BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC TRẦN DANH HẢI LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT XUÂN THIÊN ( THỌ XUÂN, THANH HÓA ) LUÂN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam Than[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
-
TRẦN DANH HẢI
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT XUÂN THIÊN
( THỌ XUÂN, THANH HÓA )
LUÂN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Thanh Hóa, năm 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
-
TRẦN DANH HẢI
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT XUÂN THIÊN
( THỌ XUÂN, THANH HÓA )
LUÂN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 8229013
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Mai Văn Tùng
2 TS Lê Thanh Thủy
Thanh Hóa, năm 2020
Trang 3Danh sách Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ khoa học
Theo quyết định số: 1633 / QĐ- ĐHHĐ ngày 13 tháng 10 năm 2020 của Hiệu trưởng Trường đại học Hồng Đức
Học hàm, học vị,
họ và tên
Cơ quan công tác Chức danh
trong hội đồng
PGS.TS Nguyễn Thị Thúy Trường Đại học Hồng Đức Chủ tịch
TS Nguyễn Thị Định Trường Đại học Hồng Đức Ủy viên
phản biện 1
TS Lê Văn Phong Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa Ủy viên
phản biện 2
PGS.TS Hoàng Thanh Hải Hội KHLS Thanh Hóa Ủy viên
PGS.TS Nguyễn Thị Vân Trường Đại học Hồng Đức UV, Thư ký
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến hội đồng ngày 31 tháng 10 năm 2020
Xác nhận của Thư ký hội đồng Xác nhận của người hướng dẫn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lập với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình khoa học đã công bố
Người cam đoan
Trần Danh Hải
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, với tinh thần chân thành, tác giả xin trân trọng cảm ơn:
- PGS.TS Mai Văn Tùng
- TS Lê Thanh Thủy
- Tập thể giảng viên Bộ môn Lịch sử, Khoa Khoa học Xã hội, trường Đại học Hồng Đức
- Ban quản lý di tích lịch sử Lam Kinh, Trung tâm bảo tồn di sản Thanh Hóa
- Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Xuân Thiên, thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- Gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tuy đã có nhiều cố gắng song do điều kiện, trình độ hiểu biết còn hạn chế, chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Tác giả kính mong
nhận được sự góp ý và chỉ dẫn để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn./
Tác giả
Trần Danh Hải
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và giới hạn của đề tài 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Bố cục của luận văn 6
Chương 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG ĐẤT XUÂN THIÊN 7
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 7
1.1.1 Vị trí địa lý 7
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 8
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Xuân Thiên 9
1.2.1 Địa danh Xuân Thiên trong lịch sử 9
1.2.2 Nguồn gốc dân cư và dòng họ 15
1.3 Truyền thống lịch sử- văn hóa, nhân vật lịch sử 16
1.3.1 Truyền thống lịch sử- văn hóa 16
1.3.2 Nhân vật lịch sử 18
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 30
2.1 Bia và đền thờ Lê Sao 31
2.2 Chùa và Bia chùa Quảng Phúc 33
2.3 Đình làng Quảng Thi 38
2.4 Hệ thống nhà cổ 39
Trang 72.5 Nhà thờ giáo họ Kẻ Đầm 40
2.6 Các di sản khác 40
2.6.1 Chùa Hà 40
2.6.2 Đình làng Quảng Ích 41
2.7 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị di sản 42
2.7.1 Thực trạng 42
2.7.2 Giải pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản 44
Tiểu kết chương 2 45
Chương 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 46
3.1 Phong tục, tập quán 47
3.1.1 Phong tục vòng đời 47
3.1.2 Phong tục lễ tết 53
3.1.3 Một số phong tục, tập quán khác 57
3.2 Tôn giáo- tín ngưỡng 59
3.2.1 Tôn giáo 59
3.2.2 Tín ngưỡng 64
3.3 Lễ hội truyền thống và trò chơi dân gian 66
3.3.1 Hội làng 67
3.3.2 Trò chơi dân gian 67
3.4 Văn học dân gian 71
3.5 Nghề thủ công truyền thống 75
3.5.1 Nghề làm bánh gai 75
3.5.2 Nghề làm tương 76
3.6 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa 78
3.6.1 Thực trạng 78
3.6.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa 80
Tiểu kết chương 3 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, làng xã là tế bào cơ sở có vai trò quan trọng trong việc tập hợp cộng đồng dân cư để phát triển kinh tế, chống giặc ngoại xâm, dựng nước và giữ nước Đồng thời là nơi lưu giữ, bảo tồn các giá trị truyền thống của dân tộc, đánh bại mọi âm mưu hủy hoại, đồng hóa của ngoại bang
Văn hóa làng cùng với sự phát triển của đất nước đã có nhiều đổi thay Làng xã luôn là chủ đề nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, để đi sâu nghiên cứu chi tiết về một địa phương, đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng làng xã là vấn đề cần thiết
1.2 Huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa xuyên suốt hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc Nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử sôi động, hào hùng
là quê hương của nhiều danh nhân, hào kiệt Có thể khẳng định Thọ Xuân là cái nôi linh thiêng của Xứ Thanh “địa linh nhân kiệt”, có tiềm năng dồi dào, phong phú về nhiều loại hình du lịch văn hóa lịch sử, du lịch tâm linh, du lịch sinh thái và du lịch danh lam thắng cảnh
Trên địa bàn huyện Thọ Xuân có hơn 200 di tích lớn nhỏ các loại, trong
đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt là Di tích lịch sử Lam Kinh (thị trấn Lam Sơn), di tích đền thờ Lê Hoàn (xã Xuân Lập), 6 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia, 38 di tích xếp hạng cấp tỉnh và thắng cảnh như núi Mục Sơn, đập Bái Thượng, có 1 di sản phi vật thể quốc gia: Trò Xuân Phả
Thọ Xuân là nơi sinh ra người anh hùng dân tộc Lê Hoàn- người sáng lập
ra vương triều Tiền Lê (981-1009), nổi tiếng với việc “phá Tống bình Chiêm”
Là quê hương người anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợi, nơi phát tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418- 1427) đánh đuổi quân đô hộ nhà Minh giành lại độc lập cho giang sơn đất nước lập nên triều đại Hậu Lê (1428 - 1788) Đây là nơi hội tụ nhiều anh hùng nghĩa sĩ về dưới cờ đại nghĩa Lam Sơn
Trang 10Thọ Xuân là nơi sinh ra nhiều danh nhân như: Trình Minh, Lê Văn Linh, Lê Văn An, Nguyễn Nhữ Lãm, Lê Khả Lãng, Lê Sao, Nguyễn Thận, Trần Lựu nhiều lãnh tụ trong phong trào Cần Vương kháng Pháp, nhiều lão thành cách mạng trong thời kỳ chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ giải phóng dân tộc Nơi đây là địa điểm thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa
1.3 Truyền thống lịch sử văn hóa vùng đất Thọ Xuân là cơ sở để tạo nên nhiều làng xã nổi tiếng trong lịch sử dân tộc Trong đó có vùng đất Xuân Thiên
Đây là một trong 30 xã, thị trấn của huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa Vùng đất này nằm bên tả ngạn sông Chu cách khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh 3 km về phía đông là nơi sinh ra và nuôi dưỡng nhiều bậc hào kiệt nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam như Lê Sao, Lê Lý, Trương Chiến, Trần Lựu, Lê Ngân (Khai quốc công thần triều hậu Lê), là nơi nuôi dưỡng thái tử
Lê Duy Đàm (sau là vua Lê Thế Tông) Nơi đây còn lưu giữ được nhiều di tích như Đình làng Quảng Thi, Đình làng Quảng Ích, Chùa và Bia chùa Quảng Phúc, Bia và đền thờ tướng quân Lê Sao, Bia Thụy Hoa công chúa, nhà thờ giáo họ Kẻ Đầm, hệ thống nhà cổ Phố Đầm nhiều phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn học dân gian, lễ hội và trò chơi truyền thống quý giá Trải qua thời gian Xuân Thiên đã phát huy được lợi thế về vị trí địa lý để xây dựng nơi đây thành một trung tâm kinh tế lớn, một đầu mới giao thương trọng điểm của cả vùng và xây dựng nên những truyền thống quý giá mang bản sắc riêng của địa phương Với vai trò lớn trong khởi nghĩa Lam Sơn, các cuộc đấu tranh bảo vệ và giành độc lập cho quê hương, có thể khẳng định Xuân Thiên
là một địa phương có vai trò quan trọng trong lịch sử dân tộc
Vì vậy, việc tìm hiểu về văn hóa vùng đất Xuân Thiên là điều cần thiết
sẽ góp phần bảo tồn, phát huy những di tích, di sản, những truyền thống quý báu của địa phương Đây cũng là cơ sở dữ liệu để bổ sung cho khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh Khẳng định vai trò của vùng đất Xuân Thiên với khởi nghĩa Lam Sơn, với kinh đô Lam Kinh, với vương triều Hậu Lê và lịch
Trang 11sử dân tộc Từ đó đề xuất những biện pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị
di sản vật thể, phi vật thể của địa phương với tư cách là vùng phụ cận của di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu “ Lịch sử văn hóa vùng đất Xuân Thiên (Thọ Xuân, Thanh Hóa) làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về huyện Thọ Xuân, trong đó có viết về vùng đất Xuân Thiên với những góc độ và cách tiếp cận khác nhau
Các bộ sử thời phong kiến như “ Đại Việt sử ký toàn thư”của Ngô Sĩ Liên[22],“Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú[10], “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”[30], Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn [13] là các bộ sách lớn có viết về khởi nghĩa Lam Sơn, kinh đô Lam Kinh và một số nhân vật của vùng Xuân Thiên
Sách “Địa chí huyện Thọ Xuân” của UBND huyện Thọ Xuân xuất bản năm 2005 đã tổng hợp lịch sử và các thành tựu lớn của toàn huyện, trong đó
có xã Xuân Thiên.[35]
Sách “lịch sử xã Xuân Thiên”xuất bản năm 2007 đã đề cập đến quá trình hình thành các làng xã, một số danh nhân, truyền thống lịch sử, văn hóa của xã Xuân Thiên [37]
Lý lịch khoa học và hồ sơ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh, sách “ 35 vị khai quốc công thần Lam Sơn”[2], Sách Thanh Hóa thời Lê [6], Chùa xứ Thanh, tập 1 [14]
Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vùng đất Xuân Thiên nhưng mới chỉ đề cập riêng lẻ, chưa đi sâu nghiên cứu có hệ thống và đầy đủ về lịch sử văn hóa của địa phương này Vì vậy luận văn này
đã tập trung nghiên cứu về các di tích, lễ hội văn hóa truyền thống của vùng đất Xuân Thiên, đề ra những giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị
Trang 123 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và giới hạn của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ hệ thống lại toàn bộ lịch sử, các di sản vật thể, phi vật thể của vùng đất Xuân Thiên trên cơ sở hệ thống hóa các nguồn tư liệu và kết quả nghiên cứu tại thực địa
Xây dựng hệ thống tư liệu địa phương, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử địa phương trong nhà trường và tuyên truyền trong cộng đồng dân cư Tăng cường sự hiểu biết về truyền thống và lòng tự hào dân tộc; từng bước phát huy các giá trị di tích với vai trò là vùng phụ cận của di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh
và phát huy các giá trị tiêu biểu của địa phương
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vùng đất Xuân Thiên bao gồm: Lịch sử hình thành vùng đất, lịch sử hình thành các dòng họ, các giá trị lịch
sử, văn hóa vật thể và phi vật thể
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Luận văn sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các tài liệu thành văn, tài liệu vật chất, tài liệu văn hóa dân gian
Trang 134.1.1 Nguồn tài liệu thành văn
Nguồn tài liệu chữ Hán đã được dịch: Thời phong kiến cũng có một số cuốn sách viết về vùng đất Thọ Xuân nói chung và vùng đất Xuân Thiên nói riêng như: Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam thực lục, Đại Việt thông sử
Nguồn tài liệu tiếng Việt: bao gồm các cuốn sách như: Địa chí huyện Thọ Xuân, lịch sử xã Xuân Thiên, hồ sơ xếp hạng các di tích, các sách giới thiệu về các nhân vật lịch sử
4.1.2 Nguồn tài liệu vật chất
Bao gồm các di tích cổ nằm trên địa bàn xã Xuân thiên như: Đền thờ
Lê Sao, Bia Lê Sao, nhà Cổ, chùa Đầm, Nhà thờ giáo họ Kẻ Đầm, đình làng Quảng Thi
4.1.3 Tài liệu văn hóa dân gian
Chủ yếu là các truyền thuyết, truyện kể dân gian, ca dao, tục ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ tục dân gian
4.2 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Cơ sở phương pháp luận
Luận văn tuân thủ quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin của Đảng Cộng sản Việt Nam về sử học, văn hóa học nhằm đảm bảo tính khách quan và trung thực trong nghiên cứu sử học
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả dựa vận dụng phương pháp luận sử học Mác xít kết hợp với các phương pháp bộ môn, chủ yếu là:
Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, khu vực học Từ kết quả nghiên cứu của các ngành khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học, địa chất học, địa lý học để có cái nhìn toàn diện về lịch sử một vùng đất, xử lý
số liệu, chứng minh các luận điểm, bổ sung làm sáng tỏ vấn đề trọng tâm nghiên cứu Phương pháp phân tích và tổng hợp để chọn lọc các tư liệu có giá trị, chính xác liên quan đến đề tài; đánh giá sự tương quan về văn hóa
Trang 14giữa các làng, giữa các thành tố văn hóa trong địa bàn nghiên cứu Đối chiếu
so sánh, kết hợp lý luận và thực tiễn; đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị các di sản
5 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Xuân Thiên và những đóng góp trong lịch sử dân tộc
- Tổng hợp các giá trị văn hóa, di sản của vùng đất Khẳng định tầm ảnh hưởng và vai trò của vùng đất Xuân Thiên với các vùng xung quanh và đặc biệt là mối quan hệ với kinh đô Lam Kinh
- Góp phần giáo dục truyền thống, bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc, bổ sung tư liệu cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương
- Đề xuất các giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị di tích, di sản, phong tục tập quán, lễ hội của địa phương
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất xuân Thiên Chương 2 Di sản văn hóa vật thể
Chương 3 Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 15Chương 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG ĐẤT
XUÂN THIÊN 1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Xuân Thiên nằm ở phía tây bắc huyện Thọ Xuân, cách thị trấn Thọ Xuân 13km, cách thành phố Thanh Hóa 48km, bên tả ngạn sông Chu, có diện tích 805,96ha (Trong đó đất nông nghiệp 515,7ha, đất phi nông nghiệp 290,26ha), dân số trên 10.000 người
Phía đông bắc giáp xã Thuận Minh
Phía đông giáp các xã Thọ Hải, Thọ Diên, Thọ Lâm
Phía tây nam giáp thị trấn Lam Sơn
Phía tây bắc giáp xã Kiên Thọ (Ngọc Lặc)
Xã Xuân Thiên nằm cách khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh gần 3km, cách khu di tích quốc gia đặc biệt Đền thờ Lê Hoàn 7km, cách đường
Hồ Chí Minh 2,5km (đến Ngã Ba Si- huyện Ngọc Lặc), nơi đây cũng gần với Cảng hàng không Thọ Xuân
Xuân Thiên như một hoàn đảo nhỏ do được bao bọc xung quanh bởi sông nước Phía trước mặt có con sông Chu chảy suốt theo chiều dài của địa phương, dài 3,2km, phía sau lưng có hón Quế, hón Thiên chạy dài theo làng
ôm lấy cánh đồng rồi đổ ra sông Chu; phía tây có con mương do thị trấn Lam Sơn đào để tiêu nước ở hồ Choán Đứng trên cao nhìn xuống sẽ thấy Xuân Thiên như một bức tranh đẹp với sông nước, xóm làng và đồng ruộng trù phú
Xét về mặt phong thủy thì Xuân Thiên có thế dựa là Đồn Dồn, Đồng Thi; xa hơn nữa là các núi ở Đồi Nan, phía trước nhìn ra sông Chu, có tả thanh long là dãy núi Cò Tô (xã Thuận Minh), hữu bạch hổ là núi Mục Sơn (thị trấn Lam Sơn), vượng khí tốt để tụ cư, lập nghiệp và xây dựng xóm làng phồn thịnh
Như vậy, về vị trí địa lý thì vùng đất Xuân Thiên là một xã trung du, có diện tích lớn của huyện Thọ Xuân
Trang 161.1.2 Điều kiện tự nhiên
- Về sông ngòi
Sông Chu là dòng sông lớn thứ 2 ở Thanh Hóa, nhánh lớn nhất trong hệ thống sông Mã Sông Chu bắt nguồn từ cao nguyên Sầm Nưa (Lào) Phần sông chảy qua Việt Nam dài 145km, chảy qua huyện Thọ Xuân dài 29,4km Lúc đầu dòng sông chảy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam tới Mường Hinh thì chuyển thành hướng Tây- Đông chảy qua các huyện miền núi Thanh Hóa về Bái Thượng qua thị trấn Lam Sơn đến Xuân Thiên Có thể nói từ xưa tới nay sông Chu luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng về nhiều mặt đối với vùng đất này
Sông Chu thời nhà Lê được gọi là Lương Giang hay còn gọi là sông Lường Do bắt nguồn từ đồi núi cao nên lưu lượng nước nhiều quanh năm, ngay cả vào mùa khô lượng nước cũng còn nhiều Trải qua thời gian sông Chu đã nhiều lần thay đổi dòng, phù sa của dòng sông đã bồi đắp nên nhiều
bờ bãi, đầm, lạch Đây là huyết mạch giao thông những năm đầu thế kỷ XX
về trước Theo dòng sông Chu người dân đã vận chuyển hàng hóa từ khắp các vùng miền về với Xuân Thiên, cũng đồng thời là con đường để đưa các hàng hóa đặc trưng của vùng đất này đến với các khu vực khác
- Về đất đai, thổ nhưỡng
Xuân Thiên là vùng đất bán sơn địa có địa hình bậc thang thoai thoải Đất ở đây chủ yếu là phù sa do dòng sông Chu bồi đắp hàng năm và một số là đất đỏ phát triển trên đá phiến Đất ở ngoài đồng chủ yếu là “phần đất sét, cát cuội hạt nhỏ có nguồn gốc sông biển hỗn hợp” thích hợp trồng cây lúa, cây nông nghiệp hoặc có thể khai thác làm gạch, làm sành gốm Đất ở các gò Đồng Cổ, Phượng Hoàng có khả năng trồng rừng, trồng cây lâm nghiệp [37;tr9]
Tính đến năm 2005, tổng diện tích toàn xã là 830 ha, trong đó:
Diện tích canh tác: 486,7ha
Diện tích lúa nước: 301ha
Trang 17Diện tích chuyên màu: 119,2ha
Diện tích 1 lúa, 1 màu: 53ha
Diện tích ao hồ: 13,5ha
- Về Khí hậu, thời tiết
Khí hậu và thời tiết ở Xuân Thiên vô cùng khắc nghiệt và thất thường, nhiệt độ trung bình năm 23,40C, lúc cao nhất đến 41.50C, lúc thấp nhất đã xuống đén 50 C
Lượng mưa trung bình năm: 1.864mm
Lượng mưa nhỏ nhất trong năm: 1.321mm
Lượng mưa ngày lớn nhất đo được ngày 24 tháng 9 năm 1963 là 314.8mm
Độ ẩm không khí trung bình năm là 85%
Mùa hè thường xuất hiện gió đông nam từ tháng 4 đến tháng 10 tạo nên khí hậu ôn hòa Từ tháng 11 đến tháng 3 có gió đông bắc tạo nên những đợt khô hanh giá rét
Nhìn chung điều kiện tự nhiên ở Xuân Thiên có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và thương nghiệp Những cánh đồng bằng phẳng, những bãi bồi phù sa là nơi lý tưởng để trồng cây lương thực, hoa màu Với lợi thế về giao thông, nơi đây trở thành đầu mối để tập hợp những người từ nơi khác đến giao thương, và trải qua thời gian vùng đất này trở thành “đất lành” để an cư lập nghiệp
1.2 Quá trình hình thành vùng đất Xuân Thiên
1.2.1 Địa danh Xuân Thiên trong lịch sử
Theo Phạm Văn Đấu trong cuốn “Phác thảo lịch sử kinh tế Thanh Hóa (Từ nguyên thủy đến 1945)”đã viết: Trên các đồi gò thấp thuộc các xã phía bắc sông Chu như: Xuân Thiên, Xuân Lập, Xuân Minh các nhà khảo cổ đã phát hiện ra một số công cụ đá mang dấu ấn văn hóa Sơn Vi Đó là những công cụ bằng đá cuội được ghè đẽo thô sơ Các công cụ đá nguyên thủy này được các nhà khảo cổ gọi là các công cụ có lưỡi dọc, công cụ hình mũi nhọn,
Trang 18công cụ có lưỡi ngang Ngoài ra văn hóa Đông Sơn còn được phát hiện càng ngày nhiều trên đất Thọ Xuân, trong đó có xã Xuân Thiên Tại đây ngoài các
di vật tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn như cán dao găm hình người, trống đồng, thạp đồng, đồ trang sức, đồ gốm còn phát hiện được một số di tích cư trú lâu dài của chủ nhân văn hóa Đông Sơn.[12; tr24]
Nguồn gốc hình thành dân cư, làng xã Xuân Thiên qua các tài liệu lịch
sử và lưu truyền trong dân gian có thể khẳng định mốc ra đời của đơn vị hành chính là vào thời Đinh
Tháng 11 năm 938 khi Ngô Quyền kéo quân ra bắc dẹp Kiều Công Tiễn thì đất Xuân Thiên đã có người ở Lúc này dòng sông Chu chảy ở khu vực Đồng Lang nên con người theo dòng nước làm ăn sinh sống đã hình thành một cụm dân cư Theo quy định của triều đình lúc bấy giờ những cụm dân cư nhỏ lẻ được gọi là Kẻ Do ở Xuân Thiên có nhiều đầm, lạch nên gọi là
Kẻ Đầm
Thời Đinh, người dân Xuân Thiên ở một vệt dài từ Đồng Me đến Ổ Gà men theo sông Chu Về sau do phù sa bồi đắp cư dân di chuyển vào khu vực xóm 10 (Tân Thành) trải dài từ thôn Thống Nhất đến hết thôn Đại Đồng Theo thời gian số lượng cư dân đông hơn được gọi là Ấp Đầm, Trang Đầm, Đàm Xá Trang, Đàm Sóc Ấp
Thời vua Lê Đại Hành, đã khuyến khích khai hoang, mở mang ruộng đồng, trang ấp Bốn ông họ Đinh, họ Phạm, họ Lê, họ Trịnh đem người nhà đến khúc sông Lấp, họ san đồi làm nương, lấp hồ cấy lúa Bởi tốt đất nên nhiều cò đậu, chẳng bao lâu thành Thê Ấp rồi Thê Trang Khi đã gây được cơ
sở, họ tiến sang khu đầm sâu, mau rộng, lập thêm Sóc Ấp, sau là Đàm Trang
Đất ở Kẻ Thê là nơi có người ở đầu tiên, hàng năm được phù sa sông Chu bồi đắp nên mùa màng tươi tốt Đời Trần có một bà dòng dõi quý tộc về đây lập ấp xây dựng làng mạc trù phú được gọi là Thê Trang Sau khi bà mất được nhân dân lập đền thờ gọi là bà Chúa Thê Trang
Cuối thời Trần, Thê Trang sáp nhập Đàm Trang thành Đàm Thi Sách, thuộc hương Lam Sơn, huyện Lương Giang (Thọ Xuân), phủ Thanh Hóa
Trang 19Sau khi cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược của nhà Hồ thất bại, nhà Minh đã đặt ách thống trị trên đất nước ta Với chính sách cai trị thâm độc, tàn ác, nhân dân ta ở khắp nơi đã đứng lên khởi nghĩa Tại vùng đất Lam Sơn, trước khi khởi nghĩa, để chuẩn bị các điều kiện cần thiết, Lê Lợi đã
cử Lê Thạch là con của Lê Học (Anh cả của Lê Lợi) sang bên khu vực huyện Yên Định để chiêu tập quân sĩ, chuẩn bị lương thảo, sau đó Lê Thạch về địa phận Xuân Thiên lập ra Tiếp Lộc Sách để hỗ trợ nghĩa quân (trung tâm là thôn Hiệp Lực hiện nay) Trong khởi nghĩa Lam Sơn, vùng đất Xuân thiên đã đóng góp nhiều vị tướng tài, nhiều nghĩa sĩ trung dũng góp một phần quan trọng trong chiến thắng cuối cùng của cuộc khởi nghĩa
Sau khi nhà Mạc lấy ngôi vua của nhà Lê năm 1527 thì đến năm 1533 nhà Lê Trung Hưng được thành lập đã lấy Vạn Lại, Yên Trường làm kinh đô kháng chiến chống Mạc Nhà Mạc luôn đem quân đánh phá Đến thời vua Lê Anh Tông, thái tử Lê Duy Đàm được đem nuôi dưỡng tại Đàm Xá (tức Đàm Thi) Khi Lê Duy Đàm nối ngôi vua (Lê Thế Tông), chữ Đàm kỵ húy, tên Đàm Thi đổi thành Quảng Thi Ở làng Đầm hiện còn nhiều dấu tích thời khởi nghĩa Lam Sơn và Lê Trung Hưng: Mả Ngô (nơi chôn giặc Minh), các đồn lũy: Đồn Rồn, đồn Chế, đồn Thị, Gò Căng (kho quân lương), thành Lũy (Lũy đất), Cột Cờ (quân tiền tiêu)
Năm 1778, đời vua Lê Hiển Tông (1740- 1786), niên hiệu Cảnh Hưng làng Quảng Thi cùng với Tiếp Lộc Sách sát nhập thành xã Quảng Thi thuộc tổng Quảng Thi huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hóa
Năm Gia Long thứ 14 (1815), phủ Thiệu Thiên đổi thành phủ Thiệu Hóa, lúc này xã Quảng Thi thuộc tổng Quảng Thi, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Bởi lợi thế “Nhất cận thị, nhị cận giang”, chợ Đầm ra đời rất sớm và phát triển thành 1 trong những khu chợ lớn của tỉnh Thanh Hóa
Chợ Đầm ở phía tả ngạn sông Chu, học giả Robequain cho biết thì trước năm 1900, người Lào và người các huyện miền núi Thanh Hóa thường
Trang 20xuống thẳng chợ Đầm để trao đổi và mua bán hàng hóa Nhiều lúc, chợ Đầm còn đông đúc, nhộn nhịp hơn cả chợ Thịnh Mỹ (xã Thọ Diên) và chợ Bái Thượng (xã Xuân Bái) Đây gần như là một trung tâm tập kết luồng, gỗ lớn nhất của cả tỉnh Từ đây luồng, gỗ và các hàng nông lâm sản đã được vận chuyển trên sông Chu đến các làng khác trong tỉnh và cả Bắc kỳ Ngoài những phiên chợ chính họp 5 ngày 1 phiên thì các ngày thường chợ Đầm, Phố Đầm, bến Đầm vẫn cứ nườm nượp người qua lại trong không khí mua bán nhộn nhịp, kho bãi ngổn ngang, quán xá tấp nập, áo nâu chen sắc chàm, tiếng Thanh hòa giọng Bắc
Chợ Đầm một tháng sáu phiên
Có cô hàng xén cười duyên bán hàng
“Người Lào và người vùng cao còn đi bằng cả ngựa để đến chợ phố Đầm Sắc màu quần áo sặc sỡ đủ loại của họ hòa vào không gian mua bán đã làm cho chợ phố Đầm trở nên lung linh và sinh động đến khó tả” [35; tr92)
Chợ Thạc, chợ Sánh, Chợ Si Trăm công nghìn việc cũng đi chợ Đầm
Năm 1852, chợ Đầm dời sang địa điểm mới, hình thành phố Đầm sầm uất Phố Đầm buôn bán phồn thịnh như một thị trấn với nhiều cửa hiệu lớn: Hiệu thuốc tây Nam Ích Long, thuốc bắc Quảng Phát, thuốc lào Mỹ Thái, hiệu vàng Tấn Long, hiệu nhuộm Tân Mỹ
Thời kỳ khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp, con em làng Đầm tham gia nghĩa quân Tống Duy Tân hoạt động từ miền xuôi lên miền núi
Năm 1915, các làng miền núi của Quảng Thi được cắt ra tháp nhập với tổng Ngọc Lặc, huyện Thụy Nguyên để lập ra châu Ngọc Lặc Nửa còn lại tháp nhập với tổng Quảng Yên thuộc huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Xã Quảng Thi lúc bấy giờ có làng Quảng Ích mới được thành lập, tách ra từ năm 1905 đời vua Thành Thái được công nhận là xã Quảng Ích
Năm 1946, 6 xã đầu tổng của tổng Quảng Yên là Hướng Dương, Lam
Trang 21Sơn, Giao Xá, Hào Lương, Quảng Thi, Quảng Ích, nhập lại thành một xã lấy tên là xã Thuận Thiên
Năm 1947, xã Thuận Thiên được đổi thành xã Xuân Thiên
Năm 1954, Xuân Thiên tách ra làm 2 xã Xuân Thiên và Xuân Lam Xã Xuân Thiên có 2 thôn cũ là Quảng Thi và Quảng Ích Đến năm 1987, phát triển xây dựng vùng kinh tế mới, địa phương lập thêm 1 làng mới có tên là Đồng Cổ
Hiện nay, Xuân Thiên có 12 làng Quảng Thi, Quảng Ích (1 và 2), Đồng
Cổ, Hiệp Lực, Tân Thành, Thống Nhất, Cộng Lực, Đại Đồng và Hòa Bình
Làng Đầm đến với cách mạng rất sớm Ban đầu chỉ là một số hoạt động như chấn hưng thương nghiệp (Tiên Long thương đoàn) do cụ đồ Uẩn tuyên truyền hưởng ứng phong trào đón cụ Phan Bội Châu, phong trào truy điệu cụ Phan Chu Trinh làm xôn xao dư luận, đồng thời bí mật trao đổi nội dung tư tưởng “Tự do độc lập” do thầy giáo Hồ Văn Giai truyền bá
Năm 1929, đồng chí Trịnh Quang Lịch, đồng chí Lê Văn Sĩ trong tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Yên Trường (xã Thọ Lập) đến làng Đầm bí mật gieo mầm cách mạng qua văn thơ cách mạng
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập Ngày 22 tháng 9 năm 1930, Chi bộ Đảng Thọ Xuân được thành lập
Nhân dân Xuân Thiên đã cùng với cả huyện, cả tỉnh đóng góp vào sự nghiệp đấu ranh giải phóng dân tộc Phong trào có lúc dâng lên mạnh mẽ, có lúc lắng xuống vì bị địch khủng bố Nhưng nhân dân Xuân Thiên đã dũng cảm vùng dậy đánh đuổi đế quốc, thực dân, phong kiến góp phần giành thắng lợi trong cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 Năm giờ sáng ngày 19-8-
1945, nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa, các lực lượng tự vệ, đoàn thể, quần chúng do ông Trịnh Ngọc Nhuận và ông Cao Ba phụ trách tiến hành tịch thu đồng triện lý trưởng, tuyên bố giải tán Hội đồng hương chức, thành lập chính quyền cách mạng lâm thời xã Xuân Thiên Từ đây Xuân Thiên tiếp tục xây dựng cuộc sống mới với phương châm “kháng chiến, kiến quốc”
Trang 22Sự kiện ra đời của chi bộ Đảng Thuận Thiên ngày 20 tháng 3 năm 1947 với 5 đảng viên (trong đó Xuân Thiên có 2 đồng chí) là mốc quan trọng trong lịch sử truyền thống của Đảng bộ quê hương đánh dấu bước trưởng thành của
tổ chức cơ sở đảng và phong trào cách mạng ở địa phương Dưới sự lãnh đạo của chi bộ nhân dân bắt tay vào sản xuất, chi viện cho tiền tuyến, tòng quân, giết giặc, nhường cơm, sẻ áo cho các đơn vị bộ đội, dân công thương binh ăn,
ở góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”
Sau khi hòa bình lập lại đất nước ta bước vào thời kỳ mới, miền bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Trong giai đoạn này ở địa phương đã tiến hành thực hiện cuộc cải cách rộng đất, lập tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp, hợp tác xã bậc cao đưa quê hương vào con đường hợp tác hóa xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trong giai đoạn sau của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cùng với nhân dân toàn miền Bắc, vùng đất Xuân Thiên đã trở thành hậu phương nhỏ, vừa chủ động sản xuất, vừa chiến đấu chống đế quốc, vừa chi viện cho chiến trường miền Nam Để cùng với quân và dân cả nước làm nên chiến thắng vẻ vang của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh biên giới phía Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc, làm nghĩa vụ quốc tế tại Lào
và Campuchia, vùng đất Xuân Thiên đã đóng góp sức người và của trên mọi mặt trận Đã có 1.015 thanh niên Xuân Thiên tham gia bộ đội, 194 thanh niên xung phong, gần 50 mươi đợt dân công với hàng nghìn lượt người tham gia phục vụ trên các chiến dịch Có 149 liệt sĩ, 151 thương binh, 25 bệnh binh, 7 người bị nhiễm nặng chất độc da cam
Với những công lao và thành tích ấy, nhân dân Xuân Thiên đã được Đảng và Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý:
- 149 bằng tổ quốc ghi công
- 3 bà mẹ Việt Nam anh hùng
Trang 23- 672 huân, huy chương các loại
- 39 danh hiệu chiến sỹ quyết thắng, dũng sỹ diệt Mỹ, chiến sĩ thi đua (trong đó có 17 lão thành cách mạng; 1 cán bộ tiền khởi nghĩa)
Sau chiến tranh, nhân dân Xuân Thiên đã đồng lòng, sát cánh cùng chính quyền để xây dựng quê hương Đặc biệt gần 30 năm sau đổi mới, Xuân Thiên đã hoàn toàn đổi khác, làng xóm khang trang, cơ sở vật chất phát triển, bình quân tăng trưởng hàng năm cao (từ 1995-2005, trung bình tăng từ 16 đến 20%/ năm) Tập trung xây dựng làng văn hóa và làng văn hóa kiểu mẫu, đến nay đã có 4 làng được công nhận là làng văn hóa cấp tỉnh, 5 làng văn hóa cấp huyện Bắt đầu xây dựng xã văn hóa từ năm 2005
Ngày 31 tháng 12 năm 1999, Xuân Thiên được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Đơn vị anh hùng trong thời kỳ đổi mới” Đây
là bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của vùng đất Xuân Thiên
1.2.2 Nguồn gốc dân cư và dòng họ
Vùng đất Xuân Thiên là nơi “tập trung chủ yếu của người Kinh, một số
ít là người Mán, Mường, Dao về sinh sống” [37; tr22] Đầu thế kỷ X nơi đây tập trung 6 dòng họ là Đinh, Lê, Lý, Trần, Phạm, Trịnh về khai hoang lập làng Từ năm 1430- 1800 các dòng họ công thần như: Ngô Doãn, Lê Đình, Lê Huy, Lê Văn, Lê Bá, Trịnh Huy, Lê Đức, Trịnh Đình, Nguyễn Duy về đây cư trú Sau đó có thêm các dòng họ như: Mai, Trần, Tạ, Vũ, Nguyễn, Bùi đến ở đây ngày càng đông Số dòng họ này đến nay đã trải qua 3 đến 4 đời
Từ thời Nhà Nguyễn, khi chợ Đầm buôn bán sầm uất thì các dòng họ Phạm (Nam Định), Bình Lục (Hà Nam), Lâm Thao (Phú Thọ ) và ở Thạch Hà (Hà Tĩnh), người Thái Lan, Trung Quốc đã đến ở xung quanh chợ tạo thành quần thể ngày một đông hơn Hiện nay toàn bộ vùng đất Xuân Thiên có 42 dòng họ chính: Lê, Lý, Nguyễn, Trần, Trịnh, Vũ, Ngô, Võ, Hà, Tào, Tiết, Bùi,
Tạ, Kiều, Đồng, Hồ, Đào, Lưu, Vi, Doãn, Đoàn, Công, Phan, Dương, Đàm, Kim, Lò, Mai, Cao, Thái, An, Chu, Đặng, Trương, Biện, Tống, Quách, Lương, Đỗ, Đinh, Phạm, Hoàng,
Trang 241.3 Truyền thống lịch sử- văn hóa, nhân vật lịch sử
1.3.1 Truyền thống lịch sử- văn hóa
- Truyền thống trong lao động sản xuất
Với vị trí thuận lợi và hàng năm luôn được bồi đắp phù sa của dòng sông Chu nên sản xuất nông nghiệp là đặc trưng kinh tế của vùng đất này Ngay từ khi lập làng, nhân dân nơi đây đã đẩy mạnh việc trồng trọt, tích cực canh tác, khai phá đất hoang, chú trọng sản xuất nông nghiệp Ở khu vực đồi cao đã tiến hành đào mương, khơi ngòi để giữ nước cho cây trồng Trải qua thời gian, người dân đã cải tạo thiên nhiên, đưa được nhiều giống mới vào thâm canh, tăng vụ, gối vụ để tăng năng suất, sản lượng Bằng sự cần cù, sáng tạo và yêu lao động cuộc sống cư dân nơi đây khá ổn định, no đủ Sự cần cù, sáng tạo trong lao động không dừng lại ở canh tác nông nghiệp, với vị trí địa
lý thuận lợi về giao thương nơi đây đã phát triển mạnh thương nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ Trong nhiều thế kỷ Phố Đầm trở thành trung tâm buôn bán lớn, tập trung thương nhân và nhân dân nhiều vùng miền đến buôn bán, lập nghiệp
Trên tinh thần đoàn kết, yêu thương nhau nhiều xóm làng, nhiều gia đình xưa đã kết giao giúp đỡ nhau, xây dựng xóm làng, quê hương ngày càng phát triển Có thể khẳng định, cùng với thời gian nhân dân Xuân Thiên đã tạo nên bản sắc riêng trong lao động sản xuất, đời nối đời chăm lo xây dựng quê hương
- Truyền thống trong chống ngoại xâm
Cùng với truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ ở vùng đất Xuân Thiên đã đóng góp nhiều công lao lớn trọng việc chống giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo từ năm 1418 đến năm 1427 vùng đất Xuân Thiên đã đóng góp nhiều tướng tài như Trần Lựu,
Lê Ngân, Trương Chiến, Lê Lý, Lê Sao Nơi đây cũng đồng thời là nơi tập hợp quân lính, luyện binh và có nhiều trận đánh ác liệt Sau khi khởi nghĩa
Trang 25giành thắng lợi, nhà Hậu Lê được thành lập, nhiều công thần được phong đất
ở Xuân Thiên như tổ của các dòng họ Lê Bá (cha con Lê Sao), tổ họ Lê Đức (Lê Lọng), tổ họ Lê Đình (Lê Thạch)
Đến thời kỳ Lê Trung Hưng (1533-1788), trong chiến tranh Nam- Bắc triều giữa nhà Lê và nhà Mạc thì Xuân Thiên là nơi đào hào đắp lũy để bảo vệ vòng ngoài cho hành cung Vạn Lại- Yên Trường Hiện nay ở khu Bái Giữa còn còn lại thành đất còn gọi là Thành Lũy được xây dựng vào năm 1535
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã chiếm được hầu hết đất nước ta, hưởng ứng phong trào Cần vương, Văn thân, tại Xuân Thiên nhân dân đã cùng với ông Lê Thát đứng lên cùng phối hợp với nghĩa quân Tống Duy Tân kháng Pháp Đầu thế kỷ XX, nhân dân Xuân Thiên đã tích cực ủng hộ các phong trào theo tư tưởng mới của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, ủng hộ cách mạng tháng 10 Nga và các phong trào quốc tế vô sản
Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 thì đến ngày 22-7-1930 Chi
bộ đảng huyện Thọ Xuân được thành lập, đến ngày 29-7-1930 Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập Từ năm 1930 đến cách mạng tháng 8- 1945, nhân dân Xuân Thiên đã tích cực tham gia các phong trào cách mạng, xây dựng và phát triển các hình thức đấu tranh ngày càng đi vào chiều sâu, từ phạm vi nhỏ dần mở rộng về quy mô, lực lượng cách mạng ngày càng lớn mạnh Thắng lợi của cách mạng tháng 8 năm 1945 ở Xuân Thiên là kết quả tập hợp của khối đoàn kết toàn dân, tạo thành khối thống nhất trong mặt trận Việt Minh, dưới
sự lãnh đạo của đảng bộ huyện Thọ Xuân
Trong giai đoạn 1945- 1954, nhân dân Xuân Thiên đã cùng với chi bộ Đảng được thành lập năm 1947 đóng góp nhiều công lao trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp Trong 9 năm kháng chiến nơi đây đã được Nhà nước tặng thưởng:
- Bằng có công với nước: 4 gia đình
- 17 lão thành cách mạng
- 8 huân chương kháng chiến hạng ba
Trang 26- 33 huân chương kháng chiến hạng nhất
- 31 huy chương kháng chiến hạng nhì
- 185 bằng khen từ cấp huyện trở lên
Trong giai đoạn 1954- 1975 vùng đất Xuân Thiên cùng với nhân dân cả nước đã tích tham gia hàn gắn vết thương chiên tranh, xây dựng và bảo vệ quê hương, tích cực chi viện cho miền nam để hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng miền nam thống nhất đất nước Trong giai đoạn này nhân dân Xuân Thiên đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: 598 huân, huy chương kháng chiến chống Mỹ, 39 danh hiệu dũng sỹ diệt Mỹ, chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi đua, 3 bà mẹ Việt Nam anh hùng Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
đã giành thắng lợi, từ đây mở ra thời kỳ mới, thời kỳ cả nước độc lập thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội
Cùng với nhân dân Thanh Hóa và cả nước, nhân dân Xuân Thiên đã đóng góp sức người, sức của vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc Hiện nay, truyền thống anh hùng ấy vẫn tiếp tục được các thế hệ gìn giữ và phát huy
1.3.2 Nhân vật lịch sử
- Trần Lựu, khai quốc công thần thời Lê
Trần Lựu sinh năm 1379, Cha ông là tướng nhà Hậu Trần chống giặc Minh Sau khi nhà Hậu Trần mất, Trần Lựu đã tự lập đội quân, lấy núi Mao
Xá làm căn cứ chống giặc Khi Lê Lợi dấy nghĩa, Trần Lựu đem quân bản bộ gia nhập, dự hội thề Lũng Nhai và được giao chỉ huy quân thiết đột hoạt động
ở Nghệ An Suốt quá trình phát triển của nghĩa quân Lam Sơn, tướng Trần Lựu liên tục tham gia các trận đánh lớn nhỏ, lập nhiều công lao
Cuối năm 1426, Ông được cử trấn giữ vùng đất địa đầu Lạng Sơn Tháng 8 năm 1427 nhà Minh lại cử đại binh chia làm hai đường tiến sang nước ta để giải vây cho Vương Thông đang bị bao vây trong thành Đông Quan và cũng nhằm cứu vớt sự thất bại gần kề Ông cùng các tướng lĩnh khác được cử lên đón đợi và đánh đuổi quân tiếp viện Trần Lựu là người có công đầu tiên tiêu diệt đạo quân chủ lực do Liễu Thăng chỉ huy Theo sự chỉ đạo
Trang 27của lãnh đạo nghĩa quân, Trần Lựu đã thực hiện tuyệt vời những trận đánh nhử địch ở Pha Lũy, Ải Lưu để dẫn dụ chủ tướng Liễu Thăng cùng đội tiên phong lọt vào trận địa phục kích ở ải Chi Lăng, Liễu Thăng bỏ mạng Mặc dù
đã bị mất chủ tướng, nhưng đại quân địch vẫn theo kế hoạch tiến về Đông Quan Trần Lựu tiếp tục cùng các tướng khác chỉ huy nghĩa quân đánh những trận đánh lớn ở Cần Trạm, Xương Giang tiêu diệt toàn bộ đạo viện binh chủ lực này Sau đó Trần Lựu được cử trấn giữ thành Điêu Diêu ở Thị Cầu Ở đây, vợ chồng tướng Trần Lựu có nhiều công đức với nhân dân địa phương, được dân kính trọng, quý mến
Sau khi bình định giặc Minh, tướng Trần Lựu được vua Lê Thái Tổ ban quốc tính là Lê Lựu Đến thời Lê Thánh Tông lại được ban phong là Bình Ngô khai quốc công thần Trấn viễn đại tướng quân, thái phó Tiềm quốc công
- Lê Sao, khai quốc công thần triều Lê
Lê Sao là người xã Đoạn Lương, huyện Lương Giang (nay là xã Xuân Thiên, huyện thọ Xuân) Thời Trùng Quang đế giữ chức Vũ hiển đại phu, thiên ngưu vệ tướng quân, quản lĩnh ngự tiền bình chương quân, gia phong quang lộc đại phu xa vệ đại tướng quân thượng trí Lúc bấy giờ nhà Hồ bị lật đổ, giặc Minh
đô hộ nước ta, nghe tin Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, ông đến xin gia nhập Ông là người có uy tín trong vùng, đã về hương ấp vỗ yên nhân dân và hướng họ về với cờ nghĩa Trong lúc chiến trận ông là người xung phong giết địch lập nhiều chiến tích Sau khi bình định xong giặc Minh, nhà Hậu Lê được thành lập Vua Lê Thái tổ đã xét công ban thưởng, ông được phong là Đình thượng hầu, hàng thứ 55 trong bảng tên 125 vị khai quốc công thần
Năm Thiệu Bình thứ 6 (1439) đời vua Lê Thái Tông, ông được tặng chức Nhập nội, thượng thư sảnh, tả tham chính sự, đông đạo quân dân bạ tịch kiêm từ tụng Năm sau được đổi làm Bắc đạo
Năm Thái Hòa thứ nhất (1443) đời vua Lê Nhân Tông, ông giữ chức Phụng Tuyên sứ điện tiền, Ty đô hiệu điểm, Tham tri ngự tiền thân quân cùng ngự tiền tả suy Trải qua các triều vua được phong: Suy trung bảo chính công
Trang 28thần, chấn quốc đại tướng quân, tham tri chính sự, Hành điện tiền ty đô hiệu điểm, Tri ngự tiền các quân đề cử, chấn vũ khiến đại lãm quang tự trụ quốc, Khải nội cung vũ hầu, tặng thêm tước Hương Thượng Hầu Vì có con là Lê Thọ Vực cùng làm trong triều nên được gia tặng: Nhập nội kiểm hiệu đại tư
đồ, Bình chương sự, thượng trụ quốc
Theo bản sao sắc phong thì ông được ban tặng: Suy trung, dực vận hiệp mưu bảo chính tá lý đồng đức công thần, Nhập nội kiểm hiệu bình chương sự, Đại tư đồ vinh quốc công Lê Sao Gia phong Tịnh giản vương, bao phong thượng đẳng phúc thần với các mỹ tự Dực Vân, Phù Tộ, Uyên Lược, Dũng Quyết, Khuông Quốc, Tán Trị, Phong Công, Tế Thế, Trạch Dân, Dương Vũ, Hồng Mô, Vĩ Tích, Đốc Hựu, Thùy Hưu, Diên Huống, Bật sung Đại vương
- Lê Ngân, khai quốc công thần triều Hậu Lê
Lê Ngân (?- 1437) là một trong những người đầu tiên đến tụ nghĩa ở Lam Sơn, hăng hái sát cánh với Lê Lợi, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu một mất một còn nhằm lật nhào ách đô hộ của quân Minh, giành lại độc lập và chủ quyền cho đất nước
Sách “Lam Sơn thực lục”viết rằng:“Nguyên trước Nhà vua kinh doanh
việc bốn phương, Bắc đánh giặc Minh, Nam đuổi quân Lào, mình trải trăm trận, đến đâu được đấy, chỉ dùng có quan võ là bọn Lê Thạch, Lê Lễ, Lê Sát,
Lê Vấn, Lê Lý, Lê Ngân, ba mươi lăm người; quan văn là bọn Lê văn Linh, Lê Quốc Hưng; cùng những quân thân như cha, con; hai trăm thiết kỵ, hai trăm nghĩa sĩ, hai trăm dũng sĩ và mười bốn thớt voi Còn bọn chuyên chở lương thảo, cùng già yếu đi hộ vệ vợ con, cũng chỉ hai nghìn người mà thôi.”[16;tr45]
Như vậy, mặc dù Lê Ngân không có mặt trong hội thề Lũng Nhai, cũng không có mặt trong buổi dựng cờ khởi nghĩa ngày mùng 2 tháng giêng năm Mậu Tuất 1418 tại Lam Sơn nhưng Lê Ngân lại có mặt đúng lúc nghĩa quân Lam Sơn cần một tướng tài và cần một trận thắng lớn để gây thanh thế cho nghĩa quân
Trang 29Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Lê Ngân tỏ ra là người có tài về quân
sự, trở thành võ tướng quan trọng của Lam Sơn và lập công xuất sắc trong nhiều trận đánh lớn Khi khởi nghĩa Lam Sơn vừa mới bùng nổ, quân Minh liên tiếp tổ chức hàng loạt những cuộc tấn công đàn áp khác nhau Ngày 9-4 năm Mậu Tuất (1418), giặc Minh đánh vào Lam Sơn, Lê Lợi phải rút quân lên đóng ở Lạc Thủy (huyện Cẩm Thủy ngày nay) rồi cho đặt phục binh đợi địch Ngày 13 tháng 4 địch kéo quân tới, phục binh nổi dậy đánh Lê Lợi sai 4 tướng là Lê Ngân, Lê Thạch, Đinh Bồ và Lê Lý xông lên hãm trận Do khéo tận dụng địa thế lại đánh một cách rất bất ngờ và hiểm hóc, nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lớn, chém được 3000 đầu địch, thu được mấy ngàn khí giới Trận chiến thắng quân Minh ở Lạc Thủy đã khẳng định Lê Ngân là viên tướng dũng lược, tài năng trong bộ chỉ huy quân khởi nghĩa Lam Sơn
Năm 1425, Trần Nguyên Hãn và Doãn Nỗ mang quân vào đánh Tân Bình và Thuận Hóa Lê Lợi sai Lê Ngân cùng Lê Văn An mang 70 chiến thuyền vượt biển vào tiếp ứng cho Trần Nguyên Hãn Quân Minh bị đánh bại, phải rút vào thành cố thủ Nghĩa quân Lam Sơn hoàn toàn làm chủ đất Tân Bình và Thuận Hóa, huy động thêm được quân và voi trận ra bắc
Mùa thu năm 1426, Lê Lợi tiến quân ra bắc, sai ông trở về thay Lê Sát vây thành Nghệ An Đầu năm 1427, khi các cánh quân Lam Sơn đang vây Đông Quan và vây đánh nhiều thành ở Bắc bộ thì Lê Ngân hạ được thành Nghệ An Cuối năm đó, quân Lam Sơn đánh tan hai đạo viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh, khiến Vương Thông ở Đông Quan phải xin giảng hòa rút về nước
Trong trận đánh này, Lê Ngân và Lê Sát là hai tướng tiên phong, được coi là những người lập công lớn nhất
Như vậy, có thể nói rằng Lê Ngân là một vị tướng tài, là người có công lớn trong khởi nghĩa Lam Sơn, ông xứng đáng là khai quốc công thần bậc nhất thời Hậu Lê
Tháng 4 năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), Lê Lợi lên ngôi vua, luận
Trang 30công ban thưởng, Lê Ngân được phong Suy trung Tán trị Hiệp mưu công thần, Nhập nội tư mã, tham dự triều chính
Tháng 5, Thuận Thiên năm thứ 2 (1429), Lê Ngân cùng 6 vị trọng thần khác được lệnh mang kim sách lập Quốc vương và Hoàng thái tử
Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ có ghi:“Ngày mồng 7, sai Nhập nội kiểm
hiệu bình chương sự Lê Vấn, Nhập nội đại tư mã Lê Ngân ,Nhập nội thiếu phó
Lê Văn Linh mang kim sách lập Hữu tướng quốc Khai quận công Tư Tề làm Quốc vương, giúp coi việc nước Sai Nhập nội tư khấu Lê Sát, Tư không Lê Nhân Chú, Nhập nội tư mã Lê Lý, Nhập nội thiếu úy Lê Quốc Hưng mang kim sách lập Lương quận công Nguyên Long làm Hoàng thái tử” [22; tr122]
Ngày 22, tháng 8 nhuận, năm Thuận Thiên thứ 6 (1433), vua Lê Thái
Tổ băng hà Hoàng tử Nguyên Long kế vị, mới 11 tuổi, tức vua Lê Thái Tông
Năm Giáp Thân 1434, niên hiệu Thiệu Bình, Lê Ngân làm chức Tư khấu,
Đô tổng quản hành quân ở Bắc đạo, cùng với Đại Tư đồ Lê Sát phụ chính
Tháng 2, năm 1434, Đại tư đồ Lê Sát cùng Tư khấu Lê Ngân, Tư mã Lê Liệt, Lê Bôi tuyển đinh tráng các đạo làm lính
Năm Đinh Tỵ (1437), năm Thiệu Bình thứ 4, nhà vua đã lớn tuổi, có thể quyết đoán mọi việc Lê Sát vẫn tham quyền cố vị nên vua càng ghét, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ vẻ bao dung Lê Sát không nhận ra điếu đó Tháng 6, năm Đinh Tỵ, nhà vua nhận tờ tâu về việc Lê Sát chuyên quyền, cho hình quan xét xử, Lê Văn Linh, Lê Ngân gỡ tội cho Lê Sát, nhà vua không nghe Vua Lê Thái Tông bãi chức của Lê Sát và hàng loạt đại thần cùng cùng với Lê Sát Ban cho Lê Ngân lúc ấy giữ chức Nhập nội tư khấu Bắc đạo hành quân
đô tổng quản, làm Nhập nội đại đô đốc Quy Hóa trấn phiêu kỵ thượng tướng quân đặc tiến khai phủ nghi đồng tam ty thượng trụ quốc, huyện thượng hầu
và ban cho chế văn
Lời chế văn của vua Lê Thái tông ban cho Lê Ngân có đoạn ghi: “Khi
bị vây ở Ai Lao thì đùi vế khinh thường giáo mác, khi hết lương ở Linh Sơn, như cây tùng dạn với tuyết sương Rồi khi quét sạch đàn ong ở Bồ Đằng, Khả
Trang 31Lưu, sau lại phá tan lũ kiến ở Nghệ An, Thuận Hóa Trận đánh bên Tây Việt mấy chục năm cây cỏ còn ghi, công khôi phục Đông Đô nghìn muôn thủa sử xanh vẫn chép” [ 13; tr248]
Tháng 7 năm 1437, Lê Thái Tông ra chiếu kết tội Lê Sát và những người cùng cánh Ban đầu Lê Sát bị xử chém rao ngoài chợ, nhưng Lê Ngân và Bùi Cầm Hổ can rằng Lê Sát là công thần, không nên chém rao, vì vậy Thái Tông ra lệnh cho Lê Sát tự tử tại nhà Tài sản và vợ con Lê Sát bị tịch thu
Con gái Lê Ngân là Chiêu nghi Lê Thị Lệ được tấn phong làm Huệ phi, phế Nguyên phi Lê Ngọc Dao, con gái Lê Sát làm thứ nhân
Tháng 10 năm 1437, vua Lê Thái Tông bái yết Thái miếu vào buổi sáng, sau đó mang triều phục, áo cổn, mũ miện, ngự ở điện Hội Anh, Đại đô đốc Lê Ngân dẫn các quan mặc triều phục, làm lễ dâng biểu chúc mừng
Nhưng niềm vui đến với ông không được bao lâu, đến tháng 11 năm
1437, có người cáo giác Đại đô đốc Lê Ngân thờ Phật Quan Âm trong nhà để cầu mong cho con gái mình là Huệ phi được vua yêu Vua ngự ra ở cửa Đông thành, sai Thái giám Đỗ Đại dẫn 50 võ sĩ lục soát nhà Lê Ngân, bắt được tượng Phật và các thứ vàng bạc, tơ lụa
Ngày hôm sau, Lê Ngân vào chầu, bỏ mũ ra để tạ tội, tâu rằng:“Trước
kia thần theo khởi nghĩa ở Lam Kinh, nay thần cũng nhiều bệnh, thầy bói bảo
là trong chỗ nhà thần ở, trước đây có miếu thờ Phật, vì để ô uế, nên xảy ra tai họa Cho nên thần làm lại để thờ cúng Nhưng vì người vợ lẽ đã bị bỏ của thần là Nguyễn Thị và người vợ lẽ của Lê Sát là Trần Thị đã ban cho thần, cả hai đứa đều thù oán thần, cùng với đứa gia nô điêu ngoa của thần thêu dệt bày đặt cho ra chuyện đó Tiên đế biết rõ lòng thần, thường vẫn ưu ái bao dung Nay gân sức của thần đã mỏi mệt lắm rồi, xin cho được về quê để sống hết tuổi tàn còn lại Nếu nghe những người xung quanh mà tra tấn người nhà của thần, khi bị đánh đau quá, nhất định chúng sẽ khai khác đi, thì thân thần
sợ không giữ được, xin bệ hạ nghĩ lại cho”.[22; tr142 ]
Trang 32Nhưng vua Lê Thái Tông không nghe, quyết làm án Lê Ngân Ông bị buộc tự vẫn tại nhà như Lê Sát trước đây Tài sản của ông cũng bị tịch thu, con gái ông là Huệ phi Lê Thị Lệ bị giáng làm Tu dung Con trai Lê Ngân là
Lê Nho Tông phải đi làm lính, nhiều năm không được cất nhắc
Lê Ngân là một công thần khai quốc mà chết không đáng tội, các đại thần nhiều người thương tiếc
Năm 1448, Lê Nho Tông là con Lê Ngân được nhiều đại thần thương, tâu với vua Lê Nhân Tông cho làm Đại đội trưởng quân Bảo Ứng
Năm Thái Hòa thứ 11 năm Quý Dậu 1453 nhân đại xá thiên hạ, vua Lê Nhân tông xem xét lại các án cũ thấy Lê Ngân bị oan nên truy tặng ông chức Thái phó, Hoằng quốc công
Trong Đại Việt thông sử (Lê Quý Đôn) còn chép chế văn của vua Lê Thái Tông ca ngợi con người và sự nghiệp của ông:
“Xét như Lê Ngân
Là khí thiêng sông núi đúc nên;
Thuở trời đất tối tăm thì sớm biết thánh nhân xuất hiện;
Thời ngang dọc can qua thì lo trước nỗi lo muôn nhà;
Không đội trời chung cùng giặc nước;
Thương dân chìm đắm quyết xông pha
Đẹp thay:
Đức trung trinh mài chẳng thể mòn;
Danh tiết sáng bôi không thể bẩn” [ 13; tr248 ]
- Lê Luân, Thiếu úy đại tri phủ
Lê Luân (? – 1454) là người xã Đàm Thi, hương Lam Sơn, huyện
Lương Giang (nay là Xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân) Ông nội của Lê Luân
là Lê Khí làm quan dưới triều nhà Trần được phong tước là Đạt văn hầu Bà nội là Lê Thị Hiếu
Khi nhà Hồ thoán ngôi nhà Trần, Lê Khí từ quan về quê Vợ cồng ông
Lê khí sinh được một người con trai là Lê Miêu Lê Miêu sinh được 2 người
Trang 33con trai, trưởng là Lê Lộng, thứ là Lê Luân Khi Lê Lợi dựng cở khởi nghĩa ở Lam Sơn chống lại quân Minh đô hộ, cả gia đình Lê Luân đã tham gia cuộc khởi nghĩa, họ đều là những võ tướng xông pha trận mạc lập được nhiều công lao lớn
Năm Mậu Tuất (1418), khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ, Lê Luân là 1 trong số 51 tướng võ dưới trướng Bình Định vương lúc bấy giờ, tên ông xếp thứ 2 sau Lê Khang
Trận Lạc Thủy, Lê Luân đem quân bản bộ cùng các tướng Lê Thạch, Đinh Bồ, Lê Ngân, Lê Lý, Trương Lôi xông trận, chiến đấu anh dũng chém hơn 3000 tên giặc, thu nhiều chiến mã, khí cụ
Tháng 10 năm Canh Tý (1420), quân Minh lại điều một lực lượng lớn quân đến tiến đánh nghĩa quân, vua sai Lê Luân cùng các tướng phục binh ở Bồng Tân, khi giặc đến quân ta bất ngờ đổ ra đánh, quân giặc thua to Sau đó tướng nhà Minh là Lý Bân và Phương Chính dẫn hơn 10 vạn quân từ Quỳ Châu (Nghệ An) đánh vào quân ta, Lê Luân và các tướng phục binh ở Thi Lang, quân ta thắng lớn, chỉ huy của giặc là Lý Bân và Phương Chính chỉ kịp chạy thoát thân
Từ năm Giáp Thìn (1424) đến năm Đinh Mùi (1427) Lê Luân đã tham gia và có nhiều chiến công trong các trận đánh lớn như Khả Lưu, Xương Giang, Tốt Động, Chi Lăng
Ngày 15 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế lập ra triều đại Hậu Lê Vua Lê Thái tổ đã xét công ban thưởng, Lê Luân được phong Thiếu
úy đồng tổng quản vệ thiên quan đại tri phủ
Tháng 5 năm Thuận Thiên thứ 2 (1429- Kỷ Dậu), vua Lê Thái tổ ban biển ngạch công thần, Lê Luân được phong là Á hầu, ông xếp thứ 35trong số
93 người được ban biển ngạch công thần khai quốc
Năm Thiệu Bình thứ 3 (1436), Lê Luân được chuyển sang làm Đồng tổng quản Nam sách thượng chức thiếu úy
Lê Luân mất năm Diên Ninh thứ nhất (1454) khi đang giữ chức Thiếu
Trang 34úy, đại tri phủ đồng tổng quản vệ Nam sách thượng Con của ông là Lê Nhữ Bang và Lê Đức Đồng được tập ấm
Căn cứ bản phả họ Lê công thần ở thôn Thành Công xã Thọ Vực, huyện Triệu Sơn, chép năm 1705 có đoạn ghi “Cao cao tổ tiền triều bình Ngô khai quốc thái lộc hầu Lê Miêu thân sinh nhị nam, trưởng Lê Lộng, thứ Lê Luân”
Trong bản sắc phong của vua Lê Hiển tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ
32 năm 1771 có đoạn: “Phụng sao, Thanh Hóa trấn, Lương Giang huyện,
Khả Lam hương, hành chung đồng đức tỉnh nan, yết tiết công thần đồng tổng quản Thái Khái vệ Thái úy sắc quốc công Lê Luân đẳng kỳ tổ cổ Lê Khí, phụ
Lê Miêu ư hồ chiều tự hướng dương sách phù đạo, bọn ngô tặc nạn xâm chiếm, tổ Cao hoàng đế cự Khả Lam thông tự thử Lê Lộng, Lê Luân đẳng thảo Ngô tặc, mậu thân niên Nô tặc đại bại, thái tổ cao hoàng đế tức vị, cải thuận thiên nguyên niên”[2,tr135]
Trong sử sách không chép nhiều về Lê Miêu và Lê Lộng Qua sử liệu chúng ta chỉ biết được là Lê Miêu tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, hi sinh năm Bính Ngọ (1426), đến năm Thuận Thiên thứ nhất 1428 được phong là Vinh lộc đại phu, tả kim ngô vệ đại tướng quân, tước thượng trí tự Đến năm Thuận Thiên thứ 2 được phong là Thái lộc hầu, được treo biển công thần khai quốc
và ban quốc tính (họ vua) Lê Lộng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu, trải qua gian nan đã lập được nhiều công lao lớn Đến năm Thuận Thiên nguyên niên được phong Ngân thanh quang lộc đại phu, tả xa vệ đại tướng quân, tước quan nội hầu Năm Hồng Đức thứ 15 (1484) được phong tặng Thái bảo, Khang quận công Lê Miêu và Lê Lộng không rõ mất năm nào.[2; tr128- 131 ]
- Trương Chiến, Thái bảo Lý quận công
Trương Chiến là người xã Đàm Thi, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hoa (nay thuộc xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa)
Tên ông đứng thứ 19 trong văn thề Lũng Nhai Lê Thái Tổ viết về ông:
“Vi Nghi dương hầu, phong tước Nghi quận công Thụ Mệnh thôn nhân Do
Trang 35vệ quốc sự” (vốn làm Nghi dương hầu, phong tước Nghi quận công, người thôn Thụ Mệnh, có công bảo vệ tổ quốc)
Năm 1426, Trương Chiến cùng Trương Lôi, Trịnh Khả, Lê Lôi, Lê Lý,
Lê Xí, Lê Lễ, Lê Hối đánh tan quân giặc giải phóng Tam Giang, Thanh Đàm, Đông Độ
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, ông được phong Bảo chính công thần nhập nội Thiếu úy, ban quốc tính (ho Vua) gọi là Lê Chiến
Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429), ông được ban chức Nghi dương hầu, tước Nghị quận công
Năm Hồng Đức thứ 15 (1484), tặng Thái bảo Lý quận công
- Lê Lý, Thái Bảo Phúc quốc công
Lê Lý là người đứng hàng thứ 17 trong số 18 người cùng với Lê Lợi tham gia hội thề Lũng Nhai năm 1416 Lê Lý là một trong số 51 tướng văn,
võ đầu tiên của nghĩa quân Lam Sơn và được trao chức Thứ thủ vệ kỵ binh trong quân Thiết đột
Tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những ngày đầu, Lê Lý hết lòng cùng Bình Định Vương Lê Lợi và nghĩa quân tham gia nhiều trận đánh, lập được nhiều công lao trong trận phục binh tiêu diệt giặc năm Mậu Tuất (1418) ở Lạc thủy (thuộc Cẩm Thủy ngày nay)
Năm Canh Tý (1420), thực hiện lệnh của chủ tướng Lê Lợi Lê Lý cùng
Lê Vấn, Lê Triện chỉ huy nghĩa quân mai phục đánh tan quân Minh do Phương Chính và Lý Bân chỉ huy tại Bồ Mộng
Năm Giáp Thìn (1424), Lê Lý chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đánh và giải phóng đồn Đa Căng (nay thuộc làng Bất Căng, xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân), tiếp đó đánh bại địch ở Trà Lân và ải Khả Lưu Lê Lý được phong chức Thiếu uý
Năm Bính Ngọ (1426), được lệnh của Lê Lợi, Lê Lý, Lê Sát và Lê Triện đánh và giải phóng thành Xương Giang, Điêu Diêu, Thị Cầu, Khâu Ôn
Trang 36Năm Đinh Mùi (1427), Lê Lý cùng nghĩa binh Lam Sơn vây hãm Vương Thông tại thành Đông Đô, sau đó Lê Lý và Lê Văn An chỉ huy nghĩa quân tiếp ứng cho đạo quân của tướng Lê Sát tại đèo Mã Yên, chém tướng giặc là Lương Minh, bắt sống Thôi Tụ và Hoàng Phúc
Năm 1428, cuộc khởi nghĩa thành công, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, khi xét công ban thưởng cho các tướng sĩ, Lê Lý được phong là Nhập nội Tư mã, Suy trung tán trị, Hiệp mưu công thần, tham dự triều chính
Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429), Thái Tổ cho khắc biển công thần, tên ông đứng hàng thứ 6, tước Hương Thượng hầu
Năm Canh Tuất, niên hiệu Thuận Thiên thứ 3 (1430), Lê Lý được thăng là Nhập nội Kiểm hiệu tư không
Năm Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484), Lê Lý được Lê Thánh Tông truy tặng là Thái Bảo Phúc quốc công
Trang 37Tiểu kết chương 1
Vùng đất Xuân Thiên là vùng đất cổ mang nhiều dấu ấn đậm nét về lịch
sử, văn hóa, con người sinh sống, tụ cư lâu đời Trải qua hàng nghìn năm lịch
sử, vùng đất Xuân Thiên đã bao lần thay đổi tên gọi từ Kẻ Thê, Kẻ Đầm, Trang Đàm, Ấp Đàm, Đàm Xá Trang, Đàm Sóc Ấp, rồi Đàm Thi Sách, làng Quảng Thi, xã Quảng Thi, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa, rồi xã Thuận Thiên, Xuân Thiên Nhưng cùng với quá trình tách nhập đó hầu như ít gây xáo trộn về địa dư Đến nay, vị trí địa lý của xã đã được ổn định
Nhân dân Xuân Thiên đã đoàn kết cùng nhau chống thiên tai địch họa, nhiều lần tham gia đánh đuổi giặc ngoại xâm Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý thuận lợi đã tạo điều kiện cho vùng đất này phát triển kinh tế, hình thành nhiều loại hình sản xuất, nhiều ngành nghề truyền thống trong đó đặc biệt là nông nghiệp và thương nghiệp Nơi đây đã sinh ra nhiều vị tướng tài có nhiều chiến công lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo như Trần Lựu, Lê Sao, Lê Thạch, Lê Lộng, Lê Lý, Trương Chiến, Lê Ngân Đây cũng là nơi đã từng nuôi dưỡng thái tử Lê Duy Đàm (sau là vua Lê Thế Tông 1573- 1599)
Qua quá trình sinh sống, lao động, sản xuất đã hình thành nên các làng
cổ trên vùng đất này đồng thời khẳng định được vị thế, vai trò trong dòng chảy lịch sử văn hóa dân tộc và địa phương Phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, truyền thống bất khuất trong đấu tranh dựng nước, giữ nước, truyền thống hiếu học, các thế hệ người dân Xuân Thiên đã góp sức cùng nhân dân cả nước giành độc lập, tự do cho dân tộc Ngày nay truyền thống đó đang được phát huy trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Yếu tố đa dân cư, đa dòng họ đã hình thành cho dân cư vùng đất này tính cố kết cộng đồng, sự giao lưu hòa nhập, tạo nên những động lực thúc đẩy, ý chí vươn lên trong quá trình lịch sử
Trang 38Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Di sản văn hóa vật thể là tài sản quý báu của dân tộc được các thế hệ người Việt Nam giữ gìn và phát huy giá trị từ đời này sang đời khác Với hệ thống di sản đa dạng, trải khắp đây nước, đây là nguồn lực to lớn để phát triển
du lịch, góp phần giáo dục truyền thống lịch sử và tạo ra nhiều sản phẩm du lịch độc đáo, đặc trưng để gắn kết vùng miền và kết nối quốc tế
Ngày 23 tháng 11 năm 1945, sau khi đất nước dành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL “Ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác cổ Học viện” Đây là Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước ta về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc
Ngày 4 tháng 4 năm 1984 Hội đồng Nhà nước đã ban hành pháp lệnh
số 14-LCT/HDDNN7 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh Trong Pháp lệnh quy định “ Di tích lịch sử, văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá, xã hội Danh lam, thắng cảnh là những khu vực thiên nhiên có cảnh đẹp hoặc có công trình xây dựng
cổ, đẹp nổi tiếng Mọi di tích lịch sử, văn hoá và danh lam, thắng cảnh đều được Nhà nước bảo vệ” [17]
Ngày 29 tháng 6 năm 2001, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành Luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2002 Đến ngày 18 tháng 6 năm 2009, Quốc hội ban hành luật số 32/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hóa, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010
Ngày 23 tháng 07 năm 2013, Quốc hội ban hành văn bản hợp nhất số 10/ VBHN- VPQH về Luật di sản văn hóa Quy định “Luật di sản văn hóa hợp nhất 2013 bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [26]
Vùng đất Xuân Thiên với bề dày lịch sử đã tạo dựng nên nhiều di sản văn hóa vật thể quý giá
Trang 392.1 Bia và đền thờ Lê Sao
- Bia Lê Sao
Lê Sao đã tham gia khởi nghĩa Lam Sơn (1418- 1427) từ những ngày đầu và lập được nhiều công lớn nên khi nhà Hậu Lê được thành lập Vua Lê Thái tổ đã xét công ban thưởng, ông đươc phong là Đình thượng hầu, hàng thứ 55 trong bảng tên 125 vị khai quốc công thần
Lê Sao mất khoảng đầu đời Quang Thuận (1460- 1462) Vua sai Nguyễn Bá Ký soạn văn bia về khai quốc công thần Lê Sao (Hoàng việt khai quốc công thần Lê Sao) và khắc dựng năm Quang Thuận thứ 3 (1462) tại quê hương để lưu truyền hậu thế
Hiện nay, bia ký khai quốc công thần Lê Sao được dựng tại thôn Hiệp Lực, xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá
Bia thuộc loại lớn gần giống với kích thước các bia ở Lam Kinh, làm bằng đá trầm tích biển: Trán bia vòng cung, bia cao 1m70, rộng 1m05, dày 19cm được đặt trên lưng rùa cao 40cm, dài 1m80, rộng 1m10 Rùa được tạo kiểu rùa mai mềm, phần mai tràn hơn thân, đuôi vắt xuống, bốn chân lộ rõ, mắt chạm lồi, mũi sâu, sống mũi gồ lên Bệ mặt gộp "mai" rùa trang trí hình hoa sen và các đài hình quạt Trán bia mặt dương lượn hình bán nguyệt khắc 2 con phượng hoá Diềm bia chạm khắc hoa cúc leo, diềm đáy chạm 3 lớp hoa văn sóng nước, lớp trên có ngọn hình nấm cao, tượng như hình người, 2 lớp còn lại là các bước sóng chồng lên nhau
Văn bia ghi: “ Ông tên huý là Sao, người xã Đoạn Lương, huyện
Lương Giang, trấn Thanh Hoa Lúc đầu đã tham gia làm quan dưới thời Trùng Hưng giữ chức Vũ hiển đại phu, Thiên ngưu vệ tướng quân, quản lĩnh ngự tiền trực chương quân, gia phong Quang lộc đại phu, Xa kỵ vệ Đại tướng quân, gia phong Quang lộc đại phu, Xa kỵ vệ Đại tướng quân thượng trí
Thời đó, phong khí nước Nam không mạnh, nhà Hồ lỗ mảng kiêu căng làm cho dân sinh phải rơi vào cảnh lầm than gần 30 năm
Thái Tổ Cao Hoàng Đế phất cờ dậy nghĩa, tụ tập anh tài để trừ các
Trang 40diệt tà.Ông biết được sự nghiệp của vua sau này ắt sẽ hưng mạnh bèn gửi thân, lấy tư chất là bầy tôi chăm lo không xa rời chốn triều tịch Vua biết được lòng trung thành của ông rất mực mến nhường Giao cho cùng Thái phó
Lê Văn Linh, Thị trung Lê Lễ, lập tức qua các trang ấp sách dân mà lâu nay các vị thần quân chưa phục, kêu gọi tụ nghĩa đóng góp lương thực và họ đều một lòng nguyện theo Vua biết ấy là kế sách thảo bình của ông, nhờ vậy mà gần xa không nơi nào là không hứng khởi Công lao thực là bắt đầu từ đấy Ông xông pha trận mạc, nếm mật nằm gai khi bình định xong giặc Minh, năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) được gia tăng Kim tử, Quang lộc đại phu Thuận Hoá châu đại Tri phủ, Tư duy hải môn trấn uý quân tướng quân, ban cho quốc tính
Năm Mậu Ngọ niên hiệu Thiệu Bình thứ 5 (1438) nhận chức Nhập nội hành khiển, Thượng thư sảnh, Tả tham chính sự Đông đạo quân dân bạ tịch
Ba năm sau lại đổi làm Bắc đạo để cử trấn vũ, Kiến hương hầu
Năm Thái Hoà thứ nhất (1443) nhận chức Phụng Tuyên sứ, Điện tiền ty
đô hiệu điểm, Tham chính sự, Tri ngự tiền thân quân tịnh ngự tiền, Tả sung sính đẳng, năm thứ hai gia phong Tham chính sự vụ, năm thứ tư gia phong Bảo chính công thần, Uý quân tướng quân, cấp nhung phu, Nhập nội Tham chính sự, Hành điện tiền ty đô hiệu điểm, tri ngự tiền các quân dân đề cử, đại lãm thần quang tự trụ quốc, khai nội cung vũ hầu Cùng năm tháng 8 thăng làm Hương thượng hầu Nhân vì con trai lập được công nên được gia tăng: Nhập nội kiểm hiệu đại Tư đồ, Bình chương sự, thượng trụ quốc
Cha ông tên huý là Tuân, hai anh tên huý là Cải và Nghĩa đều tham gia dưới triều hậu Trần đã mất Anh em trai gái còn lại bốn người là Tải, Kiến, Xuất và ông
Ông sinh được mười ba người con, năm trai- tám gái Trai trưởng là
Lê Thọ Vực, trai thứ là Thọ Sơn, trai thứ là Nhân Lương (hai người nữa không thấy ghi), Con cháu tất cả hơn 20 người đều được ban tước ấm”
(Người dịch: TS Lê Ngọc Tạo, TS Nguyễn Văn Hải)