1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Du lịch văn hóa đồng bằng sông cửu long từ góc nhìn văn hóa học

183 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Du lịch văn hóa đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn văn hóa học
Tác giả Trần Anh Dũng
Người hướng dẫn TS. Huỳnh Quốc Thắng
Trường học Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 5,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀ (9)
  • II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC (11)
  • III. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ (12)
  • IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (13)
  • V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU (14)
  • VI. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN (14)
    • 1.1.1 Lịch sử ra đời (16)
    • 1.1.2. Qúa trình phát triển (21)
    • 1.2. KHÁI QUÁT THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA DU LỊCH VĂN HÓA (0)
      • 1.2.1. Một số nước trên thế giới (24)
      • 1.2.2. Ở Việt Nam (25)
    • 1.3. CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC (28)
      • 1.3.1. Khái niệm du lịch văn hóa (28)
        • 1.3.1.1. Tổng hợp và định nghĩa về Du lịch văn hóa (28)
        • 1.3.1.2. Mối quan hệ giữa du lịch với văn hóa và văn hóa học (33)
        • 1.3.1.3. Đặc trưng của du lịch văn hóa (34)
        • 1.3.1.3 Chức năng cơ bản của du lịch văn hóa (35)
        • 1.3.1.4 Đối tượng của du lịch văn hóa (35)
        • 1.3.1.5 Chủ thể của du lịch văn hóa (36)
        • 1.3.1.7 Nguyên lý cơ bản của du lịch văn hóa (42)
      • 1.3.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng của du lịch văn hóa (43)
      • 1.3.3. Các nhân tố để phát triển du lịch văn hóa (48)
        • 1.3.3.1. Sự phối hợp cùng hành động (48)
        • 1.3.3.2 Xác định nhu cầu của du lịch văn hóa (48)
        • 1.3.3.3. Quản lý điểm đến trong du lịch văn hóa (50)
        • 1.3.3.4 Giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực (51)
        • 1.3.3.5. Tiếp thị điểm đến du lịch văn hóa (52)
        • 1.3.3.6 Giám sát, kiểm soát các tác động của du lịch văn hóa (55)
    • 2.1 TỔNG QUAN NGUỒN TÀI NGUYÊN DU LỊCH VĂN HÓA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (59)
      • 2.1.1 Lịch sử khai thác (59)
      • 2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên (62)
        • 2.1.2.1. Về cấu tạo địa hình (62)
        • 2.1.2.2. Về mặt thủy văn (63)
        • 2.1.2.3 Về mặt khí hậu (63)
      • 2.1.3 Tài nguyên nhân văn (63)
        • 2.1.3.1. Lối sống cư dân đồng bằng sông Cửu Long (63)
        • 2.1.3.2. Lễ hội truyền thống ở đồng bằng sông Cửu Long (65)
      • 2.1.4 Tài nguyên con người (72)
      • 2.1.5. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch (0)
    • 2.2. THỰC TRẠNG VỀ NGHIÊN CỨU VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA ĐBSCL (74)
      • 2.2.1. Quan niệm về du lịch văn hóa ở ĐBSCL (74)
    • 2.3 Thực trạng về khai thác du lịch văn hóa ĐBSCL (79)
      • 2.3.1 Các loại hình tour du lịch văn hóa đang được khai thác tại ĐBSCL 71 2.3.2. Công tác tiếp thị, hợp tác phát triển du lịch và du lịch văn hóa giữa các địa phương ở ĐBSCL (79)
      • 2.3.3 Hợp tác giữa ngành du lịch và ngành văn hóa tại ĐBSCL (87)
    • 2.4. QUẢN LÝ DU LỊCH VĂN HÓA TẠI ĐBSCL (88)
      • 2.4.1 Về quản lý nhà nước (88)
      • 2.4.2 Về quản lý nghiệp vụ chuyên môn (89)
      • 3.1.1. Về mặt văn hóa (92)
      • 3.2.2. Về mặt kinh tế (93)
      • 3.2.3. Về chính trị (93)
      • 3.2.5. Về môi trường (94)
    • 3.2 THAM KHẢO MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TRÊN THẾ GIỚI (94)
      • 3.2.1 Tại Thái Lan (94)
      • 3.2.2 Tại Singapore (96)
      • 3.2.3 Tại Anh quốc (98)
    • 3.3 PHÂN TÍCH SWOT VỀ DU LỊCH VĂN HÓA ĐBSCL (98)
      • 3.3.1. Điểm mạnh (99)
      • 3.3.3. Cơ hội (102)
      • 3.3.4. Rủi ro (103)
    • 3.4 PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (104)
      • 3.4.1 Nhận thức và xác định tầm quan trọng của du lịch văn hóa (104)
      • 3.4.2 Nghiên cứu du lịch văn hóa (105)
      • 3.4.3 Thống kê, đánh giá nguồn tài nguyên du lịch văn hóa ở ĐBSCL (106)
      • 3.4.4 Chiến lược phát triển (106)
        • 3.3.4.1. Tổ chức xây dựng một khung hợp tác du lịch văn hóa (107)
        • 3.4.4.2 Phát triển sản phẩm du lịch văn hóa ĐBSCL (109)
        • 3.4.4.3 Vấn đề tiếp thị du lịch văn hóa ĐBSCL (0)
        • 3.4.4.4. Vấn đề nguồn nhân lực (116)
        • 3.3.4.5. Vấn đề kiểm soát những tác động của du lịch văn hóa (117)
    • 3.5 TÓM TẮT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (121)
  • KẾT LUẬN (123)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (125)

Nội dung

Sự phát triển của du lịch văn hóa đã và đang có nhiều cống hiến lớn cho sự phát triển của ngành du lịch thế giới nói riêng và nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế, văn hóa - xã hội cho cộ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH VÀ NHÂN VĂN

-F G -

TRẦN ANH DŨNG

DU LỊCH VĂN HÓA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH VÀ NHÂN VĂN

Trang 5

MỤC LỤC

DẪN NHẬP

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC 3

III LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 4

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU 6

VI BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 6

Chương một CƠ SỞ LỊCH SỬ, LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA 1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA DU LỊCH VÀ DU LỊCH VĂN HÓA 8

1.1.1 Lịch sử ra đời 8

1.1.2 Qúa trình phát triển 13

1.2 KHÁI QUÁT THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA DU LỊCH VĂN HÓA 16

1.2.1 Một số nước trên thế giới 16

1.2.2 Ở Việt Nam 17

1.3 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC 21

1.3.1 Khái niệm du lịch văn hóa 21

1.3.1.1 Tổng hợp và định nghĩa về Du lịch văn hóa 21

1.3.1.2 Mối quan hệ giữa du lịch với văn hóa và văn hóa học 25

1.3.1.3 Đặc trưng của du lịch văn hóa 26

1.3.1.3 Chức năng cơ bản của du lịch văn hóa 27

1.3.1.4 Đối tượng của du lịch văn hóa 27

1.3.1.5 Chủ thể của du lịch văn hóa 28

Trang 6

1.3.1.7 Nguyên lý cơ bản của du lịch văn hóa 34

1.3.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng của du lịch văn hóa 35

1.3.3 Các nhân tố để phát triển du lịch văn hóa 40

1.3.3.1 Sự phối hợp cùng hành động 40

1.3.3.2 Xác định nhu cầu của du lịch văn hóa 41

1.3.3.3 Quản lý điểm đến trong du lịch văn hóa 42

1.3.3.4 Giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực 43

1.3.3.5 Tiếp thị điểm đến du lịch văn hóa 44

1.3.3.6 Giám sát, kiểm soát các tác động của du lịch văn hóa 47

Chương hai THỰC TRẠNG DU LỊCH VĂN HÓA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC 2.1 TỔNG QUAN NGUỒN TÀI NGUYÊN DU LỊCH VĂN HÓA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 51

2.1.1 Lịch sử khai thác 51

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 54

2.1.2.1 Về cấu tạo địa hình 54

2.1.2.2 Về mặt thủy văn 55

2.1.2.3 Về mặt khí hậu 55

2.1.3 Tài nguyên nhân văn 55

2.1.3.1 Lối sống cư dân đồng bằng sông Cửu Long 55

2.1.3.2 Lễ hội truyền thống ở đồng bằng sông Cửu Long 57

2.1.4 Tài nguyên con người 64

2.1.5 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 65

2.2 THỰC TRẠNG VỀ NGHIÊN CỨU VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA ĐBSCL 66

2.2.1 Quan niệm về du lịch văn hóa ở ĐBSCL 66

Trang 7

2.2.2 Thực trạng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho du lịch văn hóa ở

ĐBSCL 69

2.3 Thực trạng về khai thác du lịch văn hóa ĐBSCL 71

2.3.1 Các loại hình tour du lịch văn hóa đang được khai thác tại ĐBSCL 71 2.3.2 Công tác tiếp thị, hợp tác phát triển du lịch và du lịch văn hóa giữa các địa phương ở ĐBSCL 76

2.3.3 Hợp tác giữa ngành du lịch và ngành văn hóa tại ĐBSCL 83

2.4 QUẢN LÝ DU LỊCH VĂN HÓA TẠI ĐBSCL 80

2.4.1 Về quản lý nhà nước 80

2.4.2 Về quản lý nghiệp vụ chuyên môn 81

Chương ba ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 3.1 NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA 84

3.1.1 Về mặt văn hóa 84

3.2.2 Về mặt kinh tế 85

3.2.3 Về chính trị 85

3.2.5 Về môi trường 86

3.2 THAM KHẢO MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TRÊN THẾ GIỚI 86

3.2.1 Tại Thái Lan 86

3.2.2 Tại Singapore 88

3.2.3 Tại Anh quốc 90

3.3 PHÂN TÍCH SWOT VỀ DU LỊCH VĂN HÓA ĐBSCL 91

3.3.1 Điểm mạnh 91

Trang 8

3.3.3 Cơ hội 95

3.3.4 Rủi ro 95

3.4 PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 97

3.4.1 Nhận thức và xác định tầm quan trọng của du lịch văn hóa 97

3.4.2 Nghiên cứu du lịch văn hóa 97

3.4.3 Thống kê, đánh giá nguồn tài nguyên du lịch văn hóa ở ĐBSCL 98

3.4.4 Chiến lược phát triển 98

3.3.4.1 Tổ chức xây dựng một khung hợp tác du lịch văn hóa 100

3.4.4.2 Phát triển sản phẩm du lịch văn hóa ĐBSCL 101

3.4.4.3 Vấn đề tiếp thị du lịch văn hóa ĐBSCL 105

3.4.4.4 Vấn đề nguồn nhân lực 108

3.3.4.5 Vấn đề kiểm soát những tác động của du lịch văn hóa 109

3.5 TÓM TẮT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 113

KẾT LUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Phụ lục 1: Thuật ngữ du lịch văn hóa 124

Phụ lục 2: Tài nguyên du lịch văn hóa 138

Phụ lục 3: Nguyên lý du lịch văn hóa 140

Phụ lục 4: Những thành phố du lịch văn hóa châu Âu 146

Phụ lục 5: Một số chương trình tour du lịch văn hóa ĐBSCL 147

Phụ lục 6: Một số bài báo viết về du lịch văn hóa 153

Phụ lục 7: Các cơ quan quản lý du lịch ở ĐBSCL 163

Phụ lục 8: Một số hình ảnh thực tế hoạt động du lịch văn hóa 165

Phụ lục 9: Bảng chú thích nguồn ảnh 173

Trang 9

DẪN NHẬP

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn hóa là một phần không thể thiếu đối với hoạt động du lịch Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch ngày càng sâu rộng Giống như hoạt động của nhiều ngành kinh tế khác, du lịch cũng phải chịu sự chi phối của quy luật cạnh tranh phát triển và đặc biệt là “xu hướng tiêu thụ” dịch vụ Vài thập niên trước, du lịch sinh thái (du lịch biển, núi, sông, rừng, suối…) phát triển mạnh mẽ và là một trong những mục tiêu đầu

tư khai thác du lịch chính của châu Âu và nhiều quốc gia trên thế giới Nhưng những năm gần đây, xu hướng này đã thay đổi Sự tăng trưởng ngày càng lớn của du lịch văn hóa đã đặt ra nhiều vấn đề trong đó đặc biệt là “cung” và “cầu” về văn hóa Vì thế, một “ngành công nghiệp văn hóa” đã ra đời để phục vụ cho nhu cầu hưởng thụ văn hóa, trong đó, du lịch văn hóa được xem là một “kênh phân phối” để “tiêu thụ” văn hóa hiệu quả nhất Vì vậy, việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của du lịch văn hóa

đã được nhiều nước trên thế giới tiến hành, đặc biệt là tại châu Âu

Có thể thấy rằng, mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và du lịch trong quá trình vận động phát triển là rất rõ Du lịch khai thác các giá trị văn hóa làm nền tảng cho mục đích của các chuyến đi và tựa vào văn hóa để phát triển Sự phát triển của du lịch đã làm cho các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại ở một số vùng địa phương được khôi phục và phát triển “Văn hóa như một quá trình, là mục tiêu tìm kiếm của khách du lịch1”[MacCannell, 1976: 28] Do đó, có thể nói, chính văn hóa là một chìa khóa then chốt để mở đường cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch

Sự phát triển của du lịch văn hóa đã và đang có nhiều cống hiến lớn cho sự phát triển của ngành du lịch thế giới nói riêng và nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế, văn hóa - xã hội cho cộng đồng địa phương lẫn du khách Điều này được khẳng định

rõ hơn trong thập kỷ hợp tác phát triển văn hoá thế giới (1988-1998) Tổ chức Văn

Trang 10

hóa-Khoa học-Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO2) đã thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO3), Ngân hàng Thế giới (WB) và Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP4), các tổ chức, các công ty lữ hành và những chuyên gia hoạt động trong ngành du lịch để xây dựng những chương trình hành động nhằm khuyến khích sự quan tâm sâu sắc hơn nữa đến ảnh hưởng và tác động qua lại giữa văn hóa và du lịch Có thể nói, du lịch và du lịch văn hóa ngày nay

đã góp phần tích cực trong việc thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa sâu sắc Hay nói như UNESCO là "Mục đích sâu xa hơn nữa của du lịch là xây dựng một công cụ đối thoại giữa các nền văn hóa nhân loại" [Lucia Iglessias, 1999: tr.34]

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề du lịch văn hóa cũng đã được các cấp, các ngành, giới truyền thông, nhiều nhà ngiên cứu đề cập thông qua các diễn

đàn, hội nghị, hội thảo khoa học Trong điều 1 Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam năm

1999 có ghi rõ: "Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp

quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế -xã hội của đất nước"

Nhiều chương trình hành động về du lịch được Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với các ngành, các cấp tại địa phương tổ chức với qui mô lớn đã gây sự chú

ý và thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước Những chương trình như Lễ hội đất phương Nam (Lễ hội văn hóa dân gian vùng Nam Bộ), Du lịch Điện Biên (Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết hợp với sự kiện 50 năm chiến thắng Điện Biên), Con đường

di sản miền Trung (Lễ hội dân gian kết hợp với tham quan những di sản văn hóa thế

giới) Những chương trình hoạt động trên mang đậm màu sắc du lịch văn hóa Tuy nhiên, đây chỉ mới là những hoạt động mang tính kích cầu cho du lịch chứ chưa phải

là một hoạt động chuyên nghiệp của du lịch văn hóa Muốn thực hiện và khai thác được một cách hiệu quả về du lịch văn hóa nhất định là phải cần có động tác tách du

2 United Nations Educational Scientific and Cultural Organization

3 World Tourism Organization

4 United Nations Development Programme

Trang 11

lịch văn hóa thành một đối tượng nghiên cứu chuyên sâu như các nước tiên tiến đang làm Tuy nhiên, cho đến nay việc nghiên cứu và đào tạo về du lịch văn hóa ở Việt Nam nói chung vùng ĐBSCL nói riêng vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Là học viên chuyên ngành Văn hóa học và đã nhiều năm công tác trong ngành

du lịch, được sinh ra và lớn lên tại đồng bằng sông Cửu Long, tôi hiểu được những nét văn hóa đặc sắc của vùng đất này và sự “khập khiễng” của hoạt động khai thác du lịch văn hóa trong nhiều năm qua Vì vậy, việc nghiên cứu về du lịch văn hoá hiện nay đối với vùng đất này là rất cần thiết

Trong nội dung của luận văn, tôi cố gắng trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về du lịch văn hóa để từ thực trạng về du lịch tại ĐBSCL có thể xây dựng một định hướng phát triển du lịch văn hóa bền vững cho vùng này Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu của Việt Nam, tại ĐBSCL đang ráo riết chuẩn bị xây dựng những chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong đó có du lịch Do đó, việc chọn nghiên cứu

“Du lịch văn hoá vùng đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn Văn hóa học” để làm

đề tài luận văn Thạc sỹ ngành Văn hóa học của mình là nhằm góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển của du lịch văn hóa tại ĐBSCL nói riêng và cho Việt Nam nói chung

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC

Luận văn bước đầu tập hợp và hệ thống hóa khái niệm du lịch văn hóa đã có từ trước đến nay để làm cơ sở tìm hiểu và tổng kết thực tiễn hoạt động du lịch văn hoá tại ĐBSCL Góp thêm luận cứ và nâng cao nhận thức khoa học để nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa vùng ĐBSCL nói riêng và du lịch văn hóa Việt Nam nói chung Qua đó có thể mở rộng thêm cơ sở khoa học cho ngành Văn hóa học ứng dụng và góp phần xây dựng ngành du lịch học

Luận văn cố gắng mang lại một số đóng góp nhỏ về khái niệm du lịch văn hóa bằng cách xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và phân loại du lịch văn hóa để từ đó đưa

ra cái nhìn bao quát hơn về khái niệm du lịch văn hóa Điều này rất cần thiết cho việc xây dựng chiến lược đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch hiện nay Bên cạnh đó, luận văn cũng góp thêm cái nhìn tổng quan về chiến lược phát triển du

Trang 12

lịch văn hóa ở ĐBSCL, góp phần nâng cao nhận thức về các giá trị văn hóa, quyền lợi lâu dài của cộng đồng địa phương trên bước đường xã hội hóa du lịch văn hóa

III LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Du lịch văn hóa đã được nhiều tổ chức quốc tế tiến hành đầu tư nghiên cứu từ năm 1980 như Hiệp hội Nghiên cứu Du lịch và Giáo dục ATLAS (The Association for Tourism & Leisure Education & Research), Trung tâm Châu Âu về Nghiên cứu Văn hoá vùng và Truyền thống ECTARC (European Center for Traditional & Regional Cultures), Hội đồng châu Âu (Council of Europe), Ủy ban Châu Âu (European Commission) Hệ thống Du lịch Văn hóa Châu Âu ECTN (European Cultural Tourism Network) Tuy nhiên, Thuật ngữ "Cultural tourism" hay "ngành du

lịch văn hóa" trong tác phẩm International Tourism: Identify & change của Lanfant

vào năm 1995 tại Anh Quốc mới thật sự gây tiếng vang và làm khơi dậy khái niệm mới về bản chất của du lịch và mối quan hệ bên trong của du lịch và văn hóa Từ đó

về sau, khái niệm du lịch văn hóa được các nhà nghiên cứu tích cực xây dựng và hoàn thiện Năm 1999, tại cuộc họp lần thứ XII của Hội đồng Quốc tế về Những công trình

kỷ niệm và khu di tích, gọi tắt là ICOMOS5 ở Mexico đã đưa ra bản hiến chương về

du lịch văn hóa [xem phụ lục 3, tr.140]

Cùng với những nghiên cứu sâu về du lịch văn hóa thì môn du lịch văn hóa cũng được hình thành và đã trở thành chuyên ngành đào tạo ở bậc đại học và sau đại học ở nhiều quốc gia: Ở Anh đã mở chương trình đào tạo thạc sỹ du lịch văn hóa từ năm 1997 Australia có chương trình đào tạo cử nhân ngành du lịch văn hóa từ năm

1999 Ở Trường đại học Calgary tại Canada có đào tạo thạc sỹ chuyên ngành du lịch văn hóa từ năm 2000 Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về du lịch văn hóa, nhiều hội thảo khoa học về du lịch văn hóa do WTO, ECTN và UNESCO tổ chức, thế nhưng cơ sở lý luận về du lịch văn hóa ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam vẫn còn chưa chuẩn và đầy đủ Rõ ràng, du lịch văn hoá và xu hướng phát triển của ngành khoa học mới này đã đặt ra nhiều vấn đề mới trong nhận thức của chúng ta Do đã quen xếp du lịch văn hóa đồng

5 International Council On Monuments and Sites

Trang 13

cấp với các loại hình du lịch khác như du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch thể thao nên ý tưởng cũng như nhận thức về du lịch văn hóa còn nhiều bất cập và phiến diện

Về văn hóa và cuộc sống của cư dân vùng ĐBSCL cho đến nay có nhiều công

trình nghiên cứu sâu và có giá trị như Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long

của Nguyễn Công Bình-Lê Xuân Diệm-Mạc Đường do NXB KHXH in năm 1990;

Văn minh miệt vườn của Sơn Nam, NXB Văn hóa in năm 1992; Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á của ĐHQG Tp.HCM do NXB TP.HCM in năm 2000; Văn hoá các dân tộc Tây Nam bộ của Trần Văn Bính do NXB Chính trị Quốc gia in năm 2004; Du lịch ba miền Đất phương Nam của Bửu Ngôn do NXB Trẻ in năm 2004; và Nam Bộ xưa và nay của Tạp chí Xưa & Nay năm 1998 Nhìn chung,

chúng ta chưa thấy những công trình đi sâu vào nghiên cứu về du lịch văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, chúng ta lại thấy có khá nhiều giáo trình giảng dạy, bài viết trên các tạp chí, những bài tham luận tại các hội nghị Nhiều tác giả có

đề cập đến văn hóa du lịch và du lịch văn hóa từ nhiều góc độ khác nhau Các nguồn

tư liệu trên sẽ là tài liệu quý giá, làm nền tảng để tác giả đi sâu phân tích các khía cạnh du lịch văn hóa ở vùng ĐBSCL hiện nay

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Du lịch văn hóa là một chuyên đề còn khá mới mẻ Nó được hình thành trên cơ

sở nhận thức mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch Đây cũng là chuyên đề khoa học mang tính tổng hợp liên ngành Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài này là du lịch văn hóa và định hướng phát triển du lịch văn hóa ở đồng bằng sông Cửu Long

Về phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong không gian vùng đồng bằng sông Cửu Long, có đối chiếu so sánh với một số vùng trong và ngoài nước

Về thời gian, đề tài sẽ nghiên cứu khảo sát tình hình du lịch và du lịch văn hóa tại đồng bằng sông Cửu Long từ 1990 (Năm du lịch Việt Nam) tới nay vì không chỉ ở đồng bằng sông Cửu Long mà đối với các vùng khác trên cả nước, du lịch mới chỉ thật sự khởi đầu từ giai đoạn này trở đi

Trang 14

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

Luận văn được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp nghiên cứu tổng hợp liên ngành, phân tích, so sánh, khảo sát thực địa để nghiên cứu du lịch văn hóa và thực trạng phát triển của du lịch văn hóa vùng ĐBSCL Lấy kiến thức và cơ sở lý luận của ngành Văn hóa học kết hợp với lý thuyết về Du lịch học, tham khảo những định nghĩa, thuật ngữ, khái niệm về du lịch văn hoá của các nhà khoa học trong và ngoài nước để làm nền tảng cho cơ sở lý luận

Nguồn tư liệu sử dụng để viết luận văn gồm những tài liệu về văn hóa, lịch sử, kinh tế, du lịch được sưu tầm trong và ngoài nước

Tài liệu trong nước: Viện nghiên cứu ĐBSCL, Viện Chiến lược phát triển của

Bộ Kế hoạch Đầu tư, website của các tỉnh ĐBSCL, tài liệu về phát triển ĐBSCL của Trường đại học KHXH-NV TP.HCM, các sách, báo, bài tham luận viết về du lịch và văn hóa ĐBSCL

Tài liệu nước ngoài: gồm tài liệu nghiên cứu về du lịch văn hóa của các tổ chức lớn như: ECTN, ATLAS, WTO, UNESCO và sách, báo, tham luận của các nhà khoa học về du lịch văn hóa của thế giới

VI BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn được phân chia bố cục như sau:

Phần mở đầu, giới thiệu lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, lịch sử

nghiên cứu vấn đề, đối tượng và phương pháp nghiên cứu…

Chương một, giới thiệu đối tượng và lịch sử của vấn đề nghiên cứu Chương

này đi sâu vào tìm hiểu những định nghĩa, những học thuyết về du lịch văn hóa và mối quan hệ bên trong của văn hóa và du lịch, từ đó nghiên cứu bản chất của du lịch văn hóa như đối tượng của du lịch văn hóa, tính chất của du lịch văn hóa, cấu trúc của

du lịch văn hóa và các vấn đề khác về du lịch văn hóa nhằm đi tìm cơ sở lý luận cho việc phát triển du lịch văn hóa

Chương hai, nêu lên thực trạng về du lịch văn hóa vùng ĐBSCL như thực

trạng về nguồn tài nguyên du lịch văn hóa, thực trạng về khai thác du lịch văn hóa,

Trang 15

quan niệm về du lịch văn hóa tại ĐBSCL để làm cơ sở cho giải pháp khoa học về phát triển du lịch văn hóa

Chương ba, đề xuất các giải pháp phát triển dựa trên cơ sở nghiên cứu về thực

trạng khai thác du lịch văn hóa của vùng này hiện nay Luận văn cố gắng nêu ra mục tiêu và quan điểm phát triển du lịch văn hóa để từ đó xây dựng nguyên lý phát triển toàn diện và khoa học dựa vào một số kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa ở một số quốc gia nhằm góp phần hình thành giải pháp phát triển du lịch văn hóa bền vững cho ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LỊCH SỬ, LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA

1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA DU LỊCH VÀ DU LỊCH VĂN HÓA

cổ đã từng đến xin quẻ ở các miếu thờ tại Delphi hay Dodona16 Những người hành hương cơ đốc giáo thời trung cổ cũng đã từng đi khắp châu Âu tìm mua những di vật với giá hời để giữ làm "bảo vật" hoặc bán lại mong kiếm được chút tiền lời Họ cũng rất thích tìm đến vùng đất thánh để mang về bất cứ thứ gì mà họ cho đó là "vật linh"

để thờ trong nhà Đây có lẽ là hình thức sơ khai mà ngày nay người ta gọi là du lịch hành hương Các nhà truyền giáo Anh thời trung cổ rất thích những cuộc hành trình đến các thành phố lạ để "truyền đạo Cơ Đốc và tìm kiếm gia vị", nâng cao tầm hiểu biết của bản thân

Vào thế kỷ 14, Ibn Battuta7, nhà du hành lớn người Arập, đã lập kỷ lục đi một chặng đường dài 120,000 km trong suốt 30 năm khắp thế giới Hồi giáo từ thành phố

6 Những thành phố của Hy Lạp cổ đại

7 Ibn Battuta(1304-1369) sinh ra tại Tangier Arập, từng bỏ ra 30 năm chu du khắp thế giới Ảrập qua Trung Á, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Hoa, Ấn Độ, khám phá hoang mạc Sahara với chặng đường dài hơn 120,000 km

Trang 17

Tangier (quê hương của ông) qua Thổ Nhĩ Kỳ, xuyên Tây Á vào Trung Hoa, Ấn Độ

Hình 1.1: Những người tiên phong khám phá các vùng đất mới

Cuối thế kỷ18, ở châu Âu, cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một thị trường mới đầy tiềm năng cho ngành du lịch Việc cải tiến đường sá đã rút ngắn rất nhiều thời gian di chuyển giữa các thành phố Người ta bắt đầu nghĩ đến việc vận chuyển xa hơn và đi nhiều hơn Sự phát triển mạnh mẽ về công nghiệp đã dần làm thay đổi diện mạo của các thành phố lớn Cuộc sống của người dân dần được cải thiện

và người ta bắt đầu có thói quen sử dụng những dịch vụ công cộng Chế độ lao động theo giờ giấc đã nảy sinh ra vấn đề đáp ứng nhu cầu về những ngày nghỉ cho công nhân

Dần dần, quan niệm mới về giải trí và tổ chức các chuyến đi du lịch cho công nhân cũng hình thành và phát triển

Nhiều người cho rằng, sự hình thành và phát triển của du lịch xuất phát từ kỷ nguyên máy hơi nước ở châu Âu và Bắc Mỹ

Vào năm 1821, tàu thủy chạy bằng hơi nước đã bắt đầu nối liền các thành phố lớn của châu Âu Đầu tiên là giữa thành phố Dover (Anh) với Calais (Pháp), người ta ước tính mỗi năm những chiếc tàu này chở hàng trăm ngàn hành khách Vài năm sau

đó, tàu chạy bằng hơi nước mở đầu dịch vụ qua lại trên sông Rhin, sông Rhôn và sông Danube Nhưng quan trọng hơn cả là việc mở rộng mạng lưới đường sắt đã đẩy mạnh

Trang 18

hoạt động du hành, cho phép con người đi được xa hơn và nhanh hơn Ngày càng có nhiều người muốn đi để "nhìn ra thế giới bên ngoài" nhưng họ e ngại khó khăn, nguy hiểm, đặc biệt là những du khách giàu có Họ cần có một dịch vụ chuẩn bị trước để chăm lo cho sự chắc chắn và an toàn cho chuyến đi của mình Biện pháp thường được người ta sử dụng là thuê những người đã từng đi đến điểm họ muốn đến để hướng dẫn toàn bộ cho chuyến đi của các vị khách này Những người được thuê vừa là một người tháp tùng vừa là người thủ lĩnh của nhóm Trong quá trình tháp tùng “bất đắc dĩ” này người ta đã phát hiện ra một nhu cầu cực kỳ lớn về dịch vụ hướng dẫn chăm

lo các chuyến đi xa

Từ đó, các sách du lịch cầm tay thô sơ và các nhà tổ chức du lịch cũng bắt đầu xuất hiện Cho đến vào giữa thế kỷ 19 cả một ngành công nghiệp du lịch bao gồm các hãng du lịch, sách chỉ dẫn, những chuyến đi có tổ chức trọn gói, khách sạn, đường sắt, giờ tàu chạy nhằm cung cấp cho khách hàng những thể thức du hành được đảm bảo

và thú vị hơn Ba nhân vật chủ chốt và tiên phong trong tiến trình hình thành và phát triển ngành du lịch châu Âu là John Muray người Anh (1808-1892), Baedeker, người Đức (1801-1859), làm công tác xuất bản, cùng với một nhà đại lý du lịch người Anh,

là Thomas Cook (1808-1892)

Hàng trăm quyển sách viết về du lịch thông qua các chuyến đi đã ra đời để phục vụ những vị khách “lớn” như Chuyến đi lớn 8 (1749) của Thomas Nugent, Một chuyến đi Calais (1776) của Samuel Foote, Sách đỏ cầm tay (Hand held red book) của

Baedeker,… nhưng đây chỉ mới là những bài viết mang tính tường thuật lại những kỷ niệm trong chuyến đi mà không phải là một quyển sách hướng dẫn du lịch với các thông tin cần thiết cho chuyến đi xa Những quyển sách này chưa thật sự hữu dụng đối với du khách lúc bấy giờ Vì thế, năm 1840, những sách trên đã được thay thế bằng các cuốn sổ đỏ của Murray và Baedeker, tất cả đều cùng một khổ, từng thời kỳ lại được cập nhật và mẫu mã được thiết kế sao cho nhỏ, gọn, dễ cầm tay và có thể bỏ túi Baedeker muốn cung cấp cho du khách của ông đầy đủ những thông tin cần thiết nên đã tự mình đi du lịch nhằm kiểm chứng tính xác thực của thông tin mà ông cung

8 Grand Tour

Trang 19

cấp cho khách Cũng chính ông là người đã sử dụng các "sao" để xếp loại các khu du lịch và khách sạn, một tiêu chuẩn đã trở nên vô cùng phổ biến trong ngành công nghiệp du lịch sau này

Thực ra sách chỉ dẫn bìa đỏ, cũng như những sách chỉ dẫn du lịch hiện đại sau này thường bị phê phán là đã giới thiệu các di sản kiến trúc như những công trình kỷ niệm siêu sao (nổi tiếng), hoàn toàn không liên hệ gì với đời sống thực tế của đất nước và nhân dân đã xây dựng nên chúng Để thu hút các tân du khách giàu có đôi khi các quyển sách này phải cường điệu hóa thông tin nhằm làm tăng thêm tính hấp dẫn của điểm tham quan

Nhà tổ chức du lịch Thomas Cook cho rằng "Đi tham quan nước khác sẽ đem lại cho con người một cơ hội chưa từng có để được bồi bổ về văn hóa và tinh thần" [Roy Malkin, 1999] Năm 1841, ông bắt đầu tổ chức những chuyến du hành bằng xe lửa ít tốn kém cho công nhân Anh nhưng sau đó đã chuyển sang loại khách sang trọng Năm 1855, ông đã tháp tùng nhiều nhóm khách quan trọng như những vị tu sĩ nổi tiếng, thầy thuốc, chủ ngân hàng, kỹ sư và nhiều nhà buôn lớn sang Italia Hãng

du lịch của Thomas Cook đã đi tiên phong trong việc liên kết với các dịch vụ “đôi bên cùng có lợi” với nhà ăn, khách sạn, quan chức địa phương để có thể thực hiện chu đáo những gì ông đã cam kết với khách hàng Nhờ nghệ thuật liên kết khéo léo nên hãng

du lịch của Thomas Cook đã gần như chinh phục được tất cả các vị thượng khách khó tính và không lâu sau Thomas Cook đã trở thành một doanh nghiệp có uy tín và đầy quyền lực ở Anh

Dần dần những chuyến đi của Thomas Cook luôn luôn được dư luận chú ý bởi chúng không giới hạn ở mục đích tìm hiểu và giao lưu nữa Những điểm đến có nhiều sản vật quý giá và phụ nữ đẹp được khách hàng lớn của Thomas Cook quan tâm Họ đến những vùng đất này với một thái độ “chiếm đoạt” hơn là “ngắm nhìn” Để có được những món hàng quý, khách hàng của ông có khi phải sử dụng vũ lực để chiếm đoạt của người địa phương Dần dần khách hàng của Thomas Cook và những chuyến

đi của ông luôn là mối lo ngại cho người dân khắp nơi Những từ ngữ không mấy thiện cảm như: xâm nhập, đội quân, bọn cướp luôn đi kèm với những chuyến du

Trang 20

hành của ông Và vì thế du lịch thời bấy giờ dưới con mắt một số người địa phương là hình thức chủ nghĩa đế quốc Sau mỗi chuyến đi trở về, khách hàng và doanh nghiệp của ông ngày càng giàu có Người ta thường ví Thomas Cook như là một danh tướng của những chuyến du ngoạn đương thời Những thông tin mà Thomas Cook có được ở những vùng đất giàu có là một báu vật lớn đối với nhà cầm quyền Trước khi quyết định xâm chiếm một vùng đất nào đó, các nhà cầm quyền phải nhờ sự cố vấn của ông Doanh nghiệp của Thomas Cook được nhiều người ví như chất xúc tác hỗ trợ cho chế

độ xâm chiếm bóc lột và áp bức Nó đã trở thành một trong những trụ cột của quyền lực quân sự và hành chánh của Anh tại Ai Cập9

Như vậy, ngành du lịch có một thời đã phát triển và bị chi phối, thao túng bởi mục đích xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mục đích thật sự của du lịch đã bị xâm hại nghiêm trọng Người ta thấy du lịch chỉ phát triển ở những vùng có nền hòa bình và

ổn định chính trị Nhiều người cho rằng từ sau Hội chứng Stendhal10, cái gọi là du lịch thẩm mỹ hay du lịch “lịch sự” đã trở thành mục tiêu phấn đấu của những người yêu mến du lịch chân chính Người ta ngày càng đề cao hình thức du lịch trên cơ sở tận hưởng cái đẹp và bảo vệ cái đẹp cho cộng đồng địa phương Nhiều người cho rằng

du lịch văn hóa được hình thành và phát triển từ sau hội chứng Stendhal năm1837 Từ thời gian này trở đi, những vấn đề về du lịch thường được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là mối quan hệ của chủ (cộng đồng cư dân đón tiếp) và khách du lịch Từ cultured traveler được dùng để chỉ khách du lịch văn hóa thời bấy giờ Khách du lịch văn hóa được hiểu thời bấy giờ là những vị khách đi du lịch với mục đích chính là tìm và mong muốn được trải nghiệm những sinh hoạt văn hóa của cộng đồng cư dân địa phương [Richard Greg 1996: 110]

Tuy nhiên, nếu đứng về góc độ văn hóa lịch sử thì nhiều người cho rằng du lịch văn hóa đã xuất hiện trước khi có ngành du lịch Khách du lịch văn hóa xuất hiện

Trang 21

từ thời La Mã cổ đại Những chuyến đi về Hy Lạp, Ai Cập và Santiago de Compostela thuộc miền Bắc Tây Ban Nha được giới quý tộc, chức sắc tôn giáo, những triết gia nổi tiếng xem là “mục tiêu phấn đấu” trong cuộc đời Những chuyến đi này thời bấy giờ gọi là Grand Tour có nghĩa là “chuyến đi lớn”.[Towner,1985: 301]

Nhu cầu về những chuyến đi tìm hiểu về văn hóa lịch sử, tôn giáo thật sự phát triển khá nhanh từ khoảng thế kỷ 15 Đến thế kỷ thứ 17, cái gọi là Grand Tour mới được giới trung lưu ở Anh chú ý Nhưng nó không còn giống với Grand Tour ban đầu

mà đã được chuyển thể khá nhiều và có tên mới là Romantic Grand Tour (Chuyến đi lãng mạn lớn) Nếu như mục đích của chuyến Grand Tour cổ điển (Classical Grand Tour) là chỉ tập trung và tham quan tìm hiểu thế giới văn hóa cổ xưa, những nơi có các sử thi nổi tiếng thì khách Romantic Grand Tour lại có thời gian tham quan những

cảnh đẹp và những sinh hoạt văn hóa của địa phương Có lẽ hình thức Romantic

Grand Tour là tiền thân của khái niệm du lịch văn hóa tại châu Âu và nhu cầu về thưởng thức “những sản phẩm văn hóa” (cultural productions) là một trong những

nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của du lịch văn hóa

1.1.2 Qúa trình phát triển

Chuyến du lịch trọn gói (Package tour) đầu tiên do Thomas Cook tổ chức vào năm 1860 đi từ Anh sang Ý và Hy Lạp đánh dấu sự ra đời và phát triển của ngành du lịch và đặc biệt là mục đích của chuyến đi này là trải nghiệm văn hóa.[Swinglehurst, 1982: 48] Sau Thomas Cook, các đại lý lữ hành phát triển rất nhanh và hình thành một ngành du lịch chuyên nghiệp Tuy nhiên, du lịch là một ngành rất nhạy cảm với tình hình chính trị đặc biệt là chiến tranh Lịch sử châu Âu đã có những lúc chiến tranh xảy ra liên tục đã làm cho du lịch không thể phát triển được

Nhìn lại lịch sử châu Âu chúng ta thấy rằng, trước Tây lịch là giai đoạn thống trị của đế chế La Mã cổ đại, kế đến là giai đoạn chiến tranh tôn giáo giữa Đạo Thiên Chúa và Tin Lành (1618-1648), rồi thời kỳ hưng thịnh của đế chế Napoleon đã làm cho bức tranh kinh tế chính trị ở châu Âu thêm đen tối Sau khi Napoleon bị đánh đổ hoàn toàn vào năm 1813, bản đồ của các nước châu Âu lần lượt được vẽ lại Nhưng sau đó liên tiếp xảy ra các cuộc chiến tranh tay đôi như: Phổ-Áo (1862-1866), Phổ-

Trang 22

Pháp (1870-1871) Khi Phổ bao vây Paris thì cũng là lúc nước Đức hoàn toàn độc lập Wilhelm lên ngôi Hoàng đế nước Đức năm 1871 và cũng là giai đoạn đánh dấu sự phục hưng mạnh mẽ của nước Đức Vào năm 1907, chiến tranh thế giới lần thứ nhất

nỗ ra giữa hai nhóm: Đức-Ý-Áo-Hungary và Anh-Pháp-Nga kết thúc năm 1914

Suốt một thời gian dài, ngành du lịch bị “ngủ yên” bởi chiến tranh Sau thế chiến thứ nhất, những nỗ lực vì hòa bình và phát triển du lịch đã có một bước tiến quan trọng Năm 1925 Tổ chức Du lịch Thế giới (The World Tourism Organization) được thành lập, đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế du lịch thế giới Tuy nhiên, không bao lâu ngành du lịch lại bị cuộc chiến tranh thế giới thứ II chặn đứng

Sau thế chiến thứ II, từ năm 1950 đến năm 1990, du lịch thế giới đã có những bước phát triển mạnh mẽ Do sự phát triển mạnh về kinh tế tại châu Âu nên xuất hiện

sự “bùng nổ” về tiêu thụ trong đó có nhu cầu du lịch

Từ năm 1950 đến năm 1960, làn sóng khách du lịch quốc tế tới Bắc Âu, Tây

Âu và những bãi biển ở Địa Trung Hải ngày càng đông Đặc biệt vào những năm

1958 đến 1960 những bãi biển đẹp của châu Âu gần như không đáp ứng kịp nhu cầu phục vụ cho khách du lịch Mục đích và cũng là “mốt” của những chuyến du lịch lúc này ở châu Âu là sản phẩm du lịch 3S (Sun, Sea, Sand) [Richard Greg, 1996: 13]

Từ năm 1970 đến 1980, sự bùng nổ kinh tế và xu hướng phát triển toàn cầu hóa đã xuất hiện khái niệm “Mass Tourism” (du lịch đại chúng) Những tác động tiêu cực của du lịch đại chúng đối với môi trường và văn hóa đã làm thức tỉnh lại quan niệm phát triển kinh tế du lịch Mặc khác, ngày càng có nhiều du khách cảm thấy rất

“mệt mỏi” khi đến các khu du lịch biển đầy ắp người ở châu Âu Sự quá tải đối với các khu du lịch biển đã dẫn đến chất lượng dịch vụ giảm và giá cả không ngừng tăng Điều này đã làm cho du lịch 3S không còn giữ được vị trí “mốt thời thượng” nữa Nhiều khách du lịch, đặc biệt là giới trung thượng lưu đã bắt đầu thích thú với những tour du lịch tham quan di tích thắng cảnh để thưởng thức và trải nghiệm văn hóa, có không gian sinh hoạt và giao tiếp cộng đồng Mặc khác, xu hướng thích thụ hưởng những tiện ích văn hóa của du lịch đại chúng trong khi đi du lịch đã làm ra một mức

Trang 23

cung lớn về dịch vụ văn hóa Điều này đã làm nảy sinh ý tưởng về tạo ra một “ngành công nghiệp văn hóa” để phục vụ cho nhu cầu phát triển du lịch một cách bền vững đã làm nảy sinh ra khái niệm về phát triển du lịch văn hóa “Cultural Tourism” ở châu

Âu [Richard Greg, 1996, 14]

Du lịch thế giới đã phát triển rất nhanh từ năm 1990 đến năm 2000 Hàng loạt các cải tiến về hàng không, khách sạn nhà hàng mà đặc biệt là hệ thống mạng đặt vé toàn cầu, mạng internet, các phát minh trong lĩnh vực công nghệ viễn thông… đã thật

sự làm thay đổi diện mạo của ngành du lịch Xu hướng toàn cầu hóa là một đòn bẩy cho sự phát triển của ngành du lịch thế giới Người dân ở các quốc gia giàu có ngày càng thích những chuyến du lịch xa Chúng ta có thể hình dung sự tăng trưởng của du lịch thế giới trong giai đoạn 1997-2000 qua con số thống kê của WTO

Bảng 1.1: Số lượng khách du lịch tăng trưởng từ năm 1997 đến năm 2000

Năm Điểm đến

1997 2000

Châu Âu đi du lịch sang

ĐNA/TBD

10,4 triệu 47 triệu

Châu Âu sang châu Mỹ 19,5 triệu 65 triệu

Châu Âu sang châu Phi 6,9 triệu 19 triệu

Châu Á sang châu Âu 14,3 triệu 47 triệu

Châu Mỹ sang châu Âu 23,6 triệu 44 triệu

Châu Mỹ sang châu Á 6,2 triệu 20 triệu

Châu Phi sang châu Âu 3,5 triệu 11 triệu

(Nguồn của Tổ chức Du lịch Thế giới 2000)

Từ bảng tổng hợp trên ta thấy ngành du lịch đang tăng trưởng cực mạnh Tổ chức Du lịch Thế giới ước tính nếu như tăng tưởng GDP toàn thế giới chỉ khoảng 3% trong khi ngành du lịch tăng trưởng 4,3% Trong năm 1997, thu nhập du lịch đạt gần bằng 8% xuất khẩu hàng hóa thế giới và 34% xuất khẩu các dịch vụ Trên đà phát triển ấy, Tổ chức Du lịch Thế giới đã dự đoán số khách du lịch quốc tế từ năm 2000 đến năm 2020 sẽ từ 650 triệu lên đến 1,6 tỉ người, tổng chi tiêu của khách lên đến

Trang 24

2000 tỉ USD so với 445 tỉ USD năm 2000 và du lịch sẽ trở thành hoạt động kinh tế hàng đầu thế giới

Theo thống kê năm 2005, châu Âu đã đón 444 triệu lượt khách quốc tế và con

số này được dự đoán sẽ tăng lên 717 triệu khách vào năm 2020 Đặc biệt là trong số

444 triệu khách đó có đến 85% là khách du lịch vì mục đích trải nghiệm văn hóa11 Tổ chức du lịch thế giới WTO cũng dự đoán năm 2020 du lịch văn hóa sẽ là một trong năm ngành kinh tế then chốt của thế giới Ngành du lịch văn hóa đã giải giải quyết được 24,3 triệu công ăn việc làm cho toàn châu Âu chiếm 12.1% toàn ngành, đóng góp 11.5% GDP châu Âu Riêng đất nước Tây Ban Nha, năm 2004 đã đón 53,4 triệu khách và có tới 14% số khách đến nhằm mục đích học hỏi văn hóa, 60% nhằm mục đích trải nghiệm các hoạt động văn hóa và 29 triệu khách với mục đích nghỉ dưỡng12

Tóm lại, du lịch và du lịch văn hóa ra đời không phải do một phát minh khoa học Sự ra đời của du lịch và du lịch văn hóa được hình thành một cách tự nhiên như một trong những nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh của con người

1.2 KHÁI QUÁT THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA

Ngày nay, du lịch văn hóa không còn nằm trong khuôn khổ giới hạn của một khái niệm đơn thuần mà nó đã phát triển thành một ngành khoa học độc lập Các nhà khoa học châu Âu là những người đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu này

1.2.1 Một số nước trên thế giới

Tại nhiều quốc gia trên thế giới, ngày càng có nhiều hoạt động nhằm để xây dựng và phát triển du lịch văn hóa Những hội nghị quốc tế về du lịch văn hóa được tổ chức ở nhiều nơi như Hội nghị “Vùng du lịch văn hóa Trung Đông" từ 22-23/12/2005 gồm các nước: Lê-ba-non, Sy-ri-a, Jor-dan, Ả-rập Sau-di, Tu-ni-sia, Ma-rốc và Ba Tư (Iran) tham dự, với chủ đề chính là "Xây dựng và phát triển ngành Du lịch văn hóa cho các nước vùng Trung Đông" Và mới đây nhất từ ngày 22 đến 24/12/2006, Hội nghị ECTN về “Du lịch văn hóa châu Âu lần III” tại thành phố Gothenburg (Thụy Điển) quy tụ 200 đại biểu là các quan chức trong ngành du lịch văn hóa và những nhà

11 Richards 2006: “Cultural Tourism in Europ”

12 Nguồn: Hosteltur,December 2005

Trang 25

khoa học lớn từ 20 quốc gia như Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Ý, Jordan, Hà Lan, Na Uy, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha… tham dự để báo cáo kết quả điều tra nghiên cứu chiến lược phát triển du lịch văn hóa cho châu Âu

Nhiều chương trình hành động nhằm nhằm khuyến khích sự phát triển của du lịch văn hóa để giải quyết vấn đề các di sản văn hóa bị xâm hại khắp nơi được UNESCO và Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) tiến hành như Chương trình Bảo vệ di sản văn hóa Thế giới Petra (Jordan), Angkor (Campuchia) và Machu Picchu (Peru) bằng cách tổ chức quảng cáo các chuyến du lịch văn hóa có sự tài trợ của các hãng hàng không và các khách sạn

Dự án The slave route “Con đường nô lệ” của EU và WTO nhằm thống kê,

bảo tồn, phục chế các công trình lịch sử và địa danh tại châu Phi, châu Mỹ và vùng Caribe liên quan đến vấn đề mua bán nô lệ xuyên đại dương Hay dự án The silk

roads “Con đường tơ lụa” của WTO được thiết kế dần thành con đường du lịch văn

hóa ở các nước Trung Á nhằm gợi nhớ về thời kỳ giao lưu văn hóa xa xưa

Dự án nghiên cứu mang tên Du lịch văn hóa châu Âu của tổ chức ATLAS là

một dự án nghiên cứu lớn dành cho toàn khối châu Âu với nguồn kinh phí của DGXXIII thuộc Hội đồng châu Âu đã thực sự làm khơi dậy vấn đề phát triển du lịch văn hóa của các nước

Ở cấp độ đào tạo về du lịch văn hóa nhiều nơi đã hình thành và đã trở thành chuyên ngành đào tạo ở bậc đại học và sau đại học ở nhiều quốc gia

Như vậy, ta có thể hình dung về một “xu hướng” du lịch văn hóa đang phát

triển rất nhanh trên thế giới

1.2.2 Ở Việt Nam

Việc nghiên cứu về du lịch văn hóa ở nước ta còn khá mới mẻ so với nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, lần theo chặn đường phát triển của du lịch Việt Nam chúng ta thấy rằng vẫn có “dáng dấp” của du lịch văn hóa

Ngành du lịch được chính thức thành lập ngày 09/07/1960 Cùng năm này, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 26/CP thành lập Công ty Du lịch Việt Nam

Trang 26

trực thuộc sự quản lý của Bộ Ngoại thương, đánh dấu sự ra đời của ngành Du lịch Việt Nam

Ngày 31/12/1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) ban hành Nghị định

số 447/HĐBT về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa-Thông tin-Thể thao và Du lịch Cũng vào năm 1990, tại Trường Cao Đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh, Khoa Bảo tàng Du lịch (sau này đổi thành khoa Văn hóa du lịch) đã đưa vào giảng dạy các môn có liên quan đến văn hóa và du lịch cho sinh viên, trên cơ sở lấy văn hóa học ứng dụng làm nền tảng đào tạo cho môn du lịch Trường Đại học Văn hóa Hà Nội sau đó cũng xây dựng và đưa môn văn hóa du lịch vào giảng dạy cho sinh viên khoa Du lịch Trường nghiệp vụ Du lịch Sài Gòn cũng có môn văn hóa du lịch cho sinh viên Môn văn hóa du lịch hiện nay là một trong những môn thi tốt nghiệp tại các trường đại học có khoa Du lịch như Trường đại học Văn Lang, Trường đại học Hùng Vương

Thực tế ngành du lịch Việt Nam còn khá non trẻ so với các nước tiên tiến Các vấn đề nghiên cứu lý luận và nhận thức ở chừng mực nào đó có nhiều bất cập Riêng

về chuyên ngành du lịch văn hóa ở Việt Nam hiện nay chưa được hình thành rõ nét và khoa học về ngành này cũng chưa được quan tâm, đầu tư nghiên cứu nghiêm túc

Tuy vậy, các nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu, giới khoa học từ lâu đã nhận thức rằng văn hóa là đòn bẩy, là yếu tố then chốt cho sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt trong đó có ngành du lịch Điều này có thể thấy qua các hoạt động văn hóa lễ hội, xúc tiến du lịch của ngành du lịch và ngành văn hóa thông tin trong những năm qua

Năm 1990, nhiều sự kiện trọng đại đã diễn ra đánh dấu sự giai đoạn phát triển của ngành du lịch Việt Nam Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh-Danh nhân Văn hóa thế giới, và kỷ niệm 15 năm thống nhất đất nước, Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức chương trình mang tên: "Những ngày văn hóa thể thao các dân tộc Việt Nam" nhằm mục đích phát động "Năm Du lịch Thể thao Văn hóa" trên toàn quốc Chính những tác động của chương trình này mà ngành du lịch lần đầu tiên đón gần 300.000 khách quốc tế đến Việt Nam

Trang 27

Ngày 26/10/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 05/CP thành lập Tổng cục

Du lịch Việt Nam Cũng từ thời gian này, nhiều vấn đề được ngành văn hóa và du lịch quan tâm, trong đó có việc phát huy các yếu tố văn hóa truyền thống để phát triển du lịch và những vấn đề văn hóa, du lịch dần dần được đưa ra

Định hướng văn hóa trong phát triển du lịch bước đầu đã mang lại nhiều thành công Lần đầu tiên sau 4 năm nỗ lực hoạt động, ngày 26/12/1994, Việt Nam đã đón chào người khách thứ 1 triệu, một kết quả ngoài mong đợi của ngành du lịch Tiếp tục theo hướng đi này và những đổi mới nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp của du lịch Việt Nam là hàng loạt chương trình được đưa ra nhằm đẩy mạnh sự phát triển du lịch như:

Năm 2000 ngành du lịch đưa ra chương trình mang tên: "Liên hoan Văn hóa

Du lịch Việt Nam", tổ chức "Hội xuân Du lịch văn hóa năm 2000" và chính thức đưa

ra khẩu hiệu "Việt Nam - Điểm đến thiên niên kỷ mới" Cùng năm này, Chính phủ đã đưa ra Chương trình Hành động Quốc gia về Du lịch, nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch, trong đó văn hóa và văn hóa dân tộc là một nội dung định hướng quang trọng

Ngày 5-7/11/2001, lần đầu tiên Hà Nội đăng cai Hội nghị ASEF13 với chủ đề

“Cultural heritage, Man and Tourism” (Di sản văn hóa, con người và du lịch) với sự

tham gia của 52 đại biểu của 8 nước ASEAN và 9 nước châu Âu

Ngày 11/6/2004 lần đầu tiên tại thành phố Huế, trên 150 đại diện của các nước

ở khu vực châu Á, bao gồm Bộ trưởng và lãnh đạo các cơ quan du lịch quốc gia, tham gia Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Đông Á - Thái Bình Dương, dưới sự chủ trì của Tổ chức Du lịch quốc tế và Tổng Cục Du lịch Việt Nam Tại kỳ họp này, chủ đề “Du lịch văn hóa và giảm đói nghèo” đã trở thành nội dung chính của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Đông Á - Thái Bình Dương Có thể nói đây là lần đầu tiên có một cuộc họp quốc

tế lớn với chủ đề du lịch văn hóa tại Việt Nam

Các hoạt động văn hóa nhằm thu hút khách du lịch được thực hiện nhiều nơi trong năm 2005 như

Trang 28

- Năm du lịch Nghệ An 2005, có tổ chức tuần lễ Văn hóa du lịch, "Ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam" cũng được tổ chức hoành tráng

- Lễ hội đền Hùng 2005, lần đầu tiên Việt Nam đã tổ chức Quốc lễ long trọng,

có biểu diễn nghệ thuật, tái diễn lịch sử dựng nước và các truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc rất công phu

- Hành trình di sản Quảng Nam 3/2005 với khẩu hiệu: "Quảng Nam một điểm đến hai di sản"

- Lễ hội Festival hoa Đà Lạt 12/2005

- Không gian Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chính thức được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới

Rõ ràng là chúng ta đã nhìn thấy được tầm quan trọng của văn hóa trên con đường phát triển du lịch và đang thực hiện nó, nhưng chưa theo một trật tự khoa học

cụ thể Vấn đề là khoa học chuyên ngành về du lịch văn hóa chưa được quan tâm Ba triệu khách đến Việt Nam vào thời điểm 11/2005 là con số đáng khích lệ so với thực lực của ngành du lịch Việt Nam đang có Nhưng nếu đem so sánh với các nước châu

Âu thì quả là một con số nhỏ bé Chỉ năm 1998 Tây Ban Nha đã đón trên 47 triệu khách quốc tế Pháp 70 triệu, Italia 34 triệu, Anh 25 triệu14 So sánh sự chênh lệch về con số để thấy rằng chúng ta cần phải xem xét và đặt ra câu hỏi là điều gì đã làm cho

họ thành công như vậy? Tại sao các nước châu Âu lại đang ráo riết triển khai những chiến lược phát triển du lịch văn hóa mà họ gọi là "Kỷ nguyên phát triển Du lịch văn hóa châu Âu15" trong khi đang thành công đối với ngành du lịch? Họ hợp tác đầu tư nghiên cứu, đào tạo sâu về du lịch văn hóa phải chăng nhằm để hiện thực hóa giấc mơ này?

1.3 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

1.3.1 Khái niệm du lịch văn hóa

1.3.1.1 Tổng hợp và định nghĩa về Du lịch văn hóa

14 Nguồn của Tổ chức Du lịch thế giới 2000

15 ECTN INTERREGIIIC Project 2006 (báo cáo dự án phát triển Du lịch văn hóa của ECTN)

Trang 29

Hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch văn hóa Đây là một cụm từ rất khó để định nghĩa Cụm từ "du lịch văn hóa" là một danh từ ghép nghĩa: "văn hóa"

và "du lịch" Ở mỗi góc nhìn khác nhau, người ta sẽ đưa ra những định nghĩa khác nhau về du lịch văn hóa Trước tiên ta hãy tìm hiểu qua về định nghĩa riêng của hai cụm từ này

Thứ nhất, Định nghĩa Du lịch:

Theo Holloway thì “Du lịch là thời gian di chuyển ngắn hạn tạm thời của con

người đến những điểm đến bên ngoài những nơi họ thường sống và làm việc, và những hoạt động của họ trong lúc họ ở tại điểm đến; nó bao gồm sự di chuyển cho tất

cả những mục đích, cũng như là những ngày tham quan và du ngoạn”[Holloway

1985:2-3]16

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới WTO17 thì “ Du lịch là những hoạt động của

con người trong lúc họ đi du hành và ở lại một nơi khác với nơi cư trú, trong giai đoạn liên tục ít hơn 1 năm cho việc nghỉ ngơi, kinh doanh hoặc những mục đích khác”

[WTO, 1993]18

Thứ hai, Định nghĩa Văn hóa:

Văn hóa là một từ mà theo William là “một trong hai hay ba từ khó nhất trong ngôn ngữ tiếng Anh”19 [William 1983: 12] Từ “văn hóa” có nhiều nghĩa, nó được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau

Nhà nhân học người Anh, Edward B Tylor trong công trình Văn hóa nguyên

thủy “Primitive Culture” năm 1871 đã định nghĩa “Văn hóa là một tổng thể phức hợp,

bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục, cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên xã hội tiếp thu được”

16 “Tourism is the temporary short-term movement of people to destinations outside the places where they normally live and work, and activities during their stay at these destinations; it includes movement for all purposes, as well as day visits and excursions”

17 World Tourism Organization

18 Tourism is the activities of persons during their travel and stay in a place outside the usual place

of residence, for a continous period of less than one year, for leisure, business or other purposes”

Trang 30

Theo William thì “Văn hóa có ba phần chính đó là: thứ nhất, nó như một tiến

trình tổng hợp trí tuệ, tinh thần và phát triển thẩm mỹ; thứ hai, nó như là một sự biểu

lộ của một lối sống đặc biệt; và thứ ba là nó như những công việc và thực tiễn hoạt động trí tuệ và thẩm mỹ” [William 1983: 4]

Theo Tomlinson thì “Văn hóa như là một tiến trình và văn hóa như là một sản

phẩm” “Culture as process and culture as product”[Tomlinson 1991: 4]

Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam đã

định nghĩa: “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con

người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[Trần Ngọc Thêm 2001: 25]

Về du lịch và văn hóa, hiện nay có nhiều định nghĩa về du lịch văn hóa của các nhà nghiên cứu lớn tại các nước tiên tiến đặc biệt là châu Âu

Theo Giáo sư, tiến sỹ Richards Greg thì “ Du lịch văn hóa là sự di chuyển của

những người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ tới khu vực hấp dẫn về văn hóa với ý định tập hợp những kinh nghiệm và thông tin mới để thỏa mãn những nhu cầu văn hóa của họ.”[Richard Greg 1996: 24]20

Từ định nghĩa trên ta thấy Richards xem du lịch văn hóa là hoạt động đi tìm và hưởng thụ nhu cầu văn hóa Ông tán đồng khái niệm “những sản phẩm văn hóa”

“Cultural Productions” và coi nhu cầu sử dụng những “sản phẩm văn hóa” là có thật Theo tiến sỹ Richard Prentice, Giáo sư Trường Đại học Nottingham (Anh Quốc), trong bài phát biểu “Khái niệm du lịch văn hóa”21 tại hội nghị “Phát triển du lịch văn hóa ở Anh” tổ chức ngày 16/12/2003, đã đưa ra định nghĩa du lịch văn hóa

như sau: "Du lịch văn hóa là du lịch được xây dựng, được dâng hiến hoặc được tiêu

thụ như sự nhận thức cao của văn hóa"22

20 “The movement of persons to cultural attractions away from their normal place of residence, with the intention to gather new information and experiences to satisfy their cultural needs”

21 Richards Prentice 2003: “Conceptualising cultural tourism” Second De Haan Tourism

Management Conference: Developing Cultural Tourism, University of Nottingham

22 Cultural tourism is Tourism constructed, proffered and or consumed as an appreciation of culture

Trang 31

Theo định nghĩa này ta thấy, Richard nhìn sự hình thành của du lịch văn hóa từ động cơ nhận thức văn hóa Ông không định nghĩa theo kiểu phân loại hay mô tả chi tiết đối tượng du lịch văn hóa

Theo giáo sư tiến sỹ Stebbin23 thì: "Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch

đặc biệt dựa trên sự nghiên cứu, tham gia vào những trải nghiệm văn hóa sâu sắc, mới lạ, hoặc thẩm mỹ, trí tuệ, xúc động hay tâm lý."24[Stebbin 2006: 5]

Từ định nghĩa trên của Stebbins ta thấy ông có dựa vào phân chia mục đích du lịch (trải nghiệm văn hóa sâu sắc, mới lạ) và loại hình du lịch (thẩm mỹ, trí tuệ, cảm xúc hoặc tâm lý) để đưa ra định nghĩa du lịch văn hóa

Theo giáo sư tiến sỹ Tommy D Anderson25, trong bài tham luận chuyên đề nghiên cứu và phát triển du lịch văn hóa tại Hội nghị ECTN 2006 đã định nghĩa du lịch văn hóa như sau:

“Du lịch văn hóa là sự di chuyển của con người ra ngoài phạm vi cư trú

thường của mình với ý định tiêu thụ những sản phẩm và dịch vụ văn hóa”26 [Tommy

D Anderson, 2006: tr.5]

Đây là định nghĩa tương đối ngắn gọn và dễ hiểu Theo ông thì du lịch văn hóa

là hình thức đi du lịch để tiêu thụ những sản phẩm và dịch vụ văn hóa Định nghĩa này chỉ nêu lên được động cơ để mua một tour du lịch văn hóa chứ chưa bao hàm được bản chất, cấu trúc của du lịch văn hóa

Hội đồng quốc tế về những công trình kỷ niệm và khu di tích ICOMOS (International Council On Monuments and Sites) đã đưa ra định nghĩa về du lịch văn hóa như sau:

“Du lịch văn hóa là một hình thức du lịch mà mục đích của nó là khám phá

những công trình kỷ niệm, những khu di tích hoặc những mục đích khác Nó đưa vào

23 GS.TS Robert A Stebbins (1997), “Identify and Cultural Tourism” Tr.450 GS.TS Robert A

Stebbins hiện là GS của nhiều trường đại học lớn như Minnesota, Calgary, Taxas, Memorial,Luton… Ông cũng là chủ tịch Liên đoàn Khoa học Xã hội Canada

24 Cultural Tourism is a genre of special interest tourism based on the search for and participation in new and deep cultural experiences, whether aesthetic, intellectual, emotional, or psychological

25 GS Tomy D Anderson Đại học Gothenburg Thụy Điển

26 “Cultural tourism is the movement of persons away from their normal place of residence with the

Trang 32

sử dụng những mặt ảnh hưởng tích cực của quá khứ tới mức có thể nó góp phần thỏa mãn mục đích riêng - duy trì và bảo vệ những thứ ấy Hình thức du lịch này bênh vực, ủng hộ thực tiễn của những nỗ lực nhằm để duy trì và bảo vệ những nhu cầu của cộng đồng nhân loại bởi những lợi ích kinh tế, văn hóa - xã hội mà nó dành cho tất cả sự quan tâm của công chúng”27

Đứng ở góc độ của một tổ chức chuyên ngành, ICOMOS đã đưa ra một định nghĩa khá rộng về du lịch văn hóa Trong đó điểm chú ý là du lịch văn hóa sử dụng những mặt tích cực của quá khứ để nhằm giáo dục nhận thức, và du lịch văn hóa bênh vực cho nhu cầu bảo vệ duy trì những lợi ích của cộng đồng Định nghĩa này định dạng du lịch văn hóa như là một hình thức du lịch lịch sự và mang tính bền vững

Tổ chức quốc tế ECTN28 ở châu Âu thì định nghĩa: "Du lịch văn hóa có thể

được định nghĩa tóm lược như là du lịch dựa trên nguồn tài nguyên văn hóa của vùng, địa phương bao gồm truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử, danh lam thắng cảnh, môi trường, di chỉ khảo cổ, nhà bảo tàng, và những hoạt động văn hóa như lễ hội, trưng bày mỹ thuật, những cuốn hút nghệ thuật, nhà hát, nhưng cũng bao gồm những cuốn hút liên quan tới sản phẩm nguyên thủy, sản phẩm thủ công truyền thống, công nghệ chế tác, lịch sử xã hội và cuộc sống"29

Từ những cơ sở trên, để dễ hình dung ta có thể đưa ra một định nghĩa tóm lược

về du lịch văn hóa như sau:

Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm mục đích hưởng thụ, trải nghiệm

những giá trị văn hóa của vùng, quốc gia nơi mình đến, đồng thời giúp nâng cao nhận thức giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị ấy

27 “CULTURAL TOURISM is that form of tourism whose object is, among other aims, the discovery

of monuments and sites It exerts on these last a very positive effect insofar as it contributes - to satisfy its own ends - to their maintenance and protection This form of tourism justifies in fact the efforts which said maintenance and protection demand of the human community because of the

socio-cultural and economic benefits which they bestow on all the populations concerned”

28 European Cultural Tourism Network (Mạng lưới Du lịch văn hóa châu Âu)

29 “Cultural tourism can briefly be defined as tourism based on local and regional cultural resources.These include cultural traditions, language, history, cultural landscapes, built environment, archaeological sites, museums and cultural activities such as festivals, galleries, arts attractions, theatres but also attractions related to primary production, crafts, manufacturing, social history and life”

Trang 33

Định nghĩa này bao hàm bản chất của du lịch văn hóa và mục địch của nó Có thể xem du lịch văn hóa là một hình thức du lịch “bền vững” bao gồm tận hưởng những giá trị văn hóa và bảo vệ những giá trị ấy cho cộng đồng địa phương và cho các thế hệ mai sau

1.3.1.2 Mối quan hệ giữa du lịch với văn hóa và văn hóa học

Nghiên cứu văn hóa trong các mối quan hệ của nó là một trong những nhiệm

vụ cơ bản của văn hóa học Trong đó, Du lịch và Văn hóa có một mối quan hệ nội hàm sâu sắc được biểu hiện qua sự hội tụ về Cung - Cầu Tức là, sự mở rộng và phát triển của “cung” về du lịch cũng chính là sự mở rộng và phát triển của “cung” về tiêu thụ văn hóa Ngược lại, sự phát triển của đường “cầu” du lịch cũng chính là sự phát triển của đường “cầu” văn hóa trong hoạt động kinh tế xã hội

Hay nói cách khác là sự phát triển của những loại hình du lịch mới có thể dựa vào sự phát triển của các loại hình sinh hoạt văn hóa làm tiêu chí phân loại Và ngược lại nhu cầu thưởng thức những tour du lịch mới cũng chính là xuất phát từ nhu cầu thưởng thức những loại hình văn hóa mới Do vậy, có thể suy ra nếu chúng ta đầu tư phát triển ngành công nghiệp văn hóa thì vô hình chung chúng ta đã gián tiếp đầu tư cho sự phát triển của du lịch Điều này đã được chứng minh qua thực tế ở nhiều nước trên thế giới

Chẳng hạn như tại Pháp, mãi đến năm 1994 nước Pháp vẫn chưa có một quy chế nào dành riêng cho du lịch văn hóa Tuy nhiên, sự ảnh hưởng lớn từ chính sách phát triển văn hóa quốc gia mà chính phủ Pháp ban hành từ năm 1959 đã tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch văn hóa Pháp phát triển Những dự án lớn về phát triển “ngành công nghiệp văn hóa” được chính phủ Pháp đầu tư từ những năm 1959-1969 Sự quyết tâm xây dựng “ngành công nghiệp văn hóa” có thể hình dung qua số tiền đầu

tư Chỉ riêng cho việc trùng tu, bảo tồn di sản và bảo tàng chính phủ Pháp đã phải chi đến 590 triệu FFr tương đương 90 triệu Euro trong năm 1994.[Richards Greg, 1996: 111]

Sự phát triển về mặt tổ chức của du lịch và văn hóa đều ở tầm “công nghiệp” tại châu Âu Do vậy, cụm từ “công nghiệp du lịch” (Tourism industries), “công

Trang 34

nghiệp văn hóa” (Cultural industries) được sử dụng phổ biến hiện nay trong nghiên cứu chính sách du lịch và văn hóa

Có thể thấy rằng, du lịch và văn hóa có mối quan hệ rất gần gủi, chặt chẽ và sâu sắc Nhiều người cho rằng, du lịch và văn hóa có sự hội tụ rất lớn về mặt không gian và thời gian [Xem “Sự hội tụ của du lịch và văn hóa” Richard Greg, 1996: 17]30 Hơn thế nữa, du lịch và văn hóa sẽ hợp lại thành một như cách nói của Groen: “Văn

hóa và du lịch sẽ đi đến sự hợp nhất và tất cả cho nhau” (Cultural and tourism are destined once and for all to be together)[Groen, 1994: 23] Vì mối quan hệ đặc biệt

này mà văn hóa cũng được xem là đối tượng của du lịch và du lịch văn hóa được hình dung như một trong những cách thức tiêu thụ văn hóa

1.3.1.3 Đặc trưng của du lịch văn hóa

Đặc trưng thứ nhất, có thể thấy du lịch văn hóa là hình thức du lịch hướng đến

các giá trị văn hóa, vì thế nó mang tính thẩm mỹ, vì văn hóa là làm cho nó đẹp và có

giá trị, du lịch văn hóa là hình thức đi du lịch tìm kiếm cái đẹp của văn hóa

Đặc trưng thứ hai của du lịch văn hóa là tính liên kết Du lịch là một chuỗi

hành trình xuất phát từ nơi cư trú quen thuộc đến điểm cần đến Người đi du lịch phải trải qua một chuỗi quá trình khép kín từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc chuyến đi Ở mỗi điểm dừng là sự cảm nhận về sự khác biệt: giá trị văn hóa truyền thống, môi trường, cảnh quan, sinh hoạt của người địa phương, những ấn tượng về cơ sở hạ tầng, nghệ thuật ẩm thực và sau khi kết thúc chuyến đi trở về nhà lại xuất hiện hồi ức về chuyến đi Muốn có một chuyến du lịch văn hóa như mong đợi đòi hỏi không chỉ ở khâu sản phẩm mình đặt mua mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu điều hành của nhà cung cấp dịch vụ du lịch Khách du lịch sẽ thực sự hài lòng nếu chuỗi các dịch vụ du lịch được sắp xếp và tổ chức điều hành một cách khoa học và có chất lượng

Đặc trưng thứ ba là tính nhân văn: Du lịch văn hóa thể hiện tính nhân sinh bởi

khách du lịch văn hóa thường có trình độ nhận thức về các giá trị văn hóa của con người Thông qua những khoảnh khắc trải nghiệm khác biệt về tôn giáo, tập quán, lối sống của người địa phương, khách du lịch văn hóa bị cuốn hút và say mê những nét

30 The convergence of tourism and culture

Trang 35

đẹp ấy Có những trường hợp vì say mê cực độ một vẻ đẹp văn hóa nào đó họ có thể

khóc, hồi hợp và bị hội chứng Stendhal như đã trình bày Chính vì sự yêu quý say mê

nên họ cảm thấy có trách nhiệm phải giữ gìn, bảo vệ và giới thiệu những người khác cùng đến chiêm ngưỡng Họ sẵn sàng giúp đỡ cộng đồng họ yêu thích gián tiếp hoặc trực tiếp bằng nhiều hình thức Cũng chính sự giáo dục cho con người tìm hiểu, tận hưởng và yêu quí cái đẹp, những giá trị văn hóa lịch sử… nên du lịch văn hóa mang tính nhân văn sâu sắc

Thứ tư là tính giáo dục Du lịch văn hóa giúp cho con người tìm hiểu, tận

hưởng và yêu quí cái đẹp, và tôn trọng những giá trị văn hóa lịch sử của mỗi vùng đất

1.3.1.3 Chức năng cơ bản của du lịch văn hóa

Thứ nhất, du lịch văn hóa tái sinh các giá trị văn hóa truyền thống bị lãng quên

do vậy nó có chức năng khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống Du lịch văn hóa

còn có chức năng bảo vệ và bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể do đó nó còn có chức năng bảo tồn nền văn hóa

Thứ hai, du lịch văn hóa mang lại cơ hội giao lưu và giới thiệu nền văn hóa của

cộng đồng tiếp đón nên nó còn có chức năng giới thiệu và giao lưu văn hóa

Thứ ba, du lịch văn hóa cũng làm cho cộng đồng địa phương thấy được cái đáng quý của nền văn hóa tại địa phương của dân tộc mình và kích thích sự tìm hiểu

học hỏi nhiều hơn và có cơ hội để tự hào về nó Do đó, du lịch văn hóa còn có chức năng giáo dục

Thứ tư, cũng như các ngành du lịch khác, du lịch văn hóa cũng có chức năng nối kết liên ngành, liên vùng trong quá trình vận động của nó Chẳng hạn, di tích lịch

sử sẽ đẹp hơn nếu như con đường vào tham quan đẹp, ý thức vệ sinh xung quanh điểm tham quan có cũng sẽ góp phần nâng cao giá trị của di tích đó Điều này có nghĩa là cái đẹp của du lịch văn hóa có được là phải do sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ

từ nhiều phía, nhiều ngành nên có thể nói du lịch văn hóa có chức năng liên kết đa ngành và điều phối

1.3.1.4 Đối tượng của du lịch văn hóa

Trang 36

Đối tượng của du lịch văn hóa là những mục đích trải nghiệm văn hóa nào đó của khách du lịch Có rất nhiều mục đích trải nghiệm văn hóa khác nhau vì thế du lịch văn hóa sẽ có phạm vi đối tượng khá rộng tùy từng mục đích cụ thể

1.3.1.5 Chủ thể của du lịch văn hóa

Chủ thể của du lịch văn hóa là con người gồm khách du lịch văn hóa và những nhà tổ chức du lịch Vậy khách du lịch văn hóa là ai? Họ có đặc điểm gì? Giải quyết câu hỏi này là rất quan trọng vì nó quyết định đến chiến lược sản phẩm và tiếp thị của

du lịch văn hóa Theo kết quả điều tra nghiên cứu của Keydata Group31, người ta thấy

có 3 nhóm khách du lịch văn hóa khác nhau như sau:

Thứ nhất khách du lịch văn hóa thuần túy Họ là những người chọn đi du lịch

dựa vào cơ hội tìm hiểu hoặc nghiên cứu văn hóa Nhóm khách này chỉ chiếm khoảng 5% số lượng khách du lịch văn hóa Họ là những người giàu có và thường thực hiện chuyến đi dài ngày và có mức chi tiêu khá cao

Thứ hai khách du lịch văn hóa theo phong trào là những người quyết định

chuyến đi nghỉ của mình dựa trên sự cuốn hút theo xu hướng đương thời và cũng thích tìm hiểu về lịch sử, văn hóa nhưng không phải là mục đích chính

Thứ ba khách du lịch văn hóa ngẫu nhiên: những khách này có đặc điểm là ít

chú ý đến những khía cạnh văn hóa đặc biệt nào đó trước khi quyết định đi du lịch Nhưng khi tới nơi họ rất thích xem những hoạt động văn hóa lạ mắt.[Keydata Group, 2003: 11]

1.3.1.6 Các loại hình của du lịch văn hóa

Hiện nay, việc phân chia loại hình du lịch văn hóa vẫn chưa được các nhà khoa học thống nhất với nhau:

Nhà nghiên cứu Rojek (1993) chia du lịch văn hóa thành 4 nhóm cơ bản sau: Nhóm một: Du lịch văn hóa vùng di sản (Heritage sites cultural tourism), bao gồm tất cả những chuyến du lịch tham quan di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và di sản phi vật thể

31 Keydata Group (2003): “Cultural Tourism Report of Wales Tourist Board”, Cardriff.

Trang 37

Nhóm hai: Du lịch văn hóa thắng cảnh nhân văn (Literary landscapes cultural tourism) gồm tất cả những chuyến du lịch thăm lại những khu di tích lịch sử của vùng, thăm những ngôi nhà của các anh hùng lịch sử dân tộc, thăm quan nơi làm việc của các vĩ nhân

Nhóm ba: Du lịch văn hóa những điểm đen32 (Blackspot cultural tourism), là loại du lịch văn hóa đem lại cảm giác xúc động mạnh như: tham quan khu thảm sát trong chiến tranh, tham quan khu xảy ra tai nạn của các nhân vật nổi tiếng, hay nơi xảy ra vụ đắm tàu lịch sử, nơi chôn xác trong chiến tranh

Nhóm bốn: Du lịch văn hóa công viên chuyên đề (Theme parks cultural tourism), gồm những chuyến tham quan các công viên văn hóa chuyên đề như: Công viên nước, công viên hoa, công viên tranh nghệ thuật, công viên điêu khắc, công viên tình yêu, công viên nghệ thuật hóa trang [Roject 1993: 20-21]

Richard Prentice33 (2003), chia Du lịch văn hóa theo ba nhóm gồm:

• Du lịch văn hóa môi trường tự nhiên,

• Du lịch văn hóa môi trường xã hội,

• Du lịch văn hóa cảm xúc

Magraret Graham34 (ECTN 2006), chia du lịch văn hoá theo chuyên đề như: thăm di sản, tham quan bảo tàng, lễ hội, di tích lịch sử-khảo cổ

Getz Donald35 (2006), chia du lịch văn hóa thành các nhóm sau:

• Du lịch văn hóa những lễ hội kỷ niệm,

• Du lịch văn hóa nghệ thuật và giải trí,

• Du lịch văn hóa khoa học giáo dục,

• Du lịch văn hóa sự kiện thể thao,

Trang 38

• Du lịch văn hóa, lịch sử những phát minh sáng tạo của loài người (thăm những nơi sinh ra những phát minh vĩ đại của loài người),

• Du lịch văn hóa thương mại (hội chợ hàng công nghiệp, thăm nếp sinh hoạt văn hóa trong kinh doanh của các tập đoàn lớn ),

• Du lịch văn hóa chính trị và sự kiện trọng đại (Hội nghị thượng đỉnh G8, OPEC, APEC, LHQ lễ kết hôn của hoàng tộc ) Melanie K Smith36 chia du lịch văn hóa thành các loại hình sau:

* Di sản (di sản thế giới, di tích khảo cổ học, phố cổ, bảo tàng)

* Nghệ thuật diễn xuất (hát, kịch, trung tâm văn hóa),

* Nghệ thuật tạo hình (hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc, triễn lãm tranh),

* Lễ hội và sự kiện (lễ hội văn hoá, âm nhạc, sự kiện thể thao, ngày hội),

* Sinh hoạt tín ngưỡng (chùa, đình, nhà thờ, lễ hành hương ),

* Nghệ thuật thủ công (dệt, làm gốm, điêu khắc, đan, thêu),

* Môi trường dã ngoại (làng, trang trại, công viên, bảo tàng sinh thái, vùng sinh thái),

* Ngôn ngữ (học tập và thực hành ngôn ngữ),

* Nghệ thuật ăn ngon (nghệ thuật ẩm thực),

* Công nghiệp & tài chính (viếng thăm nhà máy, công xưởng sản xuất, nhà máy rượu…),

* Văn hoá hiện đại (Hip Hop, Pop, mua sắm, thời trang, thiết kế, truyền thông),

* Sưu tầm (ảnh, tranh, gốm, xe, tiền cổ, hoa, bướm lạ, đá lạ, chứng tích ) [Melanie K Smith 2003: 31]

Từ những cơ sở trên và dựa vào tính đặc thù của văn hóa và du lịch, để dễ hình dung ta có thể phân chia loại hình du lịch văn hóa dựa trên sự phân chia cấu trúc văn hóa Như vậy, ta thấy có 2 nhóm chính như sau:

36 GS TS Melanie K Smith (Director of MA Programes in Cultural Tourism at the University of

Greenwic England) 2003: Issues in Cultural Tourism Studies, PB Routledge London.

Trang 39

Du lịch văn hóa truyền thống: là các loại hình du lịch lấy nguồn giá trị văn

hóa vật thể và phi vật thể truyền thống làm đối tượng khai thác Du lịch văn hóa vật thể gồm các hình thức du lịch như tham quan các di sản (di sản thế giới, di chỉ khảo

cổ, bảo tàng lịch sử, phố cổ); tham quan kết hợp mua sắm hàng thủ công mỹ nghệ và làng nghề truyền thống (dệt, gốm, đan, thêu); các hoạt động sưu tầm hiện vật (tranh, ảnh, gốm, tiền xưa, hoa lạ, bướm lạ, đá lạ, chứng tích ) và du lịch văn hóa phi vật thể gồm nghệ thuật diễn xuất (hát, kịch, hòa tấu); nghệ thuật tạo hình (hội họa, điêu khắc, kiến trúc, triễn lãm tranh); lễ hội và sự kiện (lễ hội văn hóa, âm nhạc, sự kiện thể thao); tham gia các hoạt động tôn giáo (sinh hoạt chùa, nhà thờ, miếu, đình, hành hương)

Hình 1.2: Nhà thờ Leon - Tây Ban Nha Hình 1.3: Cung điện hoàng gia Tây Ban Nha

Trang 40

Hình 1.4:Lễ hội Pagsalabuk TP Dipolog,

Philippines

Hình 1.5: Lễ hội trang phục Hanbok Seoul

2006, Hàn Quốc

Du lịch văn hóa hiện đại: là các loại hình du lịch lấy nguồn giá trị văn hóa vật

thể và phi vật thể hiện đại làm đối tượng khai thác Văn hóa vật thể gồm các hình thức

du lịch tham quan các nhà máy công xưởng sản xuất lớn (Johny Walker, Remy, sony, Toyota, Boeing…), tham quan những công trình hiện đại (những cây cầu lớn, đường hầm dưới biển, đường hầm xuyên qua núi, tòa nhà cao tầng, sân bay trên biển…) và văn hóa phi vật thể gồm các hình thức du lịch nhằm mục đích xem các sự kiện lớn như: sự kiện âm nhạc (xem biểu diễn của các minh tinh nổi tiếng Hip Hop, Pop ), sự kiện thể thao (world cup, Olympic…), sự kiện chính trị (Hội nghị APEC, OPEC, G8…) và nhiều sự kiện đương đại khác như Cuộc thi hoa hậu thế giới, biểu diễn thời trang, liên hoan phim, lễ trao giải thưởng lớn… du lịch môi trường thôn dã (trang trại nổi tiếng, lâm trường, vườn chim, nhà vườn )

Ngày đăng: 01/07/2023, 15:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Văn Sáu 2004: Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch.- Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch
Tác giả: Dương Văn Sáu
Nhà XB: Đại học Văn hóa Hà Nội
Năm: 2004
2. Nhiều tác giả 2006: Đồng bằng sông Cửu Long:Thực trạng và giải pháp để trở thành vùng trọng điểm phát triển kinh tế giai đoạn 2006-2010,-NXB Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp để trở thành vùng trọng điểm phát triển kinh tế giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2006
3. Đặng Quang Thành-Dương Ngọc Phương 2000: Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kinh doanh du lịch.-TP HCM: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kinh doanh du lịch
Tác giả: Đặng Quang Thành, Dương Ngọc Phương
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2000
4. Hiệp hội Du lịch TP.HCM 1995: Đất nước mến yêu. - TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước mến yêu
Tác giả: Hiệp hội Du lịch TP.HCM
Nhà XB: TP.HCM
Năm: 1995
5. Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc 1995, Nguyễn Phục tộc thế phả, NXB Thuận Hóa - Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phục tộc thế phả
Tác giả: Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc
Nhà XB: NXB Thuận Hóa - Huế
Năm: 1995
6. Huỳnh Quốc Thắng 2004: “Một số vấn đề lý luận Văn hóa & Văn hóa học ứng dụng”.- Tp.HCM: Trường CĐ Văn hóa Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận Văn hóa & Văn hóa học ứng dụng
Tác giả: Huỳnh Quốc Thắng
Nhà XB: Trường CĐ Văn hóa Nghệ thuật
Năm: 2004
7. Huỳnh Quốc Thắng 2003: Lễ Hội dân gian ở Nam bộ.-Viện văn hóa HN:NXB VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ Hội dân gian ở Nam bộ
Tác giả: Huỳnh Quốc Thắng
Nhà XB: Viện văn hóa HN
Năm: 2003
8. Huỳnh Quốc Thắng 2005: Khai thác lễ hội và các sự kiện góp phần phát triển du lịch TP. Hồ Chí Minh,-NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác lễ hội và các sự kiện góp phần phát triển du lịch TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Huỳnh Quốc Thắng
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2005
78. www.uropa.eu.int/comm/enterprise/services/tourism/tourism-publications/documents/1999_1530_EN.pdf Link
79. www.ec.europa.eu/enterprise/services.tourism/policy-area/culture.htm 80. www.edinburgh-festivals.com/festivals.cfm?id=International Link
81. www.instantresource.net/12/study.php?k=cultural+study &gt Link
82. www.mynottinghill.co.uk/nottinghilltv/carnival-countdown.htm 83. www.nasaa-arts.org/artworks/ct_contents.shtml&gt Link
84. www.staruk.org.uk//default.asp?ID=111&parentid=17 &gt Link
86. www.nottingham.ac.uk/ttri/pdf/conference/raj%20razaq.pdf Link
87. www.aad.uoregon.edu/icas/documents/stebbins0305.pdf . 88. www.portal.unesco.org/culture/en/ev.php-URL_ID=33567&URL_DO=DO_TOPIC&URL_SECTION=201.html Link
89. www.ecotourism.org/webmodules/webarticlesnet/templates/eco_template_news.aspx?articleid=12&zoneid=25 Link
93. www.medinfo.dist.unige.it/plant/CVPortugal.htm Link
95. www.allaboutbranding.com/index.lasso?article=439 Link
96. www.findarticles.com/p/articles/mi_m1310/is_1999_July-August?pnum=2&opg=55413360 Link
97. www.gojapan.about.com/cs/photogallery/a/festivalphoto.htm Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w