1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người Đàn Ông Trong Truyện Dân Gian Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hóa Học .Pdf

152 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Người Đàn Ông Trong Truyện Dân Gian Việt Nam Dưới Góc Nhìn Văn Hóa Học
Tác giả Phạm Chí Hiếu
Người hướng dẫn TS. Trần Long
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM CHÍ HIẾU NGƯỜI ĐÀN ÔNG TRONG TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌ[.]

Trang 1

MÃ NGÀNH: 8229040

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2022

Trang 2

MÃ NGÀNH: 8229040

GVHD: TS TRẦN LONG

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Nội dung đề tài có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của đề tài này Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Phạm Chí Hiếu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Tiến sĩ Trần Long – người trực tiếp và tận tình hướng dẫn luận văn cho tôi Thầy đã định hướng cách tư duy và cách làm việc khoa học Đó là những góp ý hết sức quý báu không chỉ trong quá trình thực hiện luận văn này mà còn là hành trang tiếp bước cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu sau này

Xin cảm ơn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Khoa Văn hóa học, Phòng Sau Đại học và thư viện đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Do giới hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều thiếu sót và hạn chế, kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các Thầy, Cô để bài luận văn của tôi được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn

Tác giả

Phạm Chí Hiếu

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Lịch sử vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 7

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 8

6.1 Ý nghĩa khoa học 8

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 9

7 Bố cục của Luận văn: 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10

1.1 Cơ sở lý luận 10

1.1.1 Khái niệm văn hóa, văn hóa dân gian 10

1.1.2 Khái niệm người đàn ông và mối quan hệ về giới giữa nam và nữ trong xã hội 14

1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của truyện cổ tích sinh hoạt 20

1.1.3.1 Khái niệm truyện cổ tích sinh hoạt 20

1.1.3.2 Đặc điểm của truyện cổ tích sinh hoạt 21

1.1.4 Mối quan hệ giữa văn học (cổ tích sinh hoạt) và văn hóa 25

1.1.5 Vận dụng các lý thuyết trong nghiên cứu 28

1.2 Cơ sở thực tiễn 31

1.2.1 Nguồn gốc hình thành của truyện cổ tích sinh hoạt 31

1.2.2 Nguyên nhân kinh tế - xã hội dẫn đến sự ra đời của chế độ tư hữu và sự biến đổi các hình thức gia đình 34

1.2.3 Tác động của chế độ phong kiến đến vị thế, vai trò của hai giới 38

1.2.3.1 Tác động của xã hội đến vị thế, vai trò của người đàn ông 39

1.2.3.2 Tác động của xã hội đến vị thế, vai trò của người phụ nữ 41

1.3 Tiểu kết chương 45

CHƯƠNG 2: NGƯỜI ĐÀN ÔNG TRONG TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ VĂN HÓA TỔ CHỨC 47

2.1 Nhìn từ văn hóa nhận thức 47

2.1.1 Nhận thức của xã hội đối với người đàn ông 47

Trang 6

2.1.2 Nhận thức tự thân của người đàn ông 52

2.1.2.1 Nhận thức với vị thế là thành viên trong gia đình 53

2.1.2.2 Nhận thức với vị thế là thành viên trong xã hội 60

2.1.3 Nhận thức của người phụ nữ về người đàn ông 68

2.1.4 Nhận thức của người đàn ông về người phụ nữ 74

2.2 Nhìn từ văn hóa tổ chức 80

2.2.1 Tổ chức đời sống cá nhân 80

2.2.2 Tổ chức đời sống tập thể 88

2.2.2.1 Đàn ông trong tổ chức xã hội 88

2.2.2.1 Đàn ông trong tổ chức gia đình 92

2.3 Tiểu kết chương 95

CHƯƠNG 3: NGƯỜI ĐÀN ÔNG TRONG TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA ỨNG XỬ 96

3.1 Ứng xử của người đàn ông trong gia đình 97

3.1.1 Ứng xử trong quan hệ vợ - chồng 97

3.1.2 Ứng xử trong quan hệ cha mẹ - con cái 106

3.1.3 Ứng xử trong quan hệ anh em 110

3.2 Ứng xử của người đàn ông trong mối quan hệ xã hội 114

3.2.1 Ứng xử trong quan hệ vua - tôi: 114

3.2.2 Ứng xử trong quan hệ quan - dân: 117

3.2.3 Ứng xử trong quan hệ chủ - tớ 123

3.2.4 Ứng xử trong quan hệ bạn bè, láng giềng 125

3.3 Tiểu kết chương 132

KẾT LUẬN 134

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137

PHỤ LỤC 143

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hệ tư tưởng Nho giáo ở phương Đông đã phân định rõ vai trò của nam và nữ trong xã hội Đàn ông là người chủ của gia đình, là trung tâm của mọi mối quan hệ Có thể thấy trong xã hội phong kiến người đàn ông tham gia vào các hoạt động xã hội và nắm giữ những vị trí quan trọng trong đó, người phụ nữ thì gắn chặt cuộc đời với môi trường gia đình, ít có tác động đến sự vận hành và phát triển của xã hội Vì vậy mà sự coi trọng của xã hội luôn thiên lệch về phía người nam, họ được ưu tiên và nắm giữ quyền lợi nhất định Bên cạnh những ưu thế mà xã hội phụ quyền Nho giáo mang lại cho đàn ông thì nó cũng đã thiết kế riêng những nguyên tắc khắt khe, trói buộc người phụ nữ vào trong khuôn phép, lễ giáo, bổn phận nữ nhi là phải nấp bóng tòng quân Vì vậy người phụ nữ trong xã hội phong kiến phải trau dồi đạo đức, để trọn đạo làm con, làm vợ và làm mẹ Và người đàn ông được mặc nhiên cấp cho cái quyền trên phụ nữ một bậc Đó là quan điểm và cái nhìn của chế độ phong kiến về người đàn ông và vị thế của người phụ nữ trong xã hội Nhưng đó là cái nhìn một phía của chế độ xã hội, còn những người bình dân, họ đã nhìn nhận vấn đề này như thế nào? chấp nhận hay không chấp nhận điều đó, tất cả đều đã được phản ánh chân thật qua chính những câu chuyện dân gian (truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn…) Vấn đề về nhận thức sự đối nghịch giữa nam và nữ luôn là vấn đề được xã hội quan tâm, qua cứ liệu dân gian vai trò của hai giới sẽ được làm sáng tỏ hơn

Truyện dân gian hay văn học dân gian là một bộ phận của văn hóa dân gian – một thành phần quan trọng trong nền văn hóa của một quốc gia Việt Nam luôn tự hào

về nền văn học dân gian đậm đà bản sắc – một di sản tinh thần của người Việt Với sự

đa dạng phong phú về nội dung và thể loại, truyện dân gian đã góp phần phản ánh nhiều khía cạnh cuộc sống và lí tưởng xã hội, đạo đức truyền thống của các tầng lớp nhân dân qua các thời kỳ lịch sử Truyện dân gian là phương tiện phát ngôn của lớp người bình dân nên nó có giá trị phản ánh thực đời sống, là cái nhìn phản kháng của người dân trước các chế độ xã hội, các tầng lớp xã hội

Trang 8

Các công trình nghiên cứu về phụ nữ rất đa dạng và phong phú nhưng các công trình nghiên cứu về đàn ông dường như còn rất ít Trong mối quan hệ tương quan giữa nam và nữ, người ta không thể hiểu và đánh giá vấn đề một cách khách quan nếu tách biệt sự hiểu biết về từng giới nhất định để nghiên cứu, trên hết cần có sự tìm hiểu nhận định từ cả hai giới thì các công trình nghiên cứu mới có giá trị và đóng góp nhất định

Để hiểu được phụ nữ không thể tách rời ra khỏi mối tương quan với người đàn ông và ngược lại Do đó, nghiên cứu về người đàn ông là điều rất cần thiết để hiểu rõ hơn các khía cạnh về giới Điều này cũng là một trong những lý do mà người viết chọn đề tài nghiên cứu về đàn ông để thực hiện

Nghiên cứu về người đàn ông trong các câu chuyện dân gian chính là điều kiện tốt nhất để tìm ra được vai trò, vị trí, chức năng thật sự của người đàn ông trong chính đời sống thực mà thông qua đó thể hiện được sự đối trọng trong tư duy, quan niệm, mong ước của các giai cấp trong xã hội; phản ánh một cách sâu sắc hiện thực xã hội Đó

là lý do người viết chọn đề tài “Người đàn ông trong truyện dân gian Việt Nam dưới

góc nhìn văn hóa học” để làm đề tài nghiên cứu

- Tìm ra được bản chất, quy luật, điều kiện hình thành chức năng, vai trò của người đàn

ông trong xã hội, những nguyên nhân chiều sâu quy định chức năng, vai trò của người đàn ông, biểu hiện qua dữ liệu là truyện cổ tích sinh hoạt Qua đó, tìm ra được những kỳ vọng của xã hội đối với đàn ông, những biểu hiện dựa trên những kỳ vọng đó liệu có còn được lưu giữ đến hiện tại

- Tìm ra được nguyên nhân sâu xa dẫn đến những bất công trong xã hội thời bấy giờ

trong sự nhận định giữa quan điểm về người đàn ông của tầng lớp quý tộc phong kiến

và tầng lớp bình dân

Trang 9

- Đi vào phân tích Người đàn ông trong truyện dân gian Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa học, người viết muốn có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc sống và quan điểm của con

người trong thời đại trước, qua đó có thể hiểu rõ hơn về tâm tư, nguyện vọng của người dân được gửi gắm trong loại hình truyện cổ tích sinh hoạt Từ đó, ta thấy được cái nhìn triết lý về cuộc sống và những quan niệm đạo đức mà cha ông ta ngàn đời nay muốn gìn giữ và phát huy

Năm 2002, Phạm Thu Yến trên Tạp chí Văn học số 4 có bài viết Kiểu nhân vật chàng ngốc trong cổ tích các dân tộc Việt Nam đã khẳng định: kiểu nhân vật chàng ngốc

có thể coi như nhân vật người em, người chồng, nhân vật dũng sĩ,… Đây là bài nghiên cứu khá đa dạng trong đó làm rõ những biểu hiện của nhân vật chàng ngốc ở các dân tộc khác nhau Bài nghiên cứu này cũng là một trong những bài nghiên cứu có liên quan đến người đàn ông, nhưng chỉ dừng lại ở mặt hình tượng, vẫn chưa đi sâu vào vai trò chức năng của người đàn ông trong xã hội

Năm 2011, Phạm Thị Thu Huyền với đề tài Kiểu truyện nhân vật thông minh trong tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt người Việt trong luận văn thạc sĩ của mình, đã đi

sâu nghiên cứu một kiểu nhân vật trong hệ thống các nhân vật của truyện cổ tích sinh hoạt với các biểu hiện cụ thể của các nhân vật như: nhân vật nhỏ tuổi dùng mưu mẹo giải đố, nhân vật dùng mưu tham gia kén rể, nhân vật dùng mưu mẹo xét xử Công trình nghiên cứu này đi sâu vào phân loại các kiểu nhân vật trí tuệ trong đó giới hạn cụ thể ở các hoàn cảnh, tình huống cụ thể của các nhân vật thông minh Cũng trong năm 2011,

tác giả Tô Hồng Vân cũng đã có đề tài nghiên cứu trong luận văn của mình về Các hình

Trang 10

thức không gian trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt, trong đó đã chỉ rõ các hình

thức không gian xuất hiện trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt, đời sống vật chất

và tinh thần của người Việt xưa được phản ánh một cách phong phú Luận văn cũng cho thấy một hướng nghiên cứu văn học dân gian gắn với nếp sống và các sinh hoạt văn hóa

cổ xưa Đây là cứ liệu để người viết tham khảo trong các phần lý luận

Đến năm 2012, Nguyễn Thị Bích Hà với đề tài Kiểu nhân vật ngốc nghếch trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt đã nghiên cứu và phân loại cụ thể các kiểu nhân vật

ngốc nghếch trong truyện cổ tích sinh hoạt Tuy nhiên các công trình này cũng chỉ dừng

ở khía cạnh nêu cao trí tuệ của đối tượng là nam giới trong thời bấy giờ, chưa thật sự khai thác khía cạnh văn hóa Cũng trong năm 2012, trong luận văn thạc sĩ của tác giả

Đỗ Thị Huyền Trang đã nghiên cứu về Thế giới nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt

cũng đã phân tích các kiểu loại nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam Trong

đó, các nhân vật tốt đẹp và xấu xa, mưu trí và khờ khạo (ngốc nghếch) đã được phân tích từ đặc điểm cho tới nghệ thuật xây dựng nhân vật Trong đó, tác giả cũng có cái nhìn khá toàn diện, phân tích khá sâu sắc về kiểu nhân vật khờ khạo, chỉ ra được những đặc điểm của nhân vật cũng như quan điểm của dân gian muốn gửi gắm trong đó về giáo dục, cách ứng xử cũng như tính giải trí của loại nhân vật này trong truyện cổ tích Vấn

đề lý luận về truyện cổ tích sinh hoạt khá đầy đủ, các kiểu loại nhân vật được phân tích rất cụ thể, điều này giúp ích cho người viết trong phần chương một Mặc dù có sự phân tích khá sâu sắc về nhân vật chàng ngốc nhưng bài nghiên cứu vẫn chỉ dừng lại ở một khía cạnh nhỏ trong hình tượng của người đàn ông về mặt trí tuệ, chưa khái quát hết được về người đàn ông và các quan hệ về giới trong đó Năm 2013, khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Văn học Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Lan đã thực hiện một

công trình Khảo sát kiểu truyện chàng ngốc trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam

Công trình đã phân loại được hệ thống các nhân vật chính phụ cũng như các kiểu mô típ đặc trưng trong truyện về chàng ngốc Nghiên cứu này cung cấp một số kiến thức về cơ

sở lý luận giúp người viết có cái nhìn tiếp cận với một trong các thể loại của truyện cổ tích sinh hoạt

Trang 11

Năm 2014, tác giả Lê Thị Đài Trang với đề tài Hình tượng người nam trong ca dao người Việt (Khóa luận tốt nghiệp) đã nghiên cứu về người nam với nhiều khía cạnh

như vị thế, vai trò của người nam trong các quan hệ xã hội, gia đình; từ đó thể hiện các

áp lực cũng như bất lợi của người nam qua cái nhìn của xã hội, gia đình, người phụ nữ

và tự chính bản thân của người nam Trong đó chủ yếu trình bày về các đặc trưng cũng như nghệ thuật thể hiện hình tượng nhân vật trong ca dao Hình tượng người nam hiện lên trong ca dao có những nét đặc trưng khác với hình tượng người nữ Bởi người nam luôn là người có vị thế cao trong xã hội Vị thế của người nam do xã hội phụ quyền Nho giáo quy định nên họ có vị trí và tầm ảnh hưởng lớn đến gia đình, xã hội Với những tư cách khác nhau vai trò và vị thế của họ được thể hiện khác nhau Dù ở tư cách nào thì

họ cũng tự ý thức rõ vai trò, trách nhiệm đối với người khác Đặc biệt người nam luôn

là người chủ động trong mối quan hệ với người nữ

Bài nghiên cứu đã trình bày cụ thể về:

- Vị thế thể hiện của người nam trong ca dao với tư cách là người con, người chồng, người cha trong gia đình; người công dân trong xã hội phụ quyền Vị thế của người nam trong quan hệ với người nữ

- Những bất lợi mà người nam gặp phải: áp lực trọng trách đối với người nam, nhược điểm của người nam

- Các điểm nhìn của: người phụ nữ đối với người nam, tự thân của người nam,

xã hội đối với người nam

Những vấn đề này trong bài nghiên cứu đã giúp ích rất nhiều cho đề tài nghiên cứu của người viết dưới góc nhìn văn hóa

Năm 2017, Nguyễn Thị Hồng Ngân đã nghiên cứu về Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa, trong đó tác giả trình bày về truyện cổ tích sinh hoạt

người Việt được biểu hiện ở hai khía cạnh, một mặt phản ánh tín ngưỡng, phong tục, mặt khác nó đi sâu vào lý giải nguồn gốc của tín ngưỡng, phong tục theo góc nhìn của dân gian Dưới góc nhìn của nhân dân lao động chúng ta còn thấy được nhận thức của con người về xã hội, quan điểm đạo đức, triết lí nhân sinh cũng như quan điểm thẩm mĩ

Trang 12

của người Việt xưa Các câu chuyện thường hướng người ta đến cái “chân, thiện, mỹ” trong cuộc đời Những nét đẹp ấy không chỉ tồn tại trong thời đại truyện cổ tích mà còn được lưu truyền, tiếp biến trở thành truyền thống văn hóa tốt đẹp cho đến muôn đời sau Bài nghiên cứu đã có sự phân loại rất rõ ràng các loại truyện thuộc cổ tích sinh hoạt cũng như các vấn đề về cơ sở lý luận vững chắc, điều này giúp người viết hình thành được các quan điểm cũng cách thức tìm hiểu về văn hóa ứng xử của người đàn ông

Như vậy, có thể nói nghiên cứu về hình tượng nhân vật trong truyện dân gian dưới góc nhìn văn hóa cũng đã được đặt ra trong một số công trình nghiên cứu khoa học Nhưng trên thực tế chưa có công trình nào nghiên cứu tách biệt về người đàn ông một cách chuyên sâu, toàn diện Các công trình nghiên cứu đã đưa ra những nhận định chính xác, có cơ sở khoa học vững chắc về các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn Dựa

trên cơ sở những nghiên cứu đó, người viết lấy làm tiền đề để nghiên cứu đề tài “Người

đàn ông trong truyện dân gian Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa học”, nhằm phát hiện

những nét đặc trưng riêng biệt, độc đáo trong nhận thức, nhận định của người Việt qua các câu chuyện dân gian

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là người đàn ông trong những truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt dưới góc nhìn văn hóa học

Đề tài nghiên cứu người đàn ông trong truyện dân gian là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rất rộng, điều này sẽ là một khó khăn lớn cho người nghiên cứu về năng lực cũng như thời gian nghiên cứu, rất khó để có được một hệ thống nghiên cứu phù hợp

Do đó, người thực hiện xin được giới hạn lại phạm vi nghiên cứu là chỉ nghiên cứu truyện cổ tích và cụ thể là tiểu loại cổ tích sinh hoạt Lý do người viết lựa chọn phạm vi nghiên cứu như vậy là vì:

Trong hệ thống thể loại truyện dân gian, truyện cổ tích được xác định là một thể loại lớn, bao gồm các tiểu loại: cổ tích loài vật, cổ tích thần kì, cổ tích sinh hoạt (hay cổ tích thế sự) Trong đó, truyện cổ tích sinh hoạt là một tiểu loại khá tiêu biểu, chứa đựng những giá trị riêng về nội dung biểu đạt cũng như nghệ thuật phản ánh Nếu truyện cổ

Trang 13

tích thần kì hấp dẫn người nghe bởi yếu tố hoang đường, làm nên cái kết có hậu, thỏa mãn ước mơ thay đổi số phận của con người thì truyện cổ tích sinh hoạt lại hấp dẫn người nghe bởi chính nét hiện thực sinh động, với cái nhìn tỉnh táo của nhân dân trước hiện thực cuộc sống Hay nói cách khác, các diễn biến trong truyện cổ tích sinh hoạt có phần tương ứng và gần với thế giới thực tại, với những câu chuyện đời thường được

hình thành nên từ chính chất liệu hiện thực cuộc sống, “cổ tích thế sự hay sinh hoạt là những truyện bịa nhưng rất “gần đời thiết thực”…, xuyên sâu vào mọi ngõ ngách cuộc đời , trong cái tầm thường, cái bình dị của các tình tiết vẫn ẩn giấu một khả năng gây hứng thú mạnh mẽ, hoặc một điều gì đáng thương đáng cảm rất mực.” (Nguyễn Đổng

Chi, 2000, tr.54) Hình tượng nhân vật trong cổ tích sinh hoạt mang đậm dáng dấp của con người đời thường với những đặc điểm về phẩm chất, hành động… gần với hiện thực hơn, phản ánh một thế giới nhân vật riêng biệt, độc đáo, từ đó bày tỏ một cách rõ ràng quan niệm nghệ thuật về con người cũng như cảm quan về thực tại của tác giả dân gian Hình tượng người đàn ông trong đó cũng phản ánh những giá trị riêng về vị thế, vai trò, chức năng của mình theo hướng chân chất nhất, gần gũi nhất bởi không bị phủ bụi bởi các yếu tố hoang đường Những biểu hiện đặc sắc trên nhiều phương diện cho thấy

truyện cổ tích sinh hoạt phù hợp là một đối tượng khoa học cần phải được nghiên cứu

Công trình nghiên cứu của Nguyễn Đổng Chi về truyện cổ tích Việt Nam là một công trình có quy mô lớn và được công nhận Do đó, người viết đã giới hạn phạm vi tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu là trong các truyện cổ tích sinh hoạt của người

Việt được thống kê từ nguồn Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam - tác giả Nguyễn Đổng

Chi (có phụ lục kèm theo trang 138 – 141)

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Để thực hiện đề tài luận văn này, người viết đã vận dụng và phối hợp một số phương pháp khác nhau như:

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để thực hiện đề tài này, luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu dân tộc học, nghiên

Trang 14

cứu văn học,… phương pháp nghiên cứu liên ngành sẽ giúp luận văn giải quyết những vấn đề nghiên cứu được thỏa đáng

Phương pháp khảo sát – phân loại: Trước tiên, người viết tiến hành khảo sát, thu thập những tác phẩm có liên quan đến đề tài Sau đó, tiến hành phân loại sao cho phù

hợp với đề tài Người đàn ông trong truyện dân gian Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa học để làm nổi bật lên vấn đề mà mình nghiên cứu

Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này giúp người viết dẫn chứng được câu chuyện liên quan để làm nổi bật lên đối tượng muốn hướng đến và trình bày nội dung bài viết một cách logic, mạch lạc Đồng thời, tổng hợp lại những bản chất, đặc điểm của vấn đề đang nghiên cứu, góp phần làm tăng thêm tính thuyết phục và lập luận chặt chẽ hơn cho bài viết của mình Dựa trên những tài liệu đã thu thập được, người viết

đi sâu vào phân tích, lý giải để làm rõ vấn đề mà đề tài hướng đến hoặc khai thác thêm những khía cạnh mới đang còn tiềm ẩn

Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình phân tích, tổng hợp, người viết

cố gắng so sánh, đối chiếu các truyện cổ tích của các dân tộc khác nhằm tìm ra những nét tương đồng và dị biệt trong những trường hợp cần thiết

Tài liệu khảo sát gồm: Bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của tác giả

Nguyễn Đổng Chi, xuất bản năm 2000 của nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội (80 truyện được khảo sát – phần Phụ lục)

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Trang 15

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Vấn đề giới là vấn đề được sự quan tâm trong xã hội nhưng nó mới chỉ dừng lại

ở những người làm công tác nghiên cứu Vì vậy đề tài thực hiện nhằm tìm hiểu vai trò, chức năng của người đàn ông dưới góc nhìn văn hóa học Qua đó ta thấy được những vấn đề mà hai giới đang gặp phải trong gia đình, xã hội truyền thống cũng như sự liên

hệ đến thực tại hiện nay

Qua việc nghiên cứu loại hình truyện dân gian, luận văn giúp người đọc có thể nhận thức được đúng đắn hơn về bản chất, đặc điểm của các loại hình truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt, thấy rõ được các giá trị sáng tạo của con người luôn ẩn chứa tính nghệ thuật, sự mong chờ và khao khát của cả một thế hệ

Công trình nghiên cứu thành công có thể trở thành nguồn tư liệu tham khảo cho các công trình có liên quan sau này

7 Bố cục của Luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương

Chương 1 xây dựng một cơ sở lý luận và thực tiễn thông qua hệ thống các khái niệm, đặc trưng và nguồn gốc hình thành của truyện dân gian cũng như nhận diện hình tượng người đàn ông trong truyện dân gian, để thấy được bản chất, quy luật, điều kiện hình thành chức năng, vai trò của người đàn ông trong xã hội

Trên cơ sở đó, chương 2 và 3 sẽ đi vào trình bày về người đàn ông dựa trên góc nhìn nhận thức, tổ chức và ứng xử của người bình dân qua các câu chuyện cổ tích Dựa vào vị thế khác nhau, người đàn ông sẽ có những vai trò (hệ vai trò) để đảm bảo những

kỳ vọng của xã hội và các đối tượng trong các mối quan hệ cụ thể Hai chương này tập trung nghiên cứu về nhận thức, tổ chức, ứng xử của người đàn ông trên hai phương diện

là trong gia đình và ngoài xã hội

Trang 16

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm văn hóa, văn hóa dân gian

Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của con người Văn hóa là sản phẩm

do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người Vì vậy, văn hóa trở thành đối tượng nghiên cứu chính của khoa học nhân văn và là một trong những khái niệm tạo nên sự tranh luận hết sức phong phú Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn

500 định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân chủng học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học, và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau Các định nghĩa về văn hóa nhiều

và cách tiếp cận khác nhau nên ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng rất phong phú Ở Việt Nam, văn hóa cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả Việc nghiên cứu văn hóa như một khoa học được bắt đầu vào nửa đầu thế kỉ XX Những người mở đầu có thể kể đến các nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, Trần Văn Huyên,…

Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” (Trần

Ngọc Thêm, 2004, tr.25)

Như vậy, từ khái niệm trên có thể hiểu văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong

Trang 17

các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra

Còn về văn hóa dân gian, cụ thể là việc nghiên cứu văn hóa dân gian thì cũng chỉ mới thực sự được xem là một bộ môn khoa học bắt đầu từ thế kỷ 19

Các nhà khoa học thường gắn sự ra đời của bộ môn này với việc nhà nhân loại học người Anh William J Thoms (bút danh là Ambrose Merton) viết một bức thư đăng trên tờ the Athenaeum (số ra ngày 22 tháng 8 năm 1846) trong đó ông đề nghị dùng thuật ngữ folklore để chỉ “những di tích của nền văn hóa vật chất như phong tục, đạo đức, việc cúng tế, dị đoan, ca dao, cách ngôn… của các thời trước” Vì vậy sau đó, các nhà khoa học nhiều nước đã sử dụng thuật ngữ folklore để chỉ bộ môn khoa học này (Chu Xuân Diên, 2006, tr.8)

Khi nhà nhân chủng học William J.Thoms đưa ra thuật ngữ này thì nó có nội dung rộng; đôi khi chỉ cả những di tích của nền văn hóa vật chất, nhưng chủ yếu là những di tích của nền văn hóa tinh thần của nhân dân như: phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ của người thời trước Cũng dựa trên quan điểm đó, người viết cho rằng văn hóa dân gian (folklore) có trong mọi lĩnh vực đời sống và vẫn diễn ra sống động, có thể thu nhận và tiêu hóa những yếu tố mới trên đường đi của nó Tác giả

Ngô Đức Thịnh trong một bài nghiên cứu về Văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc cũng

đã khẳng định về sự tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa dân gian Việt Nam bởi những yếu

tố ngoại lai và từ đó xác định rõ các lĩnh vực nghiên cứu của văn hóa dân gian:

Ở Việt Nam, thuật ngữ “phôn-clo” đã được sử dụng từ lâu và tùy theo mỗi thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là “văn học dân gian”, “văn nghệ dân gian” và nay là “văn hóa dân gian” Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển ngữ sang tiếng Việt khác nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của chúng ta về văn hóa dân gian và cũng do sự tiếp thu ảnh hưởng của các quan niệm phôn-clo từ các trường phái khác nhau trên thế giới Hiện nay ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu triển khai

công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian trên các lĩnh vực sau: Ngữ văn dân gian bao gồm: Tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười,

ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ,

Trang 18

tục ngữ, câu đố dân gian Nghệ thuật dân gian bao gồm: Nghệ thuật tạo hình dân

gian (kiến trúc dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian ); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn )

Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí

hậu ); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức sản xuất

(kỹ thuật và công cụ sản xuất) Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội: Các lĩnh vực

nghiên cứu trên của văn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại và phát triển với tư cách

là một chỉnh thể nguyên hợp, thể hiện tính chưa chia tách giữa các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tri thức, tín ngưỡng phong tục ), giữa hoạt động sáng tạo và hưởng thụ trong sinh hoạt văn hóa, giữa sáng tạo văn hóa nghệ thuật và đời sống lao động của nhân dân Để nghiên cứu văn hóa dân gian với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp chúng ta cần phải có một quy phạm nghiên cứu tổng hợp (Ngô Đức Thịnh, 2007)

Theo Ngô Đức thịnh, văn hóa dân gian là “một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động” Vì vậy, khi

nhận thức, lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó, tức là các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc, cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng

Văn hóa, trong đó có văn hóa dân gian là sản phẩm của sự phát triển xã hội nhất định Tuy nhiên, sau khi hình thành và định hình, văn hóa tác động trở lại xã hội với tư

cách là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội

Nước ta ở khu vực văn hóa Đông Nam Á, mà một trong những nét đặc trưng là vai trò rất to lớn của văn hóa dân gian trong nền văn hóa dân tộc Đó là truyền thống văn hóa truyền miệng, khác với Trung Quốc và Ấn Độ là truyền thống văn hóa chữ viết Văn hóa dân gian Việt Nam có truyền thống hình thành, và phát triển từ rất lâu đời, bắt nguồn từ xã hội nguyên thủy Đến thời kỳ phong kiến tự chủ, cùng với sự ra đời và phát triển của văn hóa bác học, chuyên nghiệp, cung đình thì văn hóa dân gian vẫn tồn tại và giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của văn hóa cũng như xã hội Việt Nam, đặc

Trang 19

biệt là với quần chúng lao động Truyền thống lịch sử và xã hội Việt Nam đã quy định những nét đặc trưng của văn hóa nước ta Đó là văn hóa xóm làng trội hơn văn hóa đô thị, văn hóa truyền miệng lấn át văn hóa chữ nghĩa, ứng xử duy tình nặng hơn duy

lý, chủ nghĩa yêu nước trở thành cái trục của hệ ý thức Việt Nam, nơi sản sinh và tích hợp các giá trị văn hóa Việt Nam

Nói văn hóa dân gian là “cội nguồn của văn hóa dân tộc” là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ” Điều đó hàm nghĩa văn hóa dân gian gắn với lịch sử lâu

đời của dân tộc, là nguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc Nói văn hóa dân gian là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ” còn là vì văn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại dưới dạng nguyên hợp, các bộ phận còn gắn bó chặt chẽ với nhau Theo Hoài Thanh thì “Từ thuở sơ sinh, nhạc, thơ, múa và kịch đều chung một mâm Đến khi lớn lên thì các loại hình tách bạch ra, nhưng vẫn phải nương tựa vào nhau Thơ dân gian tồn tại, phát triển và lưu truyền bằng hát đối đáp Nếu

bỏ nhạc thì múa khó thành Mất sự tích văn học, mất làn điệu, mất điệu múa thì chèo cũng mất Tranh Đông Hồ cũng phải đi liền với hội tết…” Có con người

là có văn hóa, có dân tộc là có văn hóa dân tộc Văn hóa đó trước nhất là văn hóa dân gian, văn hóa của quần chúng nhân dân Qua văn hóa dân gian, nhân dân lao động "tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của mình" Các nền văn hóa khảo cổ thuộc xã hội nguyên thủy như Hòa Bình, Đông Sơn tuy không phải

là văn hóa dân gian, nhưng lại là nguồn cội để hình thành văn hóa dân gian (Ngô Đức Thịnh, 2005, tr.51)

Văn hóa dân gian là cội nguồn của mọi nền văn hóa trên thế giới, là cơ sở rất quan trọng của văn hóa dân tộc, chi phối đời sống con người trên mọi phương diện Do vậy không thể hiểu được bản sắc của một dân tộc nếu như không hiểu văn hóa dân gian của dân tộc đó Từ quan điểm cho rằng văn hóa dân gian là cội nguồn của văn hóa dân tộc thì trong hoạt động thực tiễn nhằm bảo tồn và chấn hưng văn hóa dân tộc chúng ta phải bắt đầu từ văn hóa dân gian

Đúc kết lại, theo người viết, văn hóa dân gian là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do người bình dân tạo ra; là cội nguồn của văn hóa dân tộc được tích lũy

Trang 20

trong lịch sử phát triển của một cộng đồng, qua đó thể hiện nhận thức, tổ chức và ứng

xử trong môi trường sinh hoạt văn hóa của cộng đồng đó

1.1.2 Khái niệm người đàn ông và mối quan hệ về giới giữa nam và nữ trong xã hội

Như một hiểu biết mang tính phổ quát, chúng ta dễ dàng nhận định được rằng đàn ông hay nam giới là con người giống đực trưởng thành, được xác định ngay từ khi mới sinh ra thông qua cấu tạo cơ thể có bộ phận sinh dục nam Trước khi trưởng thành nam giới được gọi là con trai Và dĩ nhiên là khác biệt với đàn bà hay nữ giới Dưới góc

độ sinh lý học, sự xác lập giới tính bào thai được xác lập ngay từ khi thụ thai, với tinh trùng của người đàn ông mang nhiễm sắc thể X hoặc Y kết hợp với trứng của người phụ

nữ mang sắc thể X, để tạo ra bào thai có mang nhiễm sắc thể XX (nữ giới) hoặc XY (nam giới) Việc sinh con trai hay con gái phụ thuộc hoàn toàn vào việc tinh trùng thuộc loại nào (X hay Y) sẽ kết hợp được với trứng trước Trong tuổi dậy thì, các hormone kích thích sản xuất androgen dẫn đến sự phát triển của các đặc điểm sinh dục thứ cấp,

do đó thể hiện sự khác biệt lớn hơn giữa nam và nữ Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp ngoại lệ đối với một số nam giới chuyển giới và liên giới tính (Dẫn theo Bách khoa toàn thư mở, 2022)

Sự khác nhau ở bộ phận sinh dục nam và nữ, cùng sự khác nhau về các tuyến hormone (chỉ ở đàn ông mới có tinh trùng, ở phụ nữ mới có trứng) đã quy định sự khác nhau giữa hai giới về nhiều mặt về tâm lý, tư duy đến các hoạt động trong xã hội

Chính sự khác nhau về sinh học đã quy định sự khác nhau tâm lý, tính cách, suy nghĩ dẫn đến sự khác nhau về vị trí, vai trò của người đàn ông và đàn

bà trong gia đình và trong xã hội Tạo hóa tạo ra đàn ông với sức mạnh, sự mạnh

mẽ, ý chí phi thường, sự mạo hiểm, trí tuệ nhạy bén,… để đàn ông có nhiệm vụ tạo dựng và bảo vệ gia đình và xã hội Có lẽ vì vậy nên tạo hóa lại tạo ra người đàn bà với sự khéo léo, nhẹ nhàng, nhu mì, ôn hòa, nhẫn nhịn và mềm yếu để giao cho họ trọng trách lớn lao là người của gia đình, và quan trọng hơn cả đó là tạo hóa ban tặng cho người phụ nữ thiên chức làm vợ và làm mẹ Hai nửa thế giới

ấy khác nhau nhưng lại là một thể thống nhất Đàn ông như một ngôi nhà vững chắc còn đàn bà lại chính là những yếu tố hài hòa, là nội dung của ngôi nhà ấy

Trang 21

đồng thời là ngọn lửa giữ cho ngôi nhà ấy luôn ấm áp và tràn đầy ánh sáng Có

lẽ đó cũng là điều mà ông bà ta đã đúc kết: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” (Minh Vũ, 2015)

Trải qua nhiều chế độ khác nhau của lịch sử, vị thế của đàn ông trong gia đình và

xã hội cũng có sự thay đổi rất rõ rệt:

Trong xã hội nguyên thủy, việc làm chủ yếu của con người lúc đó là: săn bắt dành cho đàn ông và hái lượm dành cho phụ nữ Công việc săn bắt – một công việc hoàn toàn không đơn giản, không phải lúc nào cũng dễ dàng kiếm được sản phẩm và đòi hỏi phải

có sức khỏe, sự mạnh mẽ và mạo hiểm; còn việc hái lượm lại hiệu quả và dễ mang lại nguồn thức ăn hơn; ngoài ra người nguyên thủy sống quần hôn nên rất khó xác định cha của trẻ em sinh ra, vì vậy nam giới trong thời kỳ này không hề có quyền lực trong gia đình, phụ nữ mới là người có vai trò quan trọng và con cái thường mang họ mẹ

Khi văn minh nông nghiệp xuất hiện cùng với việc sử dụng công cụ bằng kim khí phát triển mạnh mẽ, việc cày bừa nông nghiệp mang lại hiệu quả rất cao, vượt xa việc hái lượm từ thiên nhiên Đàn ông với sức khỏe thể chất tốt phù hợp hơn với công việc này, họ giành lấy quyền lực, vị thế trong gia đình và xã hội, đóng vai trò trụ cột, quyết định, con cái lấy theo họ cha Chế độ mẫu hệ dần tàn lụi, từ đó hầu hết các nền văn hóa đã theo chế độ phụ hệ, với sự đề cao các quyền lợi của nam giới Thời kỳ phong kiến thì người đàn ông được coi là trụ cột của gia đình, là lực lượng lao động chính và cũng là đối tượng mà thể chế xã hội hướng tới Họ được quyền tham gia các hoạt động

xã hội, nắm giữ các vị trí quan trọng trong xã hội và có nhiều điều kiện, cơ hội được học hành, thăng tiến Không những trong gia đình và đàn ông luôn có vai trò lãnh đạo trong

xã hội Ở phương Tây, đối với những nước theo chế độ quân chủ lập hiến, đàn ông là đối tượng quyền tham gia vào các vị trí lãnh đạo tối cao; hay như các chức vụ quan trọng trong giáo hội Công giáo (linh mục, Hồng y, Giáo hoàng,…) chỉ dành riêng cho nam giới (Minh Vũ, 2015) Ở phương Đông, Nho giáo càng đẩy vai trò của đàn ông lên vị trí tuyệt đối, gắn chặt họ với các quan điểm mang tính tiêu chuẩn của một người quân

tử - thực hiện đầy đủ tam cương, ngũ thường Sự thiên lệch và khác biệt này giữa nam

Trang 22

và nữ theo quá trình phát triển của tư duy xã hội đã được diễn hóa theo nhiều hướng khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất chính là theo quan điểm triết học của phương Đông

Qua một quá trình diễn biến phức tạp, triết học cổ đại phương Đông lấy hai cực âm – dương để lý luận hóa sự khác biệt giữa người nữ và người nam trong

xã hội nam quyền Trong nhiều sự khác biệt đó, người xưa quy định âm bị động, dương chủ động hay nói khác đi, phụ nữ bị động, nam giới chủ động Triết học

âm dương là cơ sở của sự luân lý hóa tính bị động ở phụ nữ và tính chủ động ở nam giới Các nguyên tắc này đều hướng đến khẳng định sự bị động của phụ nữ trong nhiều khía cạnh và giành phần chủ động cho phía nam giới, một trong những biểu hiện của nam quyền (Trần Nho Thìn, 2017)

Theo Dịch Trung Thiên, nhà nghiên cứu người Trung Quốc, “Lễ giáo phong kiến gồm hai phương diện, áp bức giai cấp và áp bức giới tính” (2014) Như vậy, chính xác

hơn, nếu người đàn ông chỉ chịu áp bức giai cấp thì người phụ nữ phải gánh chịu hai tầng áp bức: áp bức giai cấp lẫn áp bức giới

Khi văn minh công nghiệp cùng với xã hội tư bản hình thành và phát triển, giai cấp tư sản làm chủ trong thời gian đó, vai trò của nông nghiệp nhường chỗ cho công nghiệp Xã hội vẫn ưu tiên cho nam giới hơn vì nam giới làm được nhiều việc hơn so với nữ giới, nhất là các công việc đòi hỏi sức khỏe như thợ máy, thợ mỏ, đi lính

Nhiều nghiên cứu mang tính khoa học nhận định rằng nam giới có xu hướng hành động nhanh chóng, quyết đoán, phân biệt với phụ nữ là những người có xu hướng hành động thiên về cảm xúc và ở thế kém chủ động hơn Về thể chất, có vẻ nam giới có sức khỏe hơn phụ nữ, điều này cũng dễ hiểu, bởi vì trong hàng triệu năm tiến hóa phụ nữ không thực hiện nhiệm vụ yêu cầu cao về thể chất như nam giới (phụ nữ chỉ hái lượm, trong khi nam giới phải đi săn bắt hoặc chiến đấu để bảo vệ bộ lạc), khi không có sự tiếp xúc và rèn luyện thường xuyên thì việc không cải thiện được về thể chất là việc tất nhiên

Về chức năng não, nam giới thiên về giỏi các môn khoa học tự nhiên, còn phụ nữ thiên

về tư duy ngôn ngữ (Dẫn theo Bách khoa toàn thư mở, 2022) Vào năm 1999, một nghiên cứu của Richard Lynn, giáo sư danh dự tại Đại học Ulster phân tích số liệu từ một số bài test được xuất bản trước đó và phát hiện ra rằng chỉ số IQ trung bình của nam

Trang 23

giới cao hơn của nữ giới khoảng 3-4 điểm IQ (Lynn, 1999) Các phân tích quy mô lớn của Lynn thực hiện năm 2004 khảo sát sự khác biệt giới cũng chỉ ra nam giới có chỉ số

IQ trung bình cao hơn nữ là 5.0 điểm IQ (Lynn & Irwing, 2004) Những nghiên cứu này vào giai đoạn đó cũng thật sự chưa toàn diện về các bài kiểm tra đánh giá Các bài kiểm tra đơn lẻ đo lường chỉ số thông minh, hoặc chỉ số IQ, có thể trở thành dĩ vãng Các nghiên cứu mới cho thấy có thể có ít nhất ba thành phần riêng biệt của trí thông

minh Vì vậy, không thể đưa ra một điểm số thống nhất, duy nhất cho tất cả chúng “Tiến

sĩ Adam Hampshire, nhà nghiên cứu cho biết: “Có nhiều loại trí thông minh Ông là một nhà tâm lý học tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên của Viện Não và Tâm trí ở London, Ontario, Canada “Đã đến lúc chuyển sang sử dụng một bài kiểm tra toàn diện hơn có thể đo điểm số riêng biệt cho từng loại trí thông minh”” (dẫn theo Vinmec International

Hospital)

Như vậy, có thể thấy rằng đàn ông được định nghĩa khá rõ ràng về mặt sinh lý, giới tính Nhưng để phục vụ cho bài nghiên cứu thì thật khó để đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về người đàn ông, chỉ có thể đặt trong mối quan hệ so sánh với người phụ

nữ để cấu thành nhận định – đó là mối quan hệ về giới trong xã hội Giới là quan hệ giữa nam nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội

Giới (Gender) là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân loại học nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và

nữ bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia các nguồn và lợi ích Giới đề cập theo các quy tắc, tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực

tế cá nhân Vai trò giới được xác định theo văn hóa không theo khía cạnh các sự vật học có thể thay đổi theo thời gian, xã hội và địa vực khác nhau Khi mới sinh

ra chúng ta không có sẵn đặc tính giới Những đặc tính giới mà chúng ta có được

là do chúng ta học từ gia đình, xã hội và nền văn hóa của chúng ta (tính thay đổi) Giới không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ nữ với tư cách cá nhân mà nói tới quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ (tính tập thể) Quan hệ này thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội Những yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi quan hệ giới trong xã hội tùy thuộc vào sự vận động và phát triển của

Trang 24

chính các quan hệ xã hội Cụ thể là các quan hệ có liên quan tới vấn đề dân tộc, giai cấp, chính trị, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán (Mai Huy Bích,

2009, tr.35)

Nam giới và nữ giới đều tham gia vào các hoạt động xã hội, tuy nhiên mức độ tham gia của họ trong các loại công việc là khác nhau do những quan niệm và chuẩn mực xã hội quy định Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là vai trò giới Vai trò giới chính là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về

nữ giới trong một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể nào đó Điều này được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội, dẫn đến sự hình thành của ba vai trò giới đó là: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng Trong đó, cả nam và nữ đều

có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất, tuy nhiên do những định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia và giá trị công việc họ làm cũng không được nhìn nhận như nhau

Xã hội coi trọng và đánh giá cao vai trò này Vai trò tái sản xuất là các hoạt động giúp tái sản xuất dân số và sức lao động bao gồm sinh con, chăm sóc gia đình, nuôi dạy và chăm sóc trẻ con, nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, Vai trò cộng đồng bao gồm hoạt động tham gia các sự kiện xã hội và dịch vụ như: quan tâm thăm hỏi gia đình có hoàn cảnh; nấu ăn hoặc bố trí nhà tạm trú cho những gia đình bị mất nhà ở; huy động cộng đồng đóng góp lương thực, thực phẩm cứu trợ người bị nạn, Công việc cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển văn hoá tinh thần của cộng đồng Cả nam giới và nữ giới đều có khả năng tham gia vào cả ba loại vai trò trên Tuy nhiên, gánh nặng công việc gia đình của phụ nữ cản trở họ tham gia một cách tích cực và thường xuyên vào các hoạt động cộng đồng Ngược lại, đàn ông có nhiều thời gian và cơ hội hơn để đảm nhận vai trò cộng đồng hơn và rất ít khi tham gia vào các hoạt động tái sản xuất (Thanh Hương, 2015)

Một người đàn ông được xác định dựa vào những điểm khác biệt mang tính đặc trưng riêng biệt so với phụ nữ, mà mức độ khác biệt đó cũng chính là sự phân biệt giữa nam tính và nữ tính được xác định khi đặt trong các mối quan hệ giữa chúng

Trang 25

Theo khung phân tích về nam tính do Connell (1995) phát triển thì nam tính là một cách để làm đàn ông Cách làm đàn ông thực chất là những giá trị, chuẩn mực xã hội quy định thái độ và hành vi của nam giới Các giá trị và chuẩn mực này không tĩnh tại mà luôn thay đổi, tùy theo các đặc thù kinh tế, văn hóa,

xã hội của mỗi quốc gia, khu vực, vùng miền, nhóm người, hay thời đoạn lịch sử Quan điểm này gợi ý rằng không nên hiểu nam tính như một đặc điểm sinh học,

sẵn có từ khi sinh ra, mà nó có tính xã hội Connell nhấn mạnh rằng “nam tính không đơn thuần là một ý niệm ở trong đầu, hay là một đặc điểm cá nhân riêng

lẻ Nó còn được mở rộng ra thế giới bên ngoài, và hòa lẫn vào các quan hệ xã hội được tổ chức theo những cách nhất định Để hiểu được nam tính một cách lịch sử, chúng ta phải nghiên cứu những mối quan hệ xã hội này” Những mối

quan hệ xã hội mà Connell cho rằng cần phải tập trung nghiên cứu đó là quan hệ

xã hội liên quan đến việc nuôi dạy trẻ em, việc làm, các quan hệ tình dục, và sự phân công lao động Sự biến đổi của các mối quan hệ này có liên quan tới sự hình thành, biến đổi của các giá trị, chuẩn mực quy định thái độ và hành vi của nam giới Từ đây, ta có thể thấy rõ rằng nói về nam tính thì không thể bỏ qua nữ tính Trong nhiều trường hợp, nam tính luôn được đặt trong mối liên hệ với nữ tính Mối liên hệ đó có thể là sự đối lập với nữ tính (ví dụ: nam làm việc nặng, nữ làm việc nhẹ), hoặc là sự khác biệt với nữ tính (ví dụ: trẻ em nam nên chơi các trò mạnh mẽ như đá bóng, trẻ em nữ nên chơi các trò khéo léo như nhảy dây) (dẫn theo Vũ Hồng Phong, 2013)

Từ trước đến nay, khi tìm hiểu về giới người ta đã quá tập trung vào sự đối lập giữa nam tính và nữ tính, cũng như là những hậu quả mà phụ nữ phải chịu đựng do sự đối lập này gây ra Nhưng trên thực tế vấn đề về nam và nữ cần được tìm hiểu ở góc nhìn đa chiều hướng hơn Đầu tiên, nam giới không nhất thiết là người gây họa cho phụ

nữ và nam giới cũng có thể là nạn nhân của những giá trị, chuẩn mực quy định hành vi của nam và nữ mà xã hội tạo ra Thứ đến, các nền văn hóa, các nhóm xã hội khác nhau

có nhiều cách làm đàn ông khác nhau Thế nhưng luôn có một hay vài cách làm đàn ông được cổ vũ và ủng hộ bởi những lực lượng xã hội chiếm ưu thế Cách làm đàn ông được

Trang 26

ủng hộ đó tạo nên một áp lực vô hình lên những cách làm đàn ông khác khiến những người thực hành chúng phải tuân phục, hoặc tìm cách thỏa hiệp, hoặc phải đấu tranh để thoát khỏi áp lực đó

Tóm lại, người đàn ông được xác định dựa trên các đặc trưng về sinh lý khác với phụ nữ; được nhận diện bởi những giá trị, chuẩn mực xã hội quy định thái độ và hành

vi của nam giới Trong bài nghiên cứu này, người viết sẽ bỏ qua những đối tượng chưa trưởng thành và chưa đủ chức năng thực hiện trách nhiệm xã hội (trẻ em là nam giới)

1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của truyện cổ tích sinh hoạt

1.1.3.1 Khái niệm truyện cổ tích sinh hoạt

Về truyện cổ tích nói chung, năm 2006 Từ điển thuật ngữ Văn học đã đưa ra khái

niệm về truyện cổ tích như sau:

Truyện cổ tích là “một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thuỷ nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia đình phụ quyền), có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt Khái niệm truyện cổ tích có nội dung rất rộng, bao gồm nhiều loại truyện khác nhau về đề tài, về đặc điểm nghệ thuật Có thể phân truyện cổ tích thành ba loại chính: truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích sinh hoạt và truyện cổ tích loài vật” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng cb), 2006, tr.368)

Dựa vào đó có thể thấy rằng, truyện cổ tích sinh hoạt là một tiểu loại nằm trong thể loại truyện cổ tích, vừa mang nét đặc trưng chung và vừa có nét đặc thù riêng của

bản thân nó Vì vậy, Từ điển thuật ngữ Văn học, đã xác định khái niệm truyện cổ tích

sinh hoạt như sau:

Truyện cổ tích sinh hoạt (hay cổ tích thế sự) là những truyện cổ tích không

có hoặc rất ít yếu tố thần kì Ở đây các mâu thuẫn, xung đột xã hội giữa người với người được giải quyết một cách hiện thực, không cần đến những yếu tố siêu

Trang 27

nhiên Những yếu tố thần kì nếu có cũng không giữ vai trò quan trọng và nhiều khi chỉ là đường viền cho câu chuyện thêm vẻ li kì, hấp dẫn mà thôi (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng cb), 2006, tr 368 – 369)

Truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam sở hữu một thế giới nhân vật khá phong phú

và đa dạng Các kiểu loại nhân vật chính trong tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt là một vấn đề đã được rất nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian đề cập đến trong các bài viết

hoặc các công trình nghiên cứu Như Đỗ Bình Trị trong cuốn Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian đã nhận định rằng: “Nhìn bề ngoài, do tính chất “đời thường” của đề tài truyện cổ tích sinh hoạt, nhân vật chính trong những truyện này có

vẻ khá đa dạng, thậm chí hơi “linh tinh” Thật ra, truyện cổ tích sinh hoạt chỉ có một

số ít kiểu nhân vật, ít hơn so với số lượng kiểu nhân vật của truyện cổ tích thần kỳ Đó là: nhân vật đức hạnh; nhân vật xấu xa; nhân vật mưu trí (trí xảo); Nhân vật khờ khạo (ngốc)” (Đỗ Trị Bình, 2002, tr.24) Tác giả Lê Trường Phát khi nghiên cứu về nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt đã nhận xét: “Truyện cổ tích thần kỳ có cho mình một hệ thống kiểu nhân vật Hệ thống nhân vật ấy là một cách khái quát hóa, mô hình hóa cấu trúc xã hội về phương diện những hạng người - loại người hợp thành xã hội đó Truyện

cổ tích sinh hoạt cũng có cho mình một hệ thống nhân vật kiểu khác, biểu hiện một cách nhìn khái quát về cuộc đời, một kiểu mô hình hóa khác về thực tại và con người” (Lê

Tường Phát, 2000, tr.51) Theo đó, ông cũng đồng thuận với tác giả Đỗ Bình Trị về cách xác định hệ thống nhân vật trong cổ tích sinh hoạt

1.1.3.2 Đặc điểm của truyện cổ tích sinh hoạt

Truyện cổ tích sinh hoạt xét dưới góc độ tiểu thể loại có những đặc điểm nổi bật

và khác với truyện cổ tích thần kì Các biểu hiện chính có thể thấy như sau:

Về đối tượng phản ánh, cổ tích nói chung lấy hiện thực cuộc sống của con người trong xã hội có giai cấp làm đối tượng phản ánh nhưng trong khi truyện cổ tích thần kỳ

đi vào mô tả những số phận nghèo khổ, bất hạnh và hướng cuộc sống của họ đến một thế giới ước mơ có phần viển vông, thì truyện cổ tích sinh hoạt lại cho thấy một tầm nhìn tỉnh táo, hiện thực hơn Truyện cổ tích sinh hoạt ra đời muộn hơn, vào thời kỳ hậu

Trang 28

phong kiến, hiện thực trong các tác phẩm vì thế cũng khác Nó đi sâu phản ánh sâu sắc những khía cạnh khác nhau của cuộc sống Từ những câu chuyện gia đình xoay quanh mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, anh chị em, đến những câu chuyện xã hội xoay quanh mâu thuẫn giữa người giàu và nghèo, giữa chủ và tớ, giữa người thông minh và

kẻ ngu ngốc Chính vì vậy, một trong số các nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng: “Khác với truyện cổ tích thần kỳ vốn được cảm nhận như câu chuyện xưa hoang đường, truyện

cổ tích sinh hoạt mang dáng dấp những câu chuyện của cuộc sống hàng ngày” (Đỗ Trị

Bình, 2002, tr.23) Đó là câu chuyện về một người chị dâu tìm cách để khiến chồng mình tỉnh ngộ, nhận ra tình cảm anh em đáng trân trọng hơn những người bạn rượu chè,

hám lợi trong truyện Giết chó khuyên chồng (truyện số 50) Hay chuyện phân xử hợp tình, hợp lý, được người dân ủng hộ của ông quan huyện trong truyện Tra tấn hòn đá

(truyện số 110) Hay câu chuyện về sự ngây ngô, ngờ nghệch của anh chồng ngốc, vụng

về nhất nhất làm theo lời vợ dặn nhưng vẫn bị thất bại hết lần này đến lần khác trong

truyện Phiêu lưu của anh chàng ngốc hay là Làm theo vợ dặn (truyện số 190), Điểm

khác biệt rõ ràng nhất trong việc phản ánh hiện thực từ truyện cổ tích sinh hoạt là tác giả không đặt câu chuyện trong thế giới ảo mộng mà đặt nó vào một thế giới đời thực Thế giới với những khung cảnh nông thôn và những câu chuyện gia đình về áp bức bóc lột và đời sống thường nhật của làng xã, về những manh mún của kẻ bán người mua, về chuyện thành bại của thi cử, về sự vụ của các phiên kiện tụng Đây là thực tế đang xảy

ra hàng ngày với tính chất vô cùng bình dị, gần gũi chứ không xa lạ hay phi thường khó

có thể diễn ra trong cuộc sống thực như trong truyện cổ tích thần kỳ Vì xuất phát từ hiện thực đời sống nên hoàn cảnh cuộc đời của các nhân vật phải trải qua trong truyện

cổ tích sinh hoạt có sự khác biệt so với truyện cổ tích thần kỳ, nó phản ánh mạnh mẽ hơn, đả kích hơn của thời cuộc Trong đó, con người phải đối mặt với hiện thực cuộc sống, nhiều khi bất lực, buộc phải đầu hàng trước hoàn cảnh Ta bắt gặp những điều xót

xa như vậy trong sự chết dần mòn vì đói của hai cô cháu trong Sự tích chim hít cô (truyện

số 5); hay từ sự hiểu lầm, ghen tuông rồi buông bỏ, nuối tiếc dẫn đến cái chết của hai vợ

chồng và người em trong Sự tích trầu cau và vôi (truyện số 2); rồi cảnh sự ngu ngốc,

thiếu nhận biết về các hiện tượng tự nhiên và xã hội đã lấy đi mạng sống của Ngốc và

Bự trong Rủ nhau đi kiếm mật ong (truyện số 196)…

Trang 29

Về nhân vật, nhân vật chính trong truyện cổ tích sinh hoạt và truyện cổ tích thần

kỳ là con người được đặt trong các mối quan hệ đan xen với các biểu hiện vô cùng phức tạp (cổ tích có tiểu thể loại truyện cổ tích về loài vật với nhân vật chính là những con vật) Nhưng sự khác biệt về hình tượng nhân vật ở hai tiểu thể loại này lại có các đặc trưng khá khác nhau Truyện cổ tích thần kỳ luôn có những ưu ái thiên lệch mang tính

lý tưởng cho các nhân vật chính, họ đều là những nhân vật tích cực với phẩm cách tốt đẹp, là nhân vật chức năng trải qua nhiều biến cố của cuộc đời nhưng luôn nhận được

sự giúp đỡ của nhân vật thần kỳ để có cuộc sống hạnh phúc hơn Ví dụ như nàng Tấm, chàng Thạch Sanh đều là những người có phẩm cách tốt đẹp và đều có ông Bụt hay thần tướng từ trời giúp đỡ, hướng dẫn Khác với cổ tích thần kỳ, ở tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt bên cạnh nhân vật chính tích cực (người đức hạnh và người thông minh) còn xuất hiện thêm kiểu nhân vật chính tiêu cực (người xấu xa và người ngốc nghếch) Nhìn chung truyện cổ tích sinh hoạt có hai cặp nhân vật chính đối lập: nhân vật đức hạnh - nhân vật xấu xa, nhân vật mưu trí - nhân vật khờ khạo (ngốc nghếch) Một điều đáng lưu ý, mỗi cặp nhân vật chính đối nghịch nói trên không bao giờ cùng xuất hiện trong một truyện Điều này có liên quan đến một nguyên tắc của truyện cổ tích là trong truyện

cổ tích chỉ có một nhân vật chính hoặc không bao giờ có hai nhân vật chính đối lập nhau (có nghĩa là có thể có những nhóm nhân vật chính tích cực cùng xuất hiện trong một truyện) Điều này cũng dễ hiểu nếu đặt trường hợp thông minh láu lỉnh như Cuội trong

truyện Nói dối như Cuội (truyện số 60) lại đấu trí với một nhân vật ngốc nghếch nào đó

thì còn gì là đặc trưng của một nhân vật tài trí láu cá nữa Do vậy, nếu đưa cả hai nhân vật ấy vào trong cùng một truyện, trong sự đối lập nhau thì các nhân vật không thể bộc

lộ những đặc điểm của bản thân, tức là đã không làm nổi bật lên được tính ngốc nghếch, khờ khạo hay tính mưu trí lanh lẹ của nhân vật trong truyện Đó là tính nghệ thuật trong

cổ tích sinh hoạt, sự đối đầu giữa các nhân vật trong đó phải tương xứng Ngoài ra nhân vật chính trong truyện cổ tích sinh hoạt không được nhận sự trợ giúp từ tác nhân bên ngoài (các trợ giúp thần kỳ) Họ phải tự mình giải quyết sự việc, đối đầu với những mâu thuẫn nảy sinh, vượt lên và làm chủ hoàn cảnh Ví dụ như anh chàng họ Đào trong truyện

Anh chàng họ Đào (truyện số 172) đã phẫn chí mà quyết tâm học hành lập công danh

khi bị gia đình người yêu chê nghèo Tình yêu thương chân thành đã giúp anh vượt qua

Trang 30

định kiến khắt khe hết lòng cứu chữa cho người mình từng yêu khi cô bị chồng ghen tuông đánh đập Nhờ vào tình yêu đã giúp họ vươn lên trong cuộc sống tìm lại hạnh phúc của chính mình – thứ hạnh phúc không hề có sự dị nghị

Cuối cùng là sự hiện diện và vai trò của yếu tố thần kỳ Cổ tích sinh hoạt ít sử dụng yếu tố thần kỳ (thậm chí là không sử dụng tới) Người ta nhận thấy rằng cái chất hoang đường bất hợp lý trong truyện cổ tích thần kỳ đang dần được thay thế bởi những yếu tố hiện thực gần gũi với đời sống thực tế hơn Chính sự biến đổi trong đời sống xã hội, sự phát triển về mặt nhận thức của nhân dân đã dẫn đến sự giảm dần yếu tố thần kì trong truyện cổ tích sinh hoạt Xã hội dần phát triển đã chuyển con người từ lệ thuộc vào tự nhiên sang làm chủ thiên nhiên và làm chủ cuộc sống của chính mình, từ đây niềm tin vào các thế lực siêu nhiên cũng giảm dần Mặt khác, thực tế cuộc sống khiến con người phải đối mặt với quá nhiều thử thách khó khăn, sự bất lực trước nghịch cảnh,

và có cả cái chết Tất cả điều này đều khác xa với những ảo tưởng hoàn mỹ về cuộc sống

mà con người thường tin tưởng như chờ đợi một cách thụ động sự giúp đỡ của thần linh cứu giúp những khổ nạn trong cuộc sống, hay sau một giấc ngủ trở nên giàu có sung sướng một cách kỳ diệu Sau mộng giấc mộng dài, con người bừng tỉnh và nhận ra chính hiện thực cuộc sống lao động mới là thứ cần thiết để giúp họ đối mặt với khó khăn Những yếu tố kì diệu không thể xoa dịu hoàn toàn những gánh nặng cuộc sống đang hàng ngày, hàng giờ trên vai họ Do vậy, truyện cổ tích sinh hoạt hướng sự chú ý của mình vào thực tế cuộc đời, vào khả năng của mỗi cá nhân trước các thử thách

Các yếu tố thần kỳ giúp phân biệt giữa truyện cổ tích sinh hoạt với truyện cổ tích thần kỳ không chỉ là ở sự hiện diện mà còn được thể hiện bởi vai trò, mức độ và tác dụng của nó trong việc giải quyết các xung đột, mâu thuẫn, nút thắt đặt ra trong mỗi thể

loại.“Căn cứ quan trọng nhất để phân biệt truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt không phải ở chỗ có hay không có ông Bụt, bà Tiên mà là ở vai trò, mức độ của cái thần kỳ trong sự giải quyết xung đột, mâu thuẫn đặt ra trong mỗi truyện” (Hoàng

Tiến Tựu, 2003, tr.16) Điều đó đồng nghĩa với việc nếu yếu tố thần kỳ xuất hiện và có vai trò quyết định hoặc chi phối đối với sự phát triển của cốt truyện thì đó là truyện cổ tích thần kỳ Mặt khác, nếu sự xuất hiện của yếu tố thần kỳ không có vai trò quyết định

Trang 31

như vậy, mọi diễn biến được phát sinh, phát triển và giải quyết bởi chính yếu tố hiện thực, bởi chính sự tác động của con người tuân theo những điều hợp lý của đời sống thì

đó là truyện cổ tích sinh hoạt (thế sự) Trong cổ tích sinh hoạt, yếu tố thần kỳ chỉ đơn giản là yếu tố mang tính trợ giúp chứ không quyết định và chi phối dẫn đến kết cục Nó không tham gia vào việc giúp nhân vật giải quyết mâu thuẫn Các nhân vật chính diện bất hạnh trong truyện cổ tích sinh hoạt khi gặp khó khăn thử thách, phải tự mình tìm cách để giải quyết Kết quả họ có thể vượt qua được hoặc cũng có thể không cách nào vượt qua, thậm chí phải đối diện với sự bế tắc bất lực bằng cái chết bi thảm Nhưng dù trong hoàn cảnh như thế nào thì yếu tố thần kì không tham gia vào việc giúp họ giải

quyết những vấn đề đó Ví dụ như truyện Sự tích chim hít cô (truyện số 5), bà cô và

người cháu đã bất lực trước hoàn cảnh sống nghèo khó không còn cái gì để ăn nên họ

đã chết vì đói khát Kết thúc truyện người cháu hoá thành chim hít cô Toàn bộ câu chuyện không hề bị chi phối bởi một yếu tố thần kỳ nào cả Sự hoá thân thành con chim hít cô ở cuối truyện nhằm nhấn mạnh hiện thực xã hội phong kiến lúc bấy giờ, nông dân

đã chết trước cảnh nghèo khổ, chết vì đói khát Vì vậy, có thể nói rằng yếu tố thần kỳ (hoang đường hay hư ảo) ở truyện cổ tích sinh hoạt chỉ là những “tấm màn the” mỏng manh phủ lên câu chuyện để giữ lại chút cổ kính, để thêm phần cuốn hút, nhưng lại không làm ảnh hưởng đến bố cục của truyện

1.1.4 Mối quan hệ giữa văn học (cổ tích sinh hoạt) và văn hóa

Văn học là cách thức dùng ngôn từ, hình tượng để thể hiện đời sống và xã hội con người Theo quan điểm cũ, người ta xem xét, nghiên cứu văn học và văn hóa một cách biệt lập do các đặc trưng đặc thù của văn học Điều này hạn chế rất nhiều sự gắn kết giữa văn học và văn hóa, tách bạch các góc nhìn khiến cho các nghiên cứu trở nên không đa chiều và trọn vẹn hơn Hiện nay, đặc trưng khu biệt của văn học vẫn còn được giữ vững nhưng trong nhiều cách tiếp cận thì tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa là một hướng tiếp cận hiệu quả Trong đó, văn hóa và văn học đóng vai trò như một cặp đôi với mối quan hệ tương tác qua lại Nằm trong khuôn khổ của văn học dân gian, nghiên cứu truyện cổ tích nói chung, truyện cổ tích sinh hoạt nói riêng dưới góc nhìn văn hóa ta sẽ thấy rõ hiện tượng cặp đôi với mối quan hệ tương tác này

Trang 32

Đầu tiên, cổ tích sinh hoạt phản ánh văn hóa Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa

của một quốc gia đa dân tộc Nó là kết quả của một tiến trình lịch sử lâu dài bắt đầu từ khi hình thành những nền tảng văn hóa thời tiền sử và sơ sử cho đến ngày nay Trước

cổ tích, thần thoại, truyền thuyết chính là tấm gương phản chiếu đời sống con người ở thời kì sơ khởi, gắn liền với sự ra đời, phát triển của xã hội công xã nguyên thủy ở Việt Nam Truyện cổ tích sinh hoạt được nảy sinh và sáng tạo trên cơ sở một nền văn hóa nhất định, nó không dừng ở việc chỉ là các sản phẩm giải trí truyền miệng mà hơn hết còn chứa đựng trong đó những dấu ấn văn hóa – một giai đoạn mang màu sắc cổ kính đậm tính chất phác của một thời quá khứ Đó chính là biểu hiện về những giá trị tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán gắn với cộng đồng… Với bối cảnh xã hội và gia đình xuất hiện những mâu thuẫn đối kháng ngày càng gay gắt, cổ tích sinh hoạt ra đời

và biểu hiện phần lớn tập trung vào những tình huống sinh hoạt thường ngày Chính vì thế mà cổ tích sinh hoạt luôn chất chứa các giá trị giáo huấn khá cao, hướng tới những chuẩn mực đạo đức trong gia đình và xã hội, luôn ra sức bênh vực, bảo vệ các giá trị tốt đẹp ấy Tiểu thể loại này không xuất hiện nhiều ở các tộc người thiểu số nhưng ở người Việt lại sở hữu một số lượng truyện khá lớn Điều này có thể bắt nguồn từ sự phát triển không đồng đều ở các tộc người, khu vực tại Việt Nam Người Việt sống tập trung ở vùng đồng bằng, nơi dễ dàng sinh sống, dễ dàng tiệm cận với các giá trị thay đổi và phát triển của thời đại, đời sống sinh hoạt của cộng đồng theo lẽ dĩ nhiên sẽ biến đổi nhanh

và kịp thời hơn so với các tộc người sinh sống ở vùng cao Tư duy và lối sống của người Việt ở giai đoạn nhất định nào đó dễ đạt đến trình độ cao hơn Họ đã biết quan tâm nhiều đến những vấn đề sinh hoạt đời sống, đạo đức ứng xử Thông qua các câu chuyện ta thấy trình độ phát triển văn hóa của con người Nếu như trong các tác phẩm thần thoại con người chủ yếu sống dựa vào thiên nhiên với niềm tin chất phác, thơ ngây và các công cụ thô sơ Trong truyền thuyết ta lại thấy sự phát triển vượt bậc hơn về văn hóa như sự xuất hiện và đề cao các phương tiện, vũ khí chiến đấu cùng sự sáng tạo ra những món ăn, giống cây trồng mới; là nguồn cảm hứng để nhân dân ta hình thành nên nét đẹp văn hóa như tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán,… Còn trong cổ tích sinh hoạt đời sống văn hóa muôn màu của nhân dân lao động lại được bày ra trước mắt vẫn với cái chất nói quá lên nhưng lại gắn với thực tế nhiều hơn Cổ tích sinh hoạt ra đời khi mà con

Trang 33

người không còn ăn chung, ở chung mà đặt lợi ích cá nhân lên cao hơn lợi ích cộng đồng nên nó sự ưu tiên cho việc phản ánh số phận cá nhân, lí giải những vấn đề, những mâu thuẫn của đời sống gia đình, những hiện tượng xung đột của xã hội Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt phản ánh đời sống văn hóa vô cùng phong phú của con người, trong đó bao gồm cả tín ngưỡng, phong tục, các mối quan hệ ứng xử,… Chính vì điều đó mà nó

phản ánh văn hóa Ví dụ như Sự tích ông đầu rau, là câu chuyện lý giải về nguồn gốc

tục thờ ông Táo – một dạng cụ thể hóa tín ngưỡng thờ lửa của con người thời sơ khai Ông Táo là vị thần cai quản bếp núc, bên cạnh đó còn có trách nhiệm ghi chép lại những điều tốt xấu Việc thờ cúng ông táo gắn liền với lễ tết truyền thống của Việt Nam – Tết Nguyên Đán, các hoạt động văn hóa của người dân xoay quanh việc đưa đón ông táo về trời và trở lại trần gian Biểu tượng lửa hay bếp lửa luôn có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động sống của người Việt, thể hiện cho sự ấm cúng, cho sự sẻ chia, cho sự quây quần đoàn tụ Cổ tích sinh hoạt đã phản ánh văn hóa của người Việt qua những biểu tượng như vậy

Bên cạnh đó, văn hóa cũng tác động ngược trở lại cổ tích sinh hoạt Vai trò to

lớn của văn hóa đối với việc hình thành các tác phẩm cổ tích, đặc biệt là truyện cổ tích sinh hoạt là không thể phủ nhận Văn hóa chính là cơ sở, đề tài, chủ đề cho việc sáng tạo các tác phẩm cổ tích sinh hoạt Nhân dân lao động bằng quan sát của mình đã nhìn những sự việc hiện hữu, diễn ra trong đời sống hằng ngày, những thứ thân thuộc, bình

dị và rất “đời” mà từ đó phản ánh lại trong truyện cổ tích Truyện cổ tích sinh hoạt cũng

đa dạng như chính sự đa dạng của cuộc sống, những mảnh đời và số phận của con người trong xã hội Cổ tích sinh hoạt ra đời khi mà chế độ công xã thị tộc đã tan rã, chuyển sang chế độ với sự phân chia giai cấp rõ ràng; trong đó tồn tại mâu thuẫn giai cấp về quyền lợi, địa vị trong xã hội càng ngày càng trở nên gay gắt Hiển nhiên, bối cảnh xã hội cùng những yếu tố đặc trưng của nó đã tác động mạnh mẽ đến nội dung của truyện, không phải tất cả nhưng phần lớn những điều được biểu hiện trong đó đều mang đặc trưng khu biệt của một giai đoạn, một chế độ, một xã hội – nơi mà cổ tích sinh hoạt được

hình thành và phát triển Những vấn đề thường đươc đề cập đến xoay quanh cuộc đấu

tranh giữa kẻ giàu – người nghèo, địa chủ – nông dân (người làm thuê),… để giành lại

Trang 34

công bằng xã hội Các vấn đề về đạo đức, luân lí trong xã hội được đưa vào cổ tích sinh hoạt dưới cái nhìn hóm hỉnh, tươi vui nhưng cũng đầy chất chứa, nỗi niềm của người dân Truyện cổ tích sinh hoạt thường chỉ đưa ra một tình huống, một xung đột, một lát cắt của đời sống và tìm cách điều hòa, giải quyết nó theo những logic của đạo đức con người bằng các phương thức đôi khi rất đỗi đời thường (như tri thức, kinh nghiệm dân gian) Bức tranh đời sống sinh hoạt thường ngày của con người trong xã hội xưa cũng được nhân dân lao động lưu giữ lại tỉ mỉ trong truyện cổ tích sinh hoạt Các bối cảnh làng quê, cây đa, giếng nước rất đỗi gần gũi; hay ngôi nhà, căn bếp, khoảng sân – nơi diễn ra những tình huống, hoạt động của sinh hoạt đời thường, đều được sử dụng hầu hết trong các câu chuyện cổ tích sinh hoạt Văn hóa đã thật sự tác động đến cổ tích sinh

hoạt trong sự điều hướng về chủ đề, bối cảnh của câu chuyện

Truyện cổ tích sinh hoạt cùng các thể loại văn học dân gian khác – những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng, đã phản ánh phong phú và sâu sắc đời sống văn hóa của người Việt xưa Những dấu ấn văn hóa tốt đẹp ấy được lưu truyền và phát huy đến ngày nay, dù đã có nhiều thay đổi về cách tiếp cận nhưng về cơ bản các giá trị cốt lõi vẫn hiện hữu Có thể thấy văn hóa cũng chính là nguồn cảm hứng sáng tạo của truyện

cổ tích sinh hoạt, và truyện cổ tích sinh hoạt chính là tác phẩm lưu giữ các giá trị văn hóa dân gian tương đối trọn vẹn Có thể xem văn học là một thành tố biểu thị thành quả văn hóa trong một thời kỳ, ngoài khả năng tự thân vận động với các đặc thù riêng biệt của bản thân, nó còn có chức năng tác động trở lại để hoàn thiện con người, mang lại ý nghĩa cho đời sống, làm cho văn hóa phát triển

1.1.5 Vận dụng các lý thuyết trong nghiên cứu

Trong công trình nghiên cứu này, người viết sử dụng lý thuyết cấu trúc chức năng của Robert K Merton để phân tích, nghiên cứu Đây là lý thuyết chính mà người viết vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài Trong nhận thức về người đàn ông, họ luôn được gắn vào các vị thế đi kèm với vai trò của bản thân, đôi khi được xã hội nhận thức, đôi khi là sự nhận thức tự thân Họ được nhìn nhận về vai trò trách nhiệm đối với gia đình và xã hội, trong đó là những mối quan hệ đan xen, và trong từng mối quan hệ người đàn ông lại có vai trò khác nhau để đảm bảo chức năng của mình Theo như thuyết cấu

Trang 35

trúc chức năng của Robert K Merton, ông có mở rộng khái niệm vị thế - vai trò của Ralph Linton, theo đó ông cho rằng vị thế là vị trí trong cấu trúc xã hội với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng, và vai trò là những hành vi hướng tới sự mong đợi của những người khác xung quanh, và một vị thế sẽ có nhiều vai trò mà ông gọi là hệ vai trò, có nghĩa là với một vị trí trong mối quan hệ xã hội nhất định, con người sẽ gắn với nhiều vai trò khác nhau (Lê Ngọc Hùng, 2008, tr 216)

Người đàn ông trong gia đình cũng như trong xã hội đều có những vị trí khác nhau, thể hiện những vai trò khác nhau mà gia đình cũng như xã hội kỳ vọng ở người

đó Ví dụ, người cha được kỳ vọng là người có uy quyền, mẫu mực hay một ông quan khác với một người nông dân, ông ta không thể cư xử giống như một người nông dân được Về mặt xã hội thì mỗi người, cả vị quan và người nông dân đều có vị trí xã hội nhất định Theo lí thuyết hệ thống, mỗi một hệ thống xã hội đều có một cơ cấu phức tạp tương xứng với nó bao gồm nhiều bộ phận được cấu thành Mỗi một bộ phận đều có vị

trí vai trò, chức năng khác nhau “Theo Merton, vai trò là tập hợp các chuẩn mực, hành

vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhận hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó Đồng thời họ cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò đó.” (Bách khoa toàn

thư mở, 2020)

Như vậy vai trò xã hội được xác định trên cơ sở vị thế xã hội tương ứng, tương ứng với từng vị thế lại có một hành vi mong đợi Vì vậy khi xem xét các vấn đề về vị thế và vai trò người ta xem xét đến mặt động của vị thế, vì xã hội luôn biến động và sự

di động của cá nhân không có sự ổn định Có thể nhận thấy, lý thuyết này nhấn mạnh sự không bình đẳng trong xã hội dẫn đến phân tầng xã hội, phân biệt về giới và giới tính gắn liền với sự phân chia một cách không đồng đều trong xã hội về quyền lực Theo đó, một người đàn ông có thể đóng nhiều vai trò khác nhau như họ vừa làm chồng làm cha,

họ vừa lao động kiếm sống nuôi gia đình, vừa tham gia vào các hoạt động cộng đồng

Áp dụng lý thuyết này vào đề tài, người viết muốn làm rõ vị thế của người đàn ông trong gia đình, và với vị thế của mình thì họ đã thực hiện vai trò của mình như thế

Trang 36

nào? Để thông qua đó đánh giá và nhìn nhận về vai trò và mức độ thực hiện vai trò giới

và quyền quyết định trong gia đình thông qua cứ liệu truyện cổ tích sinh hoạt Bên cạnh

đó nhằm lý giải vị thế của mỗi thành viên trong gia đình và xã hội đóng một vai trò nhất định Đưa ra một bức tranh sinh hoạt trong gia đình, hoạt động xã hội với vai trò của mỗi giới trong gia đình, qua đó xem xét những bất lợi mà mỗi giới thường gặp phải trong gia đình và xã hội

Vận dụng cấu trúc ba thành phần: văn hóa nhận thức – tổ chức – ứng xử của Trần Ngọc Thêm (Trần Ngọc Thêm, 2014, tr 62 – 63) để xây dựng bố cục nghiên cứu chung trong phần nội dung của chương hai và chương ba Trong đó, lý thuyết cấu trúc chức năng của Robert K Merton được lấy làm định hướng nghiên cứu Như đã nói khái niệm

vị thế với hệ vai trò được biểu hiện bởi những hành vi của đối tượng phù hợp khi nghiên cứu về người đàn ông Trong xã hội lấy bối cảnh của xã hội phong kiến, người đàn ông luôn nắm giữ các vị thế nhất định có tầm ảnh hưởng không nhỏ trong các mối quan hệ; chính vì thế vai trò của họ cũng được bộc lộ rõ nét bởi hành vi (ứng xử) với các đối tượng trong đó Cấu trúc nghiên cứu nhận thức, tổ chức, ứng xử là một hệ thống mà trong đó các thành tố có mối quan hệ qua lại, từ nhận thức dẫn đến tổ chức, ứng xử và ngược lại Vận dụng điều này khi nghiên cứu về người đàn ông sẽ thấy rõ nhận thức của

họ có tác động mạnh mẽ đến tổ chức xã hội, điều khiển hành vi (ứng xử) trong các mối quan hệ nhất định (như nhận thức về vai trò học hành và khi đạt được công danh người đàn ông sẽ tham dự vào việc tổ chức bộ máy quản lý phong kiến tập quyền, đóng góp

và kiến tạo bộ máy chính quyền đó, quy định hoặc hạn chế hành vi giữa các tầng lớp, đối tượng), và ngược lại chính tổ chức xã hội cũng quy định, tác động đến nhận thức và ứng xử của họ (như việc tổ chức xã hội trong truyện cổ tích là sự phân định rõ ràng của

bề trên và bề dưới, người quyền uy, giàu có thì có tiếng nói, địa vị, kẻ bình dân, nghèo khổ thì chịu áp chế, bóc lột; chính tổ chức xã hội cho phép người đàn ông tự nhận thức

về vị thế của bản thân, họ được làm gì và muốn gì, từ đó quyết định, ảnh hưởng đến cách hành xử của mình đối với mọi người xung quanh)

Do đó, người viết nhận thấy việc vận dụng kết hợp cấu trúc nhận thức, tổ chức, ứng xử với lý thuyết cấu trúc chức năng của Robert K Merton để nghiên cứu về người

Trang 37

đàn ông trong truyện cổ tích sinh hoạt là một mô hình phù hợp, vừa có tính hệ thống, vừa có tính cụ thể khi đặt người đàn ông vào các vị thế gắn liền với vai trò trong từng mối quan hệ ở xã hội

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nguồn gốc hình thành của truyện cổ tích sinh hoạt

Để nghiên cứu nguồn gốc hình thành của truyện cổ tích sinh hoạt, trước tiên cần chú ý đến quá trình nảy sinh của truyện cổ tích nói chung Nằm trong hệ thống truyện dân gian, cổ tích có một nguồn cội ra đời từ sự chuyển giao gắn với thời đại, gắn với tri thức, gắn với đời sống tinh thần của người bình dân

Trong hệ thống truyện dân gian, thần thoại là thể loại tự sự dân gian đầu tiên, ra đời trong thời kỳ công xã nguyên thuỷ Thời kì mà con người sống bình đẳng trong một cộng đồng lớn, chưa có sự phân chia giai cấp hay sự phân hóa giàu nghèo, chế độ người bóc lột người chưa thật sự hình thành Thời điểm này, tư duy của con người là lối tư duy chất phác, ngây thơ, cùng với nó là tính chất kì vĩ hào hùng của tư tưởng, những tâm hồn, cảm xúc và suy nghĩ chưa hề biết đến áp bức chiến tranh hay xung đột đối kháng Một xã hội mà người đàn ông và đàn bà đều là cha và mẹ của những đứa trẻ trong một thị tộc, nơi mà người già được kính trọng, người yếu được quan tâm Đến khi con người có thể khống chế và làm chủ được những thế lực bí hiểm của tự nhiên cũng

là lúc thần thoại dần dần không còn tồn tại Có nghĩa là khi các yếu tố thần linh không còn ngự trị trong tâm thức; khi trình độ hiểu biết của con người được nâng lên, họ đã tìm ra và giải thích được những quy luật của cuộc sống, thì cũng có nghĩa thần thoại đã hoàn thành được chức năng nhận thức và lí giải tự nhiên của nó Và đó cũng là lúc truyện cổ tích ra đời Truyện cổ tích có thể được hình thành trong thời kỳ công xã nguyên thuỷ nhưng đặc biệt nở rộ trong thời kì xã hội có sự phân chia giai cấp, có mâu thuẫn đối kháng, có sự phân hoá giàu nghèo Đó là lúc xã hội thị tộc tan rã và nhường chỗ cho sự xuất hiện của những gia đình riêng lẻ cùng với chế độ tư hữu

Theo Đỗ Bình Trị trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam tập I, truyện cổ tích

Việt Nam ra đời và phát triển nở rộ là trong thời kì xây dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến độc lập, cụ thể là giai đoạn đất nước ta xây dựng và bảo vệ nước Đại Việt (từ thế

Trang 38

kỉ X đến thế kỉ XV) Tình hình xã hội nước ta giai đoạn này có nhiều biến đổi to lớn Sau chiến thắng Bạch Đằng đất nước bắt đầu xây dựng một quốc gia hoàn chỉnh Nhà nước phong kiến lớn mạnh bắt tay vào xây dựng đất nước, khơi sống dậy những truyền thống lịch sử vẻ vang của nước nhà Sức sống dân tộc bấy lâu bị ứ nghẹt nay được khơi thông tuôn chảy mãnh liệt như nước triều dâng Nhưng bình yên cũng không kéo dài được bao lâu, đến các triều đại Ngô, Đinh, Lý, Trần và đầu Lê, đất nước lại luôn phải đối phó với giặc ngoại xâm, đắm mình trong màn đêm của những cuộc chiến giữ nước Điều đó làm nảy sinh những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội (mặc dù lúc đó lợi ích của giai cấp cầm quyền căn bản đồng thuận và nhất trí với lợi ích dân tộc) Cuối đời Lý lại nổ ra chiến tranh phe phái phong kiến Tình cảnh thù trong giặc ngoài, biến động thời cuộc đã tạo điều kiện kích thích và buộc các giá trị giải tỏa về tinh thần phát triển, một trong số đó có thể loại truyện cổ tích Văn học thời kì đó đã cung cấp rõ ràng về sự lưu truyền rộng rãi của truyện cổ tích và cổ tích thần kỳ trong giai đoạn này (dẫn theo

Trịnh Thị Thu Hà, 2015, tr.15-16)

Theo quan điểm của Nguyễn Đổng Chi, truyện cổ tích chắc hẳn ra đời sau và có

nguồn gốc phát triển từ thần thoại và truyền thuyết: “Truyền thuyết, cổ tích hiển nhiên phải xuất hiện sau thần thoại, tiếp liền với thần thoại Truyền thuyết hoặc anh hùng ca

ra đời vào giai đoạn cuối của thời nguyên thủy chuyển sang thời nô lệ Truyền thuyết

kế thừa nhiệm vụ của thần thoại và phát triển theo hướng xây đắp thêm… Càng về sau, truyền thuyết càng gần với cổ tích…” (Nguyễn Đổng Chi, 2000, tr.61)

Xã hội từ gia đình thị tộc mẫu hệ sang gia đình phụ quyền tức là từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp, con người bắt gặp nhiều điều mới lạ, ngỡ ngàng trước sự đổi thay phức tạp của thời đại Có những điều xảy ra xung quanh mà họ chưa bao giờ nhìn thấy Điều đó tạo nên nhu cầu cấp thiết cho con người là muốn lý giải những hiện tượng của tự nhiên, của cuộc sống Sự hiểu biết tư duy của con người giai đoạn này cao hơn giai đoạn trước, xảy ra những hiện tượng mới lạ (thuộc về các hiện tượng xã hội)

vô cùng phức tạp và biến hóa không ngừng Các sáng tác truyện cổ tích trong giai đoạn này vẫn sử dụng phương pháp và phương tiện thần thoại để giải quyết những tình tiết nút thắt Những gì tác giả dân gian không giải đáp được họ cho là thần linh, do ông Bụt

Trang 39

hoặc bậc tiên nhân tạo ra Tính chất kỳ ảo trong truyện kể nảy sinh từ đây và hình thành nên truyện cổ tích Tuy nhiên khi xã hội ngày càng phát triển phức tạp theo quy luật tất yếu của nó, các phương pháp và phương tiện sáng tác theo phương thức sáng tác thần thoại ngày càng lộ rõ những hạn chế nhất định Giải thích các mối quan hệ xã hội theo nhận thức “thần thoại” không còn được nhân dân chấp nhận Dần theo năm tháng tìm tòi, truyện cổ tích đã được bổ sung, cải tiến và từng bước tạo ra vốn kinh nghiệm và hệ thống phương pháp, phương tiện nghệ thuật riêng dành cho truyện cổ tích

Cổ tích sinh hoạt (hay thế sự) ra đời khi những mâu thuẫn đối kháng ngày càng gay gắt xuất hiện trong xã hội và gia đình, con người không còn mang một niềm tin ngây thơ, chất phác, hồn nhiên đầy cảm tính như trước nữa Niềm tin vào thần linh giúp sức đã nhạt dần thay vào đó là lối tư duy hiện thực tỉnh táo mang tính duy lý Như Phạm

Thu Yến (cb) đã nói trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam: “Cảm quan hiện thực tỉnh táo của nhân dân trong truyện cổ tích sinh hoạt đã dần thay thế cho cảm quan mang tính chất cảm tính, ảo tưởng trong truyện cổ tích thần kỳ” (Phạm Thu Yến (cb), 2005,

tr.71) Con người có sự biến đổi, phát triển trong nhận thức, điều này đã được phản ánh trực tiếp qua nội dung của truyện cổ tích sinh hoạt Phương thức phản ánh cuộc sống của nhân dân đã thay đổi Truyện cổ tích sinh hoạt không đi sâu vào việc phản ánh ước

mơ và khát vọng của con người nữa, nó trực tiếp phản ánh mọi mặt của cuộc sống hàng ngày đang diễn ra, mà ở đó các yếu tố thần kỳ trong việc giải quyết các mâu thuẫn đã ít hơn hoặc không còn xuất hiện Cũng chính nội dung phản ánh này làm cho hệ thống nhân vật của tiểu loại này không còn là những kiểu truyện về người mồ côi, người con riêng, người đội lốt, người đi ở mà là những nhân vật đức hạnh, xấu xa, mưu trí, khờ khạo Chính sự thay đổi về hệ thống nhân vật đã làm cho tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt có sự độc đáo riêng biệt trong phương thức xây dựng nhân vật so với cổ tích thần

kì, thể hiện khả năng sáng tạo của nhân dân trong một giai đoạn lịch sử mới

Tóm lại, truyện cổ tích sinh hoạt xuất hiện trong chặng đường nảy sinh và phát triển của truyện cổ tích nói chung Lúc này con người đã qua thời đại dã man, sống trong những xã hội có cấp bậc, đặc biệt là xã hội nô lệ và phong kiến Truyện cổ tích sinh hoạt ra đời trong lòng một xã hội đã phân chia giai cấp và nảy sinh mâu thuẫn giai

Trang 40

cấp về quyền lợi, địa vị Các câu chuyện gắn liền số phận những người bất hạnh trong cuộc sống đời thường Nó là cách mà nhân dân gửi gắm ước mơ, khát vọng về một cuộc đời tốt đẹp, công bằng, hạnh phúc Nó là sự hòa quyện giữa “vẻ đẹp hồn nhiên, ngây thơ” và “chất thần kỳ, huyền ảo”; là sự kết hợp giữa “hiện thực” và “hư cấu”

1.2.2 Nguyên nhân kinh tế - xã hội dẫn đến sự ra đời của chế độ tư hữu và sự biến đổi các hình thức gia đình

Trong xã hội nguyên thủy, sự hợp tác lao động, sự công bằng và bình đẳng về hưởng thụ một phần là do tình trạng đời sống còn quá thấp kém tạo nên Trong thời gian đầu của công xã nguyên thủy, tất cả thành viên của thị tộc đều chia sẻ của cải kiếm được một cách công bằng Do đó, không ai hoặc không nhóm người nào có thể chiếm hữu và

tư hữu của cải Đến khi thị tộc ngày càng đông đúc hơn và dần trở thành một tổ chức xã hội phức tạp, cùng với sự dồi dào của nguồn của cải kiếm được, sự xuất hiện của sản phẩm thừa đã dẫn thay đổi mọi thứ chia sẻ công bằng trước đó Con người bắt đầu biết tích lũy số của cải kiếm được, và điều này dẫn đến việc chiếm hữu tư nhân ở một số người hoặc một số nhóm người (Ngô Ngân Hà, 2017) Sự xuất hiện và phát triển của nền sản xuất cá thể theo từng gia đình phụ hệ, do khả năng lao động của các gia đình khác nhau làm cho của cải tích lũy ngày càng nhiều trong tay một số cá nhân hay gia đình, thường là các gia đình tộc trưởng, tù trưởng hay các bô lão, thủ lĩnh quân sự Dựa vào đó mà các đối tượng này có khả năng vượt lên trên những người khác trên phương diện tài sản và quyền lực Những người này lợi dụng chức phận để chiếm một phần sản phẩm xã hội chi cho các công việc chung Đồng thời, họ cũng tự cho phép mình được

“lĩnh” một khẩu phần nhiều hơn những người khác, tạo tiền đề để trở nên giàu hơn những người khác Theo thời gian, xã hội thị tộc đã bị phân hóa thành kẻ giàu người nghèo Những người giàu có thì hợp thành tầng lớp quý tộc chiếm hữu nhiều ruộng đất, của cải…, còn những người nghèo khó gồm đông đảo các thành viên của thị tộc, bộ lạc thì bị mất dần của cải và tư liệu sản xuất, cuối cùng họ rơi vào tình trạng bị lệ thuộc và

bị áp bức bóc lột bởi tầng lớp trên không khác gì nô lệ (Biên niên sử) Đây chính là cơ

sở tạo nên sự bất bình đẳng giữa các cá nhân và các nhóm người trong xã hội cũng như

là tiền đề cho sự ra đời của mâu thuẫn giai cấp

Ngày đăng: 29/06/2023, 22:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Andersen, J. A. & Hansson, P. H. (2011). At the end of the road? On differences between women and men in leadership behavior. Leadership & Organization Development Journal, 32(5), 428-441. doi: 10.1108/01437731111146550 Sách, tạp chí
Tiêu đề: At the end of the road? On differences between women and men in leadership behavior
Tác giả: J. A. Andersen, P. H. Hansson
Nhà XB: Leadership & Organization Development Journal
Năm: 2011
2. Bách khoa toàn thư mở. (cập nhật lần cuối 09/12/2020). Vai trò xã hội. Truy xuất từ https://vi.wikipedia.org/wiki/Vai_tr%C3%B2_x%C3%A3_h%E1%BB%99i#:~:text=Vai%20tr%C3%B2%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i%20m%C3%B4,nh%E1%BA%ADn%20vai%20tr%C3%B2%20n%C3%A0o%20%C4%91%C3%B3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò xã hội
Tác giả: Bách khoa toàn thư mở
Nhà XB: Wikipedia
Năm: 2020
3. Bách khoa toàn thư mở. (cập nhật lần cuối 07/7/2022). Nam giới. Truy cập từ https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_gi%E1%BB%9Bi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam giới
Tác giả: Bách khoa toàn thư mở
Nhà XB: Wikipedia
Năm: 2022
4. Biên niên sử. Sự xuất hiện chế độ tư hữu và xã hội có giai cấp. Truy xuất từ https://bienniensu.com/thegioi/su-xuat-hien-che-do-tu-huu-va-xa-hoi-co-giai-cap/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự xuất hiện chế độ tư hữu và xã hội có giai cấp
Tác giả: Biên Niên Sử
5. Chu Xuân Diên. (2006). Văn hóa dân gian – mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại. Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian – mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Hà Nội: Khoa học xã hội
Năm: 2006
6. Dịch Trung Thiên. (2014). Chuyện đàn ông, đàn bà Trung Quốc (Sơn Lê dịch). Hà Nội: Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện đàn ông, đàn bà Trung Quốc
Tác giả: Dịch Trung Thiên
Nhà XB: Phụ nữ
Năm: 2014
7. Đỗ Thị Huyền Trang. (2012). Thế giới nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam (luận văn Thạc sĩ). Hà Nội: Trường Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Huyền Trang
Nhà XB: Trường Đại học Sư phạm
Năm: 2012
8. Đỗ Bình Trị. (2002). Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian
Tác giả: Đỗ Bình Trị
Nhà XB: Giáo dục
Năm: 2002
9. Engels. Ph. (1972). Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước. Hà Nội: Sự Thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Tác giả: Engels, Ph
Nhà XB: Sự Thật
Năm: 1972
10. Gino, F. & Brooks, W. A. (23/9/2015). Explaining Gender Differences at the Top. Harvard Business Review. Truy xuất từ https://hbr.org/2015/09/explaining-gender-differences-at-the-top Sách, tạp chí
Tiêu đề: Explaining Gender Differences at the Top
Tác giả: Francesca Gino, Alison Wood Brooks
Nhà XB: Harvard Business Review
Năm: 2015
12. Hoàng Tiến Tựu. (1992). Văn học dân gian Việt Nam, tập 2. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam, tập 2
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu
Nhà XB: Giáo dục
Năm: 1992
15. Lan Anh. (2013). Dân tộc Kinh - dân tộc đông nhất Việt Nam. Truy xuất từ https://vovworld.vn/vi-VN/sac-mau-cac-dan-toc-viet-nam/dan-toc-kinh-dan-toc-dong-nhat-viet-nam-145688.vov Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Kinh - dân tộc đông nhất Việt Nam
Tác giả: Lan Anh
Nhà XB: VOV World
Năm: 2013
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng cb). (2006). Từ điển thuật ngữ văn học. Hà nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Giáo dục
Năm: 2006
17. Lê Chí Quế (cb). (2001). Văn học dân gian Việt Nam. Hà Nội: Đại học Quốc Gia 18. Lê Đức Luận. (2011). Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt. Huế: Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam". Hà Nội: Đại học Quốc Gia 18. Lê Đức Luận. (2011). "Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt
Tác giả: Lê Chí Quế (cb). (2001). Văn học dân gian Việt Nam. Hà Nội: Đại học Quốc Gia 18. Lê Đức Luận
Năm: 2011
19. Lê Ngọc Hùng. (2008). Lịch sử và lý thuyết xã hội học. Hà Nội: Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Đại học Quốc gia
Năm: 2008
21. Lê Thị Đài Trang. (2014). Hình tượng người nam trong ca dao người Việt (Khóa luận tốt nghiệp đại học). Đại học Đà Nẵng, trường Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng người nam trong ca dao người Việt
Tác giả: Lê Thị Đài Trang
Nhà XB: Đại học Đà Nẵng
Năm: 2014
22. Lê Thị Nguyệt. (2008). Nét đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt (luận văn thạc sĩ). Thái Nguyên: Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt
Tác giả: Lê Thị Nguyệt
Nhà XB: Đại học Sư phạm
Năm: 2008
24. Lynn, R. & Irwing, P. (2004). Sex differences on the Progressive Matrices: A meta- analysis. Intelligence, 32 (5), 481−498. doi:10.1016/j.intell.2004.06.008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sex differences on the Progressive Matrices: A meta- analysis
Tác giả: R. Lynn, P. Irwing
Nhà XB: Intelligence
Năm: 2004
25. Lynn, R. (1999). Sex differences in intelligence and brain size: a developmental theory. Intelligence, 27, 1–12. doi:10.1016/S0160-2896(99)00009-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sex differences in intelligence and brain size: a developmental theory
Tác giả: R. Lynn
Nhà XB: Intelligence
Năm: 1999
26. Mai Huy Bích. (2009). Giáo trình xã hội học về giới. Hà Nội: Đại học Quốc gia 27. Minh Vũ. (14/10/2015). Sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà trong lịch sử. Truyxuất từhttp://nxbhanoi.com.vn/chi_tiet_tin/tabid/204/cateID/4/artilceID/15247/language/vi-VN/Default.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học về giới
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Đại học Quốc gia
Năm: 2009

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm