Trong phạm vi luận án này, chúng tôi đặt ra mục tiêu là xác định bản chất và những đặc điểm chủ yếu của hiện tượng giả dối, trong đó quan trọng là đánh giá một cách khách quan mặt giá t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ TUYẾT NGÂN
HIỆN TƯỢNG GIẢ DỐI
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ TUYẾT NGÂN
HIỆN TƯỢNG GIẢ DỐI
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 62.31.70.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “Hiện tượng giả dối từ góc nhìn văn hóa học”
này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự trùng lắp, sao chép của bất kỳ đề tài luận án hay công trình nghiên cứu khoa học nào của các tác giả khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Tuyết Ngân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
Danh mục bảng 5
Danh mục hình 5
DẪN NHẬP 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu và những đóng góp 6
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
7 Bố cục của luận án 10
8 Quy cách trình bày 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHẬN THỨC VỀ HIỆN TƯỢNG GIẢ DỐI 13
1.1 Định nghĩa giả dối 13
1.1.1 Một số quan niệm về giả dối trên thế giới 13
1.1.2 Phân tích và đề xuất định nghĩa 14
1.2 Giả dối trong quan hệ với văn hoá, giá trị và sự thật 18
1.2.1 Giả dối với văn hoá và giá trị 18
1.2.2 Giả dối với sự thật và những khái niệm liên quan 21
1.2.3 Khả năng và điều kiện để giả dối có giá trị văn hóa 24
1.3 Điều kiện tồn tại giả dối 28
1.3.1 Điều kiện tiền đề dẫn đến giả dối 29
1.3.2 Điều kiện để thực hiện thành công hành động giả dối 35
1.4 Các bình diện của giả dối 40
1.4.1 Giả dối xét theo phương tiện tương tác 41
1.4.2 Giả dối xét theo phương thức tương tác 44
1.4.3 Giả dối xét theo chủ thể 46
1.4.4 Giả dối xét theo khách thể 48
1.4.5 Giả dối xét theo tình huống ứng xử 51
1.5 Tiểu kết 55
Chương 2: HIỆN TƯỢNG GIẢ DỐI NHÌN TỪ TỔ CHỨC VÀ ỨNG XỬ 57
2.1 Tổ chức hoạt động giả dối trong ứng xử xuyên loài với các lực lượng siêu nhiên 58 2.1.1 Tổ chức hoạt động giả dối trong các phong tục liên quan đến sự thay đổi vị thế tự nhiên 58
2.1.2 Tổ chức hoạt động giả dối trong các phong tục liên quan đến sự thay đổi vị thế xã hội 62
2.2 Tổ chức hoạt động giả dối trong ứng xử xuyên loài với các lực lượng tự nhiên 67
2.2.1 Tổ chức hoạt động giả dối trong hoạt động săn bắt 68
2.2.2 Tổ chức hoạt động giả dối trong hoạt động thuần hóa và chăn nuôi 72
2.3 Tổ chức hoạt động giả dối trong ứng xử nội loài xuyên văn hóa 74
2.3.1 Kỹ thuật che giấu 76
2.3.2 Kỹ thuật nghi binh 79
2.3.3 Chiến thuật giả dối trong hoạt động du kích 81
Trang 52.3.4 Thủ thuật chuyên môn trong hoạt động gián điệp 83
2.3.5 Kỹ thuật giả dối trong hoạt động ngoại giao 85
2.4 Tổ chức hoạt động giả dối trong ứng xử nội văn hóa 87
2.4.1 Tổ chức hoạt động giả dối phục vụ lợi ích tập thể, cộng đồng 87
2.4.2 Tổ chức hoạt động giả dối phục vụ lợi ích cá nhân 94
2.5 Tiểu kết 101
Chương 3: HIỆN TƯỢNG GIẢ DỐI NHÌN TỪ VĂN HOÁ TẬN DỤNG VÀ LƯU LUYẾN 103
3.1 Các đặc trưng bản chất của giả dối 103
3.1.1 Tính chủ động của giả dối 104
3.1.2 Tính phổ biến của giả dối 105
3.1.3 Tính nhất thời của giả dối 107
3.1.4 Tính tương đối của giá trị giả dối 109
3.2 Các công dụng của giả dối 112
3.2.1 Tránh căng thẳng, mâu thuẫn nhất thời 113
3.2.2 Điều chỉnh và làm chủ quá trình tương tác 114
3.2.3 Chỉ báo khoảng cách giữa các đối tác 116
3.2.4 Đánh lạc hướng đối tác 117
3.2.5 Khuyến khích suy nghĩ năng động và khả năng bao quát 118
3.3 Cách trao truyền các giá trị của giả dối 119
3.3.1 Trao truyền các giá trị của giả dối trong gia đình 119
3.3.2 Trao truyền các giá trị của giả dối ở trường học 123
3.3.3 Trao truyền các giá trị của giả dối ngoài xã hội 125
3.4 Văn hóa lưu luyến (tái tạo) giả dối 129
3.4.1 Lưu luyến (tái tạo) giả dối trong một số loại hình nghệ thuật 129
3.4.2 Lưu luyến (tái tạo) giả dối trong đời sống thực tiễn 140
3.5 Tiểu kết 150
Chương 4: HIỆN TƯỢNG GIẢ DỐI NHÌN TỪ VĂN HOÁ ĐỐI PHÓ 152
4.1 Tính phi giá trị của giả dối 152
4.1.1 Tính phi giá trị của giả dối nhìn từ quan hệ 153
4.1.2 Tính phi giá trị của giả dối nhìn từ suy nghĩ, tình cảm 154
4.1.3 Tính phi giá trị của giả dối nhìn từ lợi ích 156
4.2 Văn hóa phát hiện giả dối 161
4.2.1 Phát hiện trực tiếp 161
4.2.2 Phát hiện gián tiếp 167
4.3 Văn hóa xử lý giả dối 172
4.3.1 Xử lý trực tiếp 172
4.3.2 Xử lý gián tiếp 177
4.4 Văn hóa phòng ngừa giả dối 178
4.4.1 Phòng ngừa trực tiếp 178
4.4.2 Phòng ngừa gián tiếp 185
4.5 Tiểu kết 188
KẾT LUẬN 189
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 194
Tài liệu tiếng Việt 194
Tài liệu tiếng nước ngoài 196
Tài liệu internet 197
Trang 6Danh mục bảng
Bảng 1: Phân tích các định nghĩa “giả dối” 15
Bảng 2: Giá trị của giả dối nhìn từ lợi ích và lối sống 28
Bảng 3: Điều kiện để hành động giả dối thành công 40
Bảng 4: Giả dối nhìn từ quan hệ giữa chủ thể và khách thể 48
Bảng 5: Các bình diện của giả dối 54
Bảng 6: Giá trị của giả dối nhìn từ quan hệ chủ thể với khách thể 102
Bảng 7: Những diễn viên đóng vai giả gái nổi tiếng 136
Bảng 8: Những diễn viên đóng vai giả trai thành công 137
Bảng 9: Sự chênh lệch giữa suy nghĩ và việc làm 169
Danh mục hình Hình 1: Định nghĩa giả dối 18
Hình 2: Hệ thống quan hệ và tính giá trị của giả dối trong tương quan với sự thật 24
Hình 3: Ấn tượng hình thức và thực tế 33
Hình 4: Cửa số giao tiếp Joharri 36
Hình 5: (1) Tục “khảo cây lấy quả” trong sách “Kỹ thuật của người An Nam” (Technique du peuple Annamite) của Henri Oger (1909); (2) Tục “khảo cây lấy quả” hiện hành ở Thanh Hóa 61
Hình 6: Các kiểu đồ mã 66
Hình 7: Lưới, vó đăng bắt cá 69
Hình 8: (1) Bẫy kẹp chân; (2) Bẫy kẹp thân; (3) Bẫy thòng lọng 69
Hình 9: Săn ảnh chim 71
Hình 10: Bù nhìn 72
Hình 11: Heo rừng và heo nuôi công nghiệp 73
Hình 12: Các kiểu ngụy trang của quân đội Việt Nam và các nước 77
Hình 13: Địa đạo Củ Chi 78
Hình 14: (1-2) Đặc công ngụy trang; (3) Đánh kho xăng Nhà Bè ngày 3-12-1973 79
Hình 15: (1) Nồi đất giả làm bãi mìn; (2) Hầm chông ở Củ Chi 82
Hình 16: Trang phục phương Tây các thời kỳ 108
Hình 17: Tóc giả của giới quý tộc châu Âu 111
Hình 18: Lễ hội bù nhìn ở (1) St Charles, Mỹ; (2) Wolferton, Anh 141
Hình 19: Reijo Kela và thế giới bù nhìn của ông 142
Hình 20: (1) Dán chữ/ hình trong ngày Cá tháng Tư (tranh cổ); (2) Áp phích 144
Hình 21: Chú Cuội - cây đa; tượng chú Cuội 149
Hình 22: Cảnh giả trong xử lý hình ảnh 162
Hình 23: Cảnh giả trong video lính IS chặt đầu tập thể tù nhân Syria 162
Hình 24: (1) Hình ảnh trước và sau khi sửa bằng phần mềm photoshop; (2) Bức ảnh anh công an “bên cạnh xác chết” đăng trên facebook 163
Hình 25: (1) Hình vẽ phổ biến về Pinocchio; (2) Pinocchio trong phim hoạt hình Wall Disney; (3) Tượng Pinocchio khổng lồ ở công viên Pinocchio (Ý) 173
Hình 26: Câu chuyện người đẻ ra thỏ trên báo chí 176
Hình 27: Dấu hiệu nhận dạng trên chứng minh nhân dân 179
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Giả dối là một hiện tượng phổ biến và có từ rất lâu đời, đã được ghi nhận nhiều lần trong các loại hình văn học dân gian như truyện cổ tích, thần thoại, thành ngữ, tục
ngữ Theo quan niệm phổ biến xưa nay, giả dối luôn bị đánh giá là không tốt, được
xem là phản giá trị, do vậy đương nhiên cũng được xem là phi văn hoá, luôn bị ngăn
cấm và hạn chế sử dụng, giới khoa học thì ít quan tâm nghiên cứu Trong khi trên thực
tế thì, cho tới nay, trong tất cả các nền văn hóa từ Đông đến Tây, giả dối không những
không mất đi mà có nơi có lúc còn có vẻ như ngày càng phổ biến và phát triển đa dạng hơn Điều này cho thấy thái độ chống đối nó lâu nay của xã hội và lảng tránh nó của giới khoa học là sai lầm Có cơ sở để giả định là, rất có thể, trong chiều sâu của thời gian và chiều rộng của không gian, hiện tượng này có những cơ sở khoa học sâu xa về văn hoá cần được khám phá và lý giải
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Hiện tượng giả dối từ góc
nhìn văn hóa học” làm đối tượng nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu và những đóng góp
Giả dối là hiện tượng giao tiếp, ứng xử nằm trong khu vực giáp ranh của nhiều ngành khoa học khác nhau, do vậy hướng tới nhiều mục đích khác nhau và có những cách đánh giá khác nhau
Trong phạm vi luận án này, chúng tôi đặt ra mục tiêu là xác định bản chất và
những đặc điểm chủ yếu của hiện tượng giả dối, trong đó quan trọng là đánh giá một cách khách quan mặt giá trị và phi giá trị của nó để, trên cơ sở đó, phân tích cách thức con người tận dụng mặt giá trị ( = văn hóa) cũng như cách thức ứng phó với mặt phi giá trị ( = phi văn hóa) của giả dối, đưa ra những dự đoán về tương lai của nó,
cũng như góp phần điều chỉnh, hướng dẫn dư luận trong việc sử dụng nó
Trang 83 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1 Giả dối (bao gồm làm giả và nói dối) có thể xem là sự đánh giá được gán cho một hành động, một cách thức hoạt động, một trạng thái của con người trong ứng xử với tự nhiên và xã hội
Trong lĩnh vực ứng xử với tự nhiên, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào nghiên
cứu trực tiếp về vấn đề này; còn trong lĩnh vực ứng xử xã hội giữa con người với con người, giả dối được nhắc đến trong các công trình nghiên cứu triết học, tâm lý học,
giáo dục học, đạo đức học, khoa học giao tiếp và trong các sách viết về lối sống, sách
“học làm người” Tuy nhiên, nhắc đến thì có, còn nghiên cứu sâu và trực tiếp về giả
dối như một đối tượng của hoạt động khoa học trong các ngành này thì cũng không nhiều Các nghiên cứu chủ yếu là của các tác giả phương Tây; một số tài liệu bằng tiếng Việt ít nhiều có đề cập đến giả dối thì chủ yếu là những tài liệu dịch hoặc biên dịch, soạn lại từ tiếng nước ngoài Trong số các tài liệu không nhiều ấy, mảng phong
phú hơn cả thuộc về khoa học giao tiếp, đặc biệt là tâm lý học giao tiếp Song những
nghiên cứu này chủ yếu hướng tới những quan hệ nội văn hóa, giao tiếp bằng ngôn từ, nói dối là chủ yếu; lĩnh vực làm giả có thể nói là gần như còn hoàn toàn để trống
2 Những nghiên cứu chuyên sâu về hiện tượng này thuộc về các nhà khoa học Nga Với truyền thống hàn lâm của mình, các học giả Nga đã đi vào nghiên cứu các
vấn đề mang tính lý luận như “Lừa dối Phân tích triết học – Tâm lý học” của Д.И Дубровский (Обман Философско-психологический анализ, 2010), “Hiện tượng
lừa dối trong giao tiếp liên nhân” của М Л Красников (Феномен лжи в
межличностном общении, 1999), hay “Sự tự lừa dối diễn ra như thế nào” của Ю А
Разинов (Как возможен самообман, 2004) Tác phẩm sau cùng xem xét việc tự dối lòng như một hiện tượng văn hóa đặc biệt của con người từ bản chất, những nghịch lý, triết lý của những cảm nhận chạy trốn khỏi bản thân để lý giải tâm lý con người trong
những trạng thái mâu thuẫn đặc biệt В.Я Пропп nghiên cứu giả dối giải trí như một
trường hợp của giả dối trong các tác phẩm văn học nghệ thuật (1999)
3 Cùng là nghiên cứu tâm lý con người khi thực hiện hành động giả dối, các nhà
khoa học Mỹ thiên về khía cạnh thực dụng của vấn đề (Lieberman D 2008; Brooks
Jackson và Kathleen Hall Jamieson 2008; Kevin D 2002; The Arbinger Institute
Trang 92009) Các sách này đều có đặc điểm chung là tìm hiểu tâm lý của người giả dối và đối tác của họ trong các trường hợp thực tiễn cụ thể để rút ra bài học
D Lieberman (2008) quan sát các mối quan hệ cá nhân và các tình huống trong
công việc, khám phá tám khía cạnh khác nhau của việc giả dối và đưa ra các giải pháp giúp tìm ra chân lý và giành quyền kiểm soát tình hình Brooks Jackson và Kathleen Hall Jamieson (2008) phân tích các trường hợp giả dối theo chủ đề để kết luận về các
thủ đoạn lừa dối được hình thành dựa trên các quy luật tâm lý của con người, từ đó chỉ
ra các phương thức nhận biết những điều dối trá, những kỹ thuật bịp bợm, cũng như cách thức để kiểm tra nhằm tìm được sự thật D Kevin (2002) vốn là một tin tặc (hacker) từng phải ngồi tù, qua nghiên cứu tâm lý của các đối tượng quản lý mạng đã
trình bày những kinh nghiệm của mình và các cách giả dối để có thể lấy mật khẩu thâm nhập vào trang quản trị của các website Viện Arbinger (2009) nghiên cứu cách
thức quản lý trong giới lãnh đạo phương Tây và phát hiện ra rằng cách thức quản lý
được duy trì lâu nay là dựa trên sự tự lừa dối, từ đó phân tích để đưa ra những phương
án, giải pháp thiết thực nhằm tự giải phóng mình Từ những nghiên cứu tâm lý này, các nhà khoa học - kỹ thuật Mỹ đã đưa ra hàng loạt những cách thức phát hiện giả dối
và sáng chế ra cả các máy móc giúp phát hiện giả dối trong những trường hợp nghiêm trọng cần giải quyết bằng pháp luật
Một số bài viết về giả dối trên các website, mạng cá nhân thường chỉ là giới thiệu, đưa tin về một vài khía cạnh của các kết quả nghiên cứu, dừng lại ở việc nêu hiện tượng; đôi khi nếu có giải thích các khía cạnh tâm lý, đạo đức thì cũng là những giải thích mang tính phổ cập Chúng tôi khai thác những bài viết kiểu này với tư cách
là nguồn cung cấp tư liệu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận án là hiện tượng giả dối từ góc nhìn văn hóa học
Vì là một nghiên cứu trên bình diện lý thuyết nên giới hạn phạm vi nghiên cứu
về mặt không gian trên lý thuyết được mở rộng ra các nền văn hóa nhân loại, còn trên
thực tế chủ yếu giới hạn ở văn hóa mẹ đẻ (Việt Nam), những nền văn hóa lớn mà tác giả có thể tiếp cận được qua các nguồn thông tin (như Trung Quốc), hoặc các nền văn
Trang 10hóa mà tác giả am hiểu (như Nga, Bồ Đào Nha − tác giả từng học ngữ văn Bồ Đào Nha ở Nga)
Về mặt thời gian, phạm vi nghiên cứu cũng được mở rộng, song trên thực tế thì
thời quá khứ xa chủ yếu giới hạn ở việc khai thác các tư liệu dân gian, thời cận đại có tài liệu nhiều hơn, tư liệu nghiên cứu thời hiện đại là nhiều nhất
Phạm vi nghiên cứu của đề tài không giới hạn về mặt chủ thể, tuy nhiên chủ thể
của các lĩnh vực có liên quan đến giả dối nhiều thì sẽ được quan tâm nhiều hơn
Hiện tượng giả dối là đối tượng có thể nghiên cứu từ nhiều chuyên ngành khác nhau với những trọng tâm nghiên cứu khác nhau Trong khi tội phạm học chủ yếu xem xét giả dối ở mặt phi giá trị thì xã hội học và tâm lý học có thể nghiên cứu hiện tượng
giả dối ở cả hai mặt giá trị và phi giá trị Từ góc nhìn văn hóa học, luận án tập trung
đi tìm các giá trị của giả dối để giải thích lý do tồn tại của nó và xác định cách thức con người đối phó với những phi giá trị của nó
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học, luận án góp phần tìm hiểu hiện tượng giả dối dưới góc nhìn
văn hóa học, giúp làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về cách ứng xử với các hiện tượng văn hóa - xã hội giáp ranh, những hiện tượng mang tính hai mặt rõ rệt nằm
trong khu vực giáp ranh giữa giá trị và phi giá trị, văn hóa và phi văn hóa
Về mặt thực tiễn, luận án có thể góp phần giúp các cấp quản lý hoạch định các
chính sách trong những lĩnh vực hoạt động liên quan đến văn hóa ứng xử, định hướng
các chuẩn giá trị, chuẩn đạo đức trong xã hội nói chung và các ngành nghề có liên
quan mật thiết tới các lĩnh vực ứng xử, giao tiếp mà ở đó giả dối đang là hiện tượng phổ biến nói riêng
Đồng thời luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy về lý luận văn hoá, văn hóa ứng xử, văn hoá xã hội, văn hóa ngôn từ nói
chung và văn hoá ứng xử hoặc văn hoá ngôn từ của người Việt nói riêng
Trang 116 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Do đây là một hiện tượng văn hóa - xã hội có độ phủ rộng, nên không thể nhìn
nhận giả dối ở một góc độ cục bộ nào đó, mà phải nghiên cứu theo cách tiếp cận liên
ngành, tổng hợp các thành tựu của nhiều ngành như triết học, xã hội học, tâm lý học,
ngôn ngữ học, khoa học giao tiếp, v.v dưới một điểm nhìn thống nhất là văn hóa
học
Để có thể đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án trước hết sử dụng
phương pháp quan sát thực tế để phân tích, tìm hiểu cách thức ứng xử của con người
và những dấu hiệu, đặc điểm ngôn từ, cử chỉ khi thực hiện hành vi giả dối
Thứ hai, vận dụng phương pháp so sánh - loại hình để nghiên cứu cơ sở hình
thành và đặc điểm của hành vi giả dối trong các loại hình văn hoá, các nhóm chủ thể, các khu vực không gian và các giai đoạn thời gian khác nhau
Thứ ba, sử dụng phương pháp hệ thống - cấu trúc để phân tích - tổng hợp, sắp
xếp các hiện tượng giả dối vô cùng đa dạng, phức tạp vào các thành tố cấu thành để nghiên cứu, khái quát hóa lên thành một hệ thống chung
Ngoài ra, phương pháp thống kê cũng được sử dụng để hỗ trợ
Nguồn tư liệu để nghiên cứu giả dối mà chúng tôi sử dụng là những lời nói, việc
làm, sảm phẩm được ghi lại, văn bản hóa dưới nhiều dạng khác nhau
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được chia làm bốn chương, xoay quanh hai nội dung chính là hành động giả dối và cách đánh giá của xã hội về hành động này
1 Dưới góc độ hành động, giả dối được xem xét ở chương 1 và chương 2 theo
ba bình diện nhận thức, tổ chức và ứng xử Do sự gắn bó về nội dung và do dung lượng không nhiều nên bình diện nhận thức được kết hợp vào chương 1 thành “Cơ sở
lý luận và nhận thức về hiện tượng giả dối” Chương 2 bao gồm hai bình diện còn lại
là “Hiện tượng giả dối nhìn từ văn hóa tổ chức và ứng xử”
Chương 1 có mục đích xây dựng một cơ sở lý luận và nhận thức về giả dối thông qua hệ thống các khái niệm, đặc trưng, nguồn gốc và các bình diện của giả dối,
Trang 12để thấy được bản chất, quy luật, điều kiện hình thành giả dối như một hành vi ứng xử
do con người sáng tạo với tất cả sự đa dạng và phức tạp của một hiện tượng bản năng thuộc con người, nằm trong khu vực giáp ranh giữa văn hóa và phi văn hóa
Chương 2 đi vào trình bày hiện tượng giả dối nhìn từ văn hóa tổ chức và ứng xử với các khách thể thuộc bốn nhóm: (1) Giả dối xuyên loài với đối tác thuộc thế giới siêu nhiên; (2) Giả dối xuyên loài với đối tác thuộc thế giới tự nhiên; (3) Giả dối nội
loài xuyên văn hoá với đối tác là con người ở các nền văn hoá khác và (4) Giả dối nội văn hoá với đối tác là con người thuộc cùng nền văn hoá
2 Dưới góc độ cách đánh giá của xã hội, giả dối được xem xét trong chương 3
và chương 4 theo các bình diện văn hóa tận dụng giả dối, văn hóa lưu luyến giả dối và văn hóa đối phó với giả dối
Chương 3 trình bày về văn hóa tận dụng giả dối và văn hóa lưu luyến giả dối
Do có tính hai mặt nên trong chương này, giả dối được xem xét như những giá trị văn
hoá Luận án đi vào tìm hiểu các đặc trưng, chức năng của giả dối được tận dụng
trong đời sống; cách giáo dục giả dối để phục vụ bản thân và cộng đồng Đồng thời phân tích những hiện tượng lưu luyến giả dối trong nghệ thuật và thực tiễn cuộc sống
Chương 4 trình bày về văn hóa đối phó với giả dối Ở đây, tính phi giá trị của giả dối sẽ được được xem xét từ khía cạnh quan hệ, tình cảm và lợi ích, giúp tìm hiểu
nguyên nhân vì sao giả dối bị cấm đoán và hạn chế sử dụng Trên cơ sở đó, luận án đi
vào phân tích ba bình diện của văn hóa đối phó với giả dối là văn hóa phát hiện giả dối, văn hóa xử lý giả dối và văn hóa phòng ngừa giả dối
8 Quy cách trình bày
1 Việc dẫn nguồn được trình bày “theo thông lệ quốc tế” (khoản 7 điều 30 Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ” của ĐHQG TP HCM 2010) với cấu trúc: [Họ Tên tác giả + năm xuất bản: số trang], vd: [Phạm Minh Lăng 2003: 273] Nếu tác giả là người phương Tây thì đặt họ trước, tên (và tên cha) viết tắt đặt sau, vd: [Kevin D 2002:
15] Thông tin đầy đủ được ghi trong Danh mục tài liệu tham khảo (chia làm ba
phần: tài liệu tiếng Việt, tài liệu tiếng nước ngoài và tài liệu internet) đặt ở cuối luận án
Trang 132 Nếu là tài liệu không xác định được tác giả thì lấy tên tổ chức, hoặc một từ (nhóm
từ) đại diện trong tiêu đề để làm dấu hiệu dẫn nguồn, vd: [The Arbinger Institute
2009], [Oxford 2000: 741]
3 Nếu cần dẫn nhiều trang thì các trang được phân cách bằng dấu phẩy Nếu là các trang liên tục thì chỉ ghi trang đầu và cuối, ở giữa đặt dấu ngang nối Nếu có nhiều tài liệu thì giữa các tài liệu phân cách bằng dấu chấm phẩy, vd: [Грушевицкая Т.Г
1997: 15, 20, 208; Trần Ngọc Thêm 2004: 72-74; Садохин А.П 2002: 73]
4 Với tài liệu internet, nếu xác định được năm đưa lên mạng thì dẫn theo các quy ước 1-3 Nếu không có năm thì sau từ đại diện sẽ ghi tên mạng, vd: [Code of Ethics Spj.org], [Ложь Ru.wikipedia.org] Các tài liệu internet không có số trang
5 Nếu tên tác giả đã được nhắc đến trước đó thì sau lời hoặc ý được dẫn sẽ chỉ ghi năm xuất bản (+ số trang), vd: “Trần Tuấn Lộ khẳng định “Ngôn ngữ là phương tiện che giấu, xuyên tạc sự thật” [1994: 37]” Nếu cả tên tác giả và năm xuất bản
đã được nhắc đến rồi thì trong ngoặc vuông sau đó chỉ còn số trang, trong trường hợp này sẽ có thêm chữ “tr.” để phân biệt với số năm, vd: [tr 10], [2003]
6 Với những trích dẫn từ các diễn đàn, blog, thì các đặc trưng văn phong như chữ tắt,
từ lóng, chữ biến đổi chính tả nhìn chung vẫn giữ nguyên, khi cần sẽ được giải
thích trong ngoặc vuông, vd: “Sếp Dốt k0 sợ bằng Sếp 'giả vờ Dốt'”; “văn phòng
em trả lương thấp nhất trong khối VPDD [văn phòng đại diện] mà”
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ NHẬN THỨC VỀ HIỆN TƯỢNG GIẢ DỐI
1.1 Định nghĩa giả dối 1.1.1 Một số quan niệm về giả dối trên thế giới
Trên thế giới, người ta nói đến “giả dối” thì nhiều nhưng định nghĩa nó một cách khoa học thì hầu như chưa có Trong số những tài liệu tìm được, duy nhất trong cuốn
“Обман Философско-психологический анализ” của Дубровский, danh từ “обман” (giả dối) được định nghĩa là “thông báo sai, không đáng tin cậy, có thể gây nhầm lẫn
cho đối tượng được hướng tới” (обман – это ложное, неверное сообщение,
способное ввести в заблуждение того, кому оно адресовано) [Дубровский 2010:
10] Trong trường hợp này, giả dối (обман) được định nghĩa tương đương với nói dối
và được khẳng định một lần nữa bằng hình thức tồn tại thường dưới dạng nói hoặc viết [Дубровский 2010: 34]
Trong số các bộ từ điển bách khoa lớn, không một bộ nào có định nghĩa khái niệm này Dưới đây phải dùng đến các từ điển ngôn ngữ
Trong tiếng Việt, “giả dối” là một tính từ (Ví dụ: Thái độ giả dối, lời tán tụng giả dối) Theo “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, “giả dối” có nghĩa là “không thật, nhằm mục đích đánh lừa” [Hoàng Phê (cb) 1992: 386]
Một số ngôn ngữ phương Tây dùng từ có gốc từ tiếng Latin falsus với nét nghĩa
là sai, lừa đảo
Tiếng Bồ Đào Nha giống như tiếng Việt, nhấn mạnh vào sự khác biệt, giải thích
“falso” là ‘ngược nghĩa với sự thật hoặc thực tế’ (contrário à verdade ou realidade), và
Trang 15danh từ “falsidade” (sự giả dối) là ‘sự biến chất của sự thật’ (corrupção da verdade)
[Fernando J Da Silva 1984: 1041]
Tương tự, “false” (giả dối) trong tiếng Anh có tới 4 nghĩa chính: (1) Không đúng với sự thật hoặc thực tế; sai; (2) bắt chước một cái gì đó để lừa; (3) ảo, không phải sự thực; (4) không ngay thật, không đáng tin [False Oxforddictionaries.com]
Trong tiếng Nga tính từ “ложный” (giả dối) có ba ý nghĩa: (1) Chứa sự cố tình làm biến dạng sự thật, sai lầm, không đúng; (2) Ảo nhưng được đưa ra như là sự thật; (3) Gây ra bởi những quan niệm sai lầm về đạo đức, định kiến [Ожегов С.И., Шведова Н.Ю 1992]1
Định nghĩa “giả dối” đơn giản nhất thuộc về từ điển mở Wikitionary định nghĩa giả dối là “Không đúng sự thật” [Giả dối Vi.wiktionary.org]
1.1.2 Phân tích và đề xuất định nghĩa
1.1.2.1 Các định nghĩa về giả dối nêu trên của mọi ngôn ngữ đều tập trung sự
chú ý vào đặc trưng coi giả dối là không đúng sự thật, luôn có song song sự thật để so
sánh Trong đó, 5 định nghĩa đầu (1-5) chứa trọn vẹn hai ý: không đúng + sự thật (x bảng 1)
Đây là cách hiểu rộng nhất, coi tất cả mọi thứ không đúng sự thật đều là giả
dối Trong vũ trụ mênh mông và đa dạng, khó có thể tồn tại hai sự vật/ hiện tượng giống hệt nhau, lặp lại nhau hoàn toàn Trong thế giới loài người, mỗi sản phẩm dù cùng tên gọi thì vẫn có thể có đặc điểm riêng biệt, và cũng có thể là sự thật để được mang ra làm mẫu so sánh với sản phẩm khác Mặt khác, thế giới thật luôn kích thích sản sinh ra thế giới ảo; theo thời gian, thế giới ảo trở nên quen thuộc và một số sản phẩm ảo được hiện thực hóa vào cuộc sống và trở thành sự thật Đến lượt mình, chúng trở thành khuôn mẫu kích thích sản sinh ra hàng loạt sản phẩm mới Hơn nữa, một số
1
Trong tiếng Nga cùng nghĩa giả dối còn có hai danh từ “ложь” và “обман” Trong bộ “Từ điển tiếng Nga” 5 tập do S.I Ozhegov soạn và N.Ju Shvedova bổ sung, chỉnh sửa, không có danh từ “ложь”; Danh từ
“обман” (lừa dối) được.I Ozhegov soạn và N.Ju Shvedova chỉ dẫn là có nghĩa thứ hai tương đương với “ложь”
và nghĩa thứ nhất tương đương với động từ “обмануть” Động từ “обмануть” có 5 nghĩa, trong đó ba nghĩa chính là: (1) Dẫn đến lầm lạc, nói sai sự thật, ứng xử không trung thực với người khác; (2) Vi phạm lời hứa; (3) Không đáp ứng sự mong đợi của người khác
Trang 16lĩnh vực phi vật thể không thể định tính, định lượng một cách rõ ràng, thì càng khó xác định chính xác mức độ ảo của các hiện tượng loại này
Bảng 1:Phân tích các định nghĩa “giả dối”
1 Từ điển tiếng Bồ Đào
2 được đưa ra như là sự thật (= cố ý)
7 Từ điển tiếng Nga:
1 gây ra bởi quan niệm sai
8 Từ điển tiếng Nga:
1 chứa sự cố tình;
2 làm biến dạng; 3 sự thật
1 cố tình; 2 làm biến dạng; 3 sự thật (vấn đề đạo đức)
9 Từ điển tiếng Anh: false
2
1 không; 2 ngay thật
3 không đáng tin
1 không; 2 ngay thật
3 không đáng tin (vấn đề đạo đức)
10 Từ điển tiếng Anh: false
1
1 bắt chước; 2 một cái gì đó;
3 để lừa
1 bắt chước = cố ý + làm giống; 2 một cái gì đó; 3 để lừa (vấn đề đạo đức)
11 Từ điển tiếng Việt
Như vậy, cách hiểu giả dối là không đúng sự thật này vừa quá rộng vừa không có
tác dụng phân biệt sự thật với giả dối vì chúng song song tồn tại trong cuộc sống và chuyển hóa cho nhau Muốn xác định một hiện tượng là sự thật hay giả dối thì phải có yếu tố đối lập của nó mới có thể thực hiện được Nhưng dù có yếu tố đối lập thì sự phân biệt thật/ giả này không mang lại ý nghĩa gì
Những sản phẩm nhân tạo mô phỏng tự nhiên được sản xuất để thay thế cho những thiếu hụt trong đời sống như chân tay giả; tóc, lông mi giả; xương giả; kim cương giả; thận nhân tạo; trí tuệ nhân tạo, v.v đều thỏa mãn tiêu chí “không đúng sự thật”; đến lượt mình đều có thể trở thành mẫu để sản xuất (= phát minh) ra những sản phẩm mới, “giả” hơn, hoàn thiện hơn, nhưng thật vô nghĩa nếu được coi là “giả dối”
1.1.2.2 Sáu định nghĩa còn lại đều chú ý đến tính chất cố ý làm không đúng sự
thật trong hành động của chủ thể như một tiêu chí quan trọng để nhận diện trạng thái
Trang 17giả dối Trong đó riêng định nghĩa 6 chỉ nói đến sự cố ý của việc đưa cái không đúng
sự thật ra “như là sự thật”
Cách hiểu này đã thu hẹp bớt ngoại diên của khái niệm so với cách hiểu quá rộng trên Phụ nữ trang điểm cho mình đẹp hơn, nói khéo cho mọi người vui hơn, v.v đều
là “cái không đúng sự thật” được “cố ý đưa ra như là sự thật” thuộc trường hợp này
Nhưng cách hiểu này đồng thời cũng loại trừ những trường hợp vô tình làm không
đúng sự thật như sản phẩm lỗi, không đạt yêu cầu chất lượng trong quá trình sản xuất Sản phẩm lỗi, hỏng không phải là đồ giả
1.1.2.3 Trong sáu định nghĩa chú ý đến tính chất cố ý làm không đúng sự thật, thì năm định nghĩa cuối cùng (7-11) nhấn mạnh vào mục đích để lừa, đánh giá ý thức đạo
đức của chủ thể về việc xâm hại đến lợi ích của khách thể hoặc cộng đồng, thu hẹp hơn nữa phạm vi của khái niệm“giả dối”
Đặc trưng “để lừa” mang trong mình ba nét nghĩa: (a) “Cố ý” (hành vi đã được thực hiện có mục đích, tất yếu phải có chủ ý, cố ý); (b) “Đưa ra như là sự thật” làm cho người khác bị lầm; và (c) Xâm hại đến lợi ích của khách thể hoặc cộng đồng (“lừa” một cách cố ý luôn mang tính vị kỷ, lợi mình hại người) Chính nét nghĩa thứ ba
này khu biệt nhóm định nghĩa (7)-(11) với định nghĩa (6) Đây là cách hiểu hẹp nhất
1.1.2.4 Trong luận án này, chúng tôi chọn cách hiểu khái niệm “giả dối” theo hướng thứ hai − không quá rộng, cũng không quá hẹp − làm đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, định nghĩa (6) – “giả dối là cái ảo được đưa ra như là sự thật” − mới chỉ là một định nghĩa từ điển, thiếu những thuộc tính chặt chẽ của một định nghĩa khoa học Ngay cả khi giải mã “ảo” = “cái không đúng sự thật” và mở rộng định nghĩa thành:
“Giả dối là cái không đúng sự thật được cố ý đưa ra như là sự thật” thì cũng vẫn còn
có chỗ cần chính xác hóa thêm
Xét về cấu trúc, hành động giả dối có ba thành phần tham gia: một chủ thể của hành động, một khách thể (đối tác) của hành động, và một là người đánh giá Người đánh giá có thể trùng với chính chủ thể hoặc khách thể, nhưng cũng có thể là bên thứ
ba hoàn toàn (cộng đồng, xã hội) Việc đánh giá tùy thuộc vào động cơ, mục đích, quan điểm sống, tình huống cụ thể… nên khá đa dạng, và thể hiện trong các tên gọi mang các sắc thái, các cấp độ khác nhau, ví dụ: giả dối, giả, nói dối, làm dối, làm giả, giả tạo, giả hiệu, giả trá, dối dá, dối trá, gian dối, lừa dối,…
Trang 18Trong đó hành động giả dối là yếu tố khách quan, nó nhất thiết phải xảy ra trong
quá trình tương tác, trong quan hệ ứng xử giữa chủ thể với khách thể Chủ thể cố tình
đưa ra một sản phẩm không phải là sự thật với mong muốn khiến cho đối tác chấp nhận như là sự thật
Khi người phụ nữ trang điểm, chính cô ta là người biết rõ nhất, đánh giá chính xác nhất mức độ “sai sự thật” của sản phẩm do mình đưa ra, còn đối tượng giao tiếp và
xã hội thì ở trong tình trạng không rõ ràng, có thể bị lầm mà chấp nhận rằng đó là sự thật, cũng có thể lờ mờ hiểu rằng đó là “đồ giả” nhưng không xác định được mức độ giả đến đâu
Khi một người nói khéo, khen nịnh: “Sao dạo này trông chị ngày càng trẻ ra,
đẹp ra thế này?” thì cũng chính người đó là biết rõ nhất, đánh giá chính xác nhất mức
độ “sai sự thật” của lời nói do mình đưa ra, còn đối tượng giao tiếp thì tuy có thể cảm nhận thấy rằng đó là lời nói khéo xã giao, nhưng vẫn muốn tin, muốn hy vọng rằng có càng nhiều càng tốt trong lời nói đó là sự thật Trong trường hợp này chỉ có xã hội, bên thứ ba, là tương đối đủ tỉnh táo để đánh giá được mức độ “giả dối” của nó
Cái chung của hai trường hợp trên là dù khách thể có tin rằng đó là sự thật hay không thì nó cũng không gây nên tác hại gì (đáng kể) cho khách thể và xã hội Còn trong trường hợp khi mà một người đưa ra bán một món hàng giả với giá của hàng thật thì chỉ có anh ta được lợi, còn khách thể và xã hội thì bị thiệt hại nghiêm trọng
Như vậy, có thể định nghĩa giả dối là sự đánh giá được gán cho hành động
tương tác mà trong đó chủ thể đưa ra cái sai sự thật một cách cố ý khiến khách thể tiếp nhận như sự thật
Định nghĩa này chứa đựng ba đặc trưng chính cho phép nhận diện giả dối như
sau (x hình 1):
Trang 19Hình 1: Định nghĩa giả dối
(1) Về đặc trưng giống: Là sự đánh giá được gán cho hành động tương tác (2) Về tính chất của nội dung: chủ thể đưa ra cái sai sự thật (đặc trưng loài 1) (3) Về động cơ: cố ý khiến khách thể tiếp nhận như sự thật (đặc trưng loài 2)
“Tiếp nhận như sự thật” là khái niệm có biên độ rộng: có thể là bị lừa (bị thiệt hại nặng), bị lầm (không bị thiệt hại hoặc thiệt hại ít), hoặc biết là sai sự thật nhưng không
đánh giá được chính xác mức độ (như khi đi mua hàng, biết là bị nói thách nhưng không biết nhiều ít đến đâu), hoặc muốn tin rằng đó là sự thật (như khi được nghe nói khéo, khen nịnh)
Kết hợp đặc trưng (2) và (3) giúp ta phân biệt hành động giả dối (cố ý đưa ra cái
sai sự thật khiến khách thể tiếp nhận như sự thật), với sự thật thà (đưa ra sự thật) và
sự ngộ nhận (vô tình đưa ra cái sai sự thật)
Từ đây có thể xác định hai đối tượng nghiên cứu chính của luận án là (1) Hành
động đưa ra cái sai sự thật (hành động giả dối); (2) Cách đánh giá của xã hội về hành
động (tính chất giả dối); sự đánh giá này phụ thuộc chủ yếu vào mục tiêu của chủ thể muốn khách thể tiếp nhận thế nào (động cơ của giả dối)
1.2 Giả dối trong quan hệ với văn hoá, giá trị và sự thật
1.2.1 Giả dối vớivăn hoá và giá trị
1.2.1.1 Văn hoá xuất hiện cùng với sự tồn tại của xã hội loài người Song nghiên cứu văn hoá như một đối tượng của khoa học xuất hiện lần đầu vào giữa thế kỷ XIX
Trang 20Sau đó, văn hoá học dần dần phát triển thành một ngành nghiên cứu độc lập Vì văn hoá là khái niệm có ngoại diên rộng, bao quát tất cả các mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người, nên trong ngành văn hoá học cũng tồn tại đồng thời nhiều cách hiểu, nhiều trường phái và cách tiếp cận khác nhau
Nghiên cứu văn hoá như một khoa học xuất phát từ phương Tây, từ năm 1871,
trong cuốn “Văn hoá nguyên thuỷ” (Primitive culture), E.B Tylor đã đưa ra định nghĩa
đầu tiên về văn hoá Trong các ngôn ngữ phương Tây, thuật ngữ “văn hoá” (A
culture, F culture), bắt nguồn từ cultus của tiếng La-tinh có nghĩa là “trồng trọt”, nó
tương đương với культура của tiếng Nga, 文化学của tiếng Hoa)
Ở Việt Nam, hiện nay, theo cách định nghĩa, nhận diện văn hoá và lý giải, có thể quy về ba cách tiếp cận cơ bản: thiên về cách tiếp cận nhu cầu (Đoàn Văn Chúc, Bùi Quang Thắng…), thiên về cách tiếp cận giá trị (Trần Ngọc Thêm…), và thiên về cách tiếp cận biểu tượng (Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Tri Nguyên…) Tuy khác nhau về cách tiếp cận và đơn vị cấu thành, song lại dễ dàng thấy sự thống nhất trong cách hiểu
về văn hoá của các nhà khoa học Xuất hiện nhu cầu và nhu cầu được đáp ứng, chính
là cốt lõi tạo nên giá trị trong mối tương quan với chuẩn mực đạo đức của cộng đồng Giá trị phù hợp với nhận thức và điều kiện sống lặp lại nhiều lần như một thói quen tạo nên nếp nghĩ, nếp hành động trong tư duy, được con người nhận thức và nâng tầm quan trọng lên và trở thành thành biểu tượng Như vậy, có thể cho rằng, các yếu tố cấu thành văn hoá là kết quả sáng tạo của con người để đáp ứng đòi hỏi của đời sống thực tiễn của một tập thể (nhóm người) và được ưu tiên lựa chọn như một thói quen
Để thuận tiện cho những phân tích sau này, chúng tôi sử dụng định nghĩa “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” với bốn đặc trưng cơ bản là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử [Trần Ngọc Thêm 2004: 20-25] làm cơ sở cho cách nhận diện văn hoá trong công trình này
1.2.1.2 Trong một số ngôn ngữ phương Tây, thuật ngữ “giá trị” (A value, F valeur; tương đương với ценность của tiếng Nga, 价值 / 價值 của tiếng Hoa), bắt
nguồn từ valere của tiếng La-tinh có nghĩa là ‘khỏe mạnh, tốt, đáng giá’ [Trần Ngọc Thêm 2013: 90-91; x thêm Trần Ngọc Thêm 2016: 29-39] Từ điển Bách khoa Việt
Trang 21Nam định nghĩa giá trị dùng để "chỉ tính có ích, có ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người” [Từ điển Bách khoa Việt Nam 2002]
Kinh nghiệm, lối sống cá nhân, kinh nghiệm, lối sống tập thể của các cộng đồng thu được trong quá trình tương tác với tự nhiên và xã hội nhờ vào sự đánh giá, phân tích để đưa ra sự lựa chọn tối ưu cho cuộc sống bản thân hoặc cộng đồng Để có được những thành quả, nếp sống, nếp nghĩ cho đến ngày nay, con người đã trải nghiệm nhiều năm trong “thế giới của những so sánh, đánh giá – hay hoặc dở, công bằng hoặc bất công, tốt hoặc xấu, tiến bộ hoặc phản tiến bộ, v.v.” [Hồ Sĩ Quý 2006: 38-40] Giá trị được hình thành qua quá trình so sánh, đánh giá và lựa chọn cụ thể có ý nghĩa tích cực đối với đời sống, được cá nhân đồng tình và xã hội chấp nhận Sự lựa chọn do từng cá nhân thực hiện trên cơ sở nhu cầu, đáp ứng nhu cầu, lợi ích dựa trên tiêu chí, tính cách bản thân nên mang tính chủ quan2 Và sự lựa chọn cá nhân mang tính tương đối bởi phụ thuộc khá nhiều vào tâm lý, tình cảm3 trong những hoàn cảnh nhất định ở các nền văn hóa khác nhau, các quốc gia dân tộc có những điều kiện sống
khác nhau Như vậy, giá trị văn hóa có ba đặc trưng cơ bản là tính có ích, tính chủ
quan và tính tương đối [Trần Ngọc Thêm 2013: 96]
Giá trị đạt được trong mối quan hệ với nhu cầu và lợi ích của con người thiên về đánh giá chủ quan của chủ thể trên cơ sở các đặc trưng khách quan của sự vật, hiện tượng Cùng một sự vật, hiện tượng có bản chất khách quan không thay đổi, trong quan niệm và đánh giá của các chủ thể khác nhau có thể có giá trị khác nhau, tuỳ thuộc vào nhu cầu, tâm lý và tính cách
Từ những phân tích trên, giá trị văn hoá có thể hiểu là những lợi ích do con người sáng tạo trong mối tương quan với các lợi ích khác của đời sống xã hội được cộng đồng, tập thể công nhận qua thời gian mang tính truyền thống, lâu bền
Trang 22Giá trị văn hóa có ba ý nghĩa là: (a) Thể hiện quá trình nhận thức những điều mong muốn của con người nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống; (b) Thể hiện cảm xúc của con người đối với những điều mong muốn đó; (c) Có khả năng kích thích hành
động của con người để tạo ra sự chuyển biến dẫn đến hiện thực hóa những điều mong
muốn đó Giá trị văn hóa còn có năm chức năng là: (a) Chi phối các loại giá trị khác
và chi phối cuộc sống con người; (b) Quy phạm hóa con người; (c) Tạo điều kiện rộng
mở cho con người phát triển tự do; (d) Định hướng, hoàn thiện con người; và (e) Can thiệp vào cuộc sống, gây ra hành động nhằm hướng con người đến sự hoàn thiện [Trần Ngọc Thêm 2016: 62-63]
Các ý nghĩa và chức năng nêu trên chỉ bộc lộ khi các giá trị văn hóa đang xét thuộc về một cộng đồng, hoạt động trong những điều kiện thời gian - không gian cụ thể Ngoài cộng đồng đó, hoặc trong các điều kiện thời gian - không gian khác, các phẩm chất đang xét có thể không còn thuộc vào hệ thống vận hành, không được cộng đồng chấp nhận, thì chúng sẽ không còn lý do tồn tại với tư cách là giá trị văn hóa của cộng đồng Chúng có thể vẫn có giá trị vì có phục vụ cho nhu cầu của một hoặc một số
cá nhân nào đó, song đối với cộng đồng, đối với nền văn hóa, thì nó không còn giá trị,
không phục vụ cho lợi ích tập thể Đối với cộng đồng, nó trở thành hiện tượng phi văn
hóa Giá trị văn hóa mang tính đặc thù cao do tính chủ quan và tính tương đối của nó
Bất cứ hành vi có chủ ý nào đều nhằm mưu cầu một lợi ích nhất định Giả dối cũng không nằm ngoài quy luật đó Vì giả dối là một cách đánh giá chủ quan, do vậy
việc mục đích của hành động quyết định tính giá trị Lợi ích thu được từ giả dối thuộc
về đối tượng nào trong tương tác là quan trọng đối với cách đánh giá của xã hội
1.2.2 Giả dối vớisự thật và những khái niệm liên quan
1.2.2.1 Để có thể xác định được tính giá trị hay phi giá trị, văn hóa hay phi văn hóa của hiện tượng giả dối thì cần bắt đầu từ khái niệm đối lập với nó là “sự thật” Theo nghĩa từ điển, sự thật có hai nghĩa chính: (1) chỉ cái có thật, tồn tại trong
thực tế (nghĩa này tương đương với hiện thực); (2) sự phản ánh đúng hiện thực khách quan, chân lý (nghĩa này tương đương với chân lý) [Hoàng Phê (cb) 1992] Như vậy,
sự thật vừa là một thuật ngữ khoa học vừa là một từ thông dụng trong cuộc sống có ý nghĩa liên quan mật thiết với hiện thực và chân lý
Trang 231.2.2.2 Hiện thực là cái có thật, tồn tại trong cuộc sống Hiện thực bao gồm cả những sự vật, hiện tượng vật chất đang tồn tại một cách khách quan trong thực tế và cả những gì đang tồn tại trong ý thức, trong suy nghĩ của con người Tất cả những sự vật, hiện tượng hay ý nghĩ, ý thức đều tồn tại trong những mối liên hệ phức tạp với nhau qua những quan hệ nhân quả nhất định Song mỗi yếu tố hiện hữu đều có khả năng tồn tại độc lập bởi có tính toàn vẹn và đầy đủ [Дубровский Д.И 2010] hoặc nói cách khác hiện thực luôn có tính hữu hạn và tính đặc thù4 [Martin Heidegger 1943]
Sự thật theo nghĩa tương đương với hiện thực tồn tại dưới hai hình thức vật chất
và tinh thần Dưới dạng vật chất, sự thật là cái có thật, tồn tại hữu hình Dưới dạng tinh
thần, sự thật là những quan niệm, suy nghĩ tồn tại dưới dạng vô hình
1.2.2.3 Chân lý là sự nhận thức đúng đắn hiện thực trong bộ óc con người Hay như cách nói của nhà triết học Đức Heidegger, “chân lý là sự tương đồng của sự vật và
tri thức”(veritas est adaequatio rei et intellectus) [1943] “Chân” là ‘thật’ Trong tiếng
Anh, “truth” có nghĩa là ‘chân thật’, ‘xác thực’, đều chứa nét nghĩa ‘thật’ Thông thường nói đến “chân”, ai cũng hiểu là để chỉ phạm trù “thật” trái nghĩa với phạm trù
“giả” – “không thật”, để theo cái “thật”, bỏ cái “giả”, làm cái “thật” diệt trừ cái “giả” [Phạm Minh Hạc 2012: 89-93] Chân lý luôn là sự phản ánh đúng hiện thực khách quan “Chân” luôn đúng và vận động theo cuộc sống, còn thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
Sự thật theo nghĩa tương đương với chân lý, phản ánh đúng hiện thực khách
quan, rất khó đạt được do phụ thuộc vào sự diễn giải của con người Hạn chế về nhận thức, kỹ năng thể hiện, kỹ năng truyền tin khiến cho người ta trên thực tế truyền cho nhau không phải là sự thật trọn vẹn, mà chỉ là một phần của sự thật, sự thật không đầy
đủ Chính sự thật không đầy đủ trong nhận thức, trong giao tiếp ứng xử là một trong những tiền đề dẫn đến sự hình thành các hành vi giả dối của con người (x tiểu mục 1.3.1.1.3)
1.2.2.4 Về mặt tự nhiên, hiện thực và sự thật đều tồn tại khách quan Song chúng không phải lúc nào cũng đáp ứng nhu cầu đa dạng của các thành viên trong cộng đồng
4
Chính vì bản chất này mà hiện hữu là đối tượng của các khoa học tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học…) và các khoa học xã hội nhân văn (sử học, xã hội học, nhân học…)
Trang 24“Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng” là câu tục ngữ của người Việt đúc kết kinh
nghiệm về sự bất tiện mà sự thật mang lại trong giao tiếp cộng đồng do nó làm ảnh hưởng đến việc duy trì sự ổn định của tập thể
Hiện thực rộng lớn, đa dạng, phong phú, tạo thành một hệ thống các yếu tố với vô
số các mối quan hệ chằng chịt khó có thể bao quát được Con người bị hạn chế bởi năng lực nhận thức cùng bản chất hình tuyến của ngôn ngữ Do vậy, con người không thể tái hiện được hiện thực luôn đúng như một chân lý, mà chỉ tái hiện được một phần của nó mà thôi Như vậy, những thể hiện về hiểu biết của con người chỉ là một phần của sự thật – nửa sự thật Điều này liên quan mật thiết đến tính chủ quan của con người trong tính cách và trong việc sắp xếp, thể hiện vốn tri thức của mình trong quan
hệ với tính khách quan của hiện thực
Độ chênh lệch về giá trị thật sự của hiện thực với cách cảm nhận và tái hiện của con người đã làm mất đi hoặc làm thay đổi một hay nhiều đặc trưng cơ bản khiến hiện thực không còn được nhận diện như nó vốn có Độ sai lệch này phụ thuộc vào năng lực nhận thức và khả năng chuyển hóa thành lời nói, hành vi của chủ thể và phụ thuộc vào năng lực nhận thức và khả năng tiếp thu của khách thể trong ứng xử Khi hành vi làm sai lệch thực tế được phát đi hoặc nhận về do vô tình vì năng lực hạn chế, có thể coi là ngộ nhận, sai lầm Song hành vi làm sai lệch thực tế được phát đi hoặc nhận về
do cố ý thì đó chính là sự giả dối, lừa gạt
Sự giả dối một nửa, hay nửa sự thật, thường mang lại hiệu quả rất cao, bởi vì việc
cố ý giấu đi một nửa sự thật gây nên tình huống mơ hồ, khó nhận biết đâu là sự thật thực sự, sự thật trọn vẹn, khiến cho đối tác dễ hiểu lầm Đồng thời, việc giả dối nằm trong nửa sự thật do chủ thể cố tình tạo ra dễ dàng giúp chủ thể tìm cách biện minh cho ý định giả dối khi bị lật tẩy
Giả dối với sự thật cùng giá trị/ phi giá trị của chúng tạo thành một hệ thống phức tạp các phạm trù, các mối quan hệ, được chúng tôi trình bày trong hình 2
Trang 25Hình 2: Hệ thống quan hệ và tính giá trị của giả dối trong tương quan với sự thật
1.2.3 Khả năng và điều kiện để giả dối có giá trị văn hóa
1.2.3.1 Bản chất của giả dối theo định nghĩa mà chúng tôi đề xuất ở mục 1.1.2 là
“chủ thể đưa ra cái sai sự thật một cách cố ý khiến khách thể tiếp nhận như sự thật”, tức là đưa ra cái không thật, nhằm mục đích đánh lừa Đã là đánh lừa thì, so với chuẩn
của giá trị phổ quát “Chân - Thiện - Mỹ”, giả dối luôn thiếu tính Chân (thật) Do vậy
giả dối không thể và không bao giờ có thể trở thành giá trị phổ quát, giá trị vĩnh cửu Chính vì điều này mà mỗi khi nói đến giả-dối (đồ giả, nói dối, lừa dối ), cộng
đồng thường có xu hướng kết luận ngay nó là phi giá trị, phi văn hóa
Song nếu giả dối hoàn toàn là phi giá trị, phi văn hóa thì làm sao nó vẫn hiện diện trong cuộc sống cộng đồng? Thậm chí là hiện diện ở mức độ rất phổ biến? Cuộc khảo sát về hệ giá trị Việt Nam của đề tài cấp Nhà nước KX.04.15/11-15 do GS.TSKH Trần Ngọc Thêm làm chủ nhiệm (mà tác giả luận án là một thành viên) thực hiện năm 2014 trên phạm vi 12 tỉnh thành với 5.604 phiếu điều tra cho kết quả là
có 81% người được hỏi đánh giá rằng bệnh giả dối, nói không đi đôi với làm là một tật xấu hiện diện trong xã hội Việt Nam [Trần Ngọc Thêm 2016: 417-422]
Một khi giả dối vẫn hiện diện trong cuộc sống − cho dù nó bị cộng đồng đánh
giá là một tật xấu cần phải loại bỏ − thì sự phổ biến của nó cho thấy rằng cộng đồng
có nhu cầu về nó và nó vẫn cần thiết cho cộng đồng Văn hóa là kết quả của hoạt
động đáp ứng nhu cầu Có cầu thì có cung, mà một hiện tượng xuất hiện do cầu lớn, cung lớn thì nó ắt phải có giá trị sử dụng Các vấn đề đặt ra ở đây là: (1) Vì sao cộng
Trang 26đồng có nhu cầu giả dối? (lý do tồn tại và phát triển của giả dối); (2) Do giả dối có tính hai mặt (giá trị và phi giá trị), mà cộng đồng thì đánh giá nó là tật xấu cần phải loại bỏ, cho nên cần xác định mức độ (tỷ lệ) của tính giá trị này; và (3) Giả dối sẽ được coi là
có giá trị văn hóa trong những điều kiện cụ thể nào?
1.2.3.2 Trả lời câu hỏi thứ nhất về lý do tồn tại và phát triển của giả dối, có
thể thấy rằng, trên thực tế, sự mộc mạc chân chất của sự thật và sự bóng bảy hình thức
của giả dối đều không phải đích tới của một cuộc sống văn hóa Tự nhiên thiếu tính
nhân sinh thì bất cập nên chưa phải là văn hóa Nhưng nếu tự nhiên biến đổi quá nhiều thì sẽ trở thành thái quá, sẽ thiếu tính giá trị, và do vậy, thành phi văn hóa (x [Trần Ngọc Thêm 2004: 20-25] và 1.2.1.1)
Con người luôn hướng tới cái tốt, cái đẹp phù hợp với thực tiễn và hài hòa với
môi trường xung quanh Xu hướng nghệ thuật cho thấy, con người dễ dàng đồng cảm
và học hỏi từ những hình ảnh, tấm gương tốt đẹp gần giống với cuộc sống hiện tại của
mình: Những hình tượng nghệ thuật được quần chúng ưa thích nhất thường xuất phát
từ chính cuộc sống; những vĩ nhân được yêu quý nhất thường là những người tuy có hành động hoặc sản phẩm vĩ đại nhưng rất gần gũi, bình dị; hoa giả đẹp là hoa được làm giống hoa thật, còn hoa thật, cây cảnh thật đẹp là loại hoa, cây được con người tạo dáng khác với tự nhiên (như bon sai) hoặc gán cho những cách hiểu, những ý nghĩa khiến nó trở nên khác biệt với đồng loại
Chính văn hóa đã làm cho sự thật (hiện thực) bớt mộc mạc, thô lậu và thăng hoa Không phải ngẫu nhiên mà M Gorki nhận định rằng "Văn hóa là thiên nhiên thứ hai"
Nói đến tính “thứ hai” chính là đại văn hào Nga nói đến sự khác biệt, sự phái sinh, sự
nâng cấp của văn hóa trong so sánh với hiện thực Là văn hóa cho nên cái sai khác so
với sự thật này chắc chắc được con người đưa ra một cách cố ý Tuy khác biệt nhưng
nó vẫn cộng đồng được nhận diện, tiếp nhận như là “thiên nhiên” Đến đây, văn hóa có thể được diễn giải như là sự đánh giá được gán cho hành động tương tác mà trong đó chủ thể đưa ra cái sai/ khác sự thật một cách cố ý khiến khách thể có thể tiếp nhận nó như sự thật Như thế, có thể ngầm hiểu rằng ngay chính trong văn hóa đã tiềm ẩn những tiền đề của giả dối Triết gia Trung Quốc cổ đại Tuân Tử đã nói thẳng: “văn hóa
là cái ngụy” Văn hóa là một sản phẩm làm giả (“cái ngụy”) trong so sánh với nguyên gốc (bản thật) của nó
Trang 271.2.3.3 Trả lời câu hỏi thứ hai về mức độ giá trị của hiện tượng giả dối, ta thấy mỗi cá nhân/ cộng đồng, tùy theo điều kiện, cách thức tổ chức đời sống của mình mà
có những nhu cầu khác nhau, do vậy, cùng một sự vật/ hiện tượng sẽ có những mức độ giá trị khác nhau tùy theo những lý do tồn tại và nhu cầu khác nhau của chủ thể Nếu trong một bối cảnh thời gian - không gian cụ thể, một hiện tượng/ sự vật/ sự kiện được phần đông các thành viên cộng đồng đánh giá tích cực thì nó sẽ có mức độ giá trị cao, và là hiện tượng văn hóa Ngoài cộng đồng đó, hoặc trong các bối cảnh thời gian - không gian khác, nếu hiện tượng/ sự vật/ sự kiện không còn được phần đông các thành viên cộng đồng chấp nhận, thì có nghĩa là nó có mức độ giá trị thấp, không còn được xem là hiện tượng văn hóa “Có mức độ giá trị thấp” có nghĩa là nó có thể vẫn có giá trị đối với một hoặc một số cá nhân nào đó, trong những bối cảnh thời gian - không gian cụ thể nào đó Còn một khi nó không những có mức độ giá trị thấp, mà còn làm tổn hại đến lợi ích chung của cộng đồng, thì nó trở thành phi giá trị và sẽ bị đấu tranh, đào thải
Giả dối là kết quả được gán cho hành động sai sự thật để lừa Vai trò của người đánh giá quyết định giá trị của hành động Trên quan điểm “giá trị chính là phẩm chất của khách thể được con người nhìn qua lăng kính độ quan trọng và độ hữu ích của chúng đối với cuộc sống của mình” [Trần Ngọc Thêm 2015: 14; 2016: 39], thì giá trị của giả dối là mức độ hữu ích do hành động giả dối mang lại Mức độ hữu ích này do người đánh giá xác định dựa trên kinh nghiệm và quan điểm riêng của mình, trong quan hệ với bản thân nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung Quan điểm của các chủ thể đánh giá thường là rất đa dạng, khiến cho độ quan trọng và tính hữu ích của giả dối cũng rất khác nhau tùy theo từng cách lý giải
Cùng một hành động giả dối được chủ thể thực hiện một cách có chủ ý nhằm đạt
mục đích dự kiến có thể mang lại lợi ích cho người này và xâm hại tới quyền lợi, tài
sản của người khác Lợi là tốt, và hại là xấu Dư luận dựa trên chuẩn mực xã hội và quan điểm đạo đức phổ biến, sẽ ngợi khen, khuyến khích con người làm việc có ích (dư luận tốt) và chê trách, ngăn ngừa con người làm những việc có hại cho mình, cho cộng đồng, cho xã hội (dư luận xấu) Xét về mặt giá trị, lợi ích là giá trị, và tác hại là phi giá trị Do vậy, trong cùng một hành vi giả dối luôn song song tồn tại hai mặt giá
Trang 28trị và phi giá trị Tùy theo độ phù hợp của hành vi giả dối với chuẩn mực, đạo đức cộng đồng mà nó sẽ được đánh giá thiên về giá trị hay phi giá trị
Thực ra, theo nguyên lý âm dương (trong âm có dương, trong dương có âm), không chỉ riêng giả dối có tính hai mặt mà mọi sự vật/ hiện tượng đều có tính hai mặt Tuy nhiên, trong phần lớn trường hợp, một trong hai mặt vượt trội hẳn lên, áp đảo mặt còn lại và trở thành mặt đại diện cho sự vật/ hiện tượng Chỉ trong những trường hợp khi hai mặt gần như cân bằng nhau thì tính hai mặt mới trở nên nổi trội và được để ý đến Hiện tượng giả dối thuộc loại này, trong đó mặt phi giá trị có phần được xã hội để
ý hơn
1.2.3.4 Câu hỏi thứ ba là về những điều kiện để giả dối được coi là có giá trị văn hóa
Việc một hiện tượng giả dối có giá trị văn hóa hay không phụ thuộc vào mức độ
giá trị của nó đối với ba loại đối tượng là cộng đồng, khách thể, và chủ thể Với mỗi loại đối tượng, thang giá trị có ba mức độ cơ bản là có lợi, vô hại và có hại Vì văn
hóa là hệ giá trị do cộng đồng lựa chọn phục vụ cho lợi ích chung của mình cho nên,
để trở thành một hiện tượng văn hóa, cộng đồng có vai trò quyết định Các hiện tượng giả dối được cộng đồng chấp nhận và duy trì lâu dài sẽ trở thành thói quen, nếp sống
Tuy không có giá trị Chân (thực), nhưng những hiện tượng đạt được hai giá trị còn lại
là Thiện và Mỹ, cũng được cộng đồng đánh giá là mang lại lợi ích cho xã hội
Xét về mục đích, trong tương quan với lối sống các trường hợp giả dối có thể quy
về bốn trường hợp:
(1) Nếu giả dối có lợi cho khách thể và vô hại với cộng đồng, trong khi có thể phải hy sinh lợi ích của bản thân mình thì sẽ được đánh giá là hành động có giá trị ở
mức cao thượng (x bảng 2, lối sống I).
(2) Nếu giả dối có lợi cho cộng đồng, có hại cho khách thể, có thể có lợi hoặc vô
hại cho bản thân mình, thì được xem là hành động giá trị ở mức có đóng góp (x bảng
2, lối sống II)
(3) Nếu giả dối có lợi cho bản thân mình, đồng thời có lợi hoặc vô hại với khách thể,, nhưng không gây thiệt hại gì cho cộng đồng nói chung, thì hành động đó được
Trang 29xem là biểu hiện của lối sống trao đổi, cộng đồng sẽ không coi là giá trị tích cực,
nhưng cũng không bị phê phán (x bảng 2, lối sống III)
(4) Còn khi giả dối được chủ thể tạo ra chỉ nhằm để mang lại lợi ích cho cá nhân
mình nhưng làm hại cho cộng đồng, có lợi hoặc vô hại với khách thể (lừa dối để trục
lợi cho mình), là biểu hiện của lối sống phụ thuộc, ăn bám, là hành động phi văn
hóa rõ rệt, sẽ bị xã hội lên án và tẩy chay (x bảng 2, lối sống IV) Trường hợp này còn
được gọi là giả dối có tính toán (ложь по расчету) [Соколов А.В 2002: 93]
Bảng 2: Giá trị của giả dối nhìn từ lợi ích và lối sống
Stt
Mức độ giá trị đối với
Lối sống cộng đồng khách thể chủ thể
1 Vô hại Có lợi Có hại I- Cao thượng
Giá trị
2 Có lợi Có hại Vô hại
II- Đóng góp
3 Có lợi Có hại Có lợi
4 Vô hại Vô hại Có lợi
III- Trao đổi
5 Vô hại Có lợi Có lợi
6 Có hại Có hại Có lợi
IV- Phụ thuộc Phi
giá trị
7 Có hại Có lợi Có lợi
8 Có lợi Có lợi Có lợi
(không tồn tại)
9 Có hại Có lợi Có hại
10 Vô hại Có lợi Vô hại
1.3 Điều kiện tồn tại giả dối
Tiến hóa là một quá trình lâu dài và nó truyền lại những khả năng tự bảo vệ để tồn tại trong không gian tự nhiên khắc nghiệt Theo các nhà tâm lý học thì “dối trá đúng là bản chất của con người, nó ăn sâu vào tiềm thức, như là kết quả của công cuộc tiến hóa, sinh tồn và ức chế bản năng nhất thiết phải diễn ra” [Thùy Ninh 2009] Điều
kiện tồn tại giả dối bao gồm điều kiện tiền đề dẫn đến giả dối và điều kiện để thực hiện
thành công hành động giả dối
Trang 301.3.1 Điều kiện tiền đề dẫn đến giả dối
1.3.1.1 Tiền đề tự nhiên
Trong quá trình đấu tranh sinh tồn và tiến hóa, từ sâu trong tiềm thức của mình, con người đã manh nha hình thành những kỹ năng giả dối để tồn tại và phát triển Song việc giả dối sẽ không thể thực hiện được nếu không tồn tại một môi trường với những tiền đề thuận lợi cho sự phát triển
1.3.1.1.1 Trước hết là tính bất khả tri của thực tế do thế giới khách quan hết sức
đa dạng và phong phú Tất cả các sự vật, hiện tượng không tồn tại độc lập mà có quan
hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau, khiến cho con người không phải lúc nào cũng tách bạch được các sự vật, hiện tượng riêng biệt mà nhận thức và truyền đạt
Thêm nữa, các sự vật, hiện tượng phần lớn đều là những hệ thống phức tạp mà con người khó có thể nắm bắt được một cách chi tiết toàn bộ sự thật, do vậy con người thường tìm cách nhận biết, miêu tả điểm, tức là chỉ nắm bắt những điều mà họ cho là quan trọng theo đánh giá chủ quan của mình, chứ không phải toàn bộ sự thật Mỗi cá nhân do đặc điểm tự nhiên và truyền thống xã hội khác nhau sẽ cho ra những kết quả nhận thức khác nhau về cùng một thực tế
Tính tương đồng và dị biệt của các vật thể cũng góp phần đắc lực cho các hành
vi giả dối Các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan thường xuất hiện hoặc xảy
ra theo một logic nhất định, tức là khó tách biệt, do vậy có những sự vật, hiện tượng có hình thức thể hiện giống nhau, tương tự nhau, nhưng lại khác nhau về một hoặc một số đặc điểm cơ bản, khiến cho bản chất và tên gọi của chúng khác hẳn nhau Sự giống nhau về hình thức của các thực thể khách quan có thể gây nhầm lẫn giữa các sự vật,
hiện tượng với nhau (hiểu nhầm) Khả năng ngộ nhận (hiểu nhầm) từ phía khách thể là
một điều kiện cần thiết dẫn đến sự tồn tại của hành động dối trá từ phía chủ thể
1.3.1.1.2 Trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài, động, thực vật càng ngày càng
thích ứng tốt hơn với môi trường tồn tại của mình Các con vật do phải tự mưu sinh để
giành giật sự sống nên quá trình thích ứng càng mạnh mẽ hơn Ai cũng biết tắc kè là
một loài động vật sinh tồn bằng cách thay đổi màu da cho phù hợp với môi trường xung quanh để đánh lừa các con mồi và kẻ thù của mình Càng về sau, những con tắc
Trang 31kè con cháu càng thích ứng tốt hơn với điều kiện sống khắc nghiệt và chúng càng biến hóa được thành nhiều màu hơn để giống với môi trường nhiều hơn
Những trường hợp dối trá vô thức này không cần tới trí thông minh, nhưng lại chứng minh rất thuyết phục thuyết tiến hóa rằng sự chọn lọc tự nhiên giúp đào thải những sinh vật không thích ứng được với môi trường cạnh tranh khốc liệt, trong những điều kiện khắc nghiệt khi môi trường thay đổi5 [Smith D L 2004: 50-55] Những
trùng lặp ngẫu nhiên đã trở thành tiền đề cho những hành vi cố ý làm nên những trùng lặp tất nhiên (giả dối) để đảm bảo sự sinh tồn của loài vật trong tự nhiên
Và quá trình tiến hóa tương tự như vậy cũng xảy ra ở con người, nhưng có phần phức tạp hơn Con người, ngoài những cách thức áp dụng để sống sót, thoát khỏi những rắc rối, thì họ còn là một loài động vật biết tư duy và có rất nhiều ham muốn, ham muốn nhiều thứ khác ngoài các nhu cầu sinh học tối thiểu Để đáp ứng các nhu
cầu này, bộ não của con người cũng tiến hóa không ngừng Ngoài bộ phận não trong
(hay còn gọi là não bò sát) mang bản năng sinh tồn như tất cả các loài động vật khác,
não rìa (hay còn gọi là não loài động vật có vú) của con người thiên về điều khiển các
phản ứng nhanh, tức thì, không cần suy nghĩ, thường bộc lộ phản ứng thật trước thông
tin từ môi trường xung quanh, sản sinh ra các phản ứng tự nhiên, rập khuôn; vỏ não
(hay còn gọi là não tư duy, não trí tuệ) mang tính sáng tạo, có khả năng tính toán, phân tích và giải mã các thông tin để đưa ra các quyết định hành động Bộ phận vỏ não mới
có thể đánh lừa và đánh lừa thường xuyên [Navarro 2010: 44-48] Lão Tử đã từng
nhận xét rằng “Trí tuệ xuất, hữu đại ngụy” (‘Trí tuệ xuất hiện, sinh ra vô vàn điều giả
dối’, 智慧出, 有大伪 - Đạo đức kinh, chương 18) Nhờ có bộ não phát triển ở ba thời
kỳ khác nhau, con người có khả năng vượt trội, biết sử dụng trí lực để đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của mình
Hơn nữa, con người còn sở hữu một công cụ giao tiếp ưu việt hơn hẳn là ngôn ngữ và sống trong một xã hội phức tạp với những mối liên hệ vật chất và tinh thần đa dạng, phong phú khiến cho con người không những kế thừa khả năng giả dối có sẵn,
mà còn biết phát huy ở mức tinh vi hơn và khó phát hiện hơn
5
Theo báo cáo của tổ chức Global Species Assessment năm 2004 thì thế giới có 844 loài động vật bị tuyệt chủng và 15.589 loài đang bị đe dọa tuyệt chủng [Global Species Assessment 2004]
Trang 321.3.1.1.3 Sự hạn chế của khả năng thể hiện ý tưởng, mô phỏng thực tế cũng
góp phần không nhỏ khiến người ta lợi dụng để thực hiện hành vi giả dối Thực tế trọn vẹn, đa chiều với nhiều chi tiết liên kết với nhau bằng các mối quan hệ chằng chịt, đan xen Con người hiểu được thực tế đã khó, thể hiện lại hay mô phỏng nó như hiện thực vốn có càng khó hơn Thể hiện ý tưởng, mô phỏng thực tế, nói chung luôn hướng tới
sự thật và cố gắng đạt tới chân lý để có được hiểu biết đúng Hiểu biết của con người thu nhận được chỉ là một phần của thực tế Chính vì vậy, so với thực tế thì việc con người thể hiện, trình bày, miêu tả lại bao giờ cũng có khoảng cách nhất định, không phải lúc nào cũng chính xác [x thêm Don Miguel Ruiz & Janet Mills 2009: 69-72] Độ chênh lệch giữa thực tế, việc thể hiện thực tế của chủ thể, việc thu nhận kết quả thể hiện thực tế của khách thể góp phần tạo điều kiện cho giả dối nảy sinh
Trong xã hội, việc ứng xử giữa con người với con người thường xảy ra dưới dạng hành vi giao tiếp Chính vì điều này, các nhà tâm lý học cho rằng “ứng xử được hiểu là cách xử thế nhằm ứng phó với một (hoặc nhiều) đối tượng nào đó trong các mối quan
hệ giao tiếp” [Phạm Vũ Dũng 2002: 25] Trong giao tiếp, thông tin mà người phát tin định “truyền” tới người nhận tin trên thực tế đã không bao giờ được “truyền” đi, đơn giản vì thông tin là loại giá trị tinh thần, mà giá trị tinh thần là thuộc tính của cái vật chất là bộ não Nghĩa là thông tin ấy mãi mãi nằm lại trong bộ não của người phát tin
Để làm cái việc không thể làm được là “truyền” tin, con người đã mô tả thay thế thông tin (ý nghĩ) trong não mình bằng hành động, lời nói/văn bản Nhờ việc nhận được hình
ảnh, lời nói/văn bản như một mô hình vật chất (mô phỏng) mà người nhận tin đã tự
mình tạo nên trong óc mình một thông tin không nhất thiết đúng với thông tin có trong
đầu người phát tin [Trần Ngọc Thêm 1989: 40-41] Sự khác biệt giữa thông tin ban đầu của người phát tin với thông tin tiếp nhận được trong đầu người nhận tin do quá trình mã hóa, giải mã và lọc tin này phụ thuộc vào sự khác biệt giữa các chủ thể trong quá trình giao tiếp liên nhân cách, chức năng của giao tiếp đối với các thành viên tham
gia giao tiếp [Nguyễn Văn Đồng 2009: 57] Việc thông tin không thể đúng được với sự
thật (dù rất muốn) đã nằm ngay trong bản chất của hành vi giao tiếp cũng là một tiền
đề cho việc giả dối Những thông tin không đúng sự thật được truyền đi do vô tình tạo
nên giả dối theo nghĩa rộng nhất (không đúng sự thật) Thông tin không đúng sự thật được truyền đi do cố ý tạo ra giả dối theo nghĩa hẹp (với mục đích lừa, cố tình che giấu
sự thật để khiến khách thể thực hiện lựa chọn theo định hướng của chủ thể giao tiếp)
Trang 331.3.1.1.4 Trong trường hợp giao tiếp, hạn chế về nhận thức của chủ thể có thể
dẫn đến sự hình thành tình huống sai lệch, không đúng thực tế Sự hình thành tình huống sai thực tế như vậy mới đầu có thể chủ thể chưa nhận thức được và tin rằng đó
là sự thực Sau này, khi hiểu ra rằng mình sai hoặc do kiểm tra lại mà biết rằng mình sai, người trung thực và có lương tâm thì sẽ đính chính, còn người sĩ diện thì tuy biết
là sai nhưng do đã lỡ thực hiện rồi nên thôi luôn mà không điều chỉnh lại nữa, khiến cho anh ta từ tự phát, vô tình chuyển sang tự giác, cố ý trở thành kẻ nói dối, kết quả là người nhận tin vẫn hiểu sai sự thật Tuy nhiên, người nhận tin không phải bao giờ cũng biết được điều này, bởi sự việc được đề cập tới xảy ra trong phạm vi hẹp ít người biết, hoặc thuộc loại sự việc khó có thể kiểm chứng được
1.3.1.1.5 Nhưng tiền đề khách quan quan trọng nhất dẫn đến hiện tượng giả dối
là nhận thức non yếu, hay là sự thiếu hiểu biết của khách thể Phạm Minh Lăng cho
rằng “sự lầm lẫn bổ sung cho sự ngu dốt một ảo ảnh về sự hiểu biết” [2003: 336] Chủ thể đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết này để hình thành một cách thức ứng xử có lợi cho mình: cố tình diễn giải không đúng với sự thật
Giả dối xảy ra khi chủ thể đã nhận thức đúng vấn đề, nhưng vẫn cố tình đưa ra cách thể hiện ý tưởng, mô phỏng sai thực tế
1.3.1.2 Tiền đề xã hội
1.3.1.2.1 Con người sinh ra có cấu tạo sinh học không hoàn toàn giống nhau Sức khỏe và trí tuệ không đồng đều Khả năng duy trì và phát triển đời sống cá nhân
đã khiến cho các thành viên trong cộng đồng có các mức sinh hoạt và cách thức sống
đa đạng Khi bắt đầu hiểu được về sở hữu cá nhân, người ta có nhu cầu chiếm đoạt cho
cá nhân mình bằng nhiều cách khác nhau tạo nên những mâu thuẫn về quyền lợi khiến con người luôn phải cân nhắc, đắn đo
Vốn sinh ra trong xã hội, con người không hoàn hảo Lớn lên trong các hoàn cảnh sống khác nhau khiến cho mỗi con người có các kỹ năng, sở trường, sở đoản khác nhau Khi hội nhập vào xã hội, cuộc sống tinh thần bản năng của các cá nhân bị các quy tắc ứng xử bóp méo Trong khi đó, xã hội ngày càng phát triển, kích thước các cộng đồng ngày càng lớn, quy mô ngày càng to, số lượng ngày càng nhiều, các mối quan hệ ngày càng đa dạng Các cá nhân có xu hướng độc lập hơn, không phụ thuộc lẫn nhau và không biết về nhau Trong bối cảnh đó, người ta có thể bóp méo sự thật
Trang 34hoặc thêu dệt vấn đề mà không lo bị phát giác Người xung quanh không ai biết rõ sự thật nên họ có thể sẽ dễ tin vào người khác Do vậy, con người đã tận dụng giả dối như một công cụ phục vụ cho lợi ích cá nhân của mình
1.3.1.2.2 Việc “ứng xử với xã hội là một lĩnh vực hoàn toàn khó khăn và có tính
tế nhị của nó Quy luật xã hội rất khắc nghiệt Nó chấp nhận những gì hợp lý, phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của dân tộc” [Phạm Vũ Dũng 1996: 186] Mỗi nền văn hoá tạo nên những khuôn mẫu tư duy của mình theo những chuẩn mực ngầm định của cộng đồng “được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”, trong đó nổi bật là cách suy luận “họ giống tôi” hoặc “tôi giống họ”6 [Nguyễn Quý Thanh 2006: 121, 125-129] Các khuôn mẫu tư duy, đến lượt mình, là cơ sở tạo nên một loạt chuẩn mực trong các lĩnh vực ứng xử như lời nói, hành vi nhằm ứng phó với các đối tượng khác (bị động) hoặc tận dụng các đối tượng khác
(chủ động) tạo nên thói quen, nếp ứng
xử Mỗi cá nhân trong cộng đồng thực
hiện phản ứng của mình theo cách ngầm
định của cộng đồng để thể hiện vai trò của
mình và đối tượng ứng xử trong mối quan
hệ tương hỗ của con người với môi
trường xung quanh, đặc biệt là môi trường
xã hội (x hình 3)
Bắt đầu từ bước gọi tên sự vật, đánh giá, phân loại các hiện tượng xung quanh thành thiện/ ác; đúng/ sai; đẹp/ xấu… sau đó là những quy ước, kỳ vọng của xã hội khiến con người luôn trong trạng thái không hoàn hảo “Chúng ta sinh ra trong sự thật Nhưng khi chúng ta lớn khôn, chúng ta lại tin vào những điều giả dối… Một trong những sự dối trá lớn nhất trong lịch sử nhân loại là lời dối trá về sự bất toàn của con người” [Don Miguel Ruiz & Janet Mills 2009: tr 37-52]
Trong lĩnh vực ứng xử giữa con người với con người, nền văn hoá nào cũng có những chuẩn mực giao tiếp của mình như một thứ luật bất thành văn để các thành
6
Điều này trong nghiên cứu về dư luận xã hội, Leonard W Doob gọi là sự phóng chiếu và sự đồng nhất hóa
[dẫn theo Nguyễn Quý Thanh 2006: 125-129]
Nguồn: emnomedapoesia.spaceblog.com.br
Trang 35viên hướng tới Trong đó, nghi thức giao tiếp là những hành vi giao tiếp quy ước mà
mỗi cá nhân tất yếu phải thực hiện nhằm biểu hiện sự tôn trọng người đối thoại và cũng để tự giữ danh dự của mình Hệ thống nghi thức giao tiếp của các dân tộc chính
là những khuôn mẫu cho phép người ta có những hành vi không đúng sự thật mà không bị bắt bẻ Gặp một người quen khi đang rất bực dọc trong lòng, cư dân mọi dân
tộc vẫn có thể bật ra câu nói: “Rất vui được gặp anh” (Việt), “Nice to meet you” (Anh), “Рад вас видеть” (Nga) Và người ta sử dụng nghi thức xã giao như một thói
quen mà không cần quan tâm tới nội dung hoặc sự thật diễn ra Động tác chào bắt tay, chắp hai tay vào nhau trước ngực, ôm hôn… là hành động tỏ rõ sự trung thực và là dấu hiệu người chào không che giấu vũ khí để tỏ sự hòa nhã [Roger E Axtell 1999: 31] Trong các cuộc thi đấu, trước và sau các cuộc đấu, các đối thủ luôn có nghi thức bắt tay, ôm nhau, nhưng trong trận đấu thì ganh đua quyết liệt, đặc biệt là đấm bốc, đấu võ dùng mọi cách để đấm, đá, quật ngã đối thủ… Đặc biệt là trong bóng đá, các cầu thủ được phép sử dụng động tác giả để lừa đối phương như một kỹ năng thi đấu
Những quy ước, niềm tin, kỳ vọng xã hội đẩy con người vào thế luôn sống trong mâu thuẫn giữa bản ngã cá nhân và quyền lực xã hội Mỗi con người đều có xu hướng tạo điều kiện tốt nhất cho mình và có xu hướng lặp lại trong hoàn cảnh, tình huống được hưởng lợi Do vậy, người ta dễ thỏa hiệp với các quy tắc mang lại lợi ích cá nhân hơn và chủ động xây dựng lại những hoàn cảnh, tình huống đã mang lại lợi ích cho họ
dù phải bỏ ra nhiều chi phí vật chất và tinh thần để đạt được nó Khuôn mẫu tư duy tạo nên thói quen, nếp ứng xử và biến chúng thành chuẩn mực, thành phản xạ của các cá nhân và tập thể trong cộng đồng Chính những thói quen, phản xạ của khách thể được nghiên cứu kỹ và biến chủ nhân của chúng thành những nạn nhân của những hành vi giả dối
1.3.1.2.3 Sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một cộng đồng nhất định, con người vừa là chủ thể duy trì và phát triển xã hội, vừa là sản phẩm của xã hội
và đồng thời tự chịu trách nhiệm về chính bản thân mình Sống trong các mối quan hệ
xã hội chằng chịt, là tổng hòa những mối quan hệ xã hội [C Mác 1995: 11], con người luôn điều chỉnh thái độ, hành vi để mang lại lợi ích tốt nhất cho mình, đồng thời làm hài lòng đối tác và cộng đồng, hoặc tối thiểu là tránh gây thiệt hại trực tiếp cho đối tác
và cộng đồng Chính nguyên tắc này đã khiến con người luôn gặp phải những tình
Trang 36huống một lúc phải đóng nhiều vai trong xã hội, và không ít tình huống mâu thuẫn
lợi ích giữa các cá nhân, giữa cá nhân với tập thể, giữa các tập thể với nhau, thậm chí mâu thuẫn lợi ích trong cùng một cá nhân7
Trẻ sơ sinh được phép làm bất kỳ điều gì mình thích, bất kể ở môi trường nào Song chỉ cần bắt đầu biết tự vận động, đứa trẻ bắt đầu bước vào quá trình tiếp nhận sự giáo dục tích cực và làm theo quy định của cha mẹ, những người xung quanh về giờ giấc, phạm vi hoạt động, cách thức ứng xử với môi trường xung quanh Từ đó có những khoảng cách nhất định giữa đứa trẻ với người lớn và đặc biệt là với những người xung quanh Đứa trẻ có thể huyên thuyên hàng giờ về những câu chuyện tưởng tượng mà không bị những người xung quanh đánh giá là bịa đặt, hay nói thật về hình thức của người khác… [Vương Linh 2015]
Việc giữ thể diện của bản thân đồng thời không xâm hại thể diện đối tác trong hoạt động tương tác thật sự là bài toán khó Vì những quy ước xã hội, người ta luôn phải tính toán, cân nhắc để lựa chọn cách ứng xử dung hòa lợi ích của các bên liên quan Điều chỉnh lợi ích để giảm bớt mâu thuẫn trong những hoạt động tương tác có thể bị lợi dụng để thực hiện hành động giả dối để đáp ứng nhu cầu, mục tiêu khác
1.3.2 Điều kiện để thực hiện thành công hành động giả dối
Để cho hoạt động tương tác có thể tồn tại, ít nhất phải có sự tham gia của ba yếu tố: chủ thể, khách thể và nội dung hành động Hành động tương tác mang tính tích cực,
bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như nhu cầu, định hướng giá trị của chủ thể hành động (lợi ích) và chịu sự chi phối của khách thể trong các hành động đáp trả, trong đó quan trọng nhất đối với hành động giả dối là phản hồi đáp trả của khách thể vì mục tiêu chủ yếu của giả dối chính là lừa đối tác của hành vi ứng xử
1.3.2.1 Ứng xử nói chung và giao tiếp ứng xử nói riêng là hành động tương tác giữa các đối tác và nội dung giao tiếp, ứng xử Các hành động ứng xử ngoài đạt mục đích đề ra ban đầu còn thu được kinh nghiệm trong quá trình tương tác
7
Ví dụ nụ cười gượng gạo của những người quen biết gặp nhau trong một đám tang Với tư cách là người quen, họ cần tỏ thái độ niềm nở, vui vẻ Trong khung cảnh u buồn, mất mát, họ cần tỏ ra nghiêm trang, chia xẻ Tang chủ dù lòng đang u buồn vì sự mất mát, nhưng vẫn muốn tỏ thái độ niềm nở khi tiếp khách
Trang 37Dựa trên kết quả phân tích mối quan hệ giữa ba yếu tố chủ thể, khách thể và nội dung trong quá trình tự bộc lộ và
phản hồi nhằm tìm hiểu mức độ
hiểu biết giữa từng cá nhân hoặc
cá nhân với tập thể trong giao
tiếp ứng xử, Joseph Luft và
Harry Ingham đã xây dựng “Cửa
sổ giao tiếp Joharri”8 (the Johari
Window of Communication) với
cấu trúc bốn vùng: VÙNG MỞ
(là nơi chủ thể và khách thể cùng
biết), VÙNG MÙ (là nơi mà khách thể biết nhưng chủ thể không biết), VÙNG ẨN (là nơi chủ thể biết nhưng khách thể không biết) và VÙNG KHÔNG BIẾT, không thể nhận thức được (là nơi mà cả chủ thể lẫn khách thể đều không biết) [Chu Văn Đức 2005: 38] (x hình 4)
Mở rộng và ứng dụng kết quả nghiên cứu về cửa sổ giao tiếp Joharri trong hoạt động ứng xử, có thể thấy rằng ứng xử thông thường cần phải dựa trên điều kiện là sự hiểu biết của các đối tác về nội dung tương tác và mục tiêu cũng là mở rộng thêm phạm vi hiểu biết lẫn nhau để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cộng đồng
Khác với ứng xử mang tính xây dựng có mục đích là tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau giữa các đối tác, giả dối vốn có mục đích lừa khách thể nên luôn tìm cách hạn chế sự hiểu biết và lợi dụng sự thiếu hiểu biết của đối tác, tìm lĩnh vực đối tác không
có vốn sống hoặc không có thông tin (vùng ẩn 3) Do vậy, thay vì đưa ra nội dung là
sự thật để chia sẻ, bổ sung thêm thông tin cho đối tác, chủ thể giả dối lại tìm cách đưa vào tương tác nội dung sai sự thật do chủ thể tạo ra, khiến cho khách thể nhầm lẫn, không mang lại hiệu quả như kỳ vọng của khách thể
Nếu như khách thể có kiến thức hoặc đã từng hiểu biết, trải nghiệm nội dung tương tác thì chủ thể không thể lừa được, và hành vi giả dối không thể thành công Điều kiện thứ nhất để giả dối có thể thực hiện được là chủ thể phải nghiên cứu để tìm
8
Trong tên gọi “JOHARRI”, ‘Jo’ lấy từ Joseph Luft, còn ‘harri’ lấy từ Harry Ingham
Trang 38ra lĩnh vực thiếu hiểu biết (vùng ẩn)9 của khách thể về lĩnh vực ứng xử đang hướng tới
Sự thiếu hiểu biết này có thể là do khách thể không có khả năng tiếp cận sự thật hoặc kém hiểu biết về chủ đề mà cả hai cùng quan tâm và các vấn đề liên quan Có khi
là có thể tiếp cận sự thật, nhưng ít hoặc không có khả năng suy luận, chắp nối chủ đề
mà cả hai cùng quan tâm với các sự kiện Cũng có khi cả hai Những người thật thà, có
tư duy trừu tượng kém thường dễ bị lừa và thường là đối tượng của những kẻ lừa đảo
Trong trường hợp này chủ thể hành vi giả dối đã thành công trong việc đánh lạc
hướng đối tượng10
Trường hợp chủ thể đánh giá sai về đối phương, cố tình thông tin sai về nội dung, mà họ cho là khách thể không biết (cho là thuộc vùng 3 trong cửa sổ giao tiếp Joharri), nhưng thực chất là khách thể biết (thuộc vùng 1), khiến khách thể phát hiện ra điều vô lý, thì hành vi giả dối bị phát giác và việc giả dối không thành công Việc giả dối này có thể bị phát giác ngay tức thì bởi khách thể đã hiểu biết vấn đề Song cũng
có trường hợp, theo thời gian khách thể tích luỹ thêm vốn hiểu biết và sau này mới khám phá sự thật, phát giác ra rằng mình đã bị lừa Sự hiểu biết chỉ đến sau khi khách thể đã trả giá cho sự thiếu hiểu biết của mình
1.3.2.2 Mặt khác, để có thể thực hiện hành vi giả dối thành công, điều kiện thứ
hai là chủ thể phải là người có năng lực tư duy tốt
Năng lực tư duy tốt trước tiên giúp chủ thể đánh giá đúng mức mục đích đặt ra với giá trị của hành động để chuẩn bị và thực hiện đảm bảo thành công hành vi giả dối Việc cân nhắc, đánh giá đúng mức lợi ích của hành động, mức độ ảnh hưởng của hành động đến bản thân và môi trường trước mắt và lâu dài điều chỉnh hành vi, hướng tới thế cân bằng, đảm bảo lợi ích cá nhân song song với lợi ích cộng đồng, hoặc ít nhất đảm bảo lợi ích cá nhân đồng thời không gây hại cho cộng đồng để tránh bị phản đối hoặc trừng phạt
Trang 39Sáng tạo là loại năng lực tư duy đặc biệt, tạo ra cái mới, cái khác với những thứ
đã hoặc đang tồn tại Giả dối là kết quả của sự thật bị chủ thể chủ động biến đổi có mục đích làm cho đối tác bị lầm Để có thể biến đổi sự thật, con người phải có cái nhìn vượt ra ngoài sự thật, tìm tới những điều khác lạ bên ngoài Trí tưởng tượng chính là giải pháp, nó cho phép con người nhìn thấy những viễn cảnh xa xôi hơn là sự thật đang diễn ra trước mắt Trí tưởng tượng càng sinh động thì càng khuyến khích con người
sáng tạo Tư duy trừu tượng tốt cho phép tạo ra nhiều lợi thế như linh hoạt hơn, dễ
thích nghi và đổi mới nhanh hơn Cũng có thể lập luận rằng khả năng đánh lừa là đặc điểm được lựa chọn nhưng là một sản phẩm phụ của tư duy trừu tượng Khả năng tưởng tượng cho phép thấy được các biến thể của sự thật để có thể lợi dụng Do vậy những người có trí tưởng tượng phong phú có lợi thế hơn khi thực hiện hành vi giả dối Đồng thời chính họ cũng có khả năng giải thích hợp lý những hành động khác lạ của mình khi hành động giả dối bị phát hiện Hiện tượng giả dối khác sự sáng tạo đơn thuần ở động cơ thực hiện: để lừa Những sáng tạo đỉnh cao mang lại những tuyệt tác phục vụ đời sống tinh thần của con người không bao giờ trở thành giả dối do đặc thù sáng tạo dựa trên cảm hứng của những người lao động nghiêm túc [David L.S 2004: 199-202]
Trí nhớ tốt khiến con người chọn được các nhóm đối tượng đã được phân loại
nhằm tìm ra đối tượng thuộc nhóm 3 (vùng ẩn, không biết những điều mình biết) để định hướng hành động giả dối Sự nhất quán trong hành động khiến cho đối phương không nghi ngờ cũng nhờ phần lớn ở trí nhớ Cùng với trí nhớ, tư duy tốt giúp các hành vi giả dối đã thực hiện không bị phát hiện, khi chủ thể tiếp tục biến báo để duy trì chúng
Trong giao tiếp xã hội, hiểu biết, nhận thức vấn đề một cách rõ ràng, biết bóc tách nội dung thành các thành phần (chi tiết), đánh giá đúng mức độ quan trọng của các thành phần để có thể có những thay đổi nhất định mà nội dung tổng thể vẫn hợp lý khiến người nhận tin hiểu được và tin vào nội dung thông tin giả được cung cấp Những người phát tin mà năng lực tư duy có hạn có thể phân tích đánh giá nội dung chủ đề không chính xác hoặc cảm nhận không tốt về mức độ, khiến cho họ khi nói dối đưa ra những thông tin khác quá xa so với thực tế, sẽ dễ bị người nhận tin phát hiện
Trang 40Có thể nói năng lực tư duy tốt (tối thiểu là tốt hơn so với khách thể về các yếu tố liên quan đến nội dung hành động) là điều kiện quan trọng nhất, điều kiện cần thiết để
có thể thực hiện hành vi giả dối Trong các ngôn ngữ gốc Roman, động từ thể hiện
hành vi ‘giả dối’ đều có dạng là mentir (từ tiếng La tinh mentire hoặc cũ hơn là mentiri [Taberd A.J.L 1938: 374]), xuất phát từ gốc từ mente nghĩa là ‘trí tuệ, cảm nhận’
Năng lực tư duy điều khiển ý chí thực hiện hành động theo chiều hướng có ý thức Đối với hành động giả dối, tư duy minh mẫn đánh giá mức độ lợi ích, cân nhắc thực hiện và có thể điều chỉnh trong quá trình phù hợp với nhận thức và độ quyết tâm hoàn thành Cũng giống như những hành động khác, tư duy tốt giúp điều chỉnh hành động giả dối theo chuẩn mực xã hội, nương theo nếp sống văn hóa của cộng đồng để quyết định các bước tiến hành hoặc dừng lại đúng lúc [David L.S 2004: 65-66] Tuy nhiên, năng lực tư duy tốt phải ở trong một cơ thể khỏe mạnh, minh mẫn Bởi lẽ, tư duy minh mẫn giúp con người tư duy năng động, óc tưởng tượng phong phú, biết cách phán đoán, thích nghi với môi trường và không bị bó hẹp vào kinh nghiệm đang trải qua Những người có thể có năng lực tư duy tốt, nhưng không có cảm xúc tốt
và không đánh giá được mức độ, hệ quả các việc mình làm ra Giả dối thường đòi hỏi phải cố gắng để vượt qua sự cắn rứt lương tâm, nhưng ở những người bị bệnh thần kinh thì sẽ không có khái niệm "cắn rứt lương tâm" Theo khoản 1 điều 13 bộ luật hình
sự số 15/1999/QH10, việc làm của những người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi sẽ không bị truy cứu trách nhiệm, mặc dù gây hậu quả nghiêm trọng Do vậy, ở loại đối tượng này cũng sẽ không có khái niệm “giả dối”
1.3.2.3 Ngoài ra, để đối tác (khách thể) không phát hiện ra, cần có điều kiện thứ
ba là chủ thể giả dối phải có năng lực điều khiển hành vi tốt Năng lực điều khiển
hành vi tốt phụ thuộc vào hai yếu tố là năng khiếu và rèn luyện Năng khiếu là những
tư chất bẩm sinh, nét đặc trưng và tính chất đặc thù làm tiền đề cho năng lực Con người với những tư chất bẩm sinh được phát hiện và rèn luyện tạo nên năng lực hành
vi vượt trội so với những người khác
Về mặt ngôn ngữ, năng lực hành vi thể hiện ở việc có vốn từ rộng, sử dụng ngôn
từ một cách khéo léo để có thể dùng các từ đồng nghĩa thay thế nhằm kéo người nhận
tin ra xa chủ đề đích thực; nắm vững các quy luật ngữ âm, ngữ pháp để thực hiện