1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hóa vùng đất thiệu đô (thiệu hóa, thanh hóa)

102 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Văn Hóa Vùng Đất Thiệu Đô (Thiệu Hóa, Thanh Hóa)
Tác giả Lê Thị Thu Huyền
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Thanh Hải, TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Trường học Trường Đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 3,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các xã thuộc huyện Thiệu Hóa nói chung và xã Thiệu Đô nói riêng là một trong những xã điển hình ở Thanh Hóa, được hình thành và phát triển với bề dày hàng ngàn năm lịch sử, gắn với các g

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

- -

LÊ THỊ THU HUYỀN

LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT THIỆU ĐÔ

(THIỆU HÓA, THANH HÓA)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

THANH HÓA, NĂM 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - -

LÊ THỊ THU HUYỀN

LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT THIỆU ĐÔ

(THIỆU HÓA, THANH HÓA)

Trang 3

Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ khoa học

Theo Quyết định Số 2001/QĐ-ĐHHĐ ngày 5 tháng 12 năm 2019

của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức:

Học hàm, học vị,

Chức danh trong Hội đồng

PGS.TS Mai Văn Tùng Trường Đại học Hồng Đức Chủ tịch Hội đồng

TS Nguyễn Thị Định Trường Đại học Hồng Đức Phản biện 1

TS Vũ Quý Thu Hội KH Lịch sử Thanh Hóa Phản biện 2

TS Lê Ngọc Tạo Ban NC&BS Lịch sử Thanh Hóa Uỷ viên

Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng

Ngày tháng năm 20

Xác nhận của Người hướng dẫn

PGS.TS Hoàng Thanh Hải

Có thể tham khảo luận văn tại Thư viện trường Đại học Hồng Đức và

Bộ môn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố

Người cam đoan

Lê Thị Thu Huyền

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý rất nhiệt tình của các thầy cô trường Đại học Hồng Đức cùng các tập thể, cá nhân khác

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ giảng dạy khoa Khoa học Xã hội – trường Đại học Hồng Đức đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Thiệu Đô, Thư viện tỉnh Thanh Hóa đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thu thập tài liệu nghiên cứu Tôi cũng xin cám ơn gia tộc, các dòng họ ở xã Thiệu

Đô đã cung cấp tư liệu và giúp đỡ tôi trong quá trình đi thực tế tại địa phương

Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, những người luôn bên tôi, động viên, chia sẻ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành tốt luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Thanh Hải, người đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song chắc chắn rằng trong luận văn không tránh khỏi một số vài thiếu sót Rất mong được sự đóng góp của các thầy cô cùng bạn bè, đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn.!

Thanh Hóa, tháng 11 năm 2019

Tác giả

Lê Thị Thu Huyền

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của luận văn 7

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT THIỆU ĐÔ 8

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 8

1.1.1 Vị trí địa lý 8

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 8

1.2 Quá trình hình thành vùng đất Thiệu Đô 10

1.2.1 Vùng đất Thiệu Đô trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 10

1.2.2 Vùng đất Thiệu Đô từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay 10

1.3 Truyền thống lịch sử văn hóa tiêu biểu 14

1.3.1 Truyền thống văn hóa và khoa bảng 14

1.3.2 Truyền thống lao động sản xuất 16

1.3.3 Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm 17

Tiểu kết chương 1 21

CHƯƠNG 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 22

2.1 Đình chùa, miếu mạo ở Thiệu Đô 22

2.1.1 Làng Vạc (làng Cổ Đô) 22

2.1.2 Làng Hồng (làng Mỹ Đô) 25

2.1.3 Làng Chè (làng Trà Thượng) 26

2.2 Nhà thờ họ Lê 32

Trang 7

2.3 Nhà ở truyền thống 35

2.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị 38

2.4.1 Thực trạng 38

2.4.2 Giải pháp bảo tổn và phát huy giá trị 40

Tiểu kết chương 2 43

CHƯƠNG 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 45

3.1 Phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo 45

3.1.1 Phong tục tập quán 45

3.1.2 Tín ngưỡng tôn giáo 50

3.2 Lễ hội truyền thống và trò chơi dân gian 56

3.2.1 Lễ hội vật cù 56

3.2.2 Trò chơi dân gian 58

3.3 Văn hóa ẩm thực 63

3.3.1 Giò lụa 64

3.3.2 Bánh lá răng bừa 65

3.3.3 Bánh mướt 66

3.4 Làng nghề truyền thống dệt nhiễu Hồng Đô 67

3.4.1 Quá trình ra đời và phát triển 67

3.4.2 Những biến đổi của làng nghề 70

3.5 Thực trạng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể 74

3.5.1 Thực trạng 74

3.5.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị 76

Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những giá trị văn hóa là thước đo cho trình độ phát triển và đặc tính riêng cho mỗi dân tộc Từ buổi sơ khai của lịch sử, mỗi người dân Việt Nam đều gắn bó, kết nối, trong một cộng đồng làng xã Qua nghìn đời, với bao thăng trầm, biến động, bao thử thách khắc nghiệt, làng xã Việt với những nét văn hóa riêng độc đáo và đặc sắc được gìn giữ, trao truyền và tôn bồi, đã trở thành nét bản sắc của văn hóa Việt Nam Làng, trong mối quan hệ hữu cơ với nhà và nước, đã trở thành nhân tố quan trọng cố kết cộng đồng để tạo nên sức mạnh đoàn kết không gì sánh được của dân tộc Việt Nam Do đặc điểm và điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên vùng văn hóa khác nhau, từ đó văn hóa các dân tộc cũng có những điểm khác biệt và mang tính đặc thù

Thiệu Hóa là một huyện đồng bằng nằm ở phía Tây Thanh Hóa Các xã thuộc huyện Thiệu Hóa nói chung và xã Thiệu Đô nói riêng là một trong những xã điển hình ở Thanh Hóa, được hình thành và phát triển với bề dày hàng ngàn năm lịch sử, gắn với các giá trị văn hóa, lịch sử lâu đời của cư dân Việt Cổ thuộc nền văn hóa Đông Sơn

Xã Thiệu Đô ngày nay vốn nằm trong vùng đất cổ, với làng nghề dệt lụa Hồng Đô nổi tiếng, từng là trung tâm văn hóa – chính trị sầm uất, trung

tâm tôn giáo tín ngưỡng lớn một thời của đất Cửu Chân xưa

Vùng đất thuộc xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa ngày nay , còn ghi nhớ về những bậc danh nhân kiệt xuất, bằng tài năng và đức độ của mình đã làm rạng rỡ cho quê hương, đất nước…Trải qua bao cuộc chiến tranh tàn khốc cùng những nghiệt ngã của thiên nhiên, biến cố xã hội, đã tàn phá nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật, những di vật cổ quý, những văn bản Hán Nôm và một số sự, lệ tại các đình, đền, chùa cũng bị mất mát khá nhiều

Trang 9

Đó là những mất mát lớn về mặt tinh thần Rất may, trong các biến cố đó, trên đất Thiệu Đô vẫn còn giữ một số công trình kiến trúc với dấu vết cổ xưa, tuy không còn nhiều: Có phủ thờ Thánh Mẫu, riêng làng Chè còn có một ngôi chùa thờ Phật… Đặc biệt nơi đây còn lưu giữ các lễ hội truyền thống như: lễ hội Vật Cù, lễ hội làng… Đó là, ngôi Chùa Chè - ngôi chùa không rõ xây dựng từ khi nào, chỉ biết rằng nó đã có từ rất lâu đời Chùa thờ Phật Bà Quan

Âm, Phật Ốc và Phật Di Lặc Lễ hội chùa Chè được diễn ra ba bốn ngày, đây cũng là lễ hội lớn của vùng, nhiều phong tục, tập quán và tín ngưỡng dân gian của người Việt như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thành hoàng,

các sự lệ tại các đình, đền, chùa,… được bảo lưu và phát triển

Tiếc rằng, cùng với bao thăng trầm của lịch sử, các giá trị văn hóa tinh thần cũng như vật chất trên vùng đất Thiệu Đô bị lớp bụi thời gian che phủ và chìm dần vào quên lãng Vì vậy, xua tan lớp bụi, giải mã các thông điệp mà người xưa gửi cho hậu thế, nhìn nhận các giá trị văn hóa cổ truyền sẽ là một công việc vô cùng lý thú và cần thiết đối với cuộc sống hôm nay

Trong xu thế toàn cầu hóa, đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập sâu rộng và đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy vậy, một số giá trị lịch sử - văn hóa, trong đó có văn hóa làng xã, làng nghề truyền thống đang dần bị lãng quên, mai một Mặt khác, sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước luôn phải gắn liền với sự nghiệp xây dựng, củng cố và phát triển nền văn hóa dân tộc vừa hiện đại vừa có âm hưởng truyền thống Vì vậy, những giá trị văn hóa, những bài học lịch sử, những đóng góp của các thế hệ cha ông, những truyền thống quý báu của vùng đất Thiệu Đô nói riêng và nước nhà nói chung rất cần được mọi người hiểu, gìn giữ và phát huy

Giữ gìn, tu bổ và khai thác có hiệu quả những di sản văn hóa của cha ông để lại là trách nhiệm của các thế hệ sau Nó còn là biểu hiện tình cảm thiêng liêng, sự trân trọng của con cháu ngày nay đối với lịch sử văn hóa dân

tộc Là một người con sinh ra ở mảnh đất Thiệu Hóa, tôi chọn vấn đề “Lịch

Trang 10

sử văn hóa vùng đất Thiệu Đô (Thiệu Hóa, Thanh Hóa)” làm đề tài luận

văn thạc sỹ Lịch sử Việt Nam với mong muốn góp một phần đánh giá đầy đủ các giá trị lịch sử - văn hóa, đề xuất những giải pháp bảo tồn, phát huy, góp phần bồi đắp thêm tình yêu và ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa của quê hương, đất nước Do đó, đề tài vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Ngay từ thời phong kiến, đã có những tác phẩm đề cập đến vùng đất

huyện Thiệu Hóa nói chung và xã Thiệu Đô nói riêng, như: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên; Bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; Bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục; Bộ Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn, sách Thanh Hóa chư thần lục – biên tập niên hiệu

Thành Thái thứ 15… Có thể nói, đây là những công trình biên soạn sớm nhất nói tới vùng đất Thanh Hóa xưa

Những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu được xuất bản như:

Lịch sử Đảng bộ huyện Thiệu Hóa của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thiệu Hóa, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000; Lịch sử Đảng bộ xã Thiệu

Đô (1953 – 2015) của Ban chấp hành Đảng bộ xã Thiệu Đô, Nxb Thanh Hóa, năm 2015; Khảo sát văn hóa truyền thống Thiệu Hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, năm 2006; Khảo sát văn hóa truyền thống Thiệu Đô, Nxb Văn hóa dân tộc, năm 2003; Khảo sát văn hóa truyền thống Thiệu Đô, Nxb Văn hóa dân tộc, năm 2005; Địa chí huyện Thiệu Hóa của Huyện ủy – Hội đồng nhân dân - Ủy

ban nhân dân huyện Thiệu Hóa, Nxb KHXH, năm 2010;… Đây là những công trình nghiên cứu, đã đề cập đến điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế, lịch

sử, văn hóa, xã hội, về vùng đất Thiệu Hóa nói chung và Thiệu Đô nói riêng;

Ngoài ra, một số công trình khác còn đề cập đến các di tích lịch sử văn

hóa, các truyền thống văn hóa ở địa bàn nghiên cứu như: Nghề thủ công truyền thống Thanh Hóa” của Ban nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa, năm 2009; Khảo sát văn hóa truyền thống Đông Sơn, Nxb Khoa học Xã

Trang 11

hội, năm 1988; Những thắng tích của Xứ thanh của Hương Nao, Nxb Giáo dục, năm 1997; Trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Thanh Hóa của Phạm Văn Đấu - Đỗ Nam Trung; Thanh Hóa và di tích thắng cảnh (Tập 1) của Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa, Nxb Thanh Hóa, năm 2000; Lễ tục lễ hội truyền thống Xứ Thanh quyển 2, của Hoàng Anh Nhân; Văn hóa dân gian Thanh Hóa bước đầu tìm hiểu của Hoàng Minh Tường

Từ tổng quan các công trình nghiên cứu về lịch sử văn hóa của Thanh Hóa nói chung và lịch sử văn hóa huyện Thiệu Hóa nói riêng cho thấy đây mới chỉ nghiên cứu và một vấn đề cụ thể của vùng đất như: Lịch sử hình thành, điều kiện địa lý tự nhiên, dân cư hay khảo tả về một di tích, về lễ hội… Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính chuyên

sâu về “Lịch sử văn hóa xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa”

Tuy nhiên, các công trình trên sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để tác giả làm rõ những luận điểm mà đề tài đặt ra

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Làm rõ nguồn gốc lịch sử văn hóa truyền thống của vùng đất Thiệu

Đô, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Làm tài liệu tham khảo để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam, lịch sử địa phương trong các nhà trường, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hiểu biết về những giá trị lịch sử văn hóa ở vùng đất Thiệu Đô nói riêng và tình Thanh nói chung

Trang 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Khảo sát nghiên cứu để tái hiện lại truyền thống lịch sử và văn hóa của

cư dân vùng đất Thiệu Đô, qua đó chỉ ra những đặc trưng trong sinh hoạt văn hóa của vùng đất này

Luận văn giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về lịch sử văn hóa của Thiệu Đô nói riêng và địa phương Thiệu Hóa nói chung

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu để đạt được, đề xuất những kiến nghị, giải pháp bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa của địa phương, góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu lịch sử văn hóa ở vùng đất Thiệu Đô huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa (bao gồm lịch sử hình thành vùng đất, truyền thống lịch sử và văn hóa tiêu biểu, các giá trị lịch sử văn hóa vật thể, phi vật thể)

3.4 Phạm vi nghiên cứu

Do giới hạn của đề tài luận văn là “Lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Đô (Thiệu Hóa, Thanh Hóa), nên phạm vi nghiên cứu trong địa giới hành chính

xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa hiện nay

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu: Tác giả đã cố gắng tập hợp và khai thác thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau tập trung ở một số lĩnh vực như sau:

4.1.1 Nguồn tư liệu thành văn

- Nguồn tư liệu chủ yếu của đề tài là các tài liệu thành văn, trong đó

phải kể đến cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã Thiệu Đô 1953-2015” của Ban Chấp

hành Đảng bộ xã Thiệu Đô Tài liệu nghiên cứu khá tổng hợp về vùng đất Thiệu Đô nói chung và một số giá trị văn hóa của làng Hồng, làng Vạc, làng Trà Thượng nói riêng

- Cuốn “Khảo sát văn hóa truyền thống xã Thiệu Đô” của tác giả Tạ

Quang, xuất bản năm 2005, nghiên cứu tập trung chủ yếu về lịch sử hình thành xã Thiệu Đô và những giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể

Trang 13

4.1.2 Nguồn tư liệu vật chất và điền dã

Từ khảo sát thực địa ở các làng như: Làng Hồng, làng Vạc, làng Trà Thượng… thuộc xã Thiệu Đô, để làm rõ những vấn đề liên quan đặt ra trong luận văn Nghiên cứu thực địa các di tích lịch sử văn hóa như chùa Chè, nhà thờ họ, bằng chứng còn lại là phong cách kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc, các tư liêu thành văn khác như gia phả, sắc phong, để làm nổi bật giá trị về lịch sử, di tích và lễ hội văn hóa ở Thiệu Đô Ngoài những tư liệu đã nói trên, tác giả còn sử dụng nguồn tư liệu điền dã, thông qua việc tìm hiểu, ghi chép, gặp gỡ và phỏng vấn các cụ cao tuổi trong làng, trong dòng họ để làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong luận văn

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Cơ sở phương pháp luận:

Quán triệt các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, đảm bảo tính trung thực và khách quan trong nghiên cứu lịch sử

4.2.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp, nhằm sưu tầm, chọn lọc các tư liệu có giá trị, độ tin cậy cao, liên quan đến đề tài, sau đó tổng hợp các thông tin lại với nhau để tạo ra hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc theo từng vấn đề liên quan đến luận văn

- Bằng việc điều tra, khảo sát, điền dã, thông qua các chuyên gia…

để đánh giá đúng thực trạng giá trị các di sản văn hóa của vùng đất Thiệu Đô; đồng thời tác giả còn đối chiếu các sử liệu thành văn với những chứng tích lịch sử trên thực tế và thẩm định, sưu tầm để có được các tài liệu chính xác nhất

- Trên cơ sở nguồn tài liệu sưu tầm, nghiên cứu được, trình bày theo phương pháp logic, lịch sử nhằm phác họa lại một cách chân thực về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Đô

Trang 14

- Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: phân tích, tổng hợp qua các tài liệu lịch sử - văn hóa có liên quan; phương pháp điền dã dân tộc học như sử dụng các kỹ năng quan sát, ghi âm, chụp ảnh… nhằm thu thập và lưu thông tin về đời sống của người dân tại địa bàn đã nghiên cứu Bởi vậy, các tư liệu được mô tả, trình bày trong luận văn

sẽ đảm bảo sự chính xác, có độ tin cậy cao

5 Đóng góp của luận văn

- Đây là công trình đầu tiên, toàn diện và có tính hệ thống về lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Đô từ trước đến nay

- Luận văn hệ thống được các tư liệu về lịch sử văn hóa của một xã, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trên vùng đất Thiệu Đô

- Kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các cấp, các ngành của huyện Thiệu Hóa nói riêng và các nhà nghiên cứu về lịch

sử văn hóa nói chung; làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học sinh học tập, nghiên cứu về văn hóa và lịch sử vùng đất Thiệu Đô

Luận văn còn góp phần giáo dục thể hệ trẻ xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa, lòng tự hào dân tộc, tình cảm trân trọng các giá trị lịch sử văn hóa của cha ông để lại

6 Bố cục luận văn

Ngoài các phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (3 trang),Tài liệu tham khảo (5 trang) và Phụ lục (9 trang), Nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Vài nét về vùng đất Thiệu Đô

Chương 2: Di sản văn hóa vật thể

Chương 3: Di sản văn hóa phi vật thể

Trang 15

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT THIỆU ĐÔ

1.1 Vị trí địa l và điều kiện t nhiên

Phía Đông giáp xã Thiệu Châu

Thiệu Đô có tổng diện tích đất tự nhiên là 525,23ha, trong đó đất nông nghiệp có 295,01ha Theo số liệu điều tra đến tháng 1 năm 2011, Thiệu Đô có 1.868 hộ, với 8.128 người [3; tr11]

1.1.2 Điều iện t nhiên

Địa hình: Thiệu Đô có địa hình tương đối bằng phẳng, nhưng ở các

vùng không đồng nhất, cao thấp xen kẽ nhau, do ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt qua nhiều năm gây khó khăn cho việc kiến thiết đồng ruộng và thâm canh cây trồng

Thổ nhưỡng: Đất đai của Thiệu Đô được bồi đắp bởi dòng sông Chu,

nên có tính chất lý, hóa tốt và được chia làm hai loại:

Đất phù sa được bồi đắp hằng năm, là đất nằm ở ngoài đê thường xuyên được bồi đắp phù sa, nên có tầng đất dày, độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp như: dâu, bông, lạc, vừng…

Vùng đất nội đê chủ yếu là đất ruộng, thích hợp cho trồng lúa, ngô và rau màu các loại

Khí hậu: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, do đó Thiệu Đô chịu ảnh

hưởng của 2 loại gió mùa Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mang hơi nước từ biển vào nên gây ra mưa,

Trang 16

nhiệt độ trung bình từ 29 – 39C, cao nhất là 40C Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nên đã xảy ra tình trạng rét, khô hanh kéo dài từ tháng

11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 16 – 20C, thấp nhất 11C Ngoài

ra, xã còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng, kéo dài từ 15 – 20 ngày, chia làm nhiều đợt

Mùa mưa thường đến muộn, kèm theo lũ, lượng mưa trung bình năm khá cao từ 1.600 – 2.000mm, phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 7 đến tháng 9, chiếm khoảng 76% tổng lượng mưa trong năm, những năm tháng còn lại ít, mưa chỉ chiếm khoảng 24%, đặc biệt vào tháng 11 và tháng 12 lượng mưa rất thấp Độ ẩm không khí trung bình 84 – 85%, cao nhất là 90% ở các tháng 8 và 9 [3, tr12]

Đồi núi: Thiệu Đô có núi Đồng Chài, hay còn gọi là nói Phượng

Hoàng, nằm ở phía Đông xã Thiệu Đô thuộc địa phận làng Hồng, giáp với làng Núi (xã Thiệu Châu), diện tích 1,2ha, có độ cao khoảng vài chục mét Đây là núi đất đỏ ba-zan và là núi chung của 2 xã Thiệu Đô và Thiệu Châu

Sông ngòi, ao hồ: Trên địa bàn xã Thiệu Đô có 2 con sông chảy qua là

sông Chu ở phía Bắc, với chiều dài đi qua xã là 2,7 km và kênh nhà Lê ở phía Nam Ngoài ra, Thiệu Đô còn có kênh B9 và nhiều ao hồ nằm rải rác ở 3 làng Đây là nguồn dự trữ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp địa phương

Về giao thông đường bộ: Thiệu Đô là xã có hệ thống giao thông đường

bộ tương đối thuận lợi, bởi có Quốc lộ 45 dài 2,5km và Tỉnh lộ 512 chạy qua địa bàn xã Ngoài ra, Thiệu Đô còn có đường liên xã, liên thôn và đường nội đồng dài hàng chục km Thực hiện chương trình kiên cố hóa đường giao thông, nên các tuyến đường trên địa bàn Thiệu Đô đã được nhựa hóa và bê tông hóa thuận lợi cho việc đi lại, góp phần vào việc phát triển kinh tế của địa phương, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Với điều kiện tự nhiên như vậy, là điều kiện thuận lợi để Thiệu Đô phát triển một nền kinh tế nông nghiệp toàn diện, trao đổi hàng hóa với các vùng miền trong tỉnh và giao lưu văn hóa…[33;14]

Trang 17

1.2 Quá trình hình thành vùng đất Thiệu Đô

1.2.1 ùng đất Thiệu Đô t ước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Thiệu Đô là vùng đất có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, được con người khai phá từ rất sớm và đã hình thành những xóm làng trù phú Kể từ khi lập làng cho đến nay đã nhiều lần thay đổi địa danh Trước thời Nguyễn,

Lỵ Sở huyện Đông Sơn đóng ở làng Cổ Đô

Năm 1815, dưới thời vua Gia Long, phủ Thiệu Thiên đổi gọi là phủ Thiệu Hóa Làng Hồng, làng Vạc, làng Chè thuộc phủ này Thời vua Minh Mạng (1820 – 1841), làng Hồng, làng Vạc, làng Chè vẫn thuộc huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa Phủ Thiệu Hóa lúc này gồm có 3 huyện là Đông Sơn, Thụy Nguyên (sau là Thiệu Hóa) và Yên Định Năm Thành Thái thứ 12 (1900) huyện Thụy Nguyên cắt tổng Ngọc Lặc, Yên Trường, Quảng Thi để lập châu mới là Ngọc Lặc, chuyển tổng Phú Hà sang Lôi Dương để lập huyện Thọ Xuân, đồng thời nhận về tổng Lô Dương của huyện Thọ Xuân, đặt làng tổng Xuân Lai, hai tổng Vận Quy, Đại Bối và một phần của tổng Thạch Khê của huyện Đông Sơn Như vậy, từ năm 1900, các làng Cổ Đô, Hồng Đô và làng Chè thuộc huyện Thụy Nguyên, đến năm 1928, huyện Thụy Nguyên đổi thành phủ Thiệu Hóa

Từ đó cho đến năm 1945, các làng xã Thiệu Đô thuộc tổng Vận Quy, phủ Thiệu Hóa [3; tr15]

1.2.2 Vùng đất Thiệu Đô từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay

Cách Mạng tháng Tám năm 1945 thành công, phủ Thiệu Hóa được đổi thành huyện Thiệu Hóa, các tổng được giải thể, thành lập các xã Lúc này, làng Vạc, làng Trà Thượng thuộc xã Hưng Đạo; làng Hồng thuộc xã Thái Bình Cuối năm 1947, đầu năm 1948, hai xã Hưng Đạo và Thái Bình tháp nhập thành một xã, gọi là xã Thái Bình và là một trong 12 xã của huyện Thiệu Hóa lúc bấy giờ

Trang 18

Vào tháng 3 năm 1953, thực hiện chủ trương của Chính phủ, 12 xã của huyện Thiệu Hóa được chia thành 31 xã Xã Thái Bình chia thành 3 xã: Thiệu

Đô, Thiệu Châu, Thiệu Vận Xã Triệu Đô lúc mấy giờ gồm 3 làng: làng Hồng (Mỹ Đô), làng Vạc (Cổ Đô) và làng Chè (Trà Thượng)

Ngày 5 tháng 7 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 177/CP về việc giải thể huyện Thiệu Hóa để thành lập hai huyện mới là Thiệu Yên và Đông Thiệu Theo đó, xã Thiệu đô là 1 trong 16 xã thuộc hữu ngạn sông Chu của huyện Thiệu Hóa sáp nhập vào huyện Đông Sơn và thành lập huyện mới lấy tên là huyện Đông Thiệu Đến ngày 30 tháng 8 năm 1982, Hội đồng Bộ Trưởng ban hành Nghị định số 149/HĐ-BT đổi tên huyện Đông Thiệu thành huyện Đông Sơn

Ngày 18 tháng 11 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định số

72 – ND/CP về việc điều chỉnh giới hành chính, tái lập huyện Thiệu Hóa Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày mùng 1 tháng 1 năm 1997, xã Thiệu

Đô lại trở về với huyện Thiệu Hóa

Thiệu Đô có nhiều dòng họ sống xen kẽ trong làng xóm, đông hơn cả là các dòng họ: Lê, Nguyễn, Hoàng, Trần Họ Cao cùng các dòng họ khác như: Phạm, Đào, Tạ, Trương, Đinh, Đỗ, Vũ… hàng ngàn năm qua đã chung lưng đấu cật trên mảnh đất Thiệu Đô, dòng họ nào cũng đóng góp tài trí, vật lực cho quê hương, dòng họ nào cũng giữ được truyền thống tốt đẹp của tổ tiên

Xã Thiệu Đô có 3 làng: làng Hồng, làng Vạc, làng Chè và được chia thành 11 thôn

Làng Hồng Đô: Phía Bắc giáp sông Chu, huyện Lỵ Thiệu Hóa, phía

Đông giáp làng Phúc Triền, xã Đông Thanh (huyện Đông Sơn) và xã Thiệu Châu, phía Nam giáp làng Chè xã Thượng Trung, phía Tây giáp với làng Vạc Trước thế kỷ XIX làng có tên là Lỗ Đô trang, đến đầu thế kỷ XIX, có tên là Hồng Đô, đến năm 1848 đổi tên là Mỹ Đô thuộc tổng Vận Quy Từ năm (1946 – 1953) làng Hồng Đô thuộc xã Thái Bình Tháng 3 năm 1953, Hồng

Trang 19

Đô thuộc xã Thiệu Đô tên gọi Hồng Đô vẫn giữ đến ngày nay Trước Cách mạng tháng Tám 1945 có hai ngõ: ngõ Mã và ngõ Tuần Quan Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, làng Hồng có 06 xóm: xóm Bình Định, xóm Thái Phú, xóm Thái Thọ, xóm Thái Nhu, xóm Thái Thắng, xóm Thái Tường Đến nay làng chia thành 4 thôn (từ thôn 7 đến thôn 10)

Xưa kia nơi đây là một vùng đồng lầy nước đọng,cây cối um tùm dân

cư thưa thớt Ban đầu làng Hồng Đô có 2 dòng họ là họ Hoàng và họ Lê, sau này có thêm các dòng họ Nguyễn, Phạm, Đào, Trần, Đinh,… từ nhiều vùng khác nhau đến nay sinh cơ lập nghiệp trở thành một cộng đồng dân cư đông đúc với xóm làng trù phú

So với các làng khác thì làng Hồng Đô có nền kinh tế nông nghiệp tương đối ổn định Cùng với nghề trồng lúa, người dân làng Hồng Đô còn trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt nhiễu và nghề này đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao đời sống cho người dân nơi đây

Về di tích lịch sử: Hồng Đô có mô hình được xây ở giữa làng, để làm nơi sinh hoạt cộng đồng và thờ Thành Hoàng làng, bên cạnh đó làm còn có văn chỉ thờ Khổng Tử, võ chỉ thờ những người là võ tướng có công chống giặc ngoại xâm bảo vệ làng xóm, đất nước

Làng Vạc: Phía bắc giáp với sông Chu; phía Đông giáp với làng Hồng,

phía Nam giáp với làng Chè, phía Tây giáp xã Thiệu Vận Xưa gọi là kẻ Vạc, còn có tên là làng Kênh Đây là làng được hình thành sớm nhất ở Thiệu Đô

Sở dĩ làng có tên gọi là làng Vạc vì làng có hình thế giống con vạc nên nhân dân gọi là làng Vạc Đầu thế kỷ XIX, làng có tên gọi là Cổ Đô, đến đời vua Đồng Khánh (1885 – 1888) đổi là xã Cổ Đô Thượng, tổng Vận Quy Từ năm

1946 – 1947, thôn Cổ Đô thuộc xã Hưng Đạo từ năm 1948 – 1953 thuộc xã Thái Bình và từ tháng 3 năm 1953 đến nay, làng Cổ Đô thuộc xã Thiệu Đô

Dưới thời phong kiến, làng Cổ Đô có một thiết chế khá chặt chẽ, dân

cư được phân bố theo các ngõ: ngõ Đoài, ngõ Đông, ngõ Nam, ngõ Bắc Sau

Trang 20

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, làng Vạc chia thành 8 xóm: Bình Dân, Bình Sinh, Bình Cầu, Bình Nhật, Bình Thuận, Bình Đẳng, Bình Quân, Bình Trị (xóm Thủy Du) Hiện nay, làng có 4 thôn (từ thôn 3 đến thôn 6), với nhiều dòng họ sinh sống như: Lê Trọng, Lê Văn, Nguyễn Văn, Nguyễn Hữu, Đỗ, họ Đinh, họ Hòa, họ Trần, họ Phan, họ Tạ,…

Ngoài sản xuất nông nghiệp, làng Cổ Đô còn có nhiều nghề thủ công, như nghề cán bông, ép dầu, sợi,…

Về di tích lịch sử văn hóa: Trước đây, làng có đình làm nơi sinh hoạt chung, thờ thành hoàng làng; Ngoài ra, làng còn có phủ thờ thánh mẫu, văn chỉ thờ Khổng Tử và ghi danh những người đỗ đạt cao Theo lời kể của những người cao tuổi trong làng, trước đây làng có một hồ nước không rộng lắm gọi

là hồ Võ Chỉ, giữa hồ là một cồn đất mọc lên một cây đa to, bên góc cây đa có dựng một tấm bia lớn, dưới bia đặt một bát hương thờ ba vị Quận công thời Hậu Lê là Nguyễn Lâm, Nguyễn Quế, Nguyễn Hoa Hằng năm, xuân, thu nhị

kỳ người dân trong làng đến thắp hương tưởng nhớ những người có công với dân với nước

Làng T à Thượng: Phía bắc giáp với làng Cổ Đô, phía Nam giáp xã

Thiệu Trung, phía Đông Giáp xã Đông Anh và làng Hồng Đô, phía Tây giáp với xã Thiệu Vận Xưa kia, làng Trà Thượng có tên là kẻ Chè, thời gian sau đổi là Trà Sơn trang, tiếp sau nữa gọi là Trà Thượng Làng Trà Thượng do Trấn Quốc Công bộc xạ Lê Lương khai phá từ thời nhà Đinh (970), đến thời Tiền Lê (980 – 1005) vua Lê Đại Hành với việc đào kênh nhà Lê đã cắt đôi làng Chè thành hai làng Trà Thượng và Trà Đông (Trà Đông nay thuộc xã Thiệu Trung) Đầu thế kỷ XIX là thôn Thượng thuộc xã Trà Sơn, tổng Vận Quy Đời vua Đồng Khánh (1885 – 1888) là thôn Trà Thượng, xã Trà Sơn, tổng Vận Quy, huyện Đông Sơn Từ năm 1946 - 1947, Trà Thượng thuộc xã Hưng Đạo, từ năm 1948 – 1953 thuộc xã Thái Bình và từ tháng 3 năm 1953 đến nay thuộc xã Thiệu Đô, với 3 thôn (thôn một, thôn hai và thôn Ba Chè)

Trang 21

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, làng có 3 xóm: Bình Tây, Quân Bình, Hòa Bình Đến nay, làng có hai thôn Làng có nhiều dòng họ sinh sống như là

họ Lê Văn, họ Nguyễn Văn, họ Cao Văn, họ Lê Đình, họ Lê Doãn, họ Trần,

Như vậy, quá trình hình thành các làng ở Thiệu Đô đã diễn ra liên tục Mỗi làng là một điểm tụ cư của hàng chục dòng họ với nguồn gốc khác nhau Các dòng họ này đã chung lưng đấu cật, góp phần xây dựng quê hương Thiệu

Đô ngày càng văn minh giàu đẹp

1.3 Truyền thống lịch sử văn hóa tiêu biểu

1.3.1 Truyền thống văn hóa và khoa bảng

Trong lao động sản xuất, người dân Thiệu Đô đã tạo cho mình truyền thống văn hóa có những nét riêng của vùng đất trung tâm huyện Thiệu Hóa, như về phong tục tập quán, lễ hội, ca dao tục ngữ, trò chơi dân gian, kết chạ, giáo dục, di tích lịch sử,…

Với truyền thống hiếu học, trong chế độ khoa cử phong kiến, Thiệu Đô

đã có nhiều người đỗ đạt cao như: Làng Vạc có Trần Hữu Nho thi đỗ Hoàng Giáp khoa thi Canh Tuất (1490); làng Cổ Đô có Lê Xuân Huy thi đỗ Hương Cống đời Lê; Lê Duy Đôn thi đỗ Hương Cống khoa thi Mậu Ngọ (1973), Trần Nguyễn Kiên thi đỗ Hương Cống khoa thi Kỷ Dậu (1729);… Ngoài ra, Thiệu Đô còn nhiều người thi đỗ tú tài như: Cụ Tú Cả thuộc dòng họ Nguyễn

Trang 22

Hữu, Tú Hai thuộc dòng họ Hoàng ở làng Hồng, hai cụ đậu tú tài năm 1912, đời vua Lê Duy Tân

Sau Cách Mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, truyền thống hiếu học của người dân Thiệu Đô tiếp tục được phát huy, do đó đến nay Thiệu Đô có hàng trăm người có bằng đại học, trong đó có nhiều người có học hàm Tiến sĩ, Thạc sĩ, như Tiến sĩ Lê Đình Tư – Chủ nhiệm bộ môn Ngữ văn – Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội; Viện sĩ

Lê Đức Thắng – Viện Hàn Lâm Khoa học công nghệ Đông Nam Á,…

Về văn hóa vật thể: Thiệu Đô có nhiều di tích lịch sử văn hóa có quy

mô kiến trúc khác nhau Nhưng nét nổi bật nhất là làng nào cũng có đình làng,

có nghè thờ thành hoàng làng, miếu thờ Khổng Tử, võ chỉ ghi những người

võ công, có phủ thờ Thánh Mẫu, gắn liền với cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ Ngoài ra, Thiệu Đô còn có một số ngôi chùa như chùa Chè, chùa Go (chùa chung của 5 làng: làng Vạc, làng Hồng, làng Go, làng Núi và làng Họ)

Thần tích và truyền thuyết địa phương còn lưu lại trong trí nhớ dân gian

về việc bảo trợ cho đời sống cư dân Thiệu Đô, như đền thờ ba vị thành hoàng

là Cao Sơn, Linh Quang và Tô Đại Liêu (Tô Hiến Thành), Thánh Mẫu; đền thờ danh tướng Đinh Đàm; đền thờ ba vị Quận công thời Hậu Lê là Nguyễn Lâm, Nguyễn Quế, Nguyễn Hoa… Những di tích đó không chỉ là sự ghi công, tưởng nhớ tiền nhân theo đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của các thế hệ cư dân nơi đây, mà còn là bằng chứng hùng hồn chứng minh tài năng, sáng tạo nghệ thuật của người dân Thiệu Đô trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước

và giữ nước và xây dựng nông thôn mới

Về văn hóa phi vật thể: Thiệu Đô có nhiều phong tục tập quán truyền

thống tốt đẹp Biểu hiện rõ nét nhất về sinh hoạt văn hóa tinh thần là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người có công với làng

Các làng xã ở Thiệu Đô trước Cách mạng tháng Tám hầu như đều có tục kết chạ như làng Rùn (Diên Hào, Thọ Xuân), làng Chè kết chạ với làng

Trang 23

Văn Liễn (nay là làng Văn Tập, xã Thiệu Vân) Kết chạ là sự giao kết giữa làng này với làng khác và giữa nhiều làng với nhau, thể hiện tinh thần đoàn kết, cùng nhau đánh đuổi thù chung, làm thủy lợi, xây dựng đình chùa miếu mạo, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn, hoặc trong sản xuất, bảo

vệ mùa màng Ngoài tục kết chạ, Thiệu Đô có tục khảo rể, tục khảo thí, lệ nấu cơm thi, lệ làm bánh ú Bên cạnh đó còn có nhiều trò diễn dân gian như: Tế

nữ quan, trò Tú huần, trò đánh bài điếm, trò bơi thuyền, trò múa lân, trò đánh

cờ Truyền thống văn hóa của Thiệu Đô còn được thể hiện qua kho tàng văn nghệ dân gian hết sức phong phú và đa dạng Các làng có hát đối (hát ghẹo), hát trống quân, hát bội Vào các dịp lễ tết, dân làng thường tổ chức biểu diễn phục vụ đông đảo các tầng lớp nhân dân trong làng, hàng xóm Về mùa thu, trong những đêm trăng sáng, từ làng này đến làng kia, ở gốc đa, gốc đình, hay

ở bờ sông, ngõ xóm, từng tốp thanh niên nam nữ đứng hát đối đến tận khuya Không chỉ vậy, Thiệu Đô còn có kho tàng văn học dân gian quý giá, đó là những câu phương ngôn, tục ngữ, ca dao ca ngợi quê hương, ca ngợi về truyền thống lao động, tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm Truyện dân gian ở Thiệu Đô cũng hết sức phong phú Đó là những câu chuyện về Đức Thánh Cao Sơn đại vương, Linh Quang đại vương, Tô Đại Liêu; sự tích Quan Thái phó Đinh Đàm, sự tích Ông Cù làng Vạc, sự tích núi Đồng Chài, chuyện

kể về Quận Bôn - Quận Vạc…

Có thể nói, trong quá trình dựng làng, lập xóm, các thế hệ cư dân Thiệu

Đô đã vun đắp nên truyền thống văn hóa cực kỳ quý giá, góp phần làm giàu kho tàng di sản văn hóa xứ Thanh nói riêng và cả nước nói chung Đó là niềm

tự hào của nhân dân địa phương và là động lực để xã thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nông thôn mới

1.3.2 Truyền thống lao động sản xuất

Trong quá trình khai phá, cải tạo vùng đất, các tầng lớp người Thiệu Đô với tinh thần sáng tạo, cần cù, chịu khó đã dựa vào điều kiện thuận lợi để phát

Trang 24

triển sản xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp và các nghề thủ công truyền thống Nghề thủ công đã sớm phát triển Với bản chất sáng tạo, cần cù, chịu khó các thế hệ người dân Thiệu Đô đã chăm lo phát triển ngành nghề như nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt nhiễu, nghề trồng bông, ép dầu, trong đó tiêu biểu là nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt nhiễu, Trước đây nhiễu dệt ra cũng chi là nhiễu mộc ít người mua, nhưng về sau có 2 anh em là người ở Phát Diệm (Ninh Bình) vào dạy cho cách nhuộm Từ đây, nhiễu Hồng Đô trờ thành sản phẩm nổi tiếng trong và ngoài nước, như xuất sang nước bạn Lào, Trung Quốc Ngoài những nghề truyền thống kể ở trên, ờ Thiệu Đô từ sau năm 1990 đến nay còn có thêm một số nghề chế biến nông sản, thực phẩm, Hiện nay, cơ cấu kinh tế của địa phương có nhiều chuyển biến tích cực, trọng tâm là phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, do đó các nghề thủ công truyền thống ờ Thiệu Đô tiếp tục được duy trì và phát triển Hằng năm, đã mang thu nhập khá cho người lao động, góp phần cải thiện đòi sống và có nhiều đóng góp cho Nhà nước

Trước Cách Mạng tháng Tám năm 1945, ở Thiệu Đô làng nào cùng có chợ Làng Vạc có chợ Vạc, làng Trà Thượng có chợ Chùa, làng Hồng Đô có chợ Đình Cả 3 chợ đều có quy mô nhỏ, hàng hóa chủ yếu là sản phẩm của địa phương, như nhiễu Hồng Đô Sự ra đời của chợ đã tạo điều kiện cho nghề buôn bán ở Thiệu Đô phát triển Sau hòa bình lập lại (1954), xã Thiệu Đô có chợ Ba Chè rất tấp nập, thu hút đông đảo người trong và ngoài huyện đến mua bán, về sau do chủ quan và khách quan nên chợ của Thiệu Đô không còn nữa, việc trao đổi buôn bán của nhân dân địa phương được chuyển sang 2 chợ lân cận đó là chợ Vạn và chợ xã Thiệu Trung Ngày nay, việc kinh doanh, buôn bán không chỉ diễn ra ở chợ mà còn tập trung ở dọc Quốc lộ 45 [3; tr 21]

1.3.3 Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm

Trong quá trình lịch sử lâu dài của đất nước, các thế hệ cư dân ở Thiệu

Đô đã tạo nên một truyền thống tốt đẹp, đó là yêu nước và cách mạng Điển

Trang 25

hình là vào thế kỳ XV, khi Lê Lợi phât cờ khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược, nhiều người con Thiệu Đô đã xung phong gia nhập nghĩa quân góp phần giành lại độc lập cho dân tộc Ở làng Hồng Đô có quan Thái phó Đinh Đàm là một người có dũng khí mưu lược đã tham gia nghĩa quân Lam Sơn Trong nhiều năm tham gia khời nghĩa, ông đã lập được nhiều chiến công Sau khi thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua, ông được phong Bình Ngô khai quốc và làm quan qua 3 đời vua: Thái Tô, Thái Tông, Nhân Tông Khi tuổi đã cao ông được vua Nhân Tông cho ông về nghỉ tại làng Chè và hường lộc một vùng đất rộng lớn Khi mất ông được phong thượng đẳng thần, mộ táng ờ núi Đồng Chài [3;25]

Tại làng Cổ Đô có 3 anh em họ Nguyễn: Nguyễn Lâm, Nguyễn Quế, Nguyễn Hoa đã có công đánh dẹp giặc Vồ, chặt đầu tướng giặc khi chúng đến cướp phá ở vùng Thụy Nguyên Do có thành tích trong dẹp giặc, cà ba ông đều được vua Lê Hy Tông (1675 - 1705) phong Quận Công Làng Hồng Đô

có hai ông Đội Kha, Đội Kham cũng có công trong việc ngăn chặn giặc vồ đến đôt phá dân làng

Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, các sĩ phu yêu nước cùng với nhân dân cả nước đã đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp và

bè lũ tay sai Tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi xuống chiếu cần Vương kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên chống thực dân Pháp Hưởng ứng lời kêu gọi chống thực dân Pháp của vua Hàm Nghi, phong trào Cần Vương ở Thanh Hóa diễn ra hết sức rầm rộ từ miền đồng bằng, ven biển đến vùng trung du miền núi Ở các làng xã Thiệu Đô, nhiều người đã tham gia đội nghĩa quân Cần Vương huyện Đông Sơn dưới sự chi huy của Tán tương quân vụ Lê Khắc Tháo để đánh giặc Đêm ngày 11 rạng ngày 12 tháng 3 năm 1886, Lê Khắc Tháo tổ chức nghĩa quân tham gia tập kích thành Thanh Hóa Trận đánh thành Thanh Hóa bị thất bại, Lê Khắc Tháo dẫn toàn bộ nghĩa quân tham gia xây dựng căn cứ Ba Đình (Nga Sơn) và chiến đấu ở đó Đầu năm 1887, Ba Đình

Trang 26

thất thủ, nghĩa quân Ba Đình đã mờ đường máu rút lên miền núi rừng Thanh Hóa tiếp tục chiến đấu

Mặc dù gây cho Pháp nhiều tổn thất, song phong trào Cần Vương ở Thiệu Hóa nói chung và Thiệu Đô nói riêng bị quân thù đàn áp đẫm máu, những tấm gương yêu nước trong phong trào Cần Vương vẫn sống mãi với đất nước

Từ khi có Đảng (1930), phát huy các truyền thống tốt đẹp của quê hương, nhân dân Thiệu Đô đã theo Đảng xây dựng các lực lượng, góp phần làm nên Cách mạng tháng Tám 1945 ở Thiệu Đô và đánh địch ở phủ lỵ Thiệu Hóa, trong đó có cánh quân ở hữu ngạn sông Chu của xã Với sự kiện này, nhân dân Thiệu Đô đã góp phần lật đổ sự thống trị của chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm; ách đô hộ của thực dân Pháp và phát xít Nhật hơn 80 năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân Thiệu Đô nói riêng

từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, người làm chủ vận mệnh của mình, bắt tay vào xây dựng chế độ mới

Trong 9 năm kháng chin chống thực dân Pháp (1945-1954), Thiệu Đô

có nhiều đóng góp to lớn, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước Theo số liệu thống kê, thời kỳ này Thiệu Đô có 165 người đi bộ đội, 872 lượt người đi dân công, 85 người đi thanh niên xung phong, 87 người thoát ly là việc ở các

cơ quân Đảng, Nhà nước, trong đó có 12 người hy sinh vì Tổ quốc, 8 tử sĩ, 7 thương binh, đóng góp hàng chục tấn lương thực, thực phẩm, 45 chỉ vàng trong Tuần lễ vàng, 183,3 kg đồng trong Tuần lễ đồng; 3.975 đồng trong đợt góp Quỹ mua súng, 10.500 đồng cấp dưỡng cho bộ đội…[3; 57] Với những đóng góp trên, cán bộ, đảng viên và nhân dân Thiệu Đô đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Cờ thi đua Diệt dốt của Chính phủ, 650 cá nhân được thưởng Huân, Huy chương các loại và nhiều Bằng khen, Giấy khen, Huy hiệu Đó là

Trang 27

động lực để Đảng bộ và nhân dân xã Thiệu Đô hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chống chiến tranh phá hoại của Mỹ và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Thiệu Đô có nhiều đóng góp tích cực và chịu nhiều tổn thất nặng nề Toàn xã có 941 người tham gia

bộ đội, 136 người đi thanh niên xung phong, hàng trăm lượt người đi thanh niên hỏa tuyến, trong đó có 104 người còn nằm lại vĩnh viễn trên các chiến trường, 119 hy sinh một phần xương máu của mình cho độc lập dân tộc, 88 bệnh binh, 90 nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam Ngoài ra, còn đóng góp hàng ngàn tấn lươg thực, thực phẩm, hàng vạn ngày công làm đường, làm cầu, 154 hộ cho một số đơn vị mượn nhà để chứa hàng hóa và giành 30.000m2 đất vườn để bộ đội làm nơi đóng quân Với những thành tích trên, Thiệu Đô có 12 Bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 2.750 Huân, Huy chương các loại và nhiều Huy hiệu…

Qua những đóng góp sức người, sức của trong 30 năm kề từ mùa Thu

1945 lịch sử của nhân dân và các lực lượng vũ trang xã Thiệu Đô, ngày

23-5-2005, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký Quyết định

tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho nhân dân và các

lực lượng vũ trang xã Thiệu Đô [3; tr 115]

Sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, cả nước đi lên CNXH, nhân dân

xã Thiệu Đô đã bắt tay ngay vào khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế xã hội và thực hiện các kế hoạch của Đảng bộ các cấp, làm tốt nhiệm

vụ chi viện cho hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc Ở thời kỳ này, Thiệu Đô có 18 liệt sĩ, đưa tổng số liệt sĩ của địa phương lên tới

Trang 28

dân trong xã thực hiện tốt các mục tiêu đề ra, thu được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, xây dựng nông thôn mới Đời sống vật chất và tính thần của nhân dân không ngừng được nâng cao… Chính vì vậy, mà xã Thiệu Đô được Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu

“Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới và xã văn hóa nông thôn mới”

Tiểu kết chương 1

Thiệu Đô là vùng đất nằm bên hữu ngạn sông Chu và liền kề với huyện lỵ Thiệu Hóa, có bề dày về truyền thống, lịch sử, văn hóa và cách mạng Tụ cư lâu đời ở bên bờ sông Chu, các thế hệ người dân Thiệu Đô đã đoàn kết, bỏ nhiều công sức khai phá và cải tạo đất đai, thành bãi bờ màu mỡ, đồng ruộng phì nhiêu, xóm làng đông đúc

Trải qua quá trình sinh sống, lao động, sản xuất, cư dân Thiệu Đô đã lập nên các làng cổ trên vùng đất (như làng Hồng, làng Cổ Đô, làng Trà Thượng…) là nơi tập trung các dòng họ lớn như họ Lê, …Trong lao động sáng tạo cũng như trong xây dựng bảo vệ Tổ quốc Người dân Thiệu Đô đã từng góp phần cùng cả nước, viết nên những trang sử vẻ vang, trong đó có nghề dệt nổi tiếng – dệt lụa Hồng Đô

Với điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, Thiệu Đô chắc chắn có đủ điều kiện

để phát triển thành một xã có nền kinh tế nông nghiệp toàn diện, trao đổi hàng hóa với các vùng miền trong tỉnh và giao lưu văn hóa…

Trong truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của nhân dân Thiệu Đô là cội nguồn sức mạnh để nhân dân tiếp bước trong các chặng đường lịch sử đồng hành cùng dân tộc, vượt qua những khó khăn, thử thách, thu được những thành tựu to lớn hơn nữa trong Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất

nước, quê hương, xứng danh là đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới và xã văn hóa nông thôn mới

Trang 29

CHƯƠNG 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 2.1 Đình chùa, miếu mạo ở Thiệu Đô

Cũng như những làng quê khác ở Việt Nam, ba làng ở xã Thiệu Đô đều

có ngôi đình để dân làng hội họp, có nghè thờ Thành hoàng, miếu thờ Khổng

Tử, có võ chỉ ghi võ công, phủ thờ Thánh Mẫu, riêng làng Chè còn có một ngôi chùa thờ Phật

2.1.1 Làng Vạc (làng Cổ Đô)

+ Đình làng ạc: Đình xưa có ba gian, cột to tay một vòng người ôm;

mỗi gian kê ba tảng đá lớn, một lá chiếu để các bô lão ngồi họp Vào những năm (1935 – 1936) các cụ cho xây thêm ba gian ngoài, để khi họp đông dân thì trải chiếu xuống sàn gạch ngồi, đồng thời xây thêm một ô vuông ở sân đình để bày đàn cùng tế kỳ yên, kỳ phúc…

+ Nghè làng Vạc: Xây dựng ở cuối làng, xung quanh có tường bao

bọc, có những cây đa, cây cành lá xum xuê, có cây to năm bảy người ôm Nghè xây hình chữ Tam (ba dãy nhà) có ba gian chính tẩm, gian giữa chính tẩm xây theo kiểu nhà sàn, hai bên để trống Trước là tiền đường năm gian rộng, gian giữa có hương án bằng đá đặt bên trong, với một khoảng rộng dùng

để tế lễ; hai gian bên gần với gian giữa là nơi để giá gươm, giá cờ, giá quạt, hạc thờ, ngựa thờ to và cao tới hai ba mét, có bát biểu, lộ bộ và có hai ông phổng bưng bát hương quỳ lậy dâng hương Hai gian bên (nhất và ngũ) có bệ gạch đăt hai cổ kiệu, một kiệu bà, một kiệu ông

Bên ngoài tiền đường là dãy nhà giải vũ năm gian, gian giữa để trống dùng cho khi tế lễ; bốn gian bên xây nối bốn bệ gạch, để các cụ bàn nhất, bàn nhì, bàn ba, bàn tư, cùng quan viên chức sắc ngồi chè, chén sau buổi tế thành hoàng Trước nghè là sân rộng có tường bao bọc, có rùa đá, cối đá để cắm tàn, lộng, cờ quạt và sinh hoạt tế lễ, chơi cờ tướng, vật cù, tế nữ quan Giáp sân gạch là cửa tam quan, (một cửa chính hai cửa phụ) trước cửa tam quan là một khoảng rộng trồng những cây cảnh như: vạn tuế, ngâu, mẫu đơn, có bậc bước

Trang 30

xuống ao nghè, còn gọi là ao vàng rộng khoảng 500m2 Trong chính tẩm đặt

ba long ngai bài vị ba thành hoàng là Cao Sơn, Linh Quang và Tô Đại Lưu; mỗi long ngai được khoác lên một áo vàng, một mũ Ba hòm sắc đặt trước long ngai, ở giữa đặt một bát gỗ sơn son thếp vàng chạm 99 con rồng, đặt ông

cù vào bát (bát cù còn gọi là bát hoãn, hiện để ở viện Bảo tàng lịch sử Hà Nội) Trên hương án ở giữa gian tiền đường có đặt bát hương hội đồng, đỉnh hương Phía trên cao nơi đặt long ngai, trong chính tẩm treo một bức hoành phi sơn son thếp vàng ghi duệ hiệu 3 vị thành hoàng

Hàng năm, làng tế thần vào ngày 7 tháng Giêng Âm lịch, ngày này là ngày đại lễ Riêng đêm 30 tháng Chạp lúc giao thừa trong làng có tới 95% gia đình có lễ lên nghè tế thần làng có bốn giáp Đông, Đoài, Nam, Bắc, ngày đại

lễ được tổ chức rất long trọng, có đại diện quan viên chức sắc làng Trổ Thượng (gọi là Chạ Trỗ) cũng có lễ vật đến tế thần

Ông Tiên chỉ làng làm chủ tế, có bồi tế, đông xướng, tây xướng, có văn

tế, dàn bát âm Làng có cái trốn rất to gọi là trống cù, mặt trống rộng bằng cái nong lớn; khi bắt đầu buổi tế thần, Tây xướng lên, câu: ”khởi chinh cổ” thì ba hồi chín tiếng trống vang lên, xa hàng chục cây số vẫn nghe được

Lễ vật tế thần không lớn lắm thường chỉ là mỗi giáp một con lợn luộc, một mâm xôi, mươi chai rượu trắng Tế thần xong, quan viên chức sắc cùng

bô lão uống rượu suông; mỗi người chỉ nhấm nháp từ một đến ba chén mắt trâu, và được chia phần mỗi người một nắm xôi và một miếng thịt luộc bằng ngón tay Còn tai, mắt, mũi, lưỡi lợn phải chia đều cho bốn cụ bàn nhất, thể hiện sự trọng lão

+ Phủ thờ: làng Vạc có phủ thờ thánh Mẫu đặt ở bên bờ sông Chu Phủ

có 2 tòa nhà núp dưới cành lá của những cây đá, cây đề

Tòa trong có bệ thờ đặt nhiều bát hương, tòa ngoài là nơi các thiện nam, tín nữ lễ bái, lên đồng, hát văn Bên ngoai có hai lầu nhỏ đặt bát hương

và đắp hình hai ông quan tướng (ông hổ) ngày lẽ và những ngày rằm, mùng

Trang 31

một hàng tháng các cô đồng, bà đồng thượng đồng, có cung văn đàn hát Lễ vật thường chỉ có oản, chuối, xôi gà, hương hoa Rằm tháng giêng có tế nữ quan ở cửa phủ

+ ăn miếu làng Vạc: Văn miếu thường gọi là nghè thảnh; nghè thờ

đức thánh Khổng Tử, xây dựng trên cánh đồng làng dựa vào cồn hương cống

Văn miếu có 7 bệ thờ lộ thiên rất đơn giản, trên bệ thờ có một bát hương bằng đá Trong 7 bệ thì bệ giữa cao hơn đặt bát hương lớn thờ đức Khổng Tử, còn những bệ khác thờ học trò của ngài Trước bệ thờ là một sân rộng lát gạch, dùng để làng văn tế lễ, còn ba gian nhà nhỏ ở cạnh đó, dùng làm nơi hội họp của văn làng Làng văn không đông lắm có khoảng dăm ba chục người, phần đông là chức sắc trong làng và những người nho học, ông

cử, ông Tú, nho sinh

Tế thánh mỗi năm hai kỳ vào ngày 12 tháng 3 và 12 tháng 8 Âm lịch

Tế thánh chỉ sử dụng trống cổ bản, bát âm, cũng có đông xướng, tây xướng,

có chủ tế, bồi tế, đọc chúc nhưng gọn nhẹ hơn tế thần, lễ vật là xôi oản chuối Thường khi đến kỳ thi, học trò ở làng đi thi, phải sắm lễ vật lên văn miếu để

lễ thánh, còn gọi là cáo miếu, cầu thánh phù hộ cho danh chiếm bảng vàng

Văn miếu còn là nơi hàng năm làng tổ chức khảo thí các học trò trong làng

+ Võ chỉ làng Vạc: Đầu làng có một hồ nước không rộng lắm, còn gọi

là hồ võ chỉ Giữa hồ là một cồn đất, mọc lên một cây đa to ba bốn người ôm không xuể Bên gốc đa có dựng một cái bia lớn, dưới bia đặt một bát hương bằng đá gọi là võ chỉ

Hàng năm xuân thu nhị kỳ các vị trong làng võ (làng võ gồm các ông lĩnh cựu trong làng) đến thắp hương tưởng niệm những người có công với dân với nước Võ chỉ làng Vạc thờ ba vị quận công thời Lê sơ là: Nguyễn Lâm, Nguyễn Quế, Nguyễn Hoa vì có công đánh đuổi giặc Vồ, vua Lê Hy Tông phong chức quận công

Trang 32

2.1.2 Làng Hồng (làng Mỹ Đô)

+ Đình làng Hồng: Đình xây ở giữa làng, có hai nhà năm gian gọi là

đình trong, đình ngoài cách nhau một sân rộng lát gạch Đình trong thờ thành

hoàng, đình ngoài là nơi hội họp

Đình trong ở gian chính giữa trên cao treo bức hoành phi sơn son thếp vàng, ghi duệ hiệu ba vị thành hoàng Cao Sơn đại vương, Linh Quang đại vương và Tô Đại Lưu Phía dưới, bên trong là một bàn đá đặt ba long ngai, ba bát hương thờ ba bị thành hoàng, bên ngoài là bàn thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng, đặt một bát hương lớn thờ hội đồng và là nơi để đồ lễ Bên ngoài bàn thờ là nơi cúng tế Hai bên (nhất và ngũ) để hai cỗ kiệu, kiệu ông, kiệu bà, ngoài ra trong đình còn có giá gươm, giá quạt, bát bửu, lô bộ Có ngựa hồng, ngựa bạch, hạc thờ to, cao hai ba thước

Sân đình nằm ở giữa rất rộng, là nơi cắm tàn quạt, cờ xí, nơi bày cờ người, cờ tướng, đánh đu tiên, bàn điếm, múa lân trong ngày lễ hội

+ Nghè làng Hồng: làng Hồng là một ngôi nghè trên đỉnh núi Go núp

dưới những cây đa, cây đề cành lá xum xuê Nghè thờ chung với làng Núi, làng Go, làng Họ (ba làng này thuộc xã Thiệu Châu), Thành hoàng của cả bốn làng là Cao Sơn Linh Quang và Tô Đại Lưu, nghè có hai dãy, dãy trong ba gian có bàn đá đặt ba long ngai, ba bát hương, có câu đối, hoành phi ghi duệ liệu của ba vị thành hoàng, trước bàn thờ có đôi hạc to cao, có giá gươm, giá

cờ quạt, có hai ông phỗng quỳ dâng hương Dãy ngoài ba gian là nơi dùng để

tế lễ, hội họp, ăn uống sau khi tế thần

Trang 33

Hồng tế thần vào ngày 1 tháng 4 gọi là Kỳ yên và ngày 10 tháng 5 gọi là Kỳ phúc Tế thánh vào tháng 3 tháng 8 Ngày lễ Kỳ yên, các nhà trong làng thi nhau làm cỗ hai tầng, ba tầng, lại có một số nhà mua gà to, khi luộc họ tạo dáng cho những con gà thành con công, con hạc đứng trên lưng con rùa rất đẹp Ngày lễ Kỳ phúc làng có lệ mổ trâu, mổ lợn cúng thần; và còn cúng cả dưa hấu Kỳ lễ này có đại diện của Chạ làng Rùn tham dự

Làng chia làm 6 phường gọi là: nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục Hàng năm, thường tế thần vào ngày 7 tháng Giêng gọi là phường ra ngõ, mỗi phường làm thịt một con lợn nấu cháo cho cả họ cùng ăn

Đến ngày 11 - 12 tháng Giêng, làng tổ chức rước kiệu xuống nghè Go

tế thần và vào lệ đua thuyền trên sông Chu với làng Núi, làng Go, làng Họ Việc tế thánh ở văn miếu làng Hồng cũng tổ chức như ở làng Vạc

2.1.3 Làng Chè (làng T à Thượng)

*Chùa Chè

Qua quá trình khảo sát thực tế tại địa phương, cùng với những lời kê của các cụ cao niên trong làng; đặc biệt là những dòng tự thuật của cụ Mai Văn Kế, sinh năm 1919 (đã mất- từng làm chú tiểu trong chùa) ghi chép vào

ngày 10/10/1975 có đoạn như sau: “ khi Pháp đô bộ trên (Ban mê thuật) xuống (Ninh Hòa) thầy trò chạy tản loạn tôi mới ngàn dặm đến khỉ tôi về đến quê hương thì mẹ tôi còn sống tôi định ở nhà sổng chết nhờ mẹ và nhờ cháu nhung vì những ý nói ấy chưa đạt được cho nên lòng tôi bối rối rồi tôi lại về chùa Như Lai tại làng Trà Thượng, xã Thải Bình nay đổi làng Trà Thượng xã Thiệu Đô huyện Thiệu Hóa ” Như vậy chùa có tên chữ là chùa Như Lai

Trong nhân dân nhiều người còn nhớ tên chùa thường gọi là “Như Lai Thiền Tự” Đồng thời, vì chùa - thuộc làng Chè nên chùa còn được gọi bằng tên Nôm là “Chùa Chè” [56; tr1]

Đến nay, trong ý niệm của nhân dân và bà con nhân dân địa phương cũng đều gọi bằng những cái tên quen thuộc là chùa Chè hay chùa Như Lai

Trang 34

+ S a đời ngôi chùa:

Chùa Chè có từ khi nào, hiện không ai còn nhớ và cũng không còn tài liệu nào ghi chép cụ thể Căn cứ vào những dòng tự thuật của ông Mai Văn

Kế “…năm 1961, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhân dân, cán bộ phá đình chùa làm kho của Hợp tác xã Còn 5 gian nhà tổ thì cánbộ và nhân dân cho vợ chồng tôi sửa chữa lại ở để theo với Hợp tác ” Như vậy, theo ghi chép của ông Mai Văn Kế, đình, chùa làng Chè bị phá vào năm 1961 Còn 5 gian nhà

Tổ của chùa được cải tạo lại để làm nhà ở cho gia đình ông Mai Văn Đô, sinh năm 1958 (con trai cụ Mai Văn Kế)

+ Vị tri và quy mô kiến trúc

Vị trí di tích: Lời kể cùa ông Mai Văn Đô, sinh năm 1958 (con trai của

ông Mai Văn Kế, xưa kia là chú tiểu của chùa Như Lai), thống nhất với ghi chép ngày 10-10-1975 của cha ông: Thửa đất hiện giờ gia đình ông đang ở (thửa số 710, tờ bản đồ số 10, bản địa chính xã Thiệu Đô) xưa kia là nhà tổ của chùa Chè Thông tin vê chùa Chính (Tam bảo) tại vị trí nào, đề nghị chính quyền địa phương phối hợp với các cơ quan chuyên môn tiến hành thám sát, xác định vị trí, quy mô kiến trúc một cách khoa học, chính xác và khách quan nhất trước khi thực hiện khôi phục lại ngôi chùa Bởi vì, xưa kia tại khu vực này không những có chùa mà còn có cả hệ thống di tích của làng gồm: Đình, đền thờ ngài Đinh Đàm

Hiện tại, một phân thửa đất số 739 có diện tích 36,9m x 2,687m = 992m2 là đất cùa kho 61 Trước kia kho 61 được sử dụng làm Nhà văn hóa thôn 2 Nhưng đến nay, theo quy hoạch nông thôn mới, Nhà văn hóa thôn 2

đã được xây dựng ờ vị trí khác, giành khu đất này để quy hoạch đất di tích

Tại vị trí kho 61 và những khu vực lân cận (hiện nay là đất dân ở) trước đây đã từng tồn tại một cụm di tích gồm có chùa Chè và Đền thờ ngài Đinh Đàm Căn cứ đơn đề nghị về việc xác định vị trí ngôi Chùa Chè tại khuôn viên kho 61 làng Trà Thượng, xã Thiệu Đô ngày 09 tháng 7 năm 2017,

Trang 35

vị trí các di tích này dưạ xác định cụ thể như sau: “Diện tích đất từ hè sau của kho 61 ra đến đường Quốc lộ 45 là đất đền; diện tích từ hè sau của kho 61 đến hết tường rào sau là đất chùa"

+ Quy mô kiến trúc:

Chùa Chè có hai dãy nhà: một dãy ngang, một dãy dọc sâu vào phía trong Dãy ngang 3 gian là mặt tiền, gian giữa dành cho thiện nam tín nữ Hai gian bên, gian phía phải ở bên trong xây một bệ thờ, đặt một pho tượng Phật, giữa gian treo một cái chuông lớn Gian phía trái ở bên trong cũng xây bệ thờ, đặt một pho tượng Phật Dãy dọc có hai tòa, gọi là chính tâm hay tòa Cửu Long

Tòa chính tẩm có Phật Bà Quan Âm ngồi trên bệ tòa sen, hai bên có hai tượng lớn là Phật ốc, Phật Di Lặc

Tòa hai phía bên trong là nơi bày hương án bát nhang, ở phía giữa nơi

sư ngồi tụng kinh, phía ngoài cùng là nơi bày cúng tế Ngoài nữa là nơi thiện nam, tín nữ ngồi lễ Phật tụng niệm

Bên phải chùa có một nhà tổ ba gian nhỏ nơi sư trụ trì ở, cũng là nơi sửa lễ cúng Phật

Bên trái chùa có hai nhà nhỏ gọi là nhà Vàng, nơi này thờ những người

“hữu danh vô thực, hữu thực vô danh” (những người không có người thờ) Trước chưa là một sân đất có cổng Tam quan, trên nóc cổng là gác chuông, treo một chuông cỡ nhỏ Trước cổng Tam quan trồng nhiều cây cảnh như mẫu đơn, hoa đại, dâm bụt, vạn tuế, đường vào chùa có một câv gạo to tới bốn người ôm

Nhà chùa có 3 mẫu ruộng, 8 sào vườn, hoa lợi hàng năm dùng để chi tiêu vào việc nuôi dưỡng tăng ni và sửa lễ cúng Phật Chùa có sư cụ và một sổ tăng ni, bà vãi trụ trì”

Như vậy, qua khảo sát của tác giả Tạ Quang, chùa Chè truớc đây có quy mô khá bề thế Chúng ta có thể tưởng tượng chùa gồm có những công trinh kiến trúc sau:

Trang 36

* Tam bảo:

- Tiền đường gồm ba gian: gian chính giữa dành cho các thiện nam, tín

nữ Bên trên treo một cái chuông lớn Hai gian bên đặt các pho tượng Phật

- Hậu cung: có hai tòa, “Tòa chính tâm có Phật Bà Quan Âm ngồi trên

bệ tòa sen, hai bên có hai tượnglớn là Phật ốc, Phật Di Lặc Tòa hai phía bên trong là nơi bày Hươngán bát nhang, ở phía giữa nơi sư ngồi tụng kinh, phía ngoài cũng là nơi bày đồ cúng tế Ngoài nữa là nơi thiện nam, tín nữ ngồi lễ Phật tụng niệm”

* Nhà Tổ được xây dựng bên phải chùa, có kiến trúc ba gian, đây là nơi

các sư trụ trì ở, cũng là nơi sửa lễ cúng Phật

- Nhà Vàng được xây bên trái chùa có hai nhà nhỏ, nơi này thờ những người “hữu danh vô thực, hữu thực vô danh " (những người không có người thờ)

- Sân chùa: là khoảng sân rộng Trước chùa là một sân đất

* Cổng Tam quan: Cổng Tam Quan, trên nóc cổng có gác chuông treo

một chuông cỡ nhỏ Trưức cổngTam quan trồng nhiều cây cảnh như mẫu đơn, hoa đại, dâm bụt, vạn tuế Đường vào chùa có một cây gạo to tới bốn người

ôm Ngoài ra nhà chùa có 3 mẫu ruộng, 8 sào vườn Hoa lợi hàng năm dùng để chi tiêu vào việc nuôi dưỡng tăng ni và sửa lễ cúng Phật Chùa có sư cụ và một

số tăng ni, bà vãi trụ trì

+ Những di vật hiện còn Hiện vật tại khuôn viên kho 61:

- 01 bia đá một mặt chữ: cao l,40m, rộng 86cm, dày 20cm

Tên bia: Hoàng triều Bảo Đại thập ngũ niên thập nhị nguyệt đông nhật

(Nghĩa là tấm bia được khắc vào mùa Đông, tháng 12 niên hiệu Bảo Đại năm thứ 12 (1937) Tuy nhiên, tấm bia này ghi chép danh sách những người cung

tiến ruộng đất và tiền bạc cho chùa Vĩnh Lưu (nội dung tấm bia không ghi xuất xứ ngôi chùa) Vì vậy, hiện tại chưa xác định được nguồn gôc của tấm bia và chùa có tên là Vĩnh Lưu là ngôi chùa nào?

Trang 37

- 01 bia (không còn chữ): cao lm, rộng 50cm, dày 10cm;

- 01 bia một mặt chữ: cao 93cm, rộng 71 cm, dày 15cm (Ghi chép công đúc);

- 01 bia (vỡ, mờ chữ ): cao 75cm, rộng 47cm, dày 1 lcm;

- 01 bia (không còn chữ): cao lm, rộng 60cm, dày 10cm;

- 01cột dá dài 2,3m, chu vi 75cm;

- 01 cột đá: dài 65cm, rộng 31 cm, dày 14cm;

- 01 cột đá (gãy): vuông 23cm, dài l,95m;

- 01 đá lan giai: dài l,90m, dày 14cm, rộng 27cm;

- 14 chân tàng: cao 10cm, cạnh vuông 28cm, mặt gương 20cm;

- 01 chân tảng: cạnh vuông 35cm, dày 5cm;

- 02 đế cẳm lộng: cao 23cm, đường kính 27cm;

- 01 bát hương đá (sứt miệng): cao 15cm, đường kính 21 cm;

- 01 bát hương đá: cao 20cm, đường kính 30cm;

- 01 đế bia (hình con rùa bị mất đầu, trang trí hoa sen ở mặt trước): cao 33cm, rộng 40cm, dài 45cm;

- 01 rồng thềm (sứt đầu): cao 51 cm, dài 71 cm, dày 12cm;

- 01 rồng thềm: cao 35cm, dài 45cm, dày 1 lcm;

- 01 khánh đá: cao 30cm, rộng 8cm, dày 5cm;

- 01 mâm bồng đá: cao 20cm, đường kính 15cm;

- 01 sập đá (sứt góc): cao lm, rộng 52cm, dày 10cm;

- 03 đá tảng dài 60cm, rộng 32cm, dày 10cm

2 Hiện vật lưu giữ tại gia đình ông Mai Văn Đô (con của Ông

Mai Văn Kế có thời gian là chú tiểu ở chùa) gồm:

- 01 tam sơn: dài l,6m, rộng 30cm, cao 35cm;

Trang 38

- 01 tượng gồ (đe hoa sen): cao 20cm, rộng 10cm;

- 01 bát hương gốm da lươn: cao 30cm, đường kính 36cm;

- 01 chuông gang: cao 7cm, đirờng kính 7cm

Như vậy, toàn bộ những hiện vật hiện đang lưu giữ tại kho 61 và tại các gia đình hiện nay không phải của riêng chùa Chè, mà là của tất của các di tích tâm linh cùa làng trước kia như Đình, Đền

Ngoài ra, tại khu nghĩa trang làng Trà Thượng có diện tích 20m2 gồm có: Lăng mộ cụ sư trụ trì chùa sư cụ Thích Trí Hội, ông Đặng Văn Bút, bà già vãi Lê Thị Xuân

+ Sinh hoạt văn hóa, t n ngưỡng tại chùa

Ngày mồng 10 tháng 2 Âm lịch hàng năm là ngày hội chùa Ngoài dân làng Chè, còn có các sư, tiểu, thiện nam, tín nữ, các hội chùa ở nhiều nơi về

dự hội rất đông Ngày lễ, sư cụ cầm cờ phướn, đi dạo quanh sân chùa tung hoa, tung tiền cho các thiện nam tín nữ, những người dự hội chùa nhặt coi như phước nhà Phật ban cho [36; tr135,136]

Hội chùa diễn ra ba bốn ngày, chùa thường mời trò múa rối, leo dây ở làng Rùn về diễn cho dân xem rất đông

Làng có tổ chức những người hội chùa gồm các bà già trong làng, cũng

có số cụ ông tham gia: Ngoài việc lễ Phật tụng niệm trong những ngày lễ, hội còn có trách nhiệm tu sửa chùa, nuôi dưỡng tăng ni Những người có chân trong tổ chức hội chùa, khi chết được nhà chùa phối hợp cùng gia đinh tổ chức lễ tang, trong lễ tang nhà chùa rước cành phướn, các già đội cầu tụng kinh đưa đến nơi an táng và còn rước hồn lên chùa quy y Phật

+ Nghè làng Chè: Làng Chè có nghè thờ thành hoàng ở giữa làng,

cũng có người gọi là đình thờ ông Đinh Đàm Nghè gồm 3 dãy, dãy trong có một gian gọi là cung đệ nhất (chính tẩm), có bàn thờ đặt long cung, trong long cung có tượng ông Đinh Đàm gọi là thành hoàng làng Cung đệ nhị có gác hai

Trang 39

đặt long cung và một bát hương lớn thờ ông thân sinh Đinh Đàm Bên dưới là bàn thờ đặt ba bát hương thờ ba bà vơ ông Đàm Cung đệ tam năm gian, gian giữa dùng để tế lễ, ngồi họp và hưởng lộc sau buổi tế thần; hai gian nhất và ngũ để hai cỗ kiệu Một kiệu bốn mái gọi là kiệu ông, đẹp nhất tổng Vận Quy, một kiệu long Bành tám đòn khiêng gọi là kiệu bà Trong nghè có ngựa hồng, ngưa bạch, có hạc thờ, bát bửu, lộ bộ và cũng có hai ông phỗng bưng bát hương [36; tr133, 134]

Hàng năm, làng tế thần vào ngày 9 – 10 tháng 5 Âm lịch Ngày này có đại diện chạ Văn Liễu đến dự Làng chia làm bốn giáp: Nhất, Nhị, Bình Khang, Phúc Truyền Mỗi giáp làm thịt một con lợn cúng thần và chia phần cho từng nhà

2.2 Nhà thờ họ Lê

Phong tục thờ cúng của người Việt luôn được coi trọng nhằm tỏ lòng biết ơn, hiếu kính của con cháu đối với tổ tiên đã góp phần giáo dục, đạo đức, nhân cách cho con cháu đời sau

Tổ tiên họ Lê xưa kia, cùng các dòng họ khác đã khai hoang, lập địa tạo nên vùng đất trù phú cận thị, cận giang phong cảnh hữu tình Dân cư chủ yếu nghề thuần nông và giao thương buôn bán Vùng đất này thuộc hữu ngạn sông Chu, theo thầy địa lý, nằm thế chân Vạc, gọi là làng Vạc hay làng “Cố Đô” thuộc xã Thiệu Đô ngày nay Xưa kia, mảnh đất này có nhiều di tích lịch sử, cha ông ta đã xây dựng nhiều đình, chùa, miếu mạo, nghè, phủ, nhà văn miếu; thờ thần hoàng làng, thờ các bậc khai quốc công thần

Họ Lê là họ lớn trong làng, qua nhiều đời sinh sống phát triển Họ Lê đã chia ra thành nhiều chi, nhiều nhánh như: Lê Văn, Lê Duy, Lê Hữu, Lê Thế…

Dòng họ Lê Mô (Lê Văn) có cách đây hơn 250 năm Theo phả đồ của dòng họ, dòng họ Lê Văn đến nay đã qua được 07 đời, luôn giữ truyền thống cần cù, siêng năng lao động, học tập và truyền thống đoàn kết có nền nếp gia phong, kỷ cương dòng họ, kính trên nhường dưới

Trang 40

Qua lời kể của bà Lê Thị Tâm, con gái thứ hai của Ông Lê Văn Thông chi trưởng dòng họ Ông chỉ có một người con trai là Lê Văn Tráng Ông Lê Văn Thông mất sớm, con trai trưởng Lê Văn Tráng đi bộ đội hy sinh năm

1970 Chính vì vậy, trong dòng họ không có ai đứng ra thờ tự Bà Lê Thị Tâm hàng năm vẫn thờ cúng nhưng chỉ thờ tại gia

Hiện nay, dòng họ Lê Văn đã không còn gia phả (hoặc có thể đã bị thất lạc) tư liệu viết về dòng họ chỉ qua lời kể của một số những cụ cao tuổi trong các chi của dòng họ kể lại Đến năm 2006, ông chú là Lê Minh Sơn, (nguyên

là Giám đốc Trung tâm Mỹ thuật, nghệ thuật Đài truyền hình Việt Nam) đã cùng với dòng họ xây dựng lại Từ đường

Về kiến trúc của Từ đường: Gồm 1 gian 2 chái, kiến trúc theo hình chữ Nhất (-), cổng được dựng trên 4 trụ, hai cột giữa cách nhau khoảng 2m tạo thành lối vào đồng thời đỡ phần mái cong được lợp ngói có lưỡng long chầu nhật Hai bên cột xây theo hình cột nanh, đỉnh cột có hai con nghê Ngôi nhà được đặt trong một khuôn viên có tường rào bao quanh

* Cổng và câu đối trước cổng:

- Trước cổng đôi kỳ lân trấn ngọc được đặt lâu năm tại chùa Thuyền Quang, Hà Nội Nay chùa tôn tạo được sự đồng ý của nhà chùa cùng tăng ny Phật tử cho chuyển đôi kỳ lân trấn ngọc về tại từ đường họ Lê

- Hai đôi câu đối:

Bộ thứ nhất:

“Đức Ấm Nhĩ Tôn Bách Thế Vinh Đức Thừa Tiên Tổ Thiên Niên Thịnh”

Ngày đăng: 17/07/2023, 23:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2006), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2006
2. Đào Duy Anh (2010), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2010
3. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2015), “Lịch sử Đảng bộ huyện Thiệu Đô 1953-2015”, Thanh Hóa, Nxb Thanh Hóa, Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Thiệu Đô 1953-2015
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2015
4. Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2000), Tên làng xã Thanh Hóa, tập 1, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2000
5. Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2005), Danh nhân Thanh Hóa, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Thanh Hóa
Tác giả: Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2005
6. Ban quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hóa (2004), Thanh Hóa di tích danh thắng, tập 3, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hóa di tích danh thắng
Tác giả: Ban quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2004
7. Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa, Nghề thủ công truyền thống Thanh Hóa (2009), tập 4, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ công truyền thống Thanh Hóa
Tác giả: Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2009
8. Cục di sản Văn hóa (2018), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa VIII, Nxb. Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa VIII
Tác giả: Cục di sản Văn hóa
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2018
9. Phan Đại Doãn (2010), Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế văn hóa xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam một số vấn đề kinh tế văn hóa xã hội
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
10. Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (Chủ Biên) (1994), Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
11. Bùi Xuân Đính (1985), Lệ làng phép nước, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lệ làng phép nước
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1985
12. Bùi Xuân Đính (1998), Hương ước và quản lý làng xã, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước và quản lý làng xã
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
13. Lê Qúy Đôn (1960), Tang thương ngẫu lục, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tang thương ngẫu lục
Tác giả: Lê Qúy Đôn
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1960
14. Lê Qúy Đôn (1978) (Tập 2), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt thông sử
Tác giả: Lê Qúy Đôn
Nhà XB: Nxb Khoa học và Xã hội
Năm: 1978
15. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tỉnh hội Phật giáo Thanh Hoá (2009), Chùa xứ Thanh, tập 1, Nxb Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa xứ Thanh
Tác giả: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tỉnh hội Phật giáo Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2009
16. Hoàng Quốc Hải (2001), Văn hóa phong tục, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phong tục
Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
17. Lê Như Hoa (2003), Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại, Nxb Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
18. Hội văn nghệ dân gian Việt Nam (1997), “Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ
Tác giả: Hội văn nghệ dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
19. Hội đồng họ Lê tỉnh Thanh Hóa (2007) (Tập 1), Danh nhân họ Lê Thanh Hóa, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân họ Lê Thanh Hóa
Tác giả: Hội đồng họ Lê tỉnh Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
20. Hội văn nghệ dân gian Việt Nam (1997), Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Trung Kỳ (kỷ yếu hội thảo), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Trung Kỳ (kỷ yếu hội thảo)
Tác giả: Hội văn nghệ dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w