1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh lớp từ hán hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán việt trong tiếng việt

219 77 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh lớp từ Hán – Hàn trong tiếng Hàn và lớp từ Hán – Việt trong tiếng Việt
Tác giả Cho Myeong Sook
Người hướng dẫn PGS.T.S. Đinh Lẫ Thư, T.S. Trần Xuân Ngọc Lan
Trường học Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh
Thể loại Luận án tiến sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 2,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phụ lục có dấu và < +> ở trước âm tiết hoặc âm Hán -Hàn 1 là biểu thị những từ trật tự ngược lại giữa từ Hán – Hàn với Hán - Việt 2 là biểu thị cách phát âm biến đổi âm khác tro

Trang 2

T.S TRẦN XUÂN NGỌC LAN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- 2003 -

Trang 3

1 Trong luận án này, chúng tôi sẽ dùng 4 hệ thống phiên âm :

1 phiên âm theo chữ viết Hàn ; 2 phiên âm theo chữ viết Việt ; 3 phiên âm theo bằng phiên âm quốc tế ; 4 phiên âm theo quy định của luận án

2 Hiện nay, nhiều người sử dụng phiên âm quốc tế để ghi âm tiếng Hàn mà nhiều trường hợp không phù hợp với thực tế phát âm; cách xa với cách phát âm đúng Vì thế, đối với tiếng Hàn chúng tôi sẽ chấp nhận bảng phiên âm tiếng Hàn bằng chữ La Mã theo” Quy định của Viện nghiên cứu quốc ngữ quốc gia (năm 2000)” của Hàn Quốc, chứ không theo ký hiệu phiên âm quốc tế, nhưng chỉ có hai âm <어, 으> không theo quy định của <Viện nghiên cứu quốc ngữ quốc gia> để học viên Việt Nam dễ đọc hai âm này, chúng tôi xử lý đặc biệt theo quy ước riêng như <[ ]어, eo Ỉ ŏ >, <[ ]으, eu Ỉ ŭ >

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy hệ thống ngữ âm của hai lớp từ Hán – Hàn và Hán – Việt gần gũi nhau, chỉ có một số âm vị khác thôi

Do đó chúng tôi không chọn phiên âm quốc tế mà cố gắng tìm dùng những âm có cách phát âm gần giống giữa hai ngôn ngữ để tiện lợi cho việc đọc, nếu cần giải thích thì chúng tôi sẽ chú thêm âm quốc tế

Bảng phiên âm dưới đây chúng tôi đã sử dụng vào năm 1997 trong một công trình nghiên cứu khác của chúng tôi, Bảng này đã có sửa chữa và bổ sung cho phù hợp với những kết quả nghiên cứu mới nhất

Trang 4

Nguyên âm Phụï âm

C.H I.P.A C.V P.A C.H I.P.A C.V P.A

C.H : chữ viết Hàn I.P.A.: phiên âm quốc tế C.V : thể hiện bằng chữ viết Việt

P.A : phiên âm quy định trong luận án này

1) con chữ<ㅏ(1),ㅓ(2),ㅣ(6)>có âm dài âm ngắn nhưng chỉ cảm nhận trong ngữ điệu,

trong tiếng Việt khu biệt rõ âm dài âm ngắn bằng con chữ

2) <ㅘ(18)> giống như phiên âm <oa> của cách phát âm miền Nam [wa]

Trang 5

5) <kh có(10)> là viết tắt của <không có>

6) chú ý phát âm <ㅍ(13)> là âm môi-môi, không phải là âm môi răng như [f] tiếng Việt

3 Trong phụ lục có dấu <*> và < +> ở trước âm tiết hoặc âm Hán -Hàn 1) <dấu +> là biểu thị những từ trật tự ngược lại giữa từ Hán – Hàn với Hán - Việt

2) <dấu *> là biểu thị cách phát âm biến đổi âm khác trong một âm tiết nhưng chữ cái không đổi để dễ so sánh ngữ âm của hai lớp từ Hán – Hàn và Hán – Việt Thực tế, có những từ tiếng Hàn sai biệt giữa chính tả với cách phát âm, nhưng chúng tôi ghi âm của những từ trường hợp này theo chính tả chỉ đánh dấu trước phụ âm đầu và cuối

a trường hợp như âm đầu < ㄱ[g-],ㄷ-[d-],ㅂ-[b-],ㅅ-[s-], ㅈ[j]> xuất hiện ở sau âm cuối <-ㄱ[-k], -ㄹ[-l], -ㅂ[-p]> trong một âm tiết thứ hai hoặc thứ 3 trong từ thì được đọc cứng như phụ âm kép <ㄲ-[kk], ㄸ-[tt], ㅃ-[pp], ㅆ-[ss], ㅉ[jj]>

b.<dấu *> ở trước phụ âm <ㄹ[l-]> là biểu thị phụ âm <ㄹ-[l-]> âm

<ㄴ[n]> hóa Sự đồng hóa phụ âm trong ngữ pháp tiếng Hàn(子音同化)

c <dấu *> ở trước phụ âm <ㄴ-[n-]> là biểu thị phụ âm <ㄴ[/n-]> âm

<ㄹ-[l]> hóa (子音同化)

Trang 6

Khi một người giao tiếp với một người khác, với một xã hội khác, với một nền văn hóa khác, thì tự nhiên nảy sinh ý muốn so sánh những sự vật hiện diện trước mắt, đó là một hiện tượng hết sức tự nhiên Sự so sánh đó của con người cho phép phát hiện ra những cái mới về mặt văn hóa, lịch sử, tư tưởng và từ đó dần dần phát triển đi sâu hơn về tư tưởng, văn hóa cũng như ngôn ngữ …

Riêng tôi có cơ hội học tiếng Việt vào năm 1993 rồi ngẫu nhiên gặp

quyển “Hán – Việt từ điển “ Từ đó, tôi càng yêu thích học tiếng Việt và

quan tâm so sánh cách phát âm của những chữ Hán cùng tìm thấy trong hai thứ tiếng Trong từ điển đó, có nhiều từ sử dụng chữ Hán và từ Hán -Việt giống hiện tượng trong từ Hán - Hàn, những từ Hán -Việt có điểm giống về phương diện phát âm và phương diện ý nghĩa với từ Hán -Hàn

Trong quá trình vừa dạy tiếng Hàn vừa học tiếng Việt, tôi đã giúp chồng tôi dạy tiếng Hàn ở khoa Đông Phương học ĐHKHXH & NV TP HCM từ năm 1994 đến năm 1998 Trong khi hiệp lực với khoa để phát triển ngành Hàn Quốc học, tôi dần dần hiểu biết một số đặc điểm của tiếng Việt và phát hiện giữa tiếng Việt với tiếng Hàn có một số điểm tương đồng về mặt ngôn ngữ, cũng như về mặt văn hóa, lịch sử v.v… Tôi đã bước đầu rút ra một số quy tắc tương ứng giữa từ Hán – Hàn với từ Hán – Việt, rồi tôi thử dạy cho sinh viên ngành Hàn Quốc học về cách đọc từ Hán – Hàn trong một học kỳ Có hai lý do khiến tôi làm việc này, một là, để làm cho sinh viên nhận biết từ Hán – Hàn quan trọng, nếu các sinh viên muốn nghiên cứu sâu về tiếng Hàn hoặc những lĩnh vực quan hệ với Hàn Quốc thì cần hiểu từ Hán – Hàn và cách phát âm chữ Hán ở Hàn Quốc, thứ hai là, để đưa ra một số quy tắc cho sinh viên, nếu sinh viên hiểu một số quy tắc phát âm giữa hai lớp từ Hán – Hàn và từ Hán – Việt thì sinh viên dễ thuộc từ vựng Hán - Hàn, dễ đọc các thư tịch nghiên cứu khoa học bằng tiếng Hàn vì những sách khoa học sử

Trang 7

của Hán – Hàn có diện mạo tương đồng với từ Hán – Việt

Luận án này có thể nói là một đứa con tinh thần của gia đình chúng tôi khi sống ở Việt Nam khoảng năm năm và cũng là kết quả của ngành Hàn Quốc học ở trường ĐHKHXH& NV tại Việt Nam Tôi hy vọng rằng, luận án này mang lại lợi ích cho học viên Việt Nam lần đầu tiên học tiếng Hàn, giúp họ dễ hiểu và dễ nắm bắt từ vựng từ Hán – Hàn trong tiếng Hàn, cũng giúp cho học viên Hàn Quốc học tiếng Việt

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã giảng dạy và giúp cho tôi tiếp tục nghiên cứu trong hoàn cảnh không ít khó khăn Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô Đinh Lê Thư và cô Trần Xuân Ngọc Lan đã hướng dẫn hết lòng để tôi thực hiện luận án này và các thầy cô phòng đào tạo sau đại học

Cuối cùng tôi xin cảm ơn chồng tôi Anh Doo Hwan đã khích lệ, trợ lực cho tôi học tập đến nay và hai con trai Anh Jae Seok và Ahn Jae Heon đã hiểu biết hoàn cảnh của mẹ, cho mẹ thêm lực

CHO MYEONG SOOK

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

QUY UùỚC TRONG LUẬN ÁN NÀY trang

DẪN NHẬP

Ⅱ Đối tượng phạm vi nghiên cứu 7

Ⅳ Lịch sử nghiên cứu 15

CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH TIẾP XÚC GIỮA TIẾNG HÁN

VỚI TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT

Ⅱ Hoàn cảnh tiếp xúc giữa tiếng Hàn và tiếng Hán 31

Ⅲ Hoàn cảnh tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán 37

CHƯƠNG 2: SO SÁNH LỚP TỪ HÁN - HÀN VÀ TỪ HÁN -VIỆT

VỀ MẶT NGỮ ÂM

Trang 9

1.Nhận xét chung 44

2.Ngữ âm tiếng Việt và từ Hán - Việt 46

2 Ngữ âm tiếng Hán và từ Hán - Hàn 60 Ⅲ So sánh ngữ âm từ Hán - Hàn và từ Hán -Việt 75

1 So sánh phụ âm đầu giữa từ Hán - Hàn với từ Hán -Việt 75

2 So sánh nguyên âm giữa từ Hán - Hàn với từ Hán -Việt 96

3 So sánh phụ âm cuối giữa từ Hán - Hàn với từ Hán -Việt 107

4 So sánh thanh điệu giữa từ Hán - Hàn với từ Hán -Việt 110

5 Tiểu kết; quy tắc tương ứng ngữ âm giữa từ Hán - Hàn 112

với từ Hán - Việt

CHƯƠNG 3: SO SÁNH LỚP TỪ HÁN - HÀN VÀ TỪ HÁN - VIỆT

VỀ MẶT CẤU TẠO TỪ

Ⅰ Từ và cấu tạo của từ Hán - Việt 115

2 Từ đơn Hán - Việt 118

3.2 Từ láy Hán - Việt 122 3.3 Từ rút gọn Hán - Việt 124

Ⅱ Từ và cấu tạo của từ Hán - Hàn 125

Trang 10

2 Từ đơn Hán - Hàn 130

3 Từ phức Hán - Hàn 133 3.1.Từ hợp thành Hán - Hàn 134 3.2 Từ phái sinh Hán - Hàn 137

3.3 Từ láy Hán - Hàn 147 3.4.Từ rút gọn Hán - Hàn 148

Ⅲ So sánh cấu tạo từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt 150

1 So sánh từ đơn Hán - Hàn với từ đơn Hán - Việt 151

2 So sánh từ ghép Hán - Hàn với từ ghép Hán - Việt 156

3 So sánh từ láy Hán - Hàn với từ láy Hán -Việt 159

4 So sánh từ rút gọn Hán - Hàn với từ rúy gọn Hán - Việt 160

5 Tiểu kết; Bảng so sánh phát âm các âm tiết Hán- Hàn

và âm tiết Hán – Việt 161

Trang 11

DẪN NHẬP

Ⅰ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Theo phân loại của ngôn ngữ học loại hình, tiếng Hàn là tiếng chắp dính (agglutinative language), tiếng Việt là tiếng đơn lập (isolating language), nên thoạt không tìm thấy điểm tương đồng về cơ cấu ngữ pháp

Nhưng qua quá trình nghiên cứu từ Hán - Hàn và từ Hán -Việt, chúng tôi cảm thấy hai ngôn ngữ này gần gũi hơn, việc phát hiện được những điểm tương đồng giữa hai ngôn ngữ, khiến cho ta dễ tiếp cận các lĩnh vực khác như văn hóa, lịch sử … của hai nước Hàn Quốc và Việt Nam

Nhìn về mặt lịch sử, tiếng Hàn và tiếng Việt, chúng ta thấy, quá trình tiếp xúc với tiếng Hán và hoàn cảnh du nhập tiếng Hán vào tiếng Hàn và tiếng Việt cũng giống nhau, hai nước đều gọi tiếng mẹ đẻ của mình là “ Quốc ngữ 國語”, và cũng dùng thuật ngữ “Ngữ văn 語文” Trong quá trình tìm nguồn gốc của cách phát âm từ gốc Hán trong tiếng Hàn và tiếng Việt, (khoảng 5200 từ của phụ lục trong luận án), chúng tôi đã phát hiện những sự tương ứng nhất định giữa từ Hán - Việt với Hán- Hàn Việc phát hiện những sự tương ứng nhất định ngữ âm giữa từ Hán - Việt với từ Hán - Hàn này thôi thúc chúng tôi quan tâm nhiều hơn đến đề tài này Đó là một lý do khiến chúng tôi đi sâu nghiên cứu so sánh từ Hán -Việt trong tiếng Việt và từ Hán -Hàn trong tiếng Hàn Nếu người Hàn hiểu một số quy tắc về cách phát âm từ Hán -Việt thì cũng có thể dễ thuộc từ vựng Hán - Việt, rồi từ đó hiểu được những từ Hán -Việt Việt hóa vì quá trình Việt hóa diễn ra cũng theo một số quy tắc nhất quán Đồng thời, nếu người Việt hiểu một số quy tắc tương ứng con chữ của ngữ âm giữa từ Hán - Việt với từ Hán - Hàn thì cũng có lợi cho việc học tập từ vựng tiếng Hàn

Trang 12

Nhiều học giả đã nhất trí rằng: tuy thời gian du nhập tiếng Hán vào tiếng Hàn và tiếng Việt nhưng chủ yếu đều là du nhập từ tiếng Hán trung cổ, tức là vào giai đoạn Tuy - Đường - Tống Do đó việc nghiên cứu so sánh từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt không thể không tìm hiểu nghienâ cứu đối chiếu với tiếng Hán ở giai đoạn đặc biệt này Việc làm này còn có thể đưa lại những lợi ích cho người học tập tiếng Hàn và tiếng Việt, cũng như đưa đến những lợi ích ở lĩnh vực Đông phương học thế giới

Khi chúng tôi học tập tiếng nước ngoài, chúng tôi nhận thấy nếu mình vận dụng tốt từ vựng của tiếng mẹ đẻ thì cũng dễ hiểu biết tiếng khác, vì vậy nắm chắc từ vựng rất quan trọng khi học một ngôn ngữ khác

Hiện nay, từ Hán - Việt và từ Hán - Hàn có ảnh hưởng rất lớn trong sinh hoạt ngôn ngữ của hai nước Hàn Quốc và Việt Nam, và chiếm tỷ lệ rất lớn trong vốn từ vựng chung Vì vậy, các nhà ngôn ngữ học cần quan tâm nhiều đến vấn đề này, nhưng trước thế kỷ 20, việc nghiên cứu từ Hán - Hàn vẫn chưa được quan tâm nhiều Mãi đến nửa cuối thế kỷ 20 mới bắt đầu nghiên cứu về từ Hán - Việt và từ Hán - Hàn

Tại Hàn Quốc, sau năm 1894(甲午改革), có một phong trào yêu nước kêu gọi sử dụng từ thuần Hàn, do đó cống bố sử dụng từ thuần Hàn không viết bằng chữ Hàn thay cho từ Hán - Hàn, thường là chữ Hán khó viết đọc ; từ đó dần dần sách vở đều ghi chép bằng từ Hán - Hàn hoặc giải thích bằng từ thuần Hàn, không có chữ Hán trong sách giáo khoa tiểu học, trung học Mặc dù chữ Hán sử dụng giảm hơn nhưng chữ Hán vẫn được sử dụng và từ Hán - Hàn cùng vẫn không giảm trong sinh hoạt ngôn ngữ của người Hàn Thực tế, những yếu tố từ Hán - Hàn vẫn đang tiếp tục sinh sản những từ mới

Trang 13

Ở Phương Tây, người Châu Âu học chữ La tinh để giải thích nguồn gốc từ ngữ tiếng mình, họ gọi tiếng La tinh là tiếng La tinh thôi, không phải gọi tiếng một quốc gia, một địa phương

Còn nhiều dân tộc ở phương Đông đã sử dụng chữ Hán trong thời quá khứ, cũng coi trọng chữ Hán giống như người Châu Âu quan tâm về chữ La tinh vậy

Do đó, cần khu biệt giữa chữ Hán, tiếng Hán cổ với tiếng Trung Quốc hiện đại Hơn nữa, việc tạo ra từ Hán -Hàn và Hán -Việt là một sản phẩm văn hóa mang bản sắc tự chủ của hai nước Hàn Quốc và Việt Nam

Trong lịch sử tiếng Hán, cách phát âm của các từ Hán cũng biến đổi theo thời đại Và thực sự, chữ Hán đã có nhiều cách phát âm Thiết vận, Đường vận, Quảng vận, Tập vận v.v… theo thời đại và hiện nay trong nội bộ tiếng Trung Quốc cũng vẫn tồn tại nhiều cách phát âm chữ Hán của nhiều vùng phương ngữ Từ quan điểm trên mà xét thì việc nghiên cứu từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt đương nhiên là một vấn đề phải được giới nghiên cứu ngôn ngữ học của hai nước quan tâm, việc sử dụng từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt và việc nghiên cứu về hai lớp từ này không phải là thiếu tinh thần yêu nước

Luận án này nhằm giúp cho các bạn thấy rõ hơn những đặc điểm quan trọng của từ Hán - Việt và từ Hán - Hàn trong hai thứ tiếng Hàn và tiếngViệt

Trong công trình này, chúng tôi tiến hành so sánh và nghiên cứu từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt, chúng tôi cố gắng tìm ra những đặc điểm tương đồng và khác biệt để giúp cho việc học hai thứ ngôn ngữ này dễ dàng hơn

Trang 14

Ⅱ ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Việc nghiên cứu so sánh ngôn ngữ trên thực tế đã có từ lâu, có thể đi ngược lên đến Hy Lạp cổ đại

Từ đó đến nay, đối tượng và phạm vi của ngôn ngữ học so sánh đã dần dần biến đổi, và những thuật ngữ ngôn ngữ học so sánh cũng thay đổi theo

Thoạt đầu ngôn ngữ học so sánh chỉ nghiên cứu các ngôn ngữ có quan hệ họ hàng thân thuộc mục đích là tìm ra cấu trúc của ngôn ngữ mẹ thông qua những quy tắc tương ứng của hai hay nhiều ngôn ngữ Do đó, đối tượng nghiên cứu phải có quan hệ họ hàng với nhau thì mới nghiên cứu so sánh được

Như vậy nghiên cứu so sánh tiếng Hàn và tiếng Việt là hai ngôn ngữ không có quan hệ họ hàng làm sao có thể sử dụng phương pháp so sánh trước đây ? Nhưng sau chiến tranh thế giới, các nước trên thế giới xích gần lại với nhau trong thời gian và không gian, làm nảy nở sự quan tâm cực lớn đối với tính đa dạng của tiếng nước ngoài Chính nhờ khuynh hướng mới này, mà phương pháp

so sánh ngôn ngữ trước đây bây giờ có thể quan tâm so sánh đối chiếu nhiều ngôn ngữ không có quan hệ họ hàng thân thuộc, làm cho phương pháp so sánh đối chiếu dần dần rộng rãi hơn, quan tâm nghiên cứu đến cả sự khác biệt của xã hội và văn hóa trong việc sử dụng ngôn ngữ

Luận án này so sánh giữa từ Hán-Hàn trong tiếng Hàn với từ Hán -Việt trong tiếng Việt Nhưng trước khi đi vào nghiên cứu so sánh, chúng tôi thấy cần phải định nghĩa khái niệm từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt Về định nghĩa từ Hán – Hàn (bằng tiếng Hàn được gọi 한국한자어 ([han quk han ja ŏ] 韓國漢子語 ) và định nghĩa từ Hán - Việt, giữa các học giả có một số ý kiến khác nhau, tuy không lớn lắm Trong những tài liệu nghiên cứu từ Hán - Hàn, khái niệm từ Hán

Trang 15

- Hàn được các tác giả mô tả khác nhau một phần nhỏ về phạm vi và nội dung của khái niệm Tuy nhiên sự khác nhau này là đại đồng tiểu dị Do đó, chúng tôi thấy không cần liệt kê những ý kiến của các học giả ở đây, mà tập hợp những ý kiến đó lại như sau:

“Từ Hán - Hàn hiện đại là những từ thuộc từ vựng tiếng Hàn được viết bằng chữ Hán đồng thời chữ Hán đó được đọc thống nhất với cách phát âm Hán - Hàn hiện đại mà không quan tâm nguồn gốc xuất phát từ đâu” Chẳng hạn một từ Hán - Hàn tên nước 한국 (韓國); chữ 한국 đựơc phát âm theo cách phát âm Hán

- Hàn, chữ 한국 được viết thay cho chữ Hán Do đó, chữ 한국 thuộc từ Hán - Hàn Lấy thêm một ví dụ tên sách tiếng Hàn để hiểu rõ hơn : ví dụ, tên một quyển sách là 言語와 文化 (ngôn ngữ và văn hóa), người Hàn thường đọc tên này là 언어와 문화 [ ŏn ŏ wa mun hwa], theo cách phát âm từ Hán - Hàn, chứ không phải đọc theo tiếng Trung Quốc, vì hệ thống phụ âm và nguyên âm của từ Hán - Hàn đã nhập vào trong hệ thống ngữ âm tiếng Hàn Nói một cách đơn giản thì từ Hán - Hàn thường được giải thích rằng đó là những từ đọc theo cách phát âm chữ Hán ở Hàn Quốc hay những từ đọc theo cách phát âm Hán - Hàn Về định nghĩa từ Hán - Việt (bằng tiếng Hàn được gọi 월남한자어 [wol nam han ja ŏ]越南漢子語 hoặc 베트남 (Việt Nam) 漢子語 [be tu nam han ja ŏ]), chúng tôi tham khảo khái niệm cách đọc Hán - Việt của tác giả Nguyễn Tài Cẩn

(tr 15, 16) trong sách Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán – Việt

Tác giả nói rằng cách đọc Hán - Việt là cách đọc chữ Hán ở Việt Nam, theo lối đọc riêng của người Việt Đó là một sản phẩm của việc tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán Ngay ở Việt Nam những chữ Hán vừa có cách đọc

Trang 16

Hán Việt vừa có cách đọc Cổ Hán Việt, có chữ Hán vừa có cách đọc Hán Việt

vừa có cách đọc Hán Việt Việt hóa Theo lối đọc riêng của người Việt mà những

chữ này vừa có cách đọc Hán Việt vừa có cách đọc Cổ Hán Việt, vừa có cách đọc Hán Việt Việt hóa

Nhưng trong luận án này, đối tượng nghiên cứu so sánh của chúng tôi là từ Hán -Việt, chứ không phải là từ Hán Hàn cổ và từ Hán Việt Việt hóa

Tác giả Nguyễn Tài Cẩn đề cập đến yếu tố Hán -Việt và phân biệt rõ, đó là chữ có cách đọc Hán -Việt và thường có cần tạo là âm tiết, và thường âm tiết này có tính độc lập, vừa là tiếng, vừa là từ đơn như <tuyết, học>, có trường hợp âm tiết không độc lập, chỉ là tiếng mà không phải là từ như < quốc, gia> Các yếu tố Hán -Việt không độc lập có thể kết hợp thành những từ đa tiết Do đó, theo tác giả Nguyễn Tài Cẩn, từ Hán -Việt phải thỏa mãn đuợc hai điều kiện: Một: phải là từ (một âm tiết, hai âm tiết, ba âm tiết, bốn âm tiết…>, Hai: phải là có liên quan đến cách đọc Hán Việt

Đêå dễ hiểu hơn khái niệm từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt, chúng tôi xin dẫn thêm một ý kiến khác tham khảo của Nguyễn Tài Cẩn (tr.13) Theo ông thì một chữ Hán có thể có hai hay ba cách phát âm

Ví dụ: 肝 có hai cách phát âm <can, gan>, 近 cũng có hai cách phát âm <cận, gần>

Trong đó, âm <gan, gần> có tính độc lập và được dùng một từ đơn lập trong tiếng Việt nhưng âm < can, cận> là âm theo cách phát âm Hán - Việt tuy nhiên hai âm này có thể chỉ được coi là yếu tố Hán - Việt vì không có tính độc lập Ví dụ : âm Hán - Việt < can và cận> chỉ là một âm tiết, mà không phải là một từ đơn Hán - Việt, âm <gan, gần> là âm theo cách phát âm Hán Việt Việt hóa, có tính độc lập trong tiếng Việt

Trang 17

Trong tiếng Hàn, 肝 và 近 chỉ có một cách phát âm thôi; 肝 có cách phát âm 간[gan] và 近 có cách phát âm 근[gŭn] 肝간[gan] thường trở thành yếu tố Hán

- Hàn hoặc là từ đơn vì 肝간[gan] có tính độc lập trong tiếng Hàn tức là một từ đơn nhưng 近근[gŭn] là một yếu tố Hán - Hàn, không có tính độc lập trong tiếng Hàn

Khi so sánh giữa từ Hán - Hàn với từ Hán - Việt, từ Hán Việt cổ hoặc từ Hán Việt Việt hóa, chúng tôi đã phát hiện được những quy tắc tương ứng cách phát âm của các lớp từ này Nhưng luận án này, trước tiên so sánh từ Hán - Hàn với từ Hán - Việt, sau này nếu có cơ hội thì sẽ so sánh tiếp từ Hán - Hàn với các lớp từ Hán Việt cổ và Hán Việt Việt hóa

Hai khái niệm từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt có điểm giống nhau về mặt cách phát âm chữ Hán (tức xuất phát từ một gốc), nhưng có điểm khác: về khu vực và theo lối riêng của người Hàn hay người Việt

Trong từ vựng Hán - Hàn và từ vựng Hán - Việt, có thể thấy được chữ Hán như là một <code> chung xa xưa của người Hàn và người Việt, họ đều đã biết để dễ tìm

ra nguồn gốc của cách phát âm hai thứ tiếng Từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt có thể nói đó là kết quả có được thông qua bộ lọc của hệ thống ngữ âm tiếng Hàn và tiếng Việt

Tiếng Hàn và tiếng Việt tuy không có quan hệ họ hàng theo ngôn ngữ học lịch sử, nhưng xem xét về phạm trù từ Hán - Hàn và từ Hán -Việt, thì hai lớp từ này có thể gặp nhau ở một thời điểm nào đó Luận án này hạn chế về thời gian và không gian, có nghĩa là chúng tôi không nghiên cứu so sánh hoàn chỉnh về hoàn cảnh lịch sử sinh sản của hai lớp từ này mà chỉ đề cập đến nguồn gốc trong một chừng mực nhất định để phân tích được đơn giản và so sánh có hiệu quả hơn

Trang 18

Luận án này sẽ nhận xét về những nguyên nhân tiếp xúc giữa hai thứ tiếng với chữ Hán, cách phát âm chữ Hán của hai thứ tiếng và chúng tôi chủ yếu xem xét một số nguồn gốc căn bản, cấu tạo từ của từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt, cách phát âm chữ Hán thế nào ở Hàn Quốc và ở Việt Nam, tức là chúng tôi cần nhận xét vừa lịch đại vừa đồng đại

Ⅲ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ngôn ngữ học so sánh là một bộ môn của ngôn ngữ học Sau thế chiến thứ nhất, người ta nhận thấy có nhu cầu về việc nghiên cứu so sánh các ngôn ngữ cùng loại hình và khác loại hình, các ngôn ngữ trong khu vực, nghiên cứu các phương tiện giao tiếp, thuộc các nền văn hóa khác nhau Do đó phương pháp này càng ngày càng phát triển rộng rãi về phạm vi, đối tượng và phương pháp so sánh cũng dần dần đa dạng hóa

Trong thế kỷ 18, 19, việc nghiên cứu so sánh ngôn ngữ đạt được những thành tựu ở đỉnh cao với những tên tuổi như R C Rask (1787 – 1832), F Bopp (1791-1867), Grimm (1785-1863)

Vào thế kỷ 20, phương pháp so sánh ngôn ngữ đã phát triển hết sức đa dạng, việc so sánh ngôn ngữ đa dạng hơn và chủ yếu là tiếp cận bằng cài nhìn đồng đại (Synchronisch) hơn là đi tìm phổ hệ lịch đại (Dyachronisch) như thế kỷ trước Thành tựu từ phương pháp này là rất to lớn

Sau Schleicher, ngôn ngữ học so sánh (Vergleichende Sprachwissenschaft oder Komparative Sprachwissenschaft) đã chứng minh quan hệ thân thuộc họ hàng của hai hay nhiều ngôn ngữ và đi đến thủ pháp phục nguyên (Rekonstruktion) cấu trúc ngôn ngữ nguồn gốc trước đây

Trang 19

Năm 1941, trường phái Prager (Prager Schule) đã nghiên cứu phân tích đồng đại (Synchronisch) các ngôn ngữ Và từ đó đến nay, phương pháp so sánh này đã phát triển mạnh trong lĩnh vực ngôn ngữ học so sánh ngôn ngữ các nước trên thế giới

Hiện nay, có một loại hình so sánh ngôn ngữ trong ngôn ngữ học so sánh gọi là ngôn ngữ học đối chiếu (Kontrastive Linguistik) Ngôn ngữ học đối chiếu này là một bộ phận của ngôn ngữ học ứng dụng trên cơ sở so sánh ngôn ngữ

Xuất phát từ nhu cầu nghiên cứu để phục vụ cho việc học tiếng nước ngoài, phương pháp này cố gắng tìm ra giải pháp cho việc giải quyết những khó khăn gặp phải trong khi học ngoại ngữ Do đó, phương pháp này chú ý đến sự khác biệt nhiều hơn sự giống nhau của ngôn ngữ mục tiêu (Zielsprache)

Ở Đức ngôn ngữ học so sánh đối chiếu có thể gọi bằng hai thuật ngữ:

“Kontrastive Linguistik” và thuật ngữ “Konfrontative Linguistik”, khái niệm của hai thuật ngữ này hơi khác nhau Xuất phát của “Kontrastive Linguistik” là nghiên cứu sự khác biệt của ngôn ngữ, còn “Konfrontative Linguistik” là nghiên cưú điểm tương đồng và điểm khác nhau giữa hai hay nhiều ngôn ngữ Vì vây, khái niệm “Konfrontative Linguistik” rộng hơn khái niệm “Kontrastive Linguistik” Nhưng thực tế hiện nay khái niệm “Kontrastive Linguistik” thường được dùng như một khái niệm phổ quát của “Konfrontative Linguistik”

Như vậy, có thể nói ngôn ngữ học so sánh đối chiếu là một phương pháp thực dụng hơn phương pháp ngôn ngữ học so sánh truyền thống (ngôn ngữ học so sánh lich sử) vì phương pháp so sánh đối chiếu này có thể ứng dụng trong việc giảng dạy và học tập ngôn ngữ hay ngoại ngữ

Trang 20

Trong luận án này, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu mà có thể nói chính xác là phương pháp “Konfrontative Linguistik”, để miêu tả sự khác biệt và sự giống nhau giữa từ Hán -Hàn và từø Hán -Việt

Theo lý luận của phương pháp này, trước tiên chúng tôi cần cái thứ ba để so sánh Chẳng hạn (Probleme der kontrastiven Sprachwissenschaft, Sprache im technischer Zeitalter, K.H.Wagner tr.307), nếu chúng tôi muốn so sánh ngôn ngữ

<A> với ngôn ngữ<B> thì cần thiết một cái thứ 3 (Tertium Comparationis) Việc xác lậëp một cái thứ 3 là vấn đề lớn nhất trước khi nghiên cứu so sánh những ngôn ngữ không tương tự theo phương pháp này Việc so sánh đối chiếu từ Hán -Hàn và tư øHán -Việt là rất phù hợp với điều kiện phương pháp này

Chúng ta hãy xem minh họa bên trái ở dưới và minh họa ứng dụng quan hệ từ Hán-Hàn và từ Hán-Việt bên phải ở dưới

Trang 21

B.Whorf, E Sapir, W.Humboldt đã đề cập đến mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và văn hóa dân tộc Thực tế, việc nghiên cứu so sánh đối chiếu từ Hán -Hàn và từ Hán -Việt cũng gắn liền với văn hóa và tính dân tộc, không thể gạt bỏ hoàn toàn những điều kiện lịch đại (Diachronisch)

Từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt thông dụng hiện nay đều có tính đồng đại nhưng cũng là kết quả của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ và sự phát triển lâu dài trong lịch sử Do đó cần xét đến nguồn gốc và quá trình hình thành của hai lớp từ này Có thể nhận thấy các từ Hán-Hàn và từ Hán-Việt xuôi theo lịch sử lâu dài

đi vào từ vựng tiếng Hàn và tiếng Việt Hơn nữa, từ Hán - Hàn và từ Hán-Việt đã mọc rễ sâu trong tiếng Hàn và Việt Chính vì thế, trong luận án này, việc nghiên cứu so sánh đối chiếu từ Hán-Hàn và từ Hán -Việt được thực hiện chủ yếu là ở diện đồng đại nhưng cũng không loại trừ diện lịch đại

Về phương pháp, ngoài những thuyết minh bên trên, luận án xin được lưu ý mấy điểm sau đây:

a Phương pháp miêu tả và phân loại chủ yếu là dựa vào phương pháp đồng đại, tuy nhiên trong một chừng mực nhất định khi cần thiết làm rõ một số yếu tố nào đó chúng tôi sẽ sử dụng đến phương pháp lịch đại

b Lâu nay ở Hàn Quốc cũng như ở Việt Nam về bình diện ngữ âm thường người ta sử dụng phiên âm quốc tế, tuy nhiên hệ thống này như đã nói thường rất

xa với cách đọc của người Hàn Do vậy, để tiện cho in ấn và cũng để dễ trình bày, luận án sẽ sử dụng cách phiên âm theo quy ước được ghi chú ở đầu luận án Tất nhiên bên cạnh đó chúng tôi cũng ghi chú hệ thống phiên âm quốc tế để tiện lợi cho việc so sánh đối chiếu

c Về mặt ngữ âm lịch sử, có một số thuật ngữ ở Hàn Quốc sử dụng khá thống nhất, thì đến nay cũng hết sức phức tạp, trong tiếng Việt cũng vậy Luận án này

Trang 22

sẽ sử dụng bộ máy khái niệm phổ biến trong sách ngôn ngữ học tiếng Hàn và tiếng Việt

Ⅳ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Ở một số nước Châu Á, từ gốc Hán do nhiều 1ý do khác nhau có một vị trí quan trọng trong giáo dục, văn hóa giao tiếp xã hội Do vậy chúng rất được giới nghiên cứu quan tâm đến Ở đây trong phạm vi tài liệu có được chúng tôi điểm qua một vài công trình chính (Hàn Quốc và Việt Nam và các nước khác)

Hai nướcHàn Quốc và Việt Nam, trước đây đã có một số nghiên cứu về từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt

Ở Hàn Quốc, chuyên ngành ngữ văn, khoa tiếng Trung Quốc và Hán văn học đều có quan tâm đến từ Hán - Hàn Trong ngành ngữ văn, việc nghiên cứu có thể chia ra hai xu hướng theo quan điểm của tác giả: một là, từ Hán - Hàn được phân tích giống như từ thuần Hàn hay khu biệt từ Hán - Hàn với từ thuần Hàn Hai là, từ Hán - Hàn được chi phối hệ thống ngữ âm tiếng Hàn Từ Hán - Hàn

chiếm khoảng 60 % - 70% (theo con số thống kê của Quốc ngữ đại từ diển 69.32%, Tiêu chuẩn quốc ngữ đại từ điển 58.5%) , theo thống kê năm 1999 của

viện nghiên cứu quốc ngữ, từ Hán - Hàn chiếm khoảng 60%, từ thuần Hàn chiếm khoảng 25%, từ ngoại lai chiếm khoảng 5%, từ còn lại 10% (từ hỗn hợp Hán - Hàn với từ thuần Hàn) trong tiếng Hàn mà chưa có nhiều công trình nghiên cứu về từ Hán - Hàn Thêm nữa vì cấu tạo từ Hán - Hàn khác với từ thuần Hàn và khó phân tích do vẫn có thuộc tính của tiếng Hán, vì vậy cần thiết nghiên cứu sâu về từ Hán - Hàn Sau đây, luận án này sẽ tổng quan về tình hình nghiên cứu từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt

Trang 23

1 Lịch sử nghiên cứu từ Hán – Hàn

Việc nghiên cứu từ Hán - Hàn tại Hàn Quốc bắt đầu từ sau thời kỳ khai hóa

(cuối thế kỷ XIX) nhưng việc nghiên cứu từ Hán - Hàn đầu thế kỷ khai hóa còn rất đơn giản chỉ dùng phương pháp lịch sử và địa lý Còn việc nghiên cứu từ Hán

- Hàn bằng phương pháp ngôn ngữ học có thể nói mới được bắt đầu chính thức từ năm 1960, phần lớn có thể chia theo hai nội dung, thứ nhất là nghiên cứu về lịch sử Hán ngữ (nhà nghiên cứu Thụy Điển Bernhard Karlgren), thứ hai là việc nghiên cứu tiếng Hàn cổ đại (học giả Nhật Bản 河野六郞, giáo sư Park Byeong Chae ở Hàn Quốc) Các nhà nghiên cứu có quan tâm đến xuất phát điểm của cách phát âm Hán - Hàn, ví dụ cách phát âm Hán ngữ bắt đầu từ thời đại nào, bắt nguồn từ khu vực nào v.v… Trước khi nghiên cứu so sánh hệ thống ngữ âm từ Hán - Hàn và từ Hán -Việt để tìm ra những quy tắc tương ứng và khảo sát lai nguyên cách phát âm của từ Hán - Hàn, chúng ta cần phải xem xét một cách đại lược ý kiến của các nhà nghiên cứu trên và những vận thư của Hán ngữ trung cổ Giáo sư Park Byeong Chae đã nghiên cứu nhiều về ngữ âm tiếng Hàn cổ đại

Ông đã so sánh cách phát âm giữa Huấn Mông Tự Hội với phiên thiết của “Thiết

vận, Quảng vận” Có kiến giải về cách phát âm từ Hán - Hàn bắt nguồn từ hệ thống Thiết vận thời Tùy và thời đại đầu Đường ở Trung Nguyên phía Bắc Có nhiều học giả Hàn Quốc ủng hộ ý kiến này

Nguyễn Tài Cẩn đã giảng dạy, nghiên cứu cách phát âm của từ Hán - Việt , cũng đã nghiên cứu về lai nguyên ngữ âm từ Hán -Việt và đã viết nhiều công trình, trong đó có liên quan đến từ Hán - Hàn Trong công trình của Nguyễn Tài

Cẩn Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt (tr.98, 99), tuy không

phải đề cập cụ thể về hệ thống cách phát âm từ Hán - Hàn nhưng ông có kiến giải về nguồn gốc của cách phát âm từ Hán - Hàn Công trình này đề cập đến

Trang 24

các cách phát âm từ Hán - Hàn để so sánh với cách phát âm từ Hán - Việt Nguyễn Tài Cẩn cho rằng cách phát âm từ Hán - Hàn cổ hơn cách phát âm từ Hán - Việt Nguyễn Tài Cẩn cũng cho rằng cách phát âm Hán-Hàn là một cách đọc cổ hơn Đường âm, và gần gũi với tiếng Ngô ở vùng Đông Nam sông Dương Tử

Bernhard Karlgren (tên gọi bằng tiếng Trung Quốc là 高本漢) là một tác giả nghiên cứu âm vận học, ông cũng không phải đề cập cụ thể nguồn gốc và xuất phát điểm của cách phát âm từ Hán - Hàn nhưng chúng ta có thể thấy rằng Karlgren có kiến giải về cách phát âm từ Hán - Hàn bắt nguồn từ âm Trung Nguyên phía Bắc, khoảng thế kỷ VII thời Tùy và đầu thời đại Đường trong một

công trình Nghiên cứu âm vận học tiếng Trung Quốc ( Études sur la Phonologie Chinoise)

河野六郞 đã nghiên cứu về cách phát âm từ Hán –Hàn thông qua phân tích

những Vận Thư như Huấn Mông Tự Hội, 訓蒙子會 của tác giả Choe Se

Jin 최세진, Thiên Tự Văn天子文 , Hiếu Kinh Ngạn Giải孝經諺解 , Kinh Thư Ngạn Giai經書諺解 và những vận thư thế kỷ 18 河野六郞 đã so sánh giữa

những Vận Thư này với <Thiết Vận 切韻> và phiên thiết Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa一切經音義 河野六郞 có kiến giải về cách phát âm từ Hán - Hàn bắt nguồn từ thời Đường, ở Trường An

Ngoài ra, các giáo sư Hàn Quốc như Sim Jae Ki (沈在基), Nam Gwang Woo (南廣祐) , Lee Yun Dong(李潤東), Lee Don Ju(李敦株), Song Gi Jung(宋基重),

No Myeong Hee(盧明嬉), Jong Won Su(鄭源洙), Lee Ik Seop(李翼燮), Choe

Trang 25

Gyu Il(崔奎一), Kim Wan Seon(金完善), Yu Chang Gyun(柳昌均), Kang Sin Hang(姜信抗), Song Hwan Gap(成煥甲), Lee Yong Ju(李容周), v.v… cũng đã nghiên cứu từ Hán -Hàn nhưng đại bộ phận tác giả nghiên cứu về từ Hán - Hàn cổ đại và trung cận đại , chưa có nhiều công trình về từ Hán - Hàn hiện đại

Ý kiến trong giới nghiên cứu hiện còn khá nhiều điểm khác nhau, như: Người Hàn đọc theo cách phát âm nào? Những từ Hán - Hàn là từ đọc theo cách phát âm chữ Hán của người Hàn hay cách phát âm chữ Hán ở Hàn Quốc Đây là một lối đọc bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán vào thời kỳ nào? Có nhiều chủ trương và ý kiến khác nhau của các học giả đã nói trên

Nghiên cứu hệ thống ngữ âm tiếng Hán trung cổ, các nhà ngôn ngữ học Hàn Quốc nhận định rằng cách phát âm từ Hán - Hàn, vốn bắt nguồn từ tiếng Hán trung cổ Ý kiện này là ý kiến được nhiều nhà ngôn ngữ học Hàn Quốc tán thành Cách phát âm này đã đi vào trong kho từ vựng tiếng Hàn, làm thành những từ đơn có khả năng vận dụng độc lập, được Hàn hóa cao độ và trở thành những từ đơn quen thuộc, ai ai cũng biết

2 Lịch sử nghiên cứu từ Hán - Việt

Việc nghiên cưú của các tác giả Việt Nam về từ gốc Hán trong tiếng Việt có thời gian chưa lâu Các tác giả như Nguyễn Tài Cẩn, Hồ Lê, Đào Duy Anh, Phan Văn Các, Nhữ Thành, Thiều Chửu, Nguyễn Văn Khang, Phan Ngọc, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Thạc, Trương Chính, Đặng Đức Siêu… nghiên cứu về nguồn gốc, cách phát âm, về hệ thống vần, về ngữ nghĩa, về từ vựng và đem giảng dạy ở các trường trung học, đại học ở các lớp, trường…

Năm 1912, H Maspéro (nhà Đông phương học người Pháp) đã bước đầu phân biệt các lớp từ gốc Hán trong tiếng Việt, từ Hán -Việt cổ, từ Hán -Việt, từ

Trang 26

Hán - Việt Việt hóa Có lẽ ông là người đầu tiên tiến hành thống kê từ Hán - Việt và công bố số lượng từ Hán trong tiếng Việt Có thể nói ông đã tạo cơ sở cho các nhà nghiên cứu từ gốc Hán tại Việt Nam

Công trình Hán Việt ngữ nghiên cứu (1958) của Vương Lực, đã kế thừa thành

quả nghiên cứu lớp từ gốc Hán trong tiếng Việt của tác giả Maspéro, Vương Lực vốn là nhà Hán ngữ học của Trung Quốc Ông có kiến thức sâu về lịch sử tiếng Hán, ông chia từ Hán -Việt thành ba loại theo thời gian; Hán Việt cổ, (gọi khác là Cổ Hán Việt hoặc từ tiền Hán Việt) là tiếng Hán -Việt mượn vào trước đời Đường, Hán Việt, và Hán Việt Việt hóa (tức là từ hậu Hán Việt)

Nguyễn Tài Cẩn đã có nhiều công trình về từ Hán - Việt, công trình Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán -Việt là một cuốn sách quý đối với

việc nghiên cứu tiếng Việt cũng như việc nghiên cứu so sánh từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt

Ở Việt Nam cũng có những ý kiến khác nhau về từ Hán - Việt: Từ Hán - Việt là tiếng Việt vay mượn từ thời Đường và theo cách phát âm ở Trường An, vì thời đó âm Trường An là âm chính thức Hoặc âm Hán - Việt có thể phản ánh âm đời

Đường vì thời đó dùng âm đời Đường để dạy chữ Hán ở Giao Châu

Như vậy, tuy các công trình nghiên cứu một cách toàn điện về lớp từ Hán - Việt còn rất ít ỏi, nhưng các bài viết về một phương diện nào đó của lớp từ này lại khá nhiều Do từ Hán - Việt giữ một vai trò hết sức quan trọng nên hầu như giáo trình nào cũng đề cập đến cấu tạo chức nặng của lớp từ này Đó là chưa kể, rải rác trên tạp chí chuyên ngành ngôn ngữ cũng có một số bài viết về vấn đề này

Trang 27

Ⅴ Ý NGHĨA KHOA HỌC

1 Ý nghĩa nghiên cứu từ Hán -Hàn

Đối với Hàn Quốc, việc nghiên cứu từ Hán - Hàn có hai ý nghĩa lớn: ý nghĩa thứ nhất là phục nguyên hệ thống ngữ âm tiếng Hàn cổ đại thông qua cách phát âm từ Hán - Hàn, ý nghĩa thứ hai là cung cấp tư liệu tham khảo để nghiên cứu Hán ngữ trung cổ, nhưng lớn hơn là để tìm ra bản chất của từ Hán - Hàn và để phát hiện những đặc trưng trong quá trình biến hóa cách phát âm của từ Hán-Hàn Tóm lại việc nghiên cứu trên có hai mục đích là để nghiên cứu lịch sử Hán ngữ và để nghiên cứu quốc ngữ cổ đại Nhưng việc nghiên cứu chủ yếu đến nay là nghiên cứu về tiếng Hàn trung cổ và nghiên cứu những vận thư thời cổ đại, thời cận đại viết bằng Hán ngữ, còn thiếu công trình nghiên cứu về âm từ Hán - Hàn hiện đại Từ Hán- Hàn chưa được nghiên cứu sâu sắc có thể là do đặc tính khác biệt của từ Hán - Hàn so với từ thuần Hàn

2 Ý nghĩa nghiên cứu từ Hán - Việt

Từ Hán - Việt cũng là vấn đề có tầm quan trọng đáng quan tâm của tiếng Việt vì người Việt Nam trước đây đã sử dụng chữ Hán và chữ Hán là một công cụ văn hóa của dân tộc Việt Nam để ghi chép, viết lách, do đó đã có một kho tàng lớn những công trình về nhiều lĩnh vực khoa học viết bằng chữ Hán Nghiên cứu từ Hán - Việt chính là để hiểu tiếng Việt một cách sâu sắc hơn: một là, để hiểu tiếng Việt một cách sâu sắc không thể nghiên cứu những từ Hán - Việt; hai là, hệ thống âm từ Hán - Việt giúp đọc những văn bản cổ Hán Nôm; ba là, một trong những tư liệu để nghiên cứu tiếng Hán cổ và hiện đại Nếu không biết chữ Hán và không hiểu hệ thống ngữ âm và ngữ nghĩa của từ Hán - Việt thì người

Trang 28

Việt khó có thể hiểu được di sản văn hóa của thế hệ trước, do vậy cũng không giới thiệu lại được cho các thế hệ mai sau

3 Ý nghĩa nghiên cứu so sánh từ Hán - Hàn và Hán - Việt

Như chúng ta đều biết, hệ thống từ vựng gốc Hán xem xét trên hai bình diện ngôn ngữ và xã hội đều có một vài trò, vị trí hết sức quan trọng đặc biệt là về mặt giáo dục và văn hóa Và như chúng ta đã biết lớp từ gốc Hán còn liên quan đến việc tiếp thu và học hỏi nền văn hóa và văn học cổ Trong bối cảnh hai

nước Hàn Quốc và Việt Nam hợp tác trên nhiều lĩnh vực thì đề tài so sánh lớp từ Hán -Hàn trong tiếng Hàn và lớp từ Hán – Việt trong tiếng Việt theo chúng tôi, là

rất có ý nghĩa và có thể thâu tóm mấy điểm sau:

3.1 Tìm hiểu những đặc điểm giống nhau và khác nhau trong việc vay mượn từ gốc Hán trong tiếng Hàn và trong tiếng Việt Điều này rất có ý nghĩa trong việc tiếp cận những vấn đề về tiếp xúc ngôn ngữ, tiếp xúc văn hóa

3.2 Việc luận án đúc kết những quy luật Hàn hóa và Việt hóa, tức là những hiện tương vay mượn khi nhập vào hệ thống bị tác động bởi quy luật nội tại cũng rất quan trọng Điều này chỉ ra rằng, sức sống của tiếng Hàn và tiếng Việt là hết sức mãnh liệt Nói rộng ra, việc này sẽ giải thích cho việc vì sao trong một thời gian dài chịu ảnh hưởng của văn hóa chữ Hán, tiếng Hàn và tiếng Việt vẫn giữ được những bản sắc riêng của mình

3.3 Trong tiếng Hàn cũng như tiếng Việt tuy chưa có thống kê cụ thể nhưng nhiều nhà nghiên cứu đã thừa nhận có ít nhất là 60 % từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt Việc so sánh hai lớp từ này về phương diện ngữ âm, từ vựng chắc chắn sẽ có ích cho cả người Hàn học tiếng Việt cũng như cả người Việt học tiếng Hàn

Trang 29

Hơn nữa, việc dạy chữ Hán ở Hàn Quốc chắc chắn là kinh nghiệm tốt cho việc dạy chữ Hán và lớp từ Hán - Việt ở Việt Nam

3.4 Qua so sánh hai lớp từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt, chúng tôi sẽ rút ra được những quy tắc tương ứng giữa từ Hán - Hàn và từ Hán-Việt, kết quả từ luận án này sẽ là những điều lý thú và bổ ích cho học viên Hàn Quốc học tiếng Việt cũng như học viên Việt Nam học tiếng Hàn Đó là chưa kể đến việc luận án cũng góp phần thiết thực làm rõ mối quan hệ về văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam

Và việc quan tâm đến từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt có thể còn có tác động tăng cường hiểu biết, liên kết nền văn hóa giữa Hàn Quốc và Việt Nam

So sánh hệ thống ngữ âm Hán - Hàn và từ Hán -Việt, giúp các nhà Việt ngữ sử và Hán ngữ sử xác định nguồn gốc và thời điểm hình thành của một số hiện tượng ngữ âm trong chính hệ thống của bản ngữ

3.5 Cuối cùng hy vọng rằng, kết quả của luận án này sẽ góp phần soi sáng một số điểm tương đồng và khác biệt giữa ngôn ngữ đơn lập và ngôn ngữ chắp dính mà lâu nay vì nhiều lý do khác nhau chưa được nghiên cứu thấu đáo

Như vậy, thành tựu nghiên cứu ở mỗi nước là rất đáng chú ý Luận án này trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình đi trước chủ yếu là ở hai nước, Hàn Quốc và Việt Nam, để tiến hành so sánh Điều cần chú ý, theo quan sát của chúng tôi, luận án so sánh từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt là luận án đầu tiên đề cập đến vấn đề này

Trang 30

Ⅵ BỐ CỤC LUẬN ÁN

Ngoài phụ lục gồm bảng kể khoảng 5200 từ gốc Hán chủ yếu là song tiết bao

gồm các cột sau đây:

(i) chữ Hán , (ii) chữ Việt ,(iii) chữ Hàn, ( iv) âm Hàn

Bố cục luận án được sắp xếp như sau:

DẪN NHẬP

CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH TIẾP XÚC GIỮA TIẾNG HÁN

VỚI TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT

Khái quát về lịch sử tiếp xúc của tiếng Hàn và tiếng Việt với tiếng Hán, hoàn cảnh hình thành từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt

CHƯƠNG 2 SO SÁNH LỚP TỪ HÁN - HÀN VÀ TỪ HÁN - VIỆT

VỀ MẶT NGỮ ÂM Trong phần này, căn cư vào các nguyên lai ngữ âm hai lớp từ này để thực hiện

so sánh về mặt ngữ âm và rút ra một số quy tắc tương ứng nhất định giữa ngữ âm của hai lớp từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt

CHƯƠNG 3 SO SÁNH LỚP TỪ HÁN - HÀN VÀ TỪ HÁN -VIỆT

VỀ MẶT CẤU TẠO TỪ Giới thiệu nhiều kiểu cấu tạo từ Hán - Hàn, so sánh hai lớp từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt về trật tự của những yếu tố cấu tạo của hai lớp từ

KẾT LUẬN

Trang 31

CHƯƠNG 1

QUÁ TRÌNH TIẾP XÚC GIỮA TIẾNG HÁN VỚI TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG VIỆT

Ⅰ NHẬN XÉT CHUNG

Ngôn ngữ của mỗi dân tộc và mỗi quốc gia, đều có một hệ thống đơn vị ngữ âm riêng với một số đặc trưng ngữ âm được xác định, và một quá trình biến hóa ngữ âm riêng Ngôn ngữ và dân tộc có quan hệ mật thiết như W.von Humboldt (1835-1969) đã nói” ngôn ngữ của một dân tộc là tinh thần của ho, tinh thần của họ là ngôn ngữ của họ.” Nói cách khác thì truyền thống, lịch sử, tôn giáo và nền tảng cuộc sống của một dân tộc được giữ gìn trong ngôn ngữ, và ngôn ngữ thể hiện tâm hồn và tinh thần của dân tộc đó Ngôn ngữ có quan hệ gắn bó với dân tộc, là một công cụ căn bản để sáng tạo văn hóa và phát hiện tinh thần dân tộc

Vì thế, lịch sử ngôn ngữ cũng gắn liền với lịch sử tư tưởng và lịch sử dân tộc Khi nói về các ngôn ngữ của nhiều dân tộc và quốc gia thuộc vùng Đông Á, cần nhận xét về ảnh hưởng của nền văn minh Hoàng Hà, ai cũng thấy rằng trong quá trình phát triển, nền văn hóa dân tộc của những nước vùng này có mối quan hệ mật thiết với nền văn ngôn Hán và với chữ Hán, do đó chúng ta không thể không nói đến ảnh hưởng văn hoá chữ Hán

Chữ Hán đã mang đến những cách phát âm khác nhau ở khu vực Đông Á này Chữ Hán có ảnh hưởng to lớn với đời sống và đó là văn tự thời trung cổ của người Hàn và người Việt

Hàn Quốc và Việt Nam, hai nước đều gắn liền núi sông với đất nước Trung Hoa Ngày xưa, ranh giới giữa Hàn Quốc, Việt Nam với Trung Hoa khác với lãnh thổ hiện nay Có nhiều dân tộc đã sống chung ở khu vực đó và tổ tiên dân

Trang 32

tộc của người Hàn và người Việt cũng đều bắt nguồn ở đại lục đó Do đặc thù về lịch sử, địa lý và hoàn cảnh sống, dân tộc Hàn và dân tộc Việt chịu ảnh hưởng của văn minh chữ Hán là không có gì

Và ngày trước hai nước đều chưa có <Ngôn văn thống nhất>, hai dân tộc đều có văn tự riêng và cũng dùng chữ Hán Do điều kiện đó, chúng ta có thể phát hiện được hai nước Hàn Quốc và Việt Nam có điểm tương đồng về mặt ngôn ngữ

Chữ Hán đã được sáng tạo ra cách đây khoảng trên 3000 năm Cũng như chữ

La tinh ở Châu Âu, trong điều kiện của nền văn minh trung cổ thời bấy giờ, chữ Hán cũng dần dần không còn là văn tự riêng của dân tộc Hán nữa

Nhà sử học Trung Quốc, Vương Vương Triết chủ truơng rằng chữ Hán có trước thời kỳ văn hóa Đại Văn Khẩu Còn nhà sử học Trương Văn cho rằng văn hóa Đại Văn Khẩu là của dân tộc Đông Di và dân tộc Đông Di sáng tạo văn tự giáp cốt Nhà văn tự học Đài Loan Lý Kính Tế cũng chủ trương rằng dân tộc Đông Di sáng tạo văn tự giáp cốt, chứ không phải là dân tộc Hán Như thế, văn tự giáp cốt là văn tự của dân tộc Đông Di ở phía Bắc sông Hoàng Hà trong thời nhà Ân và sự thực này đã được ghi chép trong tư liệu lịch sử như Sử ký Danh xưng ‘chữ Hán’ ‘dân tộc Hán” cũng chưa có ở thời nhà Ân, chữ <Hán (漢)> xuất hiện đầu tiên là chữ <漢 Hán> trong tài liệu Kim Văn , nghĩa của <漢 Hán> là Thủy (水), sông chảy ra phía Đông gọi là Hán Thủy (漢水) Nói về danh xưng ‘dân tộc

Hán’, trong tài liệu Từ Hải có viết “Thời Hán quân đội hùng mạnh tiến xa,

người nước ngoài gọi người nước ta là Hán nhân, từ Ngụy Tấn về sau … người nước tôi dần dần tự xưng mình là dân tộc Hán”, 魏晉 (漢時兵威遠進, 外國人均稱我國人曰漢人, 魏晉以降, …由是我國人遂自名爲漢族), nhà ngôn

Trang 33

ngữ học hiện đaiï Trung Quốc 朱星 đã nói trong sách Khái luận tiếng Hán cổ,

danh xưng ‘dân tộc Hán’ có muộn, phải sau thời đaiï Hán 武帝, 宣帝 (Vũ đế, Tuyên đế)

Chúng ta đã quen chấp nhận chữ Hán là văn tự do dân tộc Hán sáng tạo ra cách đây khoảng trên 3000 năm, nhưng hiện nay nhiều nhà lịch sử Trung Quốc, có chủ trương chữ Hán không phải chỉ là của riêng của dân tộc Hán Thông qua tình hình lịch sử cổ trung đại Đông Á và trên cơ sở chứng cớ di tích lịch sử, họ chứng minh chữ Hán đầu tiên là sản phẩm của dân tộc Đông Di của nước Ân (殷)

Chữ Hán cũng đựơc gọi là chữ Nho tại Việt Nam vì nước Hán bắt đầu đuợc thành lập đã lấy Nho giáo làm cơ sở thống trị quốc gia Văn hóa Hán chủ yếu là Nho học

Ở đây, chúng tôi không nghiên cứu quá trình hình thành chữ Hán, nhưng ngày xưa nhiều dân tộc ở vùng văn hóa chữ Hán đã sử dụng chữ Hán có thể nói là hiển nhiên vì chữ Hán là văn tự ở vùng Phương Đông cũng như chữ La tinh ở vùng Châu Âu trong điều kiện của nền văn minh trung cổ thời bấy giờ Nhìn về mặt lịch sử, thời xưa có nhiều dân tộc sống trong đất Trung Hoa hiện nay, thời đó những dân tộc chưa di cư về phía Nam hoặc phía Đông, do đó không thể nói chữ Hán chỉ là nền văn tự riêng của một dân tộc Hán thời đó

Khi nói về chữ Hán, chúng ta thường nghĩ đến lãnh thổ hiện nay mà thôi, do đó đương nhiên tiếp thu luôn về điểm phát nguồn chữ Hán là dân tộc Hán, nhưng chúng ta cần xem xét lại lãnh thổ và lĩnh vực hoạt động của những dân tộc thời xưa, cũng cần quan sát về quan hệ giữa Hàn Quốc, Việt Nam với văn hóa chữ Hán, tức là cần thiết nói về mối quan hệ lịch sử giữa Hàn Quốc và Việt Nam thời xưa

Trang 34

Về nguồn gốc dân tộc Việt, trước đây các nhà nghiên cứu Việt và nước ngòai đã đưa ra khá nhiều giả thuyết khác nhau Những di tích khảo cổ chứng minh rằng tổ tiên người Việt đã tiếp xúc với dân tộc ở vùng nước Hán rất sớm Nhiều dân tộc của người Việt được gọi như danh xưng Bách Việt, Dương Việt, Nam Việt, Lạc Việt … đã sinh sống khắp khu vực phía nam sông Dưởng tử

Trong nhiều thế kỷ, chữ Hán cũng được dùng một văn tự trong tầng lớp thống trị, trí thức của nhiều dân tộc khác như Hàn Quốc, Việt Nam Chữ Hán đã trở thành văn tự được đem để giảng dạy ở nhà trường, được dùng vào thi cử, ngọai giao, công tác hành chính và cũng được dùng vào sáng tác văn học của tầng lớp cao Người Hàn và người Việt đã sử dụng chữ Hán lâu dài và sử dụng chữ Hán như một công cụ văn hóa của dân tộc, dùng chữ Hán để ghi chép những công trình về sử học, về văn học, về y học, về tôn giáo… Do đó, chữ Hán dần dần trở thành phổ biến Trong kho tàng văn hóa của hai nước có nhiều tác phẩm thuộc các lĩnh vực khoa học được viết bằng chữ Hán Có thể nói rằng, chữ Hán là một phần không thể tách rời của sinh hoạt ngôn ngữ và văn hóa của Hàn Quốc và Việt Nam

Bất kỳ ngôn ngữ của một dân tộc nào cũng đều biến đổi theo sự thay đổi của thời đại; sinh ra biến đổi rồi dần dần trở thành cổ ngữ Không một ngôn ngữ nào có thể tồn tại được ở trạng thái tĩnh

Thời gian lâu dần, chữ Hán ở những vùng khác được phát âm khác với phát âm chữ Hán ở Trung Hoa bấy giờ và biến đổi khác xa với âm chữ Hán ở Trung Quốc, thậm chí tại Trung Quốc cũng có nhiều cách phát âm khác nhau

Do đó, hiện nay, có nhiều cách phát âm chữ Hán ở Trung Quốc (Sino- Chinese), ở Hàn Quốc (Sino- Korean), ở Việt Nam (Sino- Vietnamese), ở Nhật Bản (Sino-Japanese)…

Trang 35

Thực tế, mỗi học giả Hàn Quốc đều có ý kiến riêng nhưng có học phái chia

ba loại từ vựng tiếng Hàn :<고유어[go yu ŏ](固有語) từ thuần Hàn >,< 한자어[han ja ŏ](漢子語) Hán tự ngư,õ tức là từ Hán - Hàn)>,< 외래어[oe lae ŏ](外來語) từ ngoại lại> Từ Hán - Hàn có tỷ lệ lớn nhất trong từ vựng tiếng Hàn, từ Hán - Hàn không hòan toàn theo cách phân tích từ thuần Hàn vì từ Hán - Hàn vẫn còn có tính cách như tiếng Hán

Nhưng cũng có học phái từ vựng tiếng Hàn chia ra hai phần : <từ thuần Hàn(固有語)>, < từ ngoại lai (外來語)> Từ Hán - Hàn được xếp vào từ ngoại lai, trong từ ngoại lai có từ Hán – Hàn Tuy chia hai loại, nhưng nhiều học giả thường vẫn đối xử đặc biệt đối với từ Hán - Hàn vì từ Hán - Hàn cũng là từ vay mượn, song trật tự cấu tạo từ khác với từ vay mượn khác

Chúng tôi gọi từ Hán - Hàn là những từ gốc Hán hoặc cấu tạo từ những yếu tố gốc Hán được sử dụng tiếng Hàn (được ghi âm bằng chữ 한글 [han gul] thông qua cách phát âm ở Hàn Quốc, tức là được ghi chép theo hệ thống văn tự Hàn hoặc cũng có lúc được viết bằng chữ Hán hình vuông

Nói một cách đơn giản những từ được phát âm theo cách phát âm Hán - Việt được gọi là từ Hán - Việt Từ Hán - Việt bao gồm nhiều lớp từ đa dạng: từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt, từ Hán Việt Việt hóa, hai lớp từ Hán Việt cổ và Hán Việt Việt hóa có số lượng tương đương nhiều , nhất là từ Hán Việt Việt hóa Còn từ Hán - Việt chiếm khối lượng lớn trong từ vựng của tiếng Việt

Cách phát âm riêng ở Hàn Quốc và ở Việt Nam là một sản phẩm của sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ với nền văn tự Hán Định nghĩa từ Hán - Hàn hiện đại

Trang 36

thường được giải thích đơn giản là chữ Hán được đọc theo lối đọc riêng của người Hàn, viết bằng chữ Hàn Trong từ Hán - Hàn hiện nay không có đánh dấu biểu hiện thanh điệu, do đó có thể nói cách phát âm của từ Hán - Hàn hiện nay đơn giản hơn cách phát âm của từ Hán - Việt có đánh dấu thanh điệu

Trong kho từ vựng của tiếng Hàn hiện nay và tiếng Việt hiện nay có một khối lượng khá lớn những từ Hán - Hàn và từ Hán -Việt Vì vậy, khi chúng tôi so sánh hai lớp từ này thì cần tìm hiểu toàn diện chúng, mà trước hết là tìm hiểu về hệ thống ngữ âm Hán - Hàn và hệ thống ngữ âm Hán - Việt xuất phát từ nguồn gốc nào và quá trình hình thành cách phát âm của hai lớp từ này, sau đó, khi so sánh hai lớp từ thì chúng tôi lại tìm những quy tắc của cách phát âm đồng nhất trong từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt Đối với ngành Đông phương học thế giới, vấn đề nghiên cứu so sánh cách phát âm từ Hán - Hàn và từ Hán -Việt, tìm hiểu quy luật biến đổi ngữ âm và ngữ nghĩa giữa những từ Hán - Hàn với từ Hán - Việt là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đáng để các học giả đi sâu nghiên cứu

Phần lớn các nhà nghiên cứu từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt đều thống nhất ý kiến cho rằng cách phát âm chữ Hán ở Hàn Quốc và ở Việt Nam bắt nguồn từ tiếng Hán trung cổ Nguyễn Tài Cẩn đã nói rằng cách phát âm chữ Hán ở Hàn Quốc có nguồn gốc xưa hơn cách phát âm Hán -Việt Nhưng theo một nhà nghiên cưú lịch sử âm vận học thì tiếng Hán trung cổ gồm thời Tùy, thời Đường

Do đó các nhận xét này cần được vận dụng để nghiên cưú so sánh từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt, qua đó dễ dàng hiểu biết sự thay đổi và phát triển của hai lớp từ này Nói cách khác, cùng một con đường tiếp xúc mà có thể đưa lại lợi ích cho người học tập tiếng Hàn và tiếng Việt, cũng như cung cấp những cứ liệu cho

Trang 37

giới Đông phương học Khi so sánh cách phát âm giữa từ Hán Hàn với từ Hán Việt chúng ta có thể dễ dàng thấy được những quy luật nhất định

Vấn đề ảnh hưởng của tiếng Hán với từ Hán - Hàn và từ Hán -Việt là một sự thật khách quan, không tách rời sự phát triển của quốc ngữ Hàn Quốc và Việt Nam Một điểm đặc biệt là, Hàn Quốc và Việt Nam đều đang sử dụng thuật ngữ

“Quốc ngữ” để gọi tiếng nước mình

Từ Hán - Hàn và từ Hán - Việtø thường có cách phát âm gần nhau vì những yếu tố của từ Hán- Hàn và từ Hán - Việt đó đều có gốc mượn ở tiếng Hán Do đó chúng ta có thể so sánh và dễ dàng nhận ra từ Hán - Hàn và từ Hán -Việt theo cách phát âm chữ Hán và dễ tìm ra những quy luật chuyển âm vần trong cách phát âm giữa hai ngôn ngữ, hơn nữa những quy luật chuyển âm này giúp cho việc học tập từ Hán - Hàn và từ Hán - Việt được thuận lợi

Hiện nay, không một ngôn ngữ nào có thể khép kín để giữ gìn tính độc lập riệng biệt hoàn toàn của mình, vì các ngôn ngữ không thể tránh khỏi sự giao tiếp với ngôn ngữ khác trong qúa trình phát triển nhanh chóng của văn hoá nhân loại Sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ có chiều hướng phát triển càng ngày càng mạnh mẽ hơn, dẫn đến hiện tượng vay mượn từ ngoại ngữ Trong qúa khứ cũng có hiện tượïng như vậy

Qúa trình tiếp xúc giữa tiếng Hàn với tiếng Hán, tiếng Việt với tiếng Hán có thể bắt đầu từ rất lâu, từ khoảng trước công nguyên Trên thực tế lịch sử đó, Hàn Quốc và Việt Nam, đã hình thành nền văn hoá chữ Hán Chữ Hán được dùng từ rất lâu, nên các văn thư chính thức ghi chép bằng chữ Hán nơi nào cũng được thông dụng Chữ Hán đã được coi như là một văn tự trong nhiều thế kỷ ở Hàn Quốc và Việt Nam, cho đến ngày nay nó vẫn hình thành cách đọc chữ Hán riêng

ở hai nước

Trang 38

Ⅱ HOÀN CẢNH TIẾP XÚC GIỮA TIẾNG HÀN VÀ TIẾNG HÁN

Ở Hàn Quốc, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chữ Hán đã du nhập vào khoảng trước công nguyên và quá trình tiếp xúc đã bắt đầu từ đó Tuy nhiên, người ta chưa biết chữ Hán được du nhập vào Hàn Quốc chính xác là từ bao giờ Chưa có tài liệu nào ghi lại rõ ràng điều này nên đến nay vẫn còn là một câu hỏi lớn Có ý kiến cho rằng từ thời đại Xuân Thu Chiến Quốc (năm 403 - 256 trước công nguyên) cùng với phong trào Đông Tiến của nước Yên và nền văn hóa đồng thau (thế kỷ III) thì văn hóa Hán và chữ Hán đã bắt đầu du nhập vào Cổ Triều Tiên Nhưng thật ra, ở thời kỳ này có thể người Hàn đã có tiếp xúc với chữ Hán nhưng trong đời sống hằng ngày vẫn chưa sử dụng đến

Phạm vi lãnh thổ của Cổ Triều Tiên đến phía bắc sông Tùng Hoa, và đến phía tây Liêu Hạ Thế lực Cổ Triều Tiên dần dần mạnh mẽ Vào năm 108 trước công nguyên, đời nhà Hán (Hán Vũ Đế), quân Hán đã công kích thủ đô Vương Kiếm Tĩnh của Cổ Triều Tiên khoảng một năm, cuối cùng nhà Hán chiếm Cổ Triều Tiên thành lập ra tứ quận: làm cho quan hệ giữa Cổ Triều Tiên và nhà Hán càng thêm gần gũi Chữ Hán chiếm được vị trí ổn định và tích cực trong sinh hoạt ngôn ngữ của người Hàn bắt đầu từ thời Tam Quốc; Cao Câu Lệ, Bách Tế, Tân La được thành lập và phát triển

Trong nhiều thế kỷ, chữ Hán đã được đem giảng dạy ở nhà trường, được dùng trong thi cử, dùng trong công tác hành chính, ngoại giao và cũng được dùng cả trong địa hạt văn hoá và sáng tác văn học

Trang 39

1 Giai đoạn Cao Câu Lệ

Vào thời Tam Quốc thì về mặt địa lý Cao Câu Lệ nằm ở phía bắc bán đảo, giáp nên ở đây chữ Hán cũng được đưa vào dùng sớm nhất

Vào năm 372 sau công nguyên, cùng với việc truyền bá Phật giáo, trường Thái Học đã được thành lập để dạy Kinh Phật, văn học , võ nghệ Tứ thư (Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung), Ngũ kinh… cho con em của tầng lớp thượng lưu Và sau đó khắp nơi trong nước trường học được thành lập để con em của giới bình dân cũng được học kinh phật cũng như nghệ thuật bắn cung Cũng vào thời này nhiều sách vở và những từ điển Trung Quốc được du nhập vào Cao Câu Lệ và được sử dụng rộng rãi trong tầng lớp trí thức Từ khi Cao Câu Lệ bắt đầu sử dụng chữ Hán, sách lịch sử cũng bắt đầu được viết, đến năm 600 sau công nguyên thì đã cho biên soạn năm quyển sách lịch sư û bằng chữ Hán

Xét kỹ về mặt lịch sử như trên thì thấy trong công chúng Cao Câu Lệ không những chỉ có tầng lớp thượng lưu mà cả trong giới bình dân cũng sử dụng chữ Hán Điều này cho phép chúng tôi đánh giá rằng đây chính là điều kiện để từ Hán- Hàn được hình thành một cách tự nhiên

Một lý do nữa là Cao Câu Lệ đã từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh với các nước trong thời Nhà Tùy, Nhà Đường và tiếp cận với nhiều nước nên dễ dàng du nhập những từ gốc Hán

2 Giai đoạn Bách Tế

Ơ ÛBách Tế, từ khi bắt đầu lập quốc đã hình thành chế độ học vấn mới đến bậc tiến sĩ, tiến sĩ Ngũ Kinh và các tiến sĩ chuyên môn khác được mời sang Nhật Bản để giảng dạy Thế kỷ VI, tiến sĩ Vương Nhân, A Chức Kỳ sang Nhật Bản để chuyển truyền cho Nhật Bản chữ Hán Vì vậy, các thầy của hệ văn hóa Nhật

Trang 40

Bản là người ÛBách Tế Và tổ tiên thiên hoàng Nhật Bản hiện nay là người Bách Tế, hai nước giao lưu văn hóa rất mật thiết thời đó Cũng cùng thời này một tiến

sĩ tên Cao Hưng đã biên soạn một sách lịch sử có tên là So Gi(書記 ) bằng chữ Hán (năm 375)

Như vậy cũng về mặt lịch sử sự hình thành từ Hán - Hàn ở Bách Tế khác với

ở Cao Câu Lệ trước hết là do ở tầng lớp thượng lưu Ở Bách Tế mặc dù không có chiến tranh với các nước Tùy - Đường nhưng lại thông qua buôn bán giao dịch với nước Tùy - Đường nên cũng hình thành nên lớp từ gốc từ chữ Hán, có thể gọi là những từ Hán - Hàn đầu tiên

2 Giai đoạn Tân La

Ở Tân La, đến năm 356 - 402 mới có quan hệ giao lưu thường xuyên với Cao Câu Lệ và thông qua Cao Câu Lệ cũng lập được quan hệ với nước Tùy - Đường Nên sự du nhập chữ Hán vào Tân La được bắt đầu vào khoảng lúc này Tân La nằm ở Đông Nam Bộ của bán đảo Hàn Quốc nên xét về điều kiện địa lý thì Tân

La tiếp nhận chữ Hán trễ hơn Cao Câu Lệ và Bách Tế có đến sau một thế kỷ và quá trình phổ cập đưa vào dùng trong thực tiễn ở Tân La so với Cao Câu Lệ và Bách Tế cũng diễn ra chậm hơn Ở Tân La thời kỳ chữ Hán được dùng phổ biến và thịnh hành nhất là thời vua Chân Hưng (眞興王, năm 534 - 576), thời này quyển sách lịch sử mang tên Quốc Sử được biên soạn (năm 545) và 4 bức bia dựng lên ở khu vực biên giới, cũng dược viết bằng chữ Hán

Mặc dù đến lúc này từ Hán - Hàn mới dược hình thành ở Tân La nhưng vẫn chỉ giới hạn ở giới thượng lưu Mãi đến giữa thế kỷ VIII (năm 757 -759) thì tất cả các địa danh, và các quan chức vốn được gọi theo cách riêng của Tân La dược

Ngày đăng: 01/07/2023, 20:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tóm tắt đối chiếu các âm vị phụ âm đầu Hán -Việt và sự thể  hiện        bằng chữ viết - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Bảng t óm tắt đối chiếu các âm vị phụ âm đầu Hán -Việt và sự thể hiện bằng chữ viết (Trang 54)
Bảng đối chiếu các âm vị âm cuối Hán - Việt và sự thể  hiện bằng chữ viết - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
ng đối chiếu các âm vị âm cuối Hán - Việt và sự thể hiện bằng chữ viết (Trang 59)
Bảng dưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong con chữ phụ  âm đầu từ Hán -Hàn hiện đại ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Bảng d ưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong con chữ phụ âm đầu từ Hán -Hàn hiện đại ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) (Trang 86)
Bảng dưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong phụ âm của từ  Hán -Hàn hiện đại (thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Bảng d ưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong phụ âm của từ Hán -Hàn hiện đại (thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) (Trang 93)
Bảng dưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong phụ âm của từ  Hán -Hàn hiện đại ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Bảng d ưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong phụ âm của từ Hán -Hàn hiện đại ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) (Trang 97)
Hình này có thể liên quan với nguồn gốc của phụ âm &lt;h-&gt; từ Hán - Việt. - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Hình n ày có thể liên quan với nguồn gốc của phụ âm &lt;h-&gt; từ Hán - Việt (Trang 98)
Bảng dưới đây là tỉ lệ chuyển thành các thanh mẫu từ Hán - Hàn của thanh  maãu &lt;來 lai ,래 [lae]&gt; ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Bảng d ưới đây là tỉ lệ chuyển thành các thanh mẫu từ Hán - Hàn của thanh maãu &lt;來 lai ,래 [lae]&gt; ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) (Trang 99)
Bảng dưới này là tỉ lệ thanh mẫu &lt;泥 nê&gt; chuyển vào trong phụ âm của từ Hán - -Hàn ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Bảng d ưới này là tỉ lệ thanh mẫu &lt;泥 nê&gt; chuyển vào trong phụ âm của từ Hán - -Hàn ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) (Trang 100)
Bảng dưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong phụ âm của từ  Hán -Hàn hiện đại ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Bảng d ưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong phụ âm của từ Hán -Hàn hiện đại ( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) (Trang 102)
Bảng dưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong phụ âm của từ - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Bảng d ưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu tiếng Hán chuyển vào trong phụ âm của từ (Trang 103)
Bảng dưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu âm tiếng Hán chuyển vào trong phụ âm  của từ Hán -Hàn hiện đại( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Bảng d ưới đây là tỉ lệ các thanh mẫu âm tiếng Hán chuyển vào trong phụ âm của từ Hán -Hàn hiện đại( thống kê này tham khảo 弘字玉篇, 1999, Seoul) (Trang 104)
Hình thành phụ âm này khá phức tạp. Khoảng thế kỷ VIII, IX, những thanh mẫu  là nguồn gốc của phụ âm đầu &lt;th-&gt; rất khác nhau - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Hình th ành phụ âm này khá phức tạp. Khoảng thế kỷ VIII, IX, những thanh mẫu là nguồn gốc của phụ âm đầu &lt;th-&gt; rất khác nhau (Trang 107)
Bảng so sánh về phương diện cấu tạo từ của từ Hán - Hàn và Hán - Việt - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Bảng so sánh về phương diện cấu tạo từ của từ Hán - Hàn và Hán - Việt (Trang 179)
Bảng so sánh cách phát âm các âm tiết Hán - Hàn và từ Hán - Việt - So sánh lớp từ hán   hàn trong tiếng hàn và lớp từ hán   việt trong tiếng việt
Bảng so sánh cách phát âm các âm tiết Hán - Hàn và từ Hán - Việt (Trang 180)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w