanh Hoá Chư Thần Lục [48] do bộ Lễ soạn, biên tập năm Thành
Thái thứ 15 (1903) bản chữ Hán chép tay, ký hiệu thác bản VHV 1906 Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội có ghi: xã Như Lăng (làng Nhân Cao ngày nay) huyện Thụy Nguyên trước đây thờ 3 nhân vặt là: Đô Bác Trịnh phủ quân, Độc Cước tôn thần và Đương Cảnh Linh phù tôn thần
Trang 13- Trong công trình nghiên cứu về phong tục, cổ tích, nhân vật… của
tỉnh Thanh Hóa, sách Thanh Hoá tỉnh chí [49] cũng đã đề cập đến địa danh
“Lỗ Tử” làng Chí Cường, xã Thiệu Quang hiện nay là địa danh đã từng có
ở huyện Thiệu Hóa…Ngoài ra, các nguồn tài liệu về gia phả các dòng họ trên vùng đất Thiệu Quang, các lý lịch khoa học di tích đang được lưu giữ tại Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thiệu Hóa, Thư viện huyện Thiệu
Hóa như: Lý lịch di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật đình làng
Chí Cường [9], Lý lịch di tích lịch sử nhà thờ Vũ Như Du, [10] Lý lịch di tích lịch sử Nghè Thượng, [11], Lý lịch di tích lịch sử Trần Lựu [12], Lịch
sử truyền thống xây dựng làng văn hóa, làng Nhân Cao (1998) [14], Lịch
sử truyền thống xây dựng làng văn hóa, làng Chí Cường (1998) [13]… là
các công trình liên quan đến một số di tích lịch sử - danh thắng cụ thể tại vùng đất Thiệu Quang, phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ di tích danh thắng tại địa phương Tuy nhiên hồ sơ lý lịch di tích, lịch sử truyền thống văn hóa chỉ là những tài liệu khảo tả đơn lẻ từng di tích, từng làng chưa đưa
ra các phương án bảo tồn và phát huy một cách tổng thể các giá trị về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên vùng đất Thiệu Quang
- Tài liệu vật chất: là các di vật, hiện vật hiện đang bảo lưu tại các di tích đình, chùa, nghè, đền, nhà thờ họ như: văn bia, sắc phong, gia phả, bia
đá, chân tảng, bát hương và các đồ thờ khác trong di tích…
- Tài liệu văn hóa dân gian bao gồm các truyện kể, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ có liên quan đến đất và người Thiệu Quang Các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, lễ tục dân gian ở vùng đất Thiệu Quang cũng
là nguồn tài liệu giúp cho đề tài luận văn tìm hiểu thêm về lịch sử - văn hóa vùng đất này theo khía cạch của tâm thức văn hóa dân gian Tuy nhiên, đây
Trang 14Trên đây là các nguồn tài liệu chính được tác giả tiếp cận, sử dụng khi thực hiện nghiên cứu luận văn và đã được học viên ghi chú rõ ràng nguồn gốc, xuất xứ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Sử dụng để nghiên cứu quá trình phát sinh và phát triển các loại hình di sản văn hóa trên trên vùng đất Thiệu Quang theo tiến trình lịch sử (nghiên cứu lịch đại) để tái hiện lại lịch sử Luận văn còn áp dụng phương pháp nghiên cứu đồng đại để nhận diện sự tương đồng và khác biệt về giá trị văn hóa vùng đất này với các vùng đất khác Đồng thời, luận văn còn sử dụng một số phương pháp chuyên ngành như khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học…
- Luận văn mạnh dạn vận dụng phương pháp nhiên cứu khu vực học với một hệ phương pháp mang tính liên ngành Vùng đất Thiệu Quang được xem xét trong mối quan hệ tương tác giữa điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử, để từ đó rút ra những đặc trưng văn hóa vùng đất Thiệu Quang
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa: Điều tra điền dã thu thập
tư liệu, kiểm chứng và bổ sung thiếu hụt kết quả điều tra Kết hợp so sánh với kết quả điều tra, điền dã thực trạng tại các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở Thiệu Quang
Điều tra thực tế về thực trạng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở Thiệu Quang để đề xuất phương pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trên vùng đất này
Trang 158
Sử dụng phương pháp phỏng vấn các cụ cao niên, những người trông coi, quản lý trực tiếp tại di tích ở địa phương; kết hợp thu thập tài liệu; đối chiếu so sánh giữa lý luận và thực tiễn
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống về quy trình hình thành và phát triển của các làng, xã trên vùng đất Thiệu Quang Từ kết quả nghiên cứu này, luận văn sẽ cung cấp thêm luận cứ khoa học để địa phương biên soạn lịch sử làng xã
Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện về nguồn gốc, giá trị các
di sản văn hóa, danh nhân tiêu biểu trên vùng đất này Qua đó góp phần giáo dục đạo đức, tư tưởng hướng về nguồn cuội, phát huy những giá trị quý báu của gia đình, dòng họ và quê hương
- Kết quả nghiên cứu của luận văn còn góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu về lịch sử - văn hóa địa phương và hướng dẫn tham quan du lịch tại các điểm
di tích lịch sử - văn hóa ở Thiệu Quang
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Vài nét về vùng đất Thiệu Quang
Chương 2: Di sản văn hóa vật thể
Chương 3: Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 169
Chương 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT THIỆU QUANG
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Huyện Thiệu Hóa phía Bắc giáp với huyện Yên Định, phía Nam giáp với huyện Đông Sơn, phía Tây giáp với hai huyện Triệu Sơn và Thọ Xuân, phía Đông giáp huyện Hoằng Hóa và Thành phố Thanh Hóa [30; tr 17]
Thiệu Quang là một trong 25 xã, thị trấn của huyện Thiệu Hóa, cách thị trấn Thiệu Hóa 12km về phía Đông Bắc của huyện, là mảnh đất nằm giữa ba con sông (sông Mã, sông Cầu Chày, sông Mậu Khê) Xa hơn vài cây số về phía Nam là sông Chu với diện tích tự nhiên là 685,89 ha; Phía Bắc giáp sông Cầu Chày, bên kia là Định Công (huyện Yên Định); phía Đông là sông Mã, bên kia sông là xã Hoằng Khánh (huyện Hoằng Hóa); phía Tây là xã Thiệu Giang, Thiệu Hợp (huyện Thiệu Hóa) và phía Nam là
xã Thiệu Thịnh (huyện Thiệu Hóa) dân số là 1.570 hộ với 4.869 nhân khẩu (theo số liệu điều tra năm 2019 của Chi cục thống kê huyện Thiệu Hóa)
Thiệu Quang có vị trí địa lý và địa hình khá đa dạng, dân cư đến sinh sống cùng với quá trình khai hoang lập làng vùng châu thổ sông Mã Sách
cũ ghi từ thời Tiền Tống (420 - 479) Thành Tư Phố (thuộc xã Thiệu
Trang 1710
Dương, Thiệu Khánh - thành phố Thanh Hóa bây giờ) đã là một trung tâm hành chính, kinh tế Thiệu Quang ở gần Thành Tư phố lại thuộc vùng đất mầu mỡ, gần những con sông lớn nên có người định cư sớm Cách đây hàng nghìn năm, Lỗ Tử thuộc vùng Tam Lỗ (Lỗ Tử, Mao Lỗ, Đông Lỗ) là miền đất lập nghiệp của Dương Tam Kha (thế kỷ thứ 10), người sinh ra Thái hậu Dương Vân Nga Thế đủ biết người xưa đã sinh sống ở vùng đất Thiệu Quang lâu lắm rồi
Thiệu Quang và vùng lân cận là nơi có nhiều di tích lịch sử, thắng cảnh thiên nhiên, lễ hội lớn Đứng trên đỉnh núi Ngói (còn có tên là núi Tử, núi Phúc Nhân) nhìn về phía Bắc là Ngã Ba Bông, phía Đông Nam là Ngã
Ba Giàng, mùa nước lớn hình ảnh hai ngã ba sông rộng mênh mông như cửa biển Có lẽ vì thế mà con người Thiệu Quang khoáng đạt, thích giao lưu, ham mê lễ hội
Ngã Ba Bông là nơi “Một tiếng gà gáy năm huyện, mười làng cùng nghe” Hiện nay, nếu kể cả làng Phong Mục, xã Châu Lộc, huyện Hậu Lộc thì sáu huyện nghe) Nơi đây người ta coi là vùng “rốn nước”
Đi ngược sông Mã là đến di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ, xa hơn nữa là chiến khu Ngọc Trạo huyện Thạch Thành Ngược sông Cầu Chày 6km đến 7km là Núi Nuông (Tiên Nông) xã Thiệu Long di chỉ của người nguyên thủy Phía Nam, gần Ngã Ba Giàng là quê của danh nhân Dương Đình Nghệ, vùng đất này từng là trung tâm hành chính thời Bắc thuộc – thành Tư Phố Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp Thập cảnh Bàn A và là chứng tích hoạt động của con người thời kỳ tiền sử (di chỉ núi Đọ)
Thiệu Quang thuộc vùng chiến địa xưa: dòng sông Mã từ Ngã Ba Bông đến Ngã Ba Đầu rộng, phẳng nên diễn ra nhiều trận thủy chiến giữa quân ta với quân Chiêm Thành; còn núi Bằng Trình, chính là nơi diễn ra trận đánh ác liệt giữa Đô Dương tướng quân với quân Mã Viện xưa Trên mảnh đất Thiệu Quang sách cũ ghi Lỗ Tử là nơi hợp quân, luyện quân của Trần Lựu với những giai thoại về bãi Quần Ngựa, cây cáo Phù Nghĩa
Trang 1811
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Thiệu Hóa được cấu tạo bởi phù sa trải trên một bề rộng nghiêng dần
về phía Đông Nam, rìa phía Bắc và Tây Bắc là các dải đất cao từ 8m -15m được cấu tạo bằng phù sa cổ Trong cái bằng phẳng như rất nhiều khu vực xung quang, vẫn bắt gặp những khoảng đồi núi mờ xa hoặc rải rác quang quất Những đồi núi sót như: núi Bằng Trình (còn gọi là núi Trịnh, Thái Bình - Thiệu Hợp), núi Đọ (còn gọi là núi Tràn – xã Tân Châu), núi Nuông (còn gọi là Khuyển Ngọa Sơn – núi chó nằm, Thiệu Long), núi Là (Thiệu Tiến), núi Tử (núi Phúc Nhân, Thiệu Quang) và núi Mấu (2 ngọn núi đá gần nhau thuộc Thiệu Ngọc, Thiệu Vũ, Thiệu Thành, Thiệu Tiến) hầu hết đều có độ cao trung bình từ 150-200m so với mặt nước biển, được cấu tạo bằng đá phun trào, đá vôi, cát kết và đá phiến
Đồi núi cùng với địa hình dốc nghiêng đã tạo ra thuận lợi trong việc xây dựng các công trình thủy nông tự chảy hoặc làm cho nước dễ tiêu rút Nhiều khu vực do quá trình hình thành phải trải qua thời gian dài nâng lên hoặc lún xuống, phù sa sông Mã và sông Chu không bồi đắp kịp nên đã tạo
Trang 19“Cầu Chày chó lội đứt đuôi, Ngựa lội đứt vó trôi xuôi Vực Vàng”
Sông Mậu Khê xuất phát từ núi Vạc (xã Thiệu Ngọc, huyện Thiệu Hóa) đổ ra sông Chu qua cống Chấn Long (xã Thiệu Hợp, huyện Thiệu Hóa), chảy qua khu vực Thiệu Quang gần 200m nằm về phía Tây của xã
Cả ba con sông (sông Mã, sông Cầu Chày, sông Mậu Khê) tạo ra một vùng đồng bằng chiêm trũng rộng lớn Vì vậy, đất đai của Thiệu Quang khá màu mỡ phì nhiêu do được bồi đắp phù sa trong nhiều năm, địa hình tương đối bằng phẳng Cùng với hệ thống kênh, mương, ao hồ diện tích mặt nước của xã tương đối lớn; vừa là nguồn nước dồi dào phục vụ sản xuất và đời sống; vừa là tiềm năng lớn cho nghề nuôi trồng thủy sản, đồng thời là điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy từ xã đi các địa phương khác Tuy nhiên, do là một xã đồng bằng chiêm trũng, được bao bọc bởi ba con sông nên mùa lũ lụt, nhân dân Thiệu Quang có nhiệm vụ nặng nề trong việc chống lụt bão, trở thành một địa phương có nhiều kinh nghiệm trong phòng, chống thiên tai Trong lịch sử, Thiệu Quang đã 4 lần
vỡ đê vào những năm: 1927 (Đinh Mão), 1936 (Bính Tý), 1937 (Đinh Sửu), 1973 (Quý Sửu); và trận úng lụt lịch sử năm 1996 (Bính Tý) khiến người dân điêu đứng
Nguồn tài nguyên đáng kể nhất của Thiệu Quang là núi đá và cát, là nơi cung cấp nguyên liệu lớn để người dân trong xã và các xã lân cận khai thác nguyên liệu phục vụ xây dựng Cũng vì thế mà Thiệu Quang có nghề thợ xây phát triển khá sớm và có tiếng trong vùng, với hàng trăm thợ giỏi
Trang 20xạ hàng tháng đều dương, cơ bản có lợi cho vật nuôi và cây trồng Nhưng thiệt hại nhất là bão lụt và khô hạn, luôn là mối đe dọa tiềm ẩn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống con người Chỉ cần có lượng mưa từ 200-250mm
là đủ gây úng lụt
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên vùng đất Thiệu Quang đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức Tuy nhiên, với truyền thống lao động cần
cù, thông minh, sáng tạo, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các thế hệ người dân Thiệu Quang đã từng bước vượt qua khó khăn, phát huy truyền thống quê hương góp phần xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Thiệu Quang
1.2.1 Địa danh vùng đất Thiệu Quang trong lịch sử
Thiệu Hóa ngày nay, được cấu tạo bởi hai vùng đất thuộc huyện Quân Ninh và huyện Tư Phố trong quận Cửu Chân Theo sách Thủy Kinh
chú cho biết “Quận Cửu Chân mở năm Nguyên Định thứ 6, đời Hán Vũ Đế
(111 trước CN), trị sở là huyện Tư Phố” [29, tr 22,23] Trải qua thời gian,
dòng chảy của lịch sử, huyện Thiệu Hóa đã có nhiều sự biến đổi về vị trí, địa giới và tên gọi
Thời thuộc Hán vùng đất Thiệu Hóa là miền đất thuộc huyện Tư Phố Thời thuộc Tùy là miền đất của huyện Quân An (tách Tư Phố lập huyện Quân An) Thời thuộc Đường là miền đất thuộc huyện Quận Ninh (đổi tên Quân An thành Quân Ninh)
Thời Trần - Hồ, tách Quân Ninh thành hai huyện là Yên Định và Lương Giang thuộc trấn Thanh Đô Thiệu Hóa thời kỳ này thuộc huyện Lương Giang
Trang 21Thời Gia Long đổi tên phủ Thiệu Thiên thành phủ Thiệu Hóa năm
1815 (tên Thiệu Hóa có từ đây), huyện Thụy Nguyên vẫn do Phủ Thiệu Hóa kiêm lý
Đến Thành Thái thứ 12 (1900) cắt một phần đất huyện Thụy Nguyên nhập sang huyện Đông Sơn và huyện Ngọc Lặc, bỏ tên Thụy Nguyên mà gọi là Thiệu Hóa Phủ Thiệu Hóa gồm 8 tổng, trong đó 4 tổng thuộc hữu ngạn sông Chu là Xuân Lai, Xuân Phong, Vận Quy, Đại Bối và 4 tổng tả ngạn sông Chu là Thử Cốc, Phù Chẩn, Mật Vật, Phùng Cầu
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, phủ Thiệu Hóa được chuyển thành huyện Thiệu Hóa, lúc này toàn bộ tổng Thử Cốc được chuyển về huyện Thọ Xuân Ngoài việc bỏ đơn vị hành chính cấp trung gian là tổng, nhà nước còn đổi phủ Thiệu Hóa thành huyện Thiệu Hóa với 12 xã (Huy Toán, Đại Đồng, Minh Quang, Thái Bình, Đại Bái, Ngọc Vũ, Thành Công, Tân Dương, Vạn Hà, Chùy Giang, Duy Tân, Quang Thịnh) [29, tr 22 - 23]
Năm 1977 tách một nửa huyện Thiệu Hóa (hữu ngạn sông Chu) nhập với huyện Đông Sơn thành huyện Đông Thiệu, sau đổi là huyện Đông Sơn; Một nửa huyện Thiệu Hóa (tả ngạn sông Chu) nhập với huyện Yên Định thành huyện Thiệu Yên
Thực hiện Nghị định số 72/CP ngày 18/11/1996 của Chính phủ, tách hai nửa Thiệu Hóa của huyện Đông Sơn và huyện Thiệu Yên nhập lại thành huyện Thiệu Hóa như trước Lúc này huyện Thiệu Hóa có 31
xã, thị trấn
Ngày 29/2/2012, Chính phủ ra Nghị quyết số 05/NQ-CP điều chỉnh địa giới để mở rộng địa giới hành chính thành phố Thanh Hóa và thành lập các phường thuộc thành phố Thanh Hóa, sáp nhập 19 xã, thị trấn của các
Trang 2215
huyện Hoằng Hóa, Đông Sơn, Thiệu Hóa, Quảng Xương, trong đó huyện Thiệu Hóa có 03 xã là Thiệu Dương, Thiệu Khánh, Thiệu Vân thuộc phường Đông Cương, thành phố Thanh Hóa Huyện Thiệu Hóa ngày nay còn lại 25 xã, thị trấn
Thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 của Bộ chính trị, chỉ thị số 20-CT/TU, ngày 15/3/2019 của UBND tỉnh và nhiều văn bản của tỉnh, của huyện “về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã” vì vậy huyện Thiệu Hóa hiện nay bao gồm 25 xã thị trấn, cụ thể các xã được sáp nhập: Xã Thiệu Tân sáp nhập với xã Thiệu Châu Thành xã Tân Châu; Xã Thiệu Minh được sáp nhập với xã Thiệu Tâm thành xã Minh Tâm; xã Thiệu Đô sáp nhập với thị trấn Vạn Hà thành thị trấn Thiệu Hóa
Thiệu Quang là một trong những vùng đất cổ của huyện Thiệu Hóa nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung Nơi đây cách di chỉ khảo cổ học Núi Đọ khoảng 5km về phía Nam, di chỉ núi Nuông (Tiên Nông) khoảng 6km về phía Tây Kết quả khảo cổ học ở đây đã khẳng định người nguyên thủy ở núi Đọ, núi Nuông đã mở đầu cho thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã, sông Chu, là lớp cư dân Cồn Chân Tiên nằm sát chân phía đông nam núi Đọ đã trở thành cốt lõi đầu tiên trong việc hình thành bộ Cửu Chân trong nhà nước Văn Lang [30; tr 28]
Thiệu Quang là vùng đất nằm dọc giữa hai con sông: sông Mã và sông Cầu Chày với chiều dài hơn 4km, rộng hơn 2km nên từ xa xưa, dân ở khắp nơi đã về khai hoang, lập ấp và sinh sống Qua một số di sản văn hóa vật thể và phi vật thể còn bảo tồn đến ngày nay như: kiến trúc đền, đình, chùa, các giai thoại phong tục, tập quán, nếp sống văn hóa của nhân dân Thiệu Quang cho thấy sự hình thành và phát triển làng xã gắn liền với quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống dịch họa lâu dài và gian khổ
Theo sách cũ ghi từ thời Tiền Tống (420 - 479) thành Tư Phố (thuộc Thiệu Dương, Thiệu Khánh ngày nay) đã là một trung tâm hành chính, kinh tế Thiệu Quang ở gần thành Tư Phố lại thuộc vùng đất màu mỡ, gần
Trang 2316
những con sông lớn nên sớm có người định cư Cách đây hàng ngàn năm,
Lỗ Tử thuộc vùng Tam Lỗ (Lỗ Tử, Mao Lỗ, Đông Lỗ) là miền đất lập nghiệp của Dương Tam Kha (thế kỷ thử X), người sinh ra thái hậu Dương Vân Nga nổi tiếng trong lịch sử Điều này chứng minh người dân đã sinh sống, định cư từ rất sớm trên vùng đất Thiệu Quang
Qua quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, tạo dựng cuộc sống, dần dần làng xóm được hình thành, cộng đồng dân cư ra đời ngày một đông đúc, gắn bó với nhau Trải qua thời gian, các thế hệ người dân Thiệu Quang nối tiếp nhau chung tay vật lộn với sông nước, đắp đê, ngăn lũ vào mùa mưa khơi ngòi, tạo rạch trữ nước tưới cho mùa khô, dần biến vùng đất hoang hóa bên dòng sông Mã thành một vùng quê đông đúc Để có được diện mạo của Thiệu Quang như hôm nay là cả một quá trình gian khổ, dài lâu chế ngự thiên nhiên của ông cha ta
Năm Thành Thái thứ 12 (1900) từ huyện Thụy Nguyên, do phân chia lại địa giới huyện, phủ Thiệu Hóa được thành lập gồm 8 tổng Thiệu Quang thuộc tổng Mật Vật (riêng Châu Trướng thuộc tổng Hải Quật)
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước bỏ đơn vị hành chính trung gian là tổng và đổi phủ Thiệu Hóa thành huyện Thiệu Hóa với
12 xã Thiệu Quang thuộc xã Quang Thịnh gồm 7 làng: Châu Trướng, Nhân cao, Trí Cường, Nhuệ Thôn, Phùng Thôn, Chấn Long (làng Nạp), Thắng Long (làng Đàng) [29, tr 309]
Tháng 10 - 1953 trên cơ sở tách ra từ xã Quang Thịnh, Thiệu Quang gồm các làng: Châu Tướng, Nhân Cao, Trí Cường và một xóm mới Ngày 5-7-1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 177/CP về việc giải thể huyện Thiệu Hóa, 15 xã nằm trong vùng tả ngạn sông Chu sáp nhập vào huyện Yên Định, lập ra huyện mới mang tên Thiệu Yên, 16 xã còn lại ở hữu ngạn sông Chu sáp nhập vào Đông Sơn, lập ra huyện Đông Thiệu (năm 1982 đổi theo tên cũ là Đông Sơn) Xã Thiệu Quang thuộc huyện Thiệu Yên Ngày 18 - 11 - 1996, huyện Thiệu Hóa được tái lập theo Nghị
Trang 2417
định số 72/CP của Chính phủ Ngày 1-1-1997, địa giới và tổ chức hành chính trở lại như cũ của 20 năm trước đây, xã Thiệu Quang thuộc về huyện Thiệu Hóa mới tái lập [30, tr 29]
1.2.2 Quá trình hình thành làng xã
Xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa được coi là vùng đất cổ xưa là một trong những “cái nôi của người Việt cổ” Trên vùng đất này, hàng trăm năm về trước đã có con người cư trú và chính họ là những chủ nhân khai phá vùng đất còn hoang sơ thành những cánh đồng trù phú, tạo lập nên những tụ điểm dân cư đông đúc, sầm uất Đó là những cộng đồng dân cư đặt nền móng cho sự ra đời và hình thành các làng xã đầu tiên trong lịch sử
Sự hình thành làng xã ở đồng bằng sông Mã trong quá trình phát triển có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chính từ đó đã góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng về kinh tế, văn hóa trong các làng xã nơi đây
Trải qua quá trình thay đổi địa giới và sáp nhập các đơn vị hành chính, hiện nay xã Thiệu Quang gồm các làng: Châu Trướng, Nhân Cao, Chí Cường và làng mới
Làng Châu Trướng, theo địa chí huyện Thiệu Hóa làng Châu Trướng
(tên nôm là làng Nồi hoặc Chiềng Nồi) Đầu thế kỷ XIX thôn Châu
Trướng thuộc tổng Hải Quật, huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa Đời vua Đồng Khánh (1885 - 1888) là thôn Chu Trướng, xã Ngọc Trướng, tổng Hải Quật, huyện Yên Định, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; sau cách mạng tháng Tám năm 1945, thuộc xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa [29, tr 124]
Làng Châu Trướng có diện tích canh tác hơn 80ha, nằm về phía Bắc của xã Thiệu Quang, cách trung tâm xã khoảng 2km, cách thành phố thành hóa 10km và thị trấn Thiệu Hóa 14km Phía Tây và phía Bắc của làng Châu Trướng là sông Cầu Chày, phía Đông là dòng sông Mã Vì thế trong bản đồ tỉnh Thanh Hóa người ta rất dễ nhận ra làng như đốt ngón tay bụ bẫm chỉ
về hướng Bắc
Trang 2518
Dân làng Châu Trướng sống theo vành lược ven đê sông Mã, sông Cầu Chày Cuối làng ngày xưa còn có một xóm bãi bên bờ sông Mã Ở đây cạnh ngã ba sông Cầu Chày và sông Mã (Ngã Ba Nồi) vì vậy ngày xưa rất thuận lợi cho việc làm ăn và đi lại bằng đường thủy, còn bây giờ trở nên hẻo lánh, xa trung tâm huyện, xã
Làng thành lập từ bao giờ chưa có sách nào chép lại, chỉ có mấy dấu hiệu để nhận biết rằng làng đã có từ rất lâu đời Theo ông Tạ Quang (người nghiên cứu văn học dân gian) thì có giai thoại kể rằng:
Tên làng Châu Trướng do Lê Lợi đặt cho Căn cứ vào sắc phong Thần hoàng làng đến nay còn giữ lại được (do ông Hoàng Đình Tuất và bà Cam Nam giữ, nhờ ông Mai Xuân Đễnh, một nhà Nho ở Vạn Hà dịch) thì do vua
Lê Hiển Tông hiệu là Cảnh Hưng phong, tính đến nay cũng đã hơn 250 năm Cũng theo nghĩa chữ Hán trong sắc phong thì “Châu” có nghĩa là bãi, “Trướng” có nghĩa là “bức bình phong” [41; tr 16]
Có lẽ do ngày xưa đê Thiệu Quang không lớn nên địa thế làng giống như một bãi nổi nhìn ra hai con sông và dãy núi Bông, núi Chè như bức bình phong Cũng có người cho rằng “Châu Trướng” là “quý” và “nhiều” Còn tên làng Nồi là do xưa kia làng có nghề sành sứ, nay ở Cồn Lò còn dấu tích Những cái tên Mã Cứu, Cây Đề, Thần Nông, Cồn Lò, Thỉnh Kinh, Bờ Mường chứa nhiều sự tích và huyền thoại của làng
Làng Châu Trướng hiện nay là địa bàn sinh tụ của nhiều họ, trong đó
họ Nguyễn, họ Trần, họ Lê là chủ yếu Ngoài ra còn có họ Đào (Đầu), họ Đoàn, họ Bùi, họ Đặng, họ Hoàng, họ Vũ, họ Phạm, họ Cao Họ Trần ở Hải Dương di cư đến từ hơn 300 năm và cũng là một trong những họ lâu đời nhất làng Họ Nguyễn Văn ở Hạ Đồ (Hoàng Hóa) đến vùng đất Châu Trướng khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Họ Phạm, họ Đặng, và
hộ họ Lê có nguồn gốc từ Hành Thiện (Nam Định) đến, mang theo nhiều nghề, nhất là nghề trồng trầu không Họ Đầu, họ Đoàn làm nghề vận tải thuyền, có cả ba đoàn thuyền lớn vận tải hàng hóa đi khắp nơi, từ các vùng
Trang 2619
trong tỉnh đến Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng Làng Châu Trướng đã trở thành nơi hội tụ của các luồng dân cư ở khắp nơi các vùng miền đến sinh sống, lập nghiệp Do đó, ngoài những đặc trưng chung của một vùng châu thổ sông Mã, thì làng Châu Trướng còn có những đặc trưng văn hóa riêng biệt với nền kinh tế nhiều nghề và tính cách của cư dân năng động, tháo vát Vì thế thời phong kiến, tuy là làng nhỏ, nhưng vẫn là một làng trù phú, giàu có, phong lưu nhất vùng
Làng Châu Trướng có rất nhiều nghề, nhưng chủ yếu vẫn là nghề nông, chỉ một số ít gia đình ở làng làm nghề vận tải trên sông, nghề làm gạch, nghề sành sứ
Nghề làm ruộng có cơ cấu cây trồng đa dạng, hiệu quả cao Ngoài lúa là cây trồng chính thì thời xưa nghề trồng cây trầu không của làng rất phát triển, nhà giàu trồng vài sào, nhà nghèo trồng vài chục mét vuông Trầu không được trồng thành khu giữa những cánh đồng cao ráo, màu mỡ nhất Vườn trầu là cả một gia tài, cấu trúc vững chắc, sạch đẹp, thoáng để chống trộm, chống bão, chống gió bấc Đất Thiệu Quang phù hợp với cây trầu phát triển Năm trầu đắt, mỗi lá trầu một đồng bạc, người ta tậu ruộng, làm nhà, cho con đi học xa nhờ trầu không, nhờ trồng trầu không mà đời sống dân làng khá no đủ Ngoài ra, làng còn trồng một số loại cây công nghiệp khác có giá trị kinh tế cao như: cây bông, cây thuốc lá, hành, tỏi bán khắp vùng, thuốc lá trồng nhiều đến mức nhà nước còn đặt trạm thu mua giữa làng
Với vị trí “cận sông” nên bên cạnh làm ruộng, làng Châu Trướng còn một số ít người làm nghề vận tải trên sông Trong đó điển hình phải kể đến họ Đào, họ Đoàn có cả một đoàn thuyền lớn vận tải hàng hóa đi khắp nơi, từ trong nội tỉnh đến Nam Định, Hải Phòng Nghề vận tải đường sông
ở Thiệu Quang nói riêng, huyện Thiệu Hóa nói chung đã có một thời kỳ phát triển và có những đóng góp không nhỏ trong đời sống cư dân vùng đất này Tuy nhiên, những năm gần đây khi giao thương ở các địa phương phát
Trang 27và âm vang của tiếng trống chầu cứ vang vọng mãi trong làng [41, tr 16]
Làng còn có một ngôi chùa tuyệt đẹp, phía trước chùa là cổng Tam quan lộng lẫy do thợ Tòng Tân xây dựng rất công phu, có nghè thượng, nghè
hạ, văn chỉ, võ chỉ và nhiều cây cổ thụ làm nơi che bóng mát cho làng
Làng nhỏ, nhưng Châu Trướng là nơi hội tụ của nhiều dòng họ có nguồn gốc khác nhau và khắp các vùng miền, những cộng đồng cư dân trên vùng đất này lại luôn đoàn kết, mọi người trong làng rất thân tình, tính cộng đồng cao và phong tục tập quán tốt đẹp
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945 do chính sách ngu dân của chế độ thực dân phong kiến nên cũng như mọi miền quê khác trong cả nước, trình độ dân trí của làng còn thấp, nhưng đến những năm 1950 số người đi học cấp 2 cao nhất vùng, hơn chục người học lớp 5, 6, 7 (hệ 9 năm), sau lớp người ấy số người đi học lại ít dần, tụt hậu so với hai làng trong xã
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, lớp thanh niên giác ngộ rất sớm, gần như toàn dân tham gia mọi công tác do Mặt trận Việt Minh phát động Từ đó, xuất hiện một lớp người tham gia Đảng cộng sản Đáng chú ý
có ông Nguyễn Văn Văn, ông Nguyễn Văn Hựu trở thành nhân viên ủy ban huyện từ những năm 1947; ông Bùi Văn Ấm tham gia vệ quốc quân từ năm
1947 và lớp lớp người kế tiếp tham gia kháng chiến sau này Có thời kỳ làng Châu Trướng là lá cờ đầu của cả huyện về năng suất lúa và phong trào hợp tác xã nông nghiệp Một làng nhỏ bé, ruộng ít mà có tổng sản lượng rất lớn, làm nghĩa vụ cho nhà nước hơn nhiều nơi đất rộng, người đông trong huyện
Trang 2821
Những năm 1960 trở về sau, dân làng đi định cư ở nhiều nơi, đến nay
số người đi làm ăn xa và định cư ở nơi khác ngày một đông Vì vậy, mặc
dù diện tích của làng không lớn nên mật độ dân số của làng không cao Hiện nay làng vẫn còn lưu giữ những ngôi nhà mái ngói cổ xưa, kiến trúc đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc trung bộ là một nét riêng biệt so với các vùng làng quê của xứ Thanh hiện nay
Làng Nhân Cao, làng Nhân Cao nằm dọc theo dòng sông Mã, cách
trung tâm huyện Thiệu Hóa 12 km về phía Đông Bắc Từ trung tâm thị trấn Thiệu Hóa đi theo bờ đề hữu ngạn sông Chu qua Thiệu Duy, Thiệu Hợp, Thiệu Thịnh đến trung tâm xã Thiệu Quang, đi thêm 1km là làng Nhân Cao
Về thời điểm thành lập làng Nhân Cao cho đến nay vẫn chưa có nguồn tài liệu ghi chép chính xác Theo lời truyền ngôn thì thủa ban đầu đây là nơi sinh sống của một số người làm nghề chài lưới ở dưới sông lên
tụ cư Họ đã dựng nhà tạm để đi về sớm tối Khi dân cư đông đúc họ chuyển sang làm ruộng, trồng cây lúa nước Nhờ đất đai màu mỡ, người dân bắt đầu khai hoang làm thành đồng ruộng Từ đây hình thành làng, tên làng đầu tiên là Ngư Võng Phường (nghĩa là phường làm nghề đánh bắt cá) Sau đó, trải qua bốn lần đổi tên thành Ngư Lăng, Như Lăng, Làng Ngói và đến nay là làng Nhân Cao, xuất hiện từ thế kỷ thứ 18 Làng có diện tích canh tác khoảng 101 ha Phía Đông của làng là sông Mã, phía Tây là sông Cầu Chày, phía Nam là núi Phúc Nhân, hay còn gọi là núi Ngói, núi
Tử Người dân trong làng làm nhà ở theo vành đê và vòng theo chân núi
Cư dân làng Nhân Cao có nhiều nghề như trồng ngô, đậu, nhất là trồng dâu để nuôi tằm Đây là nguồn thu nhập đáng kể cho mọi người dân nơi đây Phía Tây làng được bao bọc bởi sông Cầu Chày, cánh đồng lúa nội
đê với bốn bề là đê, núi và thân đất cao, nên đã tạo thành một vùng chiêm trũng Phía Nam là núi Phúc Nhân có hình dáng giống một người phụ nữ đang mang thai
Trang 2922
Làng Nhân Cao, xã Thiệu Quang là một làng có rất nhiều dòng họ lớn, tiêu biểu như họ Nguyễn, họ Đỗ, họ Hoàng, họ Lê, họ Trần, họ Đàm
Có giai thoại cho rằng họ Nguyễn Đăng đã ở đây hàng ngàn năm về trước
Đến nay, những biểu hiện văn hóa sông nước ở làng vẫn còn đậm đà trong các phong tục, tập quán như: tục kiêng ăn cá gáy trong tháng Giêng
và tháng Hai; tục giã bánh dày vào mùng 4 tháng Giêng; tục rước cây phan ngày 12 tháng Giêng [40, tr 228]
Điều đặc sắc nhất ở làng là hệ thống đình, chùa, miếu mạo và truyền thống lễ hội rất phong phú Làng có một nhà thờ lớn thờ ba anh
em họ Nguyễn Đăng mà theo tương truyền là ba trong số “Tứ trụ triều đình” thời Nguyễn đó là Nguyễn Đăng Chói, Nguyễn Đăng Đảng, Nguyễn Đáng Điền
Làng cũng có miếu thờ tứ vị Đức thượng thần, đặc biệt là thờ Đức Thánh cả, người có công lớn và gắn bó với vận mệnh của dân làng, được vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740) phong cho thần một lúc hai đạo sắc Nhân dân trong làng vẫn truyền tụng câu ca:
Một ngày hai đạo sắc phong Năm roi năm kiếm vua ban về thờ Dân làng ai cũng không ngờ Thần thiêng bộ hạ đợi chờ khắp nơi [11; tr 2]
Ngoài ra còn có văn chỉ thờ đức Khổng Tử, võ chỉ thờ Thánh sư nghề vật võ Đình là trung tâm lễ hội của làng Vào dịp lễ hội hàng năm thì đình là nơi hội tụ tất cả các vị thánh thần được thờ trong làng Hàng năm từ ngày 30 tháng Chạp đến ngày 12 tháng Giêng là những ngày lễ hội lớn của làng với rất nhiều nghi lễ, tục lệ và trò diễn phong phú, đa dạng và có nhiều sắc thái rất riêng và đặc sắc Những ngày tế lễ được tổ chức rất linh đinh, nội dung phong phú Các bài văn tế, bài hát của trò chèo chải, múa đèn đến nay vẫn còn lưu giữ, đã được Bộ Văn hóa Thông tin đưa vào lưu trữ trong kho tư liệu những vốn cũ trò diễn dân gian của cả nước
Trang 3023
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, truyền thống gắn kết, có tính cộng đồng cao trong sản xuất, trong việc chống thiên tai và tổ chức lễ hội Truyền thống này vẫn được nhân dân trong làng gìn giữ phát huy Biểu hiện trong sinh hoạt cộng đồng và phong trào các đoàn thể như: phong trào xóa nạn mù chữ, chống đói, tuần lễ vàng
Thời kỳ nào làng Nhân Cao cũng có người là cán bộ chủ chốt của
xã Đến nay, làng có tới bốn người đỗ tiến sĩ, có những người là sĩ quan cao cấp trong quân đội, có doanh nhân thành đạt, nhiều thầy giáo, kỹ sư, bác sĩ đã có những công hiến xuất sắc Làng Nhân Cao, là một dải đất
có nhiều nét văn hóa đặc sắc, có sức sống mạnh mẽ và đang phát triển từng ngày
Làng Chí Cường, làng còn có tên là Lỗ Tử (làng Tử), là làng cổ ra
đời vào loại sớm nhất trong vùng Làng Chí Cường được thành lập cùng với quá trình hình thành các làng xã vùng đồng bằng ven sông Mã Hơn một nghìn năm trước, khu vực này đã là đất lập nghiệp của Dương Tam Kha, người sinh ra thái hậu Dương Vân Nga Cách đây 600 năm, ông Trần Lựu tập hợp trai tráng trong làng, luyện tập thành một đội quân tấn công đồn giặc ở Tư Phố, núi Go Lúc này cư dân trong làng đã rất đông đúc nhiều nhân vật lịch sử đã làm rạng danh tên làng và trở thành nổi tiếng trong vùng [29; tr.195]
Làng Chí Cường cách trung tâm huyện Thiệu Hóa khoảng 11km về phía Đông Bắc Có diện tích canh tác hơn 200 ha, nhưng phần lớn thuộc đồng chiêm trũng, đồng ruộng nơi đây thuộc vùng hạ lưu của sông Mậu Khê, nằm trong vùng trũng lớn (hơn 3000 ha) giữa sông Cầu Chày và sông Chu Trừ cánh đồng ven núi, bìa làng là ruộng cao, còn lại là đồng sâu, càng xa làng càng trũng
Trước đây, người dân làng Chí Cường, ngoài nghề làm ruộng còn có làm nhiều nghề khác, nhưng nổi bật nhất vẫn là nghề dệt vải, nghề xây và nghề chăn nuối lợn nái Đặc biệt, làng có nghề truyền thống là nghề dệt vải
Trang 3124
Vải làng Chí cường một thời nổi tiếng khắp vùng Trong làng, hầu như nhà nào cũng có xa quay, thông cửi để trong nhà, con trai, con gái ai cũng biết kéo sợi Hát phường vải là một nét văn hóa của làng từ xưa, tồn tại đồng thời với nghề dệt vải tấm của làng Nghề thợ xây của làng cũng rất nổi tiếng, đặc biệt là vật liệu xây dựng bằng đá núi có tiếng từ xa xưa
Làng có nhiều họ: họ Vũ, họ Hàn Viết, họ Trần Văn, họ Trần Quang,
họ Nguyễn, họ Lê, họ Phạm, họ Phan, họ Đỗ và họ Đào, họ Tống, họ Mai Trong đó, họ Trần Quang là họ lâu đời nhất làng Sử sách ghi Trần Lựu là dòng dõi nhà tướng, tổ tiên ở Lỗ Tử Cha ông đã từng giúp nhà Trần chống giặc Minh xâm lược và hy sinh anh dũng Nhờ có nhiều công lao lớn giúp
Lê Lợi, đặc biệt là chiến thắng Chi Lăng, Trần Lựu được ban họ vua và phong “Tứ Quốc Tính Lê Lựu Bình Ngô Khai Quốc Công Thần trấn viễn Đại tướng quân” Từ các đời vua nhà Lê đến các vua nhà Nguyễn đã có tới
14 đạo sắc phong ông là Thượng Đẳng Tôn Thần [9; tr 2-11] Ngày nay còn có mộ chí và đền thờ ông ở Chí Cường Hậu duệ của ông trở thành một dòng họ lớn và nhiều người thành đạt
Việc học hành trong làng đã được coi trọng từ rất xa xưa Ngoài việc học chữ Quốc ngữ, nhiều nhà đã cho con cái theo học chữ Hán Từ thời Pháp thuộc đã có nhiều người đỗ bằng Primer, Dislom Nhiều người am tường Hán học, viết chữ đẹp Cho đến ngày nay, truyền thống hiếu học vẫn giữ được trong làng, nhiều gia đình có đến ba, bốn người con học đại học và thành đạt Làng Chí Cường hiện nay đã có 3 tiến sỹ, một phó giáo sư, trong đó có người được đào tạo ở nước ngoài, như ông Nguyễn Khuyến Lân đã bảo vệ luận văn Tiến sỹ khi mới 27 tuổi tại trường Đại Học Lincon ở New Zeland, cũng là người đã đạt huy chương đồng trong
kỳ thi Olimpic toán Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 3; ông Vũ Duy Hào được phong hàm phó giáo sư khi mới ở tuổi 43 tại trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Làng còn có hai thế hệ trong một gia đình tham gia và đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi toán cấp quốc gia bậc
Trang 3225
trung học như gia đình ông Nguyễn Trọng Liên Nguyễn Khuyến Lân còn là một học sinh tham gia thi Olimpic Toán Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 3 và đạt huy chương Đồng
Cũng như nhiều làng khác, ngày xưa làng Chí Cường có đình, đền, chùa, nghè, văn chỉ, võ chỉ, nhiều họ có nhà thờ lớn Ngày nay, một số di tích đó vẫn còn tọa lạc giữa làng tiểu biểu như: đình làng Chí Cường làm bằng gỗ lim hơn 600 năm trước, là công trình kiến trúc cổ, cầu kỳ, tinh xảo,
là trung tâm lễ hội của làng, đã được UBND tỉnh công nhận là di tích lịch
sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật; Di tích Nghè Thượng, Nghè Hạ đã được nhân dân trong làng giữ gìn, tu bổ, tôn tạo phục vụ nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của làng
Năm 2008, một số người trong làng đã đào được một trống đồng lớn được đặt trong một cái am xây bằng gạch cuốn Những viên gạch được đào lên cho biết niên đại cổ xưa, khoảng hơn 1000 năm trước Hiện chiếc trống đồng đang được lưu giữ ở Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa
Làng Chí Cường, từng có các đội hát tuồng cổ, hát cải lương Sau này các đội hát chèo đã từng công diễn nhiều vở hay gây ấn tượng trong vùng Làng còn có trò chèo chải, trò múa đội đèn Tiết mục múa đèn của đội văn nghệ xã, trong đó có diễn viên của làng đã từng đoạt giải nhất trong hội thi toàn quốc Hiện nay, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục dưỡng sinh trong làng vẫn duy trì phát triển Làng Chí Cường được công nhận là “Làng văn hóa” cấp huyện, cấp tỉnh năm 2009
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 làng Chí Cường có 15 người
bị thực dân Pháp bắt vào lính Đợt 1 (đầu năm 1936): 2 người bị bắt đi lính (đội Soạn, đội Khôn), trở về năm 1940 Đợt 2 (cuối năm 1936) 2 người bị bắt đi lính (Bếp Bằng và bếp Tính), trở về làng năm 1940 Đợt 3 (năm 1938): có 11 người bị bắt trong đó có người không sang Pháp gọi là Lính khố đỏ đó là Bếp Diêu (ông Trần Minh Sơn), ông được trả về địa phương sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và tham gia hoạt động trong Mặt trận
Trang 3326
Việt Minh Năm 1948, ông làm Bí thư chi bộ Quang Thịnh, số người còn lại bị lính Mỹ đưa sang Pháp năm 1946 (khi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tạm ký hòa ước với Pháp), đến cuối năm 1947 có 9/10 người trở
về nước
Làng Chí Cường là làng có những gia đình đóng góp to lớn cho hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Cả xã có 4 bà mẹ Việt Nam anh hùng thì làng Chí Cường đã có tới 3 mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu này Đó là các
mẹ Hàn Thị Mơng có ba người con hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; mẹ Lê Thị Bạn có một con trai độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; mẹ Hàn Thị Táy có một con trai độc nhất hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Gia đình ông Nguyễn Trọng Hỗ có hai người con trai hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và một con trai là tử sỹ trong khi đưa các đồng chí chỉ huy vào chiến dịch chiến tranh Biên giới phía Bắc năm 1979 Gia đình ông Nguyễn Văn Nức có năm người con trai thì cả năm người đều tham gia kháng chiến và người con thứ
ba của ông đã hy sinh tại chiến trường chống Mỹ Những tấm gương sáng
về sự hy sinh nêu trên là những tấm gương về lòng anh dũng, đức hy sinh cao cả vì độc lập tự do cho dân tộc, hòa bình cho tổ quốc mà các thế hệ sau phải đời đời ghi nhớ
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa
1.3.1 Truyền thống lịch sử
* Truyền thống lao động sản xuất
Trong tiến trình lịch sử người dân Thiệu Quang đã phải chịu đựng nhiều gian khổ, cực nhọc cùng với nghèo đói, thiên tai, dịch bệnh Trong những năm tháng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, người dân Thiệu Quang vốn sống trong cảnh nghèo khổ, lạc hậu, nên luôn bị các dịch bệnh rình rập, đe dọa Năm 1929, bệnh dịch ở làng Chí Cường làm 20 người chết, có gia đình chết hai người như gia đình ông Trần Văn Cường Đến
Trang 3427
năm 1943, bệnh dịch tả lại bùng phát một lần nữa ở Thiệu Quang, cướp đi sinh mạng của rất nhiều người, nhất là ở hai làng Nhân Cao và Châu Trướng Có gia đình dịch tả cướp đi hai, ba người chỉ trong vòng một hai ngày Trong khi đó, cả xã Thiệu Quang không có một cơ sở y tế nào để chăm sóc sức khỏe cho người dân Khi bị ốm đau, bệnh tật, người dân ở đây chỉ tự chạy chữa bằng các cây thuốc nam hoặc nhờ tới các ông thầy lang trị bệnh bằng kinh nghiệm; nhiều người còn tin vào cầu cúng, phó thác sinh mệnh cho trời phật, nên nhiều người đã chết vì bệnh tật thông thường Các dịch bệnh như thương hàn, thổ tả, bại liệt, sốt rét luôn hoành hành, thường xuyên đe dọa đến tính mạng người dân
Tuy nhiên, là một vùng đất ven sông, bằng bàn tay lao động, người dân vùng đất Thiệu Quang đã biết dựa vào các điều kiện của thiên nhiên để khai hoang, ngăn sông biến vùng đất thành những đồng ruộng, xóm làng trù phú Đó chính là những truyền thống tốt đẹp của người dân Thiệu Quang được hun đúc truyền từ đời này qua đời khác Truyền thống đó đã xuyên suốt hàng ngàn năm lịch sử góp phần xây dựng nên một làng quê nông nghiệp trù phú và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống khác
Công cuộc khai hoang, lập ấp của người dân vùng đất Thiệu Quang
đã biến những vùng đất chiêm trũng thành những cánh đồng rộng lớn để phục vụ canh tác, sản xuất Chứng tích của việc khai hoang trên vùng đất Thiệu Quang là các cánh đồng với tên gọi mà nhân dân đặt như: Cồn cát, Cồn Ngựa…
Với vùng đất giàu truyền thống sản suất nông nghiệp trồng lúa nước,
từ lâu người dân Thiệu Quang đã biết lựa chọn những vùng đất phù hợp để canh tác các loại hoa màu và trồng lúa; cung với lựa chọn các vùng đất phù hợp, người dân Thiệu Quang cũng biết đến việc lựa chọn hạt giống phù hợp với từng mùa để có năng xuất cao Hiện nay, do cải tạo tốt đồng ruộng, nên hàng năm xã Thiệu Quang đạt được tỷ lệ năng xuất trong sản xuất nông nghiệp rất cao từ 23 đến 24 tấn lúa/ha/năm
Trang 3528
Cùng với việc triển khai thực hiện tốt các hoạt động sản xuất, nâng cao năng xuất Thiệu Quang còn chú trọng đến việc chăn nuôi gia súc, gia cầm phục vụ cho công việc cày, kéo và nâng cao thu nhập phục vụ đời sống; tiểu biểu là việc nuôi lợn nái đã có tiếng tăm trong vùng
Ngoài việc sản xuất, chăn nuôi, người dân Thiệu Quang cũng đã biết buôn bán, giao thương, tiểu biểu như nghề dệt vải, trồng dâu, nuôi tằm, làm thợ xây…đã góp phần tích cực trong việc phát triển kinh tế - văn hóa của
xã nhà
* Truyền thống chống giặc ngoại xâm
Nằm trong dải đất xứ Thanh địa linh - nhân kiệt, nơi từng chứng kiến nhiều cuộc giao tranh quyết liệt trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, từ thời xa xưa, người dân Thiệu Quang đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc bảo vệ tổ quốc, quê hương Ngay từ thế kỷ thứ XV, khi quân Minh sang xâm lược nước ta, mảnh đất Thiệu Quang đã đóng góp cho đất nước một vị danh tướng lừng lẫy là ông Trần Lựu, người đã có công giúp Lê Lợi bình định giặc Minh, giành độc lập cho dân tộc
Thiệu Quang là vùng đất thuộc chiến địa xưa, dòng sông Mã từ Ngã
Ba Bông (Định Công, huyện Yên Định) đến Ngã Ba Đầu (Thiệu Thịnh, huyện Thiệu Hóa) là một mặt phẳng và rộng nên diễn ra nhiều trận thủy chiến giữa quân ta với quân Chiêm Thành và các trận đánh ác liệt giữa Đô Lương tướng quân với quân Mã Viện Ngoài ra Thiệu Quang cũng là nơi hợp quân của Trần Lựu gắn liền với nhiều giai thoại như: Cồn Ngựa, cây cáo Phù nghĩa…
Dưới chế độ áp bức, bóc lột dã man của thực dân phong kiến, nhân dân Thiệu Quang bị kìm hãm về mọi mặt, đời sống vô cùng cực khổ, làng quê tiêu điều, xơ xác Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Thiệu Quang với bè lũ thực dân phong kiến ngày càng sâu sắc, vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Đặc biệt, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), các cao trào cách mạng
Trang 3629
mạnh mẽ trong nước nối tiếp nhau làm lung lay bộ máy cầm quyền thực
dân, phong kiến để đến mùa Thu năm 1945, cả dân tộc “rũ bùn đứng dậy
chói lòa” làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám lịch sử Dưới ánh sáng
của Đảng, với truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, với tinh thần căm thù giặc sâu sắc, nhân dân Thiệu Quang đã đứng lên cùng dân tộc đánh đuổi kẻ thù xâm lược, lật đổ chế độ phong kiến, góp phần giành lại độc lập tự do cho đất nước, giành lại cuộc sống bình yên cho quê hương
Khi thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai, cùng với nhân dân cả nước, người dân Thiệu Quang tiếp tục tham gia kháng chiến Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỳ, dưới ánh sáng của Đảng, Thiệu Quang đã đóng góp nhiều sức người, sức của, góp phần vào những thắng lợi vĩ đại của dân tộc
Truyền thống yêu nước, đoàn kết cộng đồng, tương thân tương ái và
sự đa dạng, phong phú trong đời sống văn hóa chính là nguồn lực lớn lao
để nhân dân Thiệu Quang vượt qua những bước đường lịch sử khó khăn, những khắc nghiệt của thiên nhiên, xây dựng và bảo vệ quê hương
Thiệu Quang - vùng đất, con người và truyền thống yêu nước, đã, đang và sẽ còn được bồi tụ, xây đắp, in đậm dấu ấn của quá khứ, hiện tại và tương lai Đó là nguồn tài sản vô giá, là nguồn động lực mạnh mẽ, là niềm
tự hào của mỗi người dân Thiệu Quang hôm nay và mai sau
1.3.2 Truyền thống văn hóa
* Truyền thống hiếu học
Nằm trong vùng văn hóa có bề dày lịch sử, trải qua quá trình xây dựng quê hương, nhân dân Thiệu Quang không ngừng xây đắp, gìn giữ và phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống của mình Nhiều phong tục tập quán văn hóa có sắc thái riêng của xã đã hòa quyện vào truyền thống văn hóa của dân tộc
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Thiệu Quang không có một trường học nào, chỉ có một vài lớp do hội nhà giàu, hào lý dựng lên để cho
Trang 3730
con em chúng theo học Do vậy, trên 90% người dân Thiệu Quang mù chữ Tuy là dân lam lũ khai phá đất trũng ven sông để lập làng nhưng trong tâm thức từng người dân Thiệu Quang vẫn thấu hiểu ý nghĩa quan trọng của việc học hành, khoa cử, nên rất chú trọng đầu tư đến công tác giáo dục Năm 1953 trở về trước Thiệu Quang có một trường cấp I và một trường Tư thục cấp II Từ năm 1953-1954, Thiệu Quang tách khỏi xã Quang Thịnh cũ nên chỉ có một trường cấp I gồm bốn lớp Đến năm 1965, xã Thiệu Quang được mở thêm trường cấp II công lập gồm bốn lớp Đến năm 1987, Thiệu Quang được mở thêm một trường Phổ thông trung học (cấp III) gồm ba lớp (từ lớp 10 đến lớp 12) cho học sinh cả năm xã đến học (Thiệu Quang, Thiệu Thịnh, Thiệu Hợp, Định Công, Định Thành)
Bình quân trong xã cứ 3 người dân có 1 người theo từ bậc mầm non đến phổ thông trung học Trong xã có hàng trăm người có trình độ Đại học
và gần chục người có trình độ Tiến sĩ, hơn bốn mươi người là bác sĩ, kỹ sư đang công tác hoặc đã nghỉ hưu trên khắp mọi miền của Tổ quốc
* Truyền thống “uống nước nhớ nguồn”
Trong quá trình lao động xây dựng quê hương, người dân Thiệu Quang đã dần dần gắn bó chặt chẽ với nhau, hình thành nên một cộng đồng dân cư chung sống bền chặt, vừa mang yếu tố huyết thống, vừa mang yếu
tố láng giềng thân thiết
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các làng Châu Trướng, Nhân Cao, Chí Cường có xuất xứ riêng, mỗi làng có tính độc lập tương đối trong cùng một xã, nhưng lại sống và canh tác cạnh nhau, có truyền thống đoàn kết, giúp đỡ nhau nên từ xa xưa mối quan hệ giữa ba làng đã được xây dựng Mối quan hệ đó được thể hiện trong việc người dân cùng nhau chung tay đắp đê, ngăn lũ mỗi khi mùa mưa đến; trong việc cải tạo và chinh phục tự nhiên; trong việc chiến đấu chống lại dịch bệnh, dịch họa Nó cũng thể hiện trong sinh hoạt và giao lưu văn hóa, trong hôn nhân, huyết thống Đó là cơ sở để nhân dân ba làng cùng hợp sức xây dựng xã Thiệu Quang ngày nay
Trang 38họ đều có nhà thờ tổ Đó không chỉ là một loại hình tín ngưỡng mà cao hơn còn là đạo lý “uống nước nhớ nguồn” thể hiện lòng thành kính, biết ơn của con cháu đối với công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, ông bà tổ tiên, những người đã khuất Gắn với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nhiều gia đình đã ghi gia phả dòng họ và ngày giỗ tổ họ đã trở thành dịp để con cháu trong dòng tộc sum họp, củng cố mối quan hệ thân tộc
Ngoài tục thờ cúng tổ tiên, người dân Thiệu Quang còn thờ các vị thành hoàng làng Từng cụm dân cư trong xã đã xây dựng nên những đền, chùa miếu phủ để thờ phụng các vị thiên Thần, nhân Thần từng có công với dân với nước Trong xã có các công trình kiến trúc rất độc đáo như ngôi đình ở làng Châu Trướng, làng Chí Cường; đền thờ ba anh em họ Nguyễn Đăng ở làng Nhân Cao, thờ tướng quân Trần Lựu ở làng Chí Cường; ngôi chùa Tam Quan Đó là những công trình văn hoá do bàn tay của người dân trong xã xây dựng nên, với kiến trúc độc đáo, tinh xảo Đặc biệt, ngôi đình cổ ờ làng Chí Cường đã được nhà nước xếp hạng là di tích văn hóa, lịch sử
Cùng với tục thờ cúng, Phật giáo đã du nhập vào Thiệu Quang từ khá sớm Hiện nay, xã có ngôi chùa cuốn Tam quan thờ phật ở cuối làng Châu Trướng và làng Trí Cường
Từ xưa, người dân Thiệu Quang cũng gần với địa bàn cư trú của người Việt Cổ, nhất là từ thế kỷ thứ X lớp dân cư bao quanh vùng đô thành
Tư Phố đã tiếp xúc và thu nhận được nền văn hoá Hán nên đã ảnh hưởng nhiều đến nền văn hoá truyền thống của làng xã về Nho giáo
Trang 3932
Không chỉ gìn giữ được tục thờ cúng, người dân Thiệu Quang còn gìn giữ và phát huy được nhiều phong tục khác của người dân Việt Nam nói chung, như phong tục đón năm mới (Tết Nguyên đán), tục tảo mộ vào dịp Tết Thanh minh, tục khao vọng chúng sinh vào ngày rằm tháng Bảy,
tục rước đèn vào ngày rằm tháng Tám các phong tục hôn nhân, sinh đẻ,
tang lễ cũng đã song hành với người dân Thiệu Quang từ xa xưa và đến ngày nay vẫn là những phong tục gắn liền với đời sống người dân nơi đây
Các đình, đền, chùa, miếu ở Thiệu Quang tuy có quy mô không lớn, được xây dựng từ xa xưa, lại bị tàn phá nặng nề bởi thiên tai, dịch họa, nhưng đến nay, do ý thức bảo vệ của người dân nên vẫn giữ được những nét kiến trúc nghệ thuật truyền thống, mang đậm tinh thần dân tộc Đó không chỉ là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, chính trị mà còn phản ánh trình độ phát triển của làng xã, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của nhân dân ta nói chung, nhân dân xã Thiệu Quang nói riêng
Sinh hoạt tín ngưỡng và tổ chức các lễ hội đã trở thành hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, mang tính tâm linh và có ý nghĩa nhân văn cao đẹp Phương thức tổ chức và nội dung các lễ hội có sự kết hợp đan xen giữa tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng thần hoàng làng Ý nghĩa phần lễ không chỉ thuần túy mang yếu tố tín ngưỡng mà còn là hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần mang đậm nét đạo lý, truyền thống tôn kính tổ tiên, tưởng nhớ công lao của các vị anh hùng có công xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước, những bậc tiền nhân đã truyền nghề mang lại đời sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân Đồng thời thể hiện tinh thần thượng võ và nét đẹp truyền thống của nhân dân Việt Nam nói chung, của người dân Thiệu Quang nói riêng cần được gìn giữ và phát triển
Trải qua quá trình xây dựng và bảo vệ cuộc sống, chống chọi với thiên tai, địch họa, các thế hệ người dân Thiệu Quang đã sớm hình thành các giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc trưng Truyền thống đó được vun đắp,
Trang 4033
phát huy mạnh mẽ trong mọi thời kỳ lịch sử Đó là các truyền thống kính trọng người già, đề cao nền nếp gia đình, tương thân tương ái Nó được thể hiện rõ nét trong cách sống, nếp nghĩ của mỗi người dân, trong các hương ước, lệ làng, gia phả mà đến nay vẫn được lưu truyền
Tiểu kết chương 1
Thiệu Quang, vùng đất được bao bọc bởi ba con sông (sông Mã, sông Cầu Chày, sông Mậu Khê) Quá trình khai phá đất đai và lập làng trên vùng đất Thiệu Quang diễn ra hàng ngàn năm cùng với sự kiến tạo vùng châu thổ xứ Thanh
Trải qua các bước phát triển thăng trầm của lịch sử, danh xưng và địa giới hành chính của vùng đất Thiệu Quang đã có nhiều thay đổi, chia tách
và sáp nhập Hiện nay xã Thiệu Quang gồm có bốn làng; làng Châu Trướng, làng Nhân Cao, làng Chí Cường, làng Mới Mặc dù qua nhiều lần thay đổi nhưng cộng đồng cư dân Thiệu Quang vẫn gắn bó để xây dựng nên một quê hương giàu truyền thống lịch sử văn hóa
Vốn là vùng đất chiêm trũng trong đê ngoài bãi, những cư dân đầu tiên đến Thiệu Quang lập làng đã trải qua quá trình khai phá gian khổ, lâu dài Cuộc vật lộn với thiên nhiên để lập làng, mở mang sản xuất của người dân Thiệu Quang đã trải dài suốt cả chặng đường hình thành và phát triển lâu dài
Ngay từ khi lập làng, song hành với công cuộc mưu sinh là công cuộc trị thủy Việc chế ngự thiên nhiên đầu tiên là công cuộc đắp đê sông Mã để tránh triều cường, tránh lũ lụt, bảo vệ cuộc sống, bảo đảm sản xuất cho những cánh đồng rộng lớn Do hệ thống đê của Thiệu Quang rất lớn, nên hàng năm địa phương phải dành ra một phần không nhỏ trong nguồn ngân sách cho công tác đắp đê, chống lũ lụt Vấn đề trị thủy luôn phải đặt lên hàng đầu Trong lịch sử, Thiệu Quang đã từng xảy
ra bốn lần vỡ đê, gây thiệt hại vô cùng lớn về người và của cho vùng đất