ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ TRĂNG THANH TẦM NHÌN CỦA NGƯỜI VIỆT VÙNG TÂY NAM BỘ TRONG KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ ĐỔI
Lịch sử nghiên cư ́ u vấn đề
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa của người Việt vùng Tây Nam Bộ ở mức độ rộng như sách Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Công Bình – Lê Xuân Diệm – Mạc Đường [1990] đã giới thiệu tổng quan về tình hình cư trú của các dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Tiếp nối quyển Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1996/2004), công trình Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ do GS Trần Ngọc Thêm chủ biên xuất bản năm 2013 là một công trình nghiên cứu văn hóa học đặt một dấu mốc quan trọng về văn hóa Tây Nam Bộ Cuốn Đồng bằng sông Cửu Long hay văn minh miệt vườn, của Sơn
Nam [1970/2014] cung cấp nhiều tư liệu lịch sử, trong đó có những tư liệu về cuộc khẩn hoang lập làng ở Nam Bộ nói chung Các công trình địa phương chí phản ánh các phương diện tự nhiên, lịch sử, kinh tế, văn hóa của vùng đất là những cứ liệu hữu ích Đây là các công trình nghiên cứu có tính khái quát tương đối về văn hóa Tây Nam Bộ
Nghiên cứu cơ bản về đồng bằng sông Cửu Long đã được quan tâm hơn trong những năm đầu thế kỷ XXI, trong đó có các công trình nghiên cứu theo cách tiếp cận tổng hợp về Tây Nam Bộ nổi bật như: Đồng bằng sông Cửu Long [Phan Quang 1985/2014]; Nam Bộ xưa và nay [ntg 2007], Nam Bộ đất và người (nhiều tập) [ntg,
2008] Các công trình nghiên cứu có tính sử học về đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ [Huỳnh Lứa (cb) 1987], Lịch sử khẩn hoang miền Nam [Sơn Nam 2009], Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam [Vũ Minh
Giang 2006] Cùng các công trình nghiên cứu lịch sử của từng địa phương ở vùng Tây Nam Bộ như: Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cần Thơ, Gò Công, Sa Đéc, Bến Tre [Huỳnh Minh 1966; 1967; 2001]
Các nghiên cứu dân tộc học về Tây Nam Bộ có thể kể đến như: Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long [Phan Thị Yến Tuyết 1993]; Từ lúa đến tôm - Hành vi giảm thiểu rủi ro và vận dụng nguồn vốn xã hội của nông dân người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long, NXB Đại học Quốc gia
TP.HCM, 320 trang [Ngô Thị Phương Lan 2013]
Các tài liệu nghiên cứu văn hóa học về Tây Nam Bộ có thể được khái quát như sau: những công trình của các học giả có uy tín nghiên cứu về văn hóa Tây Nam
Bộ, có thể kể, Đồng bằng sông Cửu Long – nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn [Sơn Nam 2014], công trình của các cơ quan nghiên cứu khoa học như: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long [Viện Khoa học Xã hội Tp Hồ Chí Minh
1990]… và các luận văn cao học chuyên ngành Văn hóa học từ năm 2003 đến nay, các luận văn về văn hóa Tây Nam Bộ Một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành có thể kể đến Đờn ca tài tử trên sông nước Tiền Giang [Mai Mỹ Duyên 2003], Tính cách con người Tây Nam Bộ [Nguyễn Văn Kha 2009]
Việc tìm hiểu về văn hóa vùng Tây Nam Bộ cũng cần lưu ý các hằng số tự nhiên của vùng đất Nam Bộ: Hằng số 1: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của những điều kiện tự nhiên thuận tiện, mùa hè không quá nóng và quanh năm không bao giờ bị bão lớn Hằng số 2: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế Hằng số 3: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của nhiều tộc người (Việt, Hoa, Chăm, Khmer ), đến từ khắp mọi miền đất nước (Bắc – Trung – Nam) và khu vực Hằng số 4: Văn hóa Nam Bộ là sản phẩm của quá trình dương tính hóa Nó là khâu cuối cùng trong quá trình phát triển ba giai đoạn của văn hóa Việt Nam: từ lớp văn hóa bản địa đến lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và sang lớp văn hóa giao lưu với phương Tây [Trần Ngọc Thêm 2006: 141] Từ các hằng số này, có thấy vùng Tây Nam Bộ có những đặc điểm trên, là vùng văn hóa có lịch sử lâu đời đòi hỏi cách tiếp cận văn hóa đồng đại lẫn lịch đại
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Nam Bô ̣ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng thì khá phong phú về đề tài cũng như nội dung Tuy nhiên, nổi bật trong những công trình cùng đề tài, Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ [Trần Ngọc
Thêm (cb) 2013] bàn về văn hóa người Việt Tây Nam Bộ như một chỉnh thể thống nhất với các thành tố và các đặc trưng văn hóa của vùng này
Tuy nhiên, những tư liệu liên quan đến tầm nhìn người Việt ta là rất ít Tầm nhìn của người Việt vùng Tây Nam Bộ trong kinh tế nông nghiệp là một vấn đề còn rất mới mẻ trong nghiên cứu văn hóa học cho nên việc nghiên cứu sẽ gặp thách thức trong việc tìm kiếm tài liệu và xử lý tư liệu Nguồn tư liệu quý báu của đề tài là sách
Từ lúa đến tôm - Hành vi giảm thiểu rủi ro và vận dụng nguồn vốn xã hội của nông dân người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long 2013, NXB Đại học Quốc gia
TP.HCM, 320 trang của Ngô Thị Phương Lan Trước công trình này, tác giả Ngô Thị Phương Lan có bài nghiên cứu khoa học năm 2006, Tính duy lý của người nông dân Việt và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long, in trong “Đồng bằng sông Cửu Long – thực trạng và giải pháp để trở thành vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2006 – 2010”, NXB TP.HCM, trang 280-
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm ra những đặc điểm của tầm nhìn của người Việt vùng Tây Nam Bộ trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, lý giải nguyên nhân thành công hay thất bại của kinh tế nông nghiệp Tây Nam Bộ dưới lăng kính văn hóa học Đó là cơ sở khoa học để tác giả phát huy hướng nghiên cứu đời sống văn hóa của cư dân vùng này một cách có hệ thống và chuyên sâu hơn
Với giả thuyết nghiên cứu ban đầu là tính cách văn hóa và mối liên hệ của nó với tầm nhìn được phân tích trong từng hiện trạng, từng nhân vật điển hình ở chương hai và ba, luận văn có thể chỉ ra vấn đề hạn chế trong tầm nhìn của người nông dân mà bấy lâu nay là nguyên nhân và yếu tố chi phối đến kết quả nông nghiệp của vùng Tây Nam Bộ.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Về mặt khoa học, việc thực hiện đề tài này nhằm đóng góp vào tư liệu chuyên ngành Văn hóa học, đề tài cung cấp cứ liệu mới cũng như mang lại kiến thức về văn hóa vùng Tây Nam Bộ
Về mặt thực tiễn, đề tài nhằm chỉ ra ưu điểm và khuyết điểm trong tầm nhìn của cư dân vùng Tây Nam Bộ, chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến thất bại trong hoạt động kinh tế ở Tây Nam Bộ những năm gần đây và triển vọng sắp tới.
Quan điểm tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Quan điểm tiếp cận
Đề tài sử dụng hướng tiếp cận địa văn hóa, sử dụng các lý thuyết về vùng văn hóa, qua đó phân tích tác động của điều kiện tự nhiên đến văn hóa vùng Tây Nam Bộ nói chung Từ kho tri thức dân gian truyền thống với nguồn tư liệu dựa trên kết quả điền dã của tác giả cùng các nguồn tư liệu về văn hóa vùng Tây Nam
Bộ để tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến tầm nhìn người Việt ở vùng đất này Đồng thời, luận văn này còn vận dụng lý thuyết Quá trình luận để tìm hiểu văn hóa vùng Tây Nam Bộ qua một khái niệm cụ thể là tầm nhìn của người Việt vùng Tây Nam Bộ.
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt đề tài này, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp so sánh giúp đối chiếu những quan điểm đã có trong tài liệu, để đúc kết luận điểm tối ưu, so sánh những mức độ thành công điển hình hay những mức độ thất bại chung ở vùng Tây Nam Bộ
Phương pháp định tính giúp xử lý những tư liệu thu thập được để tạo cơ sở cho những luận điểm phân tích
Phương pháp điền dã: thông qua việc phỏng vấn cư dân vùng Tây Nam Bộ, việc vận dụng phương pháp này nhằm thu thập những quan niệm, tầm nhìn, kinh nghiệm, hiểu biết, nhận thức về đời sống nông nghiệp của cư dân nơi đây
Phương pháp hệ thống – cấu trúc để tiếp cận, phân tích vấn đề Tiếp cận tầm nhìn của người Việt vùng Tây Nam Bộ như một hệ thống, xem tầm nhìn của người nông dân, người lãnh đạo thể hiện trong kinh tế nông nghiệp như thành tố của tính cách văn hóa, qua đó nhận diện những đặc trưng của vùng đất so với các vùng miền khác Đặt văn hóa vùng Tây Nam Bộ trong bối cảnh văn hóa Việt Nam để hiểu rõ sự tác động của văn hóa Việt Nam tới văn hóa vùng Tây Nam Bộ trong bối cảnh chung
Thao tác tổng hợp tài liệu được dùng để thu thập những thông tin, dữ liệu cần thiết để nghiên cứu hoạt động kinh tế nông nghiệp ở vùng Tây Nam Bộ
Ngoài ra, đề tài vận dụng cách tiếp cận liên ngành, kế thừa kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học khác như: lịch sử, địa lý, xã hội học, triết học, nhân học… Những kết quả đó giúp hiểu rõ hơn đối tượng nghiên cứu trong đề tài, cũng nhằm góp phần giải quyết vấn đề đặt ra trong đề tài một cách toàn diện hơn.
Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệuđược sử dụng trong luận văn là số liệu từ chuyến điền dã, từ các bài báo, số liệu thống kê từ các cơ quan Luận văn sẽ sử dụng các thông tin từ các cuộc phỏng vấn và các tài liệu sưu tầm được trong thời gian thực hiện.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Tầm nhìn và những nhân tố chi phối tầm nhìn
Tầm nhìn về cơ bản có thể xem là hoạt động phối hợp của mắt và tư duy, đây là kết quả của hai kiểu tư duy phân tích và tư duy tổng hợp Nên tầm nhìn là khái niệm thuộc phạm trù văn hóa nhận thức Trong giao tiếp thường nhật của người Việt, cách hiểu ban sơ của từ tầm nhìn là khoảng cách mà con người nhìn thấy Tầm nhìn là từ ghép của từ “tầm” và từ “nhìn” Trước tiên, “tầm” là khoảng cách giới hạn phạm vi có hiệu lực của một hoạt động nào đó, ví dụ: cao quá tầm tay, với không tới, tầm nhìn xa; còn “nhìn” là xem xét để thấy và biết được “ Tầm nhìn cũng là tầm mắt ở ngữ cảnh cụ thể, tầm mắt có nghĩa là tầm nhìn xa của mắt, thường dùng để chỉ khả năng nhìn xa trông rộng, ví dụ: phóng tầm mắt ra xung quanh, mở rộng tầm mắt.” [Viện Ngôn ngữ học 2010: 1149] Trên thực tế, các từ điển đã xuất bản chỉ đưa ra định nghĩa gần nhất về tầm nhìn là “tầm nhìn xa”, theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: “Tầm nhìn xa là khoảng không gian có thể nhìn thấy được vật ở xa trên mặt đất, mặt biển tùy thuộc vào độ trong suốt của khí quyển”, qua xem xét về nội dung thì đây là định nghĩa về tầm nhìn xa mà mắt người có thể quan sát được Gần với định nghĩa trên là: “tầm nhìn là khoảng không gian có thể nhìn thấy mọi vật, tùy thuộc vào độ trong suốt của khí quyển, tầm nhìn xa trên 10 ki-lô-mét.”
Bên cạnh định nghĩa đó, Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng chú giải rằng:
“Tầm nhìn xa là khoảng cách xa nhất mà mắt ta có thể thấy được tất cả các vật sẫm (tiêu điểm) in trên nền trời Tầm nhìn xa phụ thuộc rất nhiều vào độ chiếu sáng cũng như điều kiện thời tiết (lượng mây mù, sương mù, mưa và các hiện tượng khí quyển khác Tầm nhìn xa trên biển rất quan trọng cho giao thông hàng hải, tính theo mét, ki-lô-mét hay cấp.” Các định nghĩa trong các từ điển có điểm chung khi chú giải tầm nhìn của mắt trong không gian, là khoảng không gian xác định, không định nghĩa về tầm nhìn mở rộng như cách hiểu, nói và thực hành văn bản hiện nay
Từ đây nảy sinh ra cách hiểu “tầm nhìn” và “tầm nhìn xa” “Tầm nhìn xa” là khái niệm sinh sau, vốn dĩ nó là “tầm nhìn” được đặt trong so sánh đối lập với
“gần” để nêu bật cái “xa” “Tầm nhìn” đã bao gồm khái niệm “tầm nhìn xa” nhưng cách sử dụng “tầm nhìn xa” để nêu bật khả năng nhìn xa trông rộng của chủ thể, đặc biệt là tầm nhìn của mắt được tính tương đối bằng đơn vị định lượng Ở trường hợp khác, ví dụ như “tầm nhìn của chủ thể x, y, z ” tầm nhìn được hiểu tương đối, khá mơ hồ, nằm trong sự đối lập theo cung bậc từ xa > gần > thiển cận > không có tầm nhìn Từ đây đặt ra vấn đề là trong văn hóa nhận thức, có hay không việc dán nhãn khái niệm, tức là khi nhắc đến tầm nhìn của người lãnh đạo thì khả năng nó được hình dung là tầm nhìn xa là nhiều hơn một tầm nhìn thiển cận, và ngược lại tầm nhìn của người nông dân thì nghiêng về khả năng tầm nhìn kém hay chưa có tầm nhìn? Như vậy, quan hệ giữa “tầm nhìn” và “tầm nhìn xa” là rất chặt chẽ, về cơ bản cách hiểu của nó là giống nhau nhưng tùy trường hợp cách dùng là có khác nhau để nêu bật cách quan sát của chủ thể văn hóa
Khái niệm tầm nhìn trong tiếng Anh (vision) được từ điển Bách khoa toàn thư “The Encyclopaedia Britannica”, chú giải tầm nhìn trong sinh lý học như sau:
"Tầm nhìn, quá trình phân biệt về mặt sinh lý, thường nhờ vào một cơ quan nào đó như mắt, hình thể, và màu sắc của vật thể" Theo từ điển Merriam-webster “tầm nhìn là khả năng nhìn thấy: thị giác hoặc thị lực hoặc một điều gì đó mà con người hình dung: một hình ảnh mà con người nhìn thấy trong tâm trí của họ.”
Theo Tôn Trí, tầm nhìn là khả năng nhìn về tương lai “Tầm nhìn thường hay được vẽ bằng một hình ảnh của tương lai, mang tính lựa chọn (một tiêu chuẩn tuyệt hảo, một điều lý tưởng có định hướng) và ám chỉ đến khát vọng tạo ra một điều gì đó đặc biệt Nếu cái tương lai quá xa, không thể hình dung ra nó thì Tầm nhìn như thế không có ích gì Vì thế, khi hoạch định Tầm nhìn cần có hy vọng vươn cao nhưng tránh ảo tưởng” [Tôn Trí 2010] Như vậy, qua các định nghĩa trên tầm nhìn là khả năng nhìn thấy, là khả năng nhận diện bao quát một vấn đề thông qua sự hình dung trong tâm trí Tầm nhìn cũng là vấn đề có tính phổ quát và hiện diện đa ngành, đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và đồng nghiên cứu, từ chuyên môn khác nhau như Vật lý học, Tâm lý học, Sinh lý học, Triết học, Khoa học Chính trị qua công trình tiên phong của nhà vật lý Helmholtz về tầm nhìn màu đến David Marr trong năm 1980, được nhắc đến trong Encyclopedia of the Mind
[Harold Pashler 2013], Colour Vision: A Study in Cognitive Science and Philosophy of Science [Evan Thompson: 1995] Đầu thế kỷ 21, J Kevin O'Regan và Alva Noở làm rõ hơn tầm nhìn trong A sensorimotor account of vision and visual consciousness 2001, sau đó được đưa vào sách Vision and Mind: Selected Readings in the Philosophy of Perception [Alva Noở, Evan Thompson 2002]
Cùng cộng tác trong nghiên cứu, J Kevin O'Regan (chuyên ngành Tâm lý học) và Alva Noở (chuyờn ngành Triết học) đề xuất hiểu tầm nhỡn là một chế độ thăm dò của thế giới được trung gian bởi kiến thức, thuộc về một phần đang có của người lĩnh hội, bởi những gì chúng ta gọi là giác quan dự phòng, “tầm nhìn thường là hành động hướng dẫn, cùng với chuyển động cơ thể; và các thông tin phản hồi của nó tạo ra được tích hợp chặt chẽ vào ít nhất một số xử lý trực quan, hơn là đã được dự đốn trước bởi mơ hỡnh truyền thống của tầm nhỡn.” [O'Regan and Noở 2001: 883-975] Sau đó nội dung này được tổng hợp lại trong Bách khoa toàn thư về triết học Plato như một định nghĩa tầm nhìn từ góc nhìn triết học [Acredolo, L.P., S.W Goodwyn and K Aizawa et all 2011] Từ kết quả nghiên cứu trên thì tầm nhìn là một quá trình phụ thuộc vào sự tương tác giữa những người nhận biết và môi trường, và liên quan đến sự đóng góp của hệ thống cảm giác khác hơn là so với mắt, cũng lưu ý rằng tầm nhìn đó không hề thụ động
Theo từ điển Ushakov, bản tiếng Nga, thì: “tầm nhìn (дальновидность) là khả năng thấy trước hậu quả, tầm nhìn xa là khả năng hiểu được logic nội bộ của các sự kiện xung quanh, nhìn thấy triển vọng phát triển Nó cho phép các cá nhân điều chỉnh không chỉ khía cạnh tiềm năng thực tế mà còn về động cơ của họ” 1 [Từ điển Ushakov 2014].Gần với cách định nghĩa trên, theo Леонид Гримак (Leonid Grimak), “tầm nhìn là một triển vọng rộng, cộng với khả năng suy nghĩ logic Tầm nhìn còn là khả năng để lựa chọn các hành động tốt nhất trong mọi tình huống.”
[Леонид Гримак 2015] Ngoài cách chú giải trên, tầm nhìn còn được xem là “một hiện tượng và chức năng của tâm trí, trí tuệ, dựa trên khả năng và suy nghĩ của con người, chỉ có ở khả năng của con người, để tiết lộ các tính năng chính và các tính chất của tương lai, dựa trên kiến thức về các đặc điểm của quá khứ và hiện tại Nó kích thích nhu cầu của con người và lợi ích của cả cá nhân cũng như các nhóm và cộng đồng của người dân của tất cả các loại Những yếu tố này có thể được đan xen với nhau, chồng chéo lên nhau hoặc mâu thuẫn với nhau.” [О.С.Разумовский
Hiện nay, trong xu hướng hội nhập, giao lưu về kinh tế và văn hóa, vì tầm nhìn của doanh nghiệp được quan tâm và đề cao nên trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh còn có một cách hiểu khác về tầm nhìn Dựa trên sự phổ cập của những lý thuyết cơ bản về kinh tế hiện nay, thì tầm nhìn là những điều con người muốn đạt tới hoặc trở thành Khái niệm tầm nhìn ở lĩnh vực này được xem là tấm bản đồ chỉ đường thể hiện đích đến trong tương lai và con đường doanh nghiệp phải đi.Trong quản trị học, tầm nhìn là một hình ảnh, tiêu chuẩn, hình tượng độc đáo và lý tưởng trong tương lai, là những điều doanh nghiệp muốn đạt tới hoặc trở thành Theo Ken Blanchard, tiến sỹ ngành quản lý giáo dục và lãnh đạo, đề xuất tầm nhìn có ba ý nghĩa là:
“ Tầm nhìn tạo ra sự tập trung, tầm nhìn xác định hướng đi, tầm nhìn khai phá sức mạnh Những yếu tố có sức hấp dẫn thu hút, có sức quần tụ mọi người Người lý tưởng mong muốn đạt đến một cái gì đó mà mọi người thật sự muốn mình là một phần trong đó, một cái gì đó có thể vạch ra một hướng đi Ba yếu tố làm nên
1 Nguyên bản tiếng Nga: “Дальновидность Это качество означает способность понимать внутреннюю логику окружающих событий, видеть перспективу из развития Оно позволяет личности регулировать не только актуальные, но и потенциальные аспекты своей мотивации.” tầm nhìn là: mục đích có ý nghĩa, những giá trị rõ ràng, hình ảnh về tương lai.” [Ken Blanchard 2006: 6,40]
Mặc dù khái niệm tầm nhìn ngày nay hay được truyền thông nhắc đến qua khái niệm tầm nhìn chiến lược, gắn liền với hình ảnh các nguyên thủ, các chuyên gia, các nhà kinh tế học và quản trị, là cách hình dung về một thế giới phát triển vững bền hơn trong một hiện tại bất ổn, một tương lai mà khủng bố, chiến tranh và lòng hận thù đang đe dọa nhân loại Khái niệm tầm nhìn chiến lược hay bị hiểu là
“A đến năm 2050 trở thành A’ (A phẩy)” Nhưng luận điểm này chưa đúng vì tầm nhìn tự thân chưa phải là là cách mà thế giới phát triển, có thể hiểu đây là cách mà tầng lớp lãnh đạo và trí thức vận dụng tầm nhìn (tầm nhìn chiến lược) vào hoạt động vĩ mô, quản lý và thúc đẩy guồng máy phát triển của xã hội Tầm nhìn hiện nay có xu hướng được hiểu và diễn đạt theo các kiểu thức như sau
Bối cảnh của tầm nhìn người Việt vùng Tây Nam Bô ̣
1.2.1 Không gian văn hóa Tây Nam Bộ
Từ thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, mỗi cư dân vùng Tây Nam Bộ đã được tắm mình trong không gian văn hóa đậm đặc “miền Tây” nên tâm thức của người dân nơi đây gắn liền với đồng ruộng, bờ ao, mảnh vườn Vì thế người nông dân luôn dốc sức chăm sóc ruộng vườn, gắn bó nghề nông Cho đến nay, nông nghiệp vẫn còn là một ngành sản xuất chính, nghề nông vẫn là cái nghiệp mưu sinh chi phối đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội nông thôn vùng Tây Nam Bộ Những đặc điểm sản xuất sinh hoạt của con người trong nền nông nghiệp lúa nước ở vùng Tây Nam Bộ đã được phản ánh vào văn hóa tinh thần của họ Vùng văn hóa Tây Nam Bộ bao gồm toàn bộ lưu vực sông Cửu Long hiện nay, gồm 12 tỉnh và 1 đơn vị hành chính, đó là các tỉnh: An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Hậu Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng châu thổ, được phù sa sông Cửu Long bồi đắp nên thấp hơn nhiều so với Đông Nam Bộ Vì thế vùng Tây Nam
Bộ có một mạng lưới sông rạch và kênh đào chằng chịt, việc đi lại trong vùng chủ yếu là bằng đường thủy, tạo ra “văn minh sông nước” mà các vùng khác của nước ta không có được Cư dân vùng phải ứng xử theo quy luật của dòng nước trong sản xuất và trong các sinh hoạt khác Người Tây Nam Bô ̣ sống hòa mình với nhịp điệu của mùa nước nổi Họ đào kênh mương và đắp đê bao chống lụt hằng năm trong mùa nước nổi, đều trên tinh thần nương theo tự nhiên mà sống Tổng cộng, cả vùng Tây Nam Bộ có khoảng 2.500 km sông rạch tự nhiên và trên 6.500 km kênh trục và kênh cấp 1, trên 36.000 km kênh cấp 2 và cấp 3
Sông Mê Kông chảy từ Trung Quốc, Lào, Cam-pu-Chia đến vùng Tây Nam
Bộ là hạ nguồn nên sông trở nên sâu rộng, sông mang theo một lượng phù sa lớn bồi đắp cho vùng châu thổ phì nhiêu, riêng ở vùng hạ lưu sông cái chảy chậm xuất hiện nhiều đảo nổi trên sông còn gọi là cù lao Trong dân gian còn tương truyền rằng sông chảy ra biển theo chín cửa nên người dân nơi đây gọi là sông Cửu Long, hình ảnh chín cửa sông được ví von như chín con rồng tưới nước cho vùng đồng bằng châu thổ Lớp phù sa mới do sông Cửu Long mang đến gồm nhiều thành phần: đê thiên nhiên, đồng ngập trũng, bưng lầy, đất giồng, đất phèn, đất mặn, đất than bùn, đất phù sa Bối cảnh của tầm nhìn người Việt vùng Tây Nam Bô ̣ được nghiên cứu trong không gian văn hóa Tây Nam Bộ có nhiều nét chung về địa lý, khí hậu
Vùng Tây Nam Bộ có khí hậu ôn hòa hơn so với miền Trung và miền Bắc, với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 độ C, với hai mùa tương đối rõ rệt, ít chịu bão tố lớn so với miền Trung Nhưng nét nổi bật hơn cả trong so sánh với các vùng văn hóa khác, kể cả vùng văn hóa Đông Nam Bộ, chính là tính chất sông nước của vùng Tây Nam Bộ Khu vực Tây Nam Bộ không có sự phân chia bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông mà từ lâu người dân Tây Nam Bộ vẫn ngâm nga câu hát: Quê em hai mùa mưa nắng, hai thôn nghèo nối liền bờ đê 3 Thật vậy, nhờ có gió mùa và khí hậu vùng nhiệt đới nên ở đây tạo nên hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 Ở đây chỉ có hai mùa nhưng hai mùa mưa nắng đó chi phối biết bao phận đời, kiếp người ở đây, thiên nhiên cho con người Tây Nam Bộ nhiều nhưng cũng lấy đi không ít mồ hôi nước mắt Hàng năm gió mùa Tây Nam đưa mưa về cùng với lũ lụt, con nước lũ đầu tiên thường vào khoảng 6 tháng 7, sau đó tùy theo cường độ gió mùa mà có thêm những đợt lũ mới Điều đặc biệt là do lũ thường không quá cao nên cư dân vùng này mong lũ như mong bạn, vì đó là cái cần câu của những người nghèo mưu sinh bằng các nghề đánh bắt, hái bông súng, hẹ nước mà chỉ lũ về mới có được Vì những lớp người Việt đầu tiên đến với Tây Nam Bộ là những người bỏ quê hương ra đi là đã chấp nhận cuộc sống đầy biến động, từ bỏ cuộc sống khép kín trong các luỹ tre làng, họ ở trong những làng xóm mở (không có luỹ tre, cánh cổng làng), không tụ lại mà tản ra dọc theo những con kênh, con lộ để tiện việc làm ăn Cho nên làng Việt ở Tây Nam Bộ là làng khai phá, có tính chất mở, được ra đời từ nhu cầu cấp tốc khai phá đất mới từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX nên làng thiếu chất kết dính chặt chẽ và phân cực ở mức cao Nét riêng cuối cùng của làng Việt vùng Tây Nam Bộ là người làng đã sớm tiếp xúc với một nền kinh tế hàng hóa nhờ có hệ thống kênh rạch chằng chịt và đô thị buôn bán lớn nhất nước thời đó là Sài Gòn - Chợ Lớn [Nguyễn Chí Bền 1996: 481- 493]
3 Bài hát Gợi nhớ quê hương, sáng tác: Thanh Sơn
Hình 1 2 Hình thái của châu thổ đồng bằng sông Cửu Long [Lê Bá Thảo
Hình 1.3.: Bản đồ đồng bằng sông Cửu Long 4
4 Nguồn ảnh: http://quantracmoitruong.gov.vn/cem_BanDo_MLQT_DongBangSongCuuLong.aspx# Đất ở vùng Tây Nam Bộ thấp nên việc trồng cây ăn trái lại dễ dàng, nông dân không phải tưới thường xuyên mà chỉ tưới cây khi thời tiết hanh khô, bờ sông thường có bãi bùn, bồi đắp nhanh chóng, đất cù lao lan ra trong vài năm Biển ở Tây Nam Bộ được bao quanh ba mặt Đông, Nam và Tây Nam với chiều dài 600 ki- lô-mét vì thế đồng bằng sông Cửu Long có tính chất bán đảo và điều kiện lấn biển
Vì thế, thiên nhiên Tây Nam Bộ có nhiều điều kiện sống khá thuận lợi như sông ngòi, ao hồ và ruộng đồng mênh mông cho nên con người nơi đây có nếp sống chan hòa và gắn bó mật thiết với ruộng đồng, sông rạch đã nuôi sống họ
Nông thôn vùng Tây Nam Bộ có lịch sử hình thành và phát triển theo nguyên tắc chung là nơi nào có điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ được khai phá trước Với những người đi khai hoang theo từng tốp nhỏ lẻ và công cụ thô sơ, nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi trước hết là những vùng đất cao ráo ven biển hoặc dọc theo sông rạch Sau khi định cư và số dân đông dần lên, người ta sẽ tiếp tục mở rộng dần ra Đến khi sáng tạo ra kỹ thuật “đào mương lên liếp”, người Tây Nam Bộ mới tiến đến làm chủ những vùng trũng thấp [Trần Ngọc Thêm 2013: 169] Từ lâu, Tây Nam Bộ được xem là vùng trọng điểm lương thực của cả nước vì vùng này có một nửa tổng sản lượng lúa toàn quốc, và một tỷ lệ tương đương về chăn nuôi gia súc, gia cầm, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất các loại trái cây [Nguyễn Công Bình & nnk 1990: 265]
1.2.2 Chủ thể văn hóa Tây Nam Bộ
Với nền tảng là văn minh nông nghiệp lúa nước, văn hoá Viê ̣t Nam có chủ thể văn hóa là dân tô ̣c Việt (Kinh) và các dân tộc anh em cùng sáng tạo và tích lũy trong suốt quá trình hình thành và phát triển của dân tô ̣c Trên một không gian văn hóa nhiều thay đổi, người Việt đến Tây Nam Bộ đã mang theo một phần vốn văn hóa truyền thống dân tộc từ ngàn đời Tây Nam Bộ còn là mái nhà chung của nhiều tộc người lưu hương khác như người Khmer, người Hoa, người Chăm đều là những cư dân đến khai phá vùng đất mới còn hoang sơ nhưng trù phú như “đất lành chim đậu” Nhiều cộng đồng tộc người chung sống xen kẽ nhau, nhu cầu cùng chung sống để phát triển ở vùng đất mới góp phần tạo nên hiện tượng đặc sắc: “Sự hỗn hợp dân cư thuộc nhiều nguồn gốc địa phương, nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác biệt, nhiều trình độ phát triển về mặt xã hội từ trong nhiều thế kỷ qua đã không hề là yếu tố cản trở sự đoàn kết gắn bó nhau giữa các tộc người cùng chung sống trên địa bàn Nam Bộ” [Thạch Phương và nnk 1992: 43]
Còn Sơn Nam thì cho rằng “Ông cha ta thời Nguyễn Hữu Cảnh (1698) đã đến vùng Đồng Nai - Cửu Long mở nước với động cơ chính là tìm công ăn việc làm, cơ bản là tìm đất canh tác vì miền Trung đất chật, người đông” [Sơn Nam 2008:
23] Từ đó, nhiều thế hệ người Việt lần lượt đến khai khẩn đất phương Nam, trong đó nơi xa nhất là đồng bằng Sông Cửu Long, vùng văn hóa Tây Nam Bộ ngày nay Một số lưu dân là nông dân và thợ thủ công nghèo ở các tỉnh phía Bắc vì không chịu nổi những tai họa do chiến tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn cũng như sự áp bức, bóc lột của giai cấp phong kiến buộc phải rời bỏ quê hương để tìm đất sống
Những đợt di cư khác là lưu dân đến từ vùng Thuận – Quảng (Nam Trung Bộ), gồm một số ít những người giàu có vốn liếng và kiến thức hơn hẳn tầng lớp bần nông thời bấy giờ, họ chiêu mộ người nghèo đi tìm đất khai phá làm ăn, từ đó họ đẩy mạnh khẩn hoang và canh tác và trở thành một tầng lớp đại điền chủ Ngoài ra, lực lượng di cư vào thời kỳ này còn có những tội đồ bị lưu đày và binh lính của triều đình được cử vào khai phá, bảo vệ lãnh thổ, từ đó họ tìm kế sinh nhai lâu dài, lập nghiệp lâu dài
Người Việt đến Tây Nam Bộ là “Những người nông dân và thợ thủ công nghèo khổ ở các tỉnh phía ngoài bị cùng cực điêu đứng vì chiến tranh, bị giai cấp phong kiến áp bức, bóc lột tàn bạo, không thể sống nổi, buộc lòng phải rời bỏ quê hương, làng xóm” và “những người trốn tránh binh dịch, những tù nhân bị lưu đày, những binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ, những thầy lang, thầy đồ nghèo… và cả những người vốn đã giàu có nhưng vẫn muốn tìm nơi đất mới để mở rộng công việc làm ăn” [Huỳnh Lứa (cb) 1987: 38, 42] Họ là dân cùng khổ, tù tội, trí thức bất đắc chí nên có thể thấy họ có tư tưởng tự do, phóng khoáng, xa rời quá khứ, chấp nhận biến đổi và dễ tiếp thu cái mới
“Không như những người Việt tiền bối từ Bắc vào Trung Bộ thường di dân theo từng làng xóm, dòng họ, vào nơi đất mới chừng nào vẫn giữ truyền thống quê hương xưa, từ việc đặt tên làng, tên xã đến các lề tục mang đi từ quê cha, đất tổ; những người tới đất Nam Bộ thường là đi riêng lẻ từng cá nhân, ra đi là rứt bỏ những lề tục xưa cũ ” [Ngô Đức Thịnh 2004: 267] Ở An Giang xưa theo Trịnh
Hoài Đức thì người Kinh, người Khmer nhà ở xen lẫn nhau Họ cùng nhau khai khẩn ruộng cỏ, nuôi cá bán tươi, hoặc muối mắm và phơi măng khô, đốn tre, đem bán làm kế sinh nhai Đây cũng là miền đất mới nhiều nguồn lợi thủy hải sản nên họ sống bằng nhiều nghề như chài lưới, làm cá mắm, làm muối… Họ đã mang theo những kinh nghiệm quý báu trong việc đồng áng, sản xuất thủ công, vạn chài của cư dân miền Trung và đến đây đã được cải biến cho phù hợp Cư dân đến khai phá vùng Tây Nam Bộ đa số là những người năng động từ bỏ nếp sống cũ để mưu sinh trên một vùng đất mới, là những con người ít nhiều có đầu óc mạo hiểm
Về tính cách thì người lưu dân là những người mạnh mẽ, tháo vát và bản lĩnh trên vùng đất mà “dưới sông sấu lội trên rừng cọp um”, tính cách văn hóa của nhóm này là thiên về dương tính so với nhóm vẫn ở lại quê hương còn nhiều khổ cực Cùng với sự gắn bó với nghề trồng lúa nước nên có tính cách nổi bật là người nông dân chân chất, thật thà, phóng khoáng, tư duy thiên về trực quan, đặc biệt là thích những điều mắt thấy tai nghe Người dân Tây Nam bộ còn kế thừa tính linh hoạt, năng động trong truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam nên có lối ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên mới bằng cách sử dụng hệ thống kênh, mương, sông, rạch, ao, hồ tận dụng động thái lên xuống của thủy triều, dòng chảy của kênh rạch để phục vụ sản xuất
Tiểu kết chương 1
STT Nội dung minh họa Trang
Hình1.1 Tầm nhìn trong mối liên hệ với thực tế 14
Hình 1 2 Hình thái của châu thổ đồng bằng sông Cửu Long [Lê Bá
Hình 1.3 Bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long 28
Hình 1.4 Tầm nhìn trong hệ thống ba bình diện văn hóa nhận thức, tổ chức và ứng xử
Hình 2.1 Sơ đồ mối quan hệ và vai trò của bộ ba người quản lý cơ sở rau an toàn Mai An Tiêm 2016
Hình 2.2 a,b Ông La Văn Khoa và mô hình trồng dưa leo sạch ở cơ sở Mai An Tiêm, Tam Bình, Vĩnh Long 2013
Hình 2.3 a,b Quạt gió trong vườn dưa leo và hệ thống máy tự động 50
Hình 2.4 Cây dưa leo được trồng trên giá thể mụn dừa và được tưới nước nhỏ giọt
Hình 2.5 Ao nuôi cá tai tượng ở Phú Phụng, Chợ Lách, Bến Tre
Hình 2.6 Nhà vườn Mỹ Xương, Đồng Tháp thực hiện việc bao trái xoài đạt chuẩn GlobalGAP
Hình 2.7 Vườn ổi Ngũ Hiệp, Tiền Giang được người nông dân áp 59 dụng kỹ thuật bao trái trên cây
Hình 2.8 a,b Vườn nhãn Idor (giống được nhập từ Thái Lan) ấp Thuận
Long và ấp Phú Mỹ 2, xã Đồng Phú, Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
Hình 2.9 giống dừa lùn, ở xã Thuận Thới, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh
Hình 2.10 Mít siêu sớm, xã Ngũ Hiệp huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền
Giang Tháng 12/2014 [ảnh: Trăng Thanh]
Hình 2.11 Bò trắng được lai tạo từ giống bò nhập từ Pháp, ở xã
Thuận Thới, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Hình 2.12 Vườn nhãn xen canh với chanh, cóc, chuối ở ấp Phú Mỹ I, xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
Hình 2.13 Bò được nuôi thả ăn cỏ ven đường ở Vĩnh Châu, Sóc
Hình 2.14 Nhãn tiêu da bò đang ra hoa ở ấp Phú Mỹ I 61
Hình 2.15 Mẫu hình nông dân thành công 64
Hình 2.16: Sơ đồ mối tương quan giữa thành tố văn hóa nhận thức và các giá tri ̣ của văn hoá Việt Nam
Hình 3.1 a,b Nuôi cá bè ở An Giang 76
Hình 3.2 Nhà nuôi cá bè ở An Giang 76
Hình 3.3 Nuôi tôm ở Vĩnh Châu, Sóc Trăng, 2014 76
Vườn thanh long huyện Tam Bình, Vĩnh Long 82
Hình 3.5 Trồng hành tím ở Vĩnh Châu, Sóc Trăng, 2015 82
Hình 3.6 Vườn sầu riêng xen ổi ở xã Ngũ Hiệp, huyện Cai Lậy,
Hình 3.7 Vườn ca cao ở xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, Vĩnh Long 83
Hình 3.8 a,b Vườn nhãn ở xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, Vĩnh Long bị chổi rồng
Hình 3.9 Vườn nhãn ở xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, Vĩnh Long bị đốn và dọn bằng cách đốt tầng lá bề mặt
Hình 3.10 Vườn nhãn ở hình 3.9 sau ba tháng được trồng các loại cây ngắn ngày như đu đủ, đậu, chuối
Hình 3.14 Củi nhãn ở xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, Vĩnh Long 84
Hình 3.15 Vườn nhãn trồng xen cam và chuối ở huyện Long Hồ,
Hình 3.16 Bơm nước vào đồng 97
Hình 3.18 Cảnh đốt đồng ở An Giang 97
Hình 3.19 Phơi lúa ở An Giang 97
Cánh đồng mẫu lớn, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh 97
Hình 3.22 Vườn tạp ở nông thôn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long 109
Hình 3.23 Ruộng được lên liếp trồng cam, hình ảnh ghi lại lúc những cây cam còn nhỏ Trà Ôn, Vĩnh Long
Mâm cúng Ông Chuồng, Bà Chuồng, chuồng heo, chuồng bò trong một hộ gia đình tại huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
1 Lý do chọn đề tài Đi dọc chiều dài đất nước Việt Nam, Nam Bộ là điểm dừng cuối cùng của bước chân tiền nhân khai hoang mở cõi Đây là miền đất mới so với Bắc và Trung
Bộ, bao gồm hai vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, có hoàn cảnh lịch sử và có những nét độc đáo trong tư tưởng, nếp nghĩ, lối sống, phong tục, tín ngưỡng Trong đó Tây Nam Bộ là vùng đất sinh sống chủ yếu bằng hoạt động kinh tế nông nghiệp và văn hóa mang đậm dấu ấn sông nước, có dòng chảy văn hóa dung dị của riêng mình Tây Nam Bộ là vùng đất có tài nguyên thiên nhiên song hoạt động kinh tế nông nghiệp chưa đem lại lợi nhuận cao và tốc độ phát triển còn chậm so với mặt bằng chung của đất nước
Phải chăng tính cách văn hóa của người dân Tây Nam Bộ đã chi phối đời sống văn hóa của vùng này? Đặc biệt là trong hoạt động kinh tế nông nghiệp? Với mong muốn lý giải được những thất bại và thành công trong hoạt động kinh tế nông nghiệp Tây Nam Bộ, luận văn này là bước đầu tìm hiểu về vấn đề tầm nhìn của người Việt vùng Tây Nam Bộ từ đổi mới đến nay dưới góc nhìn Văn hóa học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa của người Việt vùng Tây Nam Bộ ở mức độ rộng như sách Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Công Bình – Lê Xuân Diệm – Mạc Đường [1990] đã giới thiệu tổng quan về tình hình cư trú của các dân tộc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Tiếp nối quyển Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1996/2004), công trình Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ do GS Trần Ngọc Thêm chủ biên xuất bản năm 2013 là một công trình nghiên cứu văn hóa học đặt một dấu mốc quan trọng về văn hóa Tây Nam Bộ Cuốn Đồng bằng sông Cửu Long hay văn minh miệt vườn, của Sơn
Nam [1970/2014] cung cấp nhiều tư liệu lịch sử, trong đó có những tư liệu về cuộc khẩn hoang lập làng ở Nam Bộ nói chung Các công trình địa phương chí phản ánh các phương diện tự nhiên, lịch sử, kinh tế, văn hóa của vùng đất là những cứ liệu hữu ích Đây là các công trình nghiên cứu có tính khái quát tương đối về văn hóa Tây Nam Bộ
Nghiên cứu cơ bản về đồng bằng sông Cửu Long đã được quan tâm hơn trong những năm đầu thế kỷ XXI, trong đó có các công trình nghiên cứu theo cách tiếp cận tổng hợp về Tây Nam Bộ nổi bật như: Đồng bằng sông Cửu Long [Phan Quang 1985/2014]; Nam Bộ xưa và nay [ntg 2007], Nam Bộ đất và người (nhiều tập) [ntg,
2008] Các công trình nghiên cứu có tính sử học về đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ [Huỳnh Lứa (cb) 1987], Lịch sử khẩn hoang miền Nam [Sơn Nam 2009], Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam [Vũ Minh
Giang 2006] Cùng các công trình nghiên cứu lịch sử của từng địa phương ở vùng Tây Nam Bộ như: Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cần Thơ, Gò Công, Sa Đéc, Bến Tre [Huỳnh Minh 1966; 1967; 2001]
Các nghiên cứu dân tộc học về Tây Nam Bộ có thể kể đến như: Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long [Phan Thị Yến Tuyết 1993]; Từ lúa đến tôm - Hành vi giảm thiểu rủi ro và vận dụng nguồn vốn xã hội của nông dân người Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long, NXB Đại học Quốc gia
TP.HCM, 320 trang [Ngô Thị Phương Lan 2013]
Các tài liệu nghiên cứu văn hóa học về Tây Nam Bộ có thể được khái quát như sau: những công trình của các học giả có uy tín nghiên cứu về văn hóa Tây Nam
Bộ, có thể kể, Đồng bằng sông Cửu Long – nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn [Sơn Nam 2014], công trình của các cơ quan nghiên cứu khoa học như: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long [Viện Khoa học Xã hội Tp Hồ Chí Minh
1990]… và các luận văn cao học chuyên ngành Văn hóa học từ năm 2003 đến nay, các luận văn về văn hóa Tây Nam Bộ Một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành có thể kể đến Đờn ca tài tử trên sông nước Tiền Giang [Mai Mỹ Duyên 2003], Tính cách con người Tây Nam Bộ [Nguyễn Văn Kha 2009]
Việc tìm hiểu về văn hóa vùng Tây Nam Bộ cũng cần lưu ý các hằng số tự nhiên của vùng đất Nam Bộ: Hằng số 1: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của những điều kiện tự nhiên thuận tiện, mùa hè không quá nóng và quanh năm không bao giờ bị bão lớn Hằng số 2: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế Hằng số 3: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của nhiều tộc người (Việt, Hoa, Chăm, Khmer ), đến từ khắp mọi miền đất nước (Bắc – Trung – Nam) và khu vực Hằng số 4: Văn hóa Nam Bộ là sản phẩm của quá trình dương tính hóa Nó là khâu cuối cùng trong quá trình phát triển ba giai đoạn của văn hóa Việt Nam: từ lớp văn hóa bản địa đến lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và sang lớp văn hóa giao lưu với phương Tây [Trần Ngọc Thêm 2006: 141] Từ các hằng số này, có thấy vùng Tây Nam Bộ có những đặc điểm trên, là vùng văn hóa có lịch sử lâu đời đòi hỏi cách tiếp cận văn hóa đồng đại lẫn lịch đại
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Nam Bô ̣ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng thì khá phong phú về đề tài cũng như nội dung Tuy nhiên, nổi bật trong những công trình cùng đề tài, Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ [Trần Ngọc
Thêm (cb) 2013] bàn về văn hóa người Việt Tây Nam Bộ như một chỉnh thể thống nhất với các thành tố và các đặc trưng văn hóa của vùng này
Vai trò của tầm nhìn qua mô hình nông trường (trường hợp nông trường sông Hậu)
Nông trường Sông Hậu được thành lập vào năm 1979, khi tình hình đất nước còn nghèo và lạc hậu, “những sai lầm khuyết điểm của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp miền Bắc trước đây nay lại được lặp lại ở nông thôn miền Nam: làm ồ ạt lấy được, bất chấp nguyên tắc tự nguyện và quản lý dân chủ Đến năm 1980, công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình miền Bắc coi như thất bại ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, kể cả các hợp tác xã thí điểm Nhiều hợp tác xã và tập đoàn sản xuất tan rã, số còn lại hoạt động kém hiệu quả chỉ còn hình thức.”
Nông trường Sông Hậu là một mô hình sản xuất quốc doanh tổng hợp, bước đầu thành công nhờ có hướng đi đúng đắn dưới sự dẫn dắt của ông Trần Ngọc Hoằng, còn được gọi là ông Năm Hoằng Lúc mới thành lập, nông trường không được nhà nước cấp vốn, bù lại người lãnh đạo lúc đó là ông Trần Ngọc Hoằng là người có tài quản lý, giỏi lăn xả vào công việc vì có sức lao động như nông dân thực thụ Ông là người làm việc có tâm và có tầm: tâm ở chỗ ông rất quan tâm đến người nông dân và tầm ở chỗ ông biết nhìn xa và rộng về đường hướng phát triển của nông trường
Trong thời điểm đó, mô hình nông trường quốc doanh được mở ra trên cả nước nhưng chưa có hiệu quả cao, riêng mô hình nông trường sông Hậu với những bước đột phá đầu tiên, từ năm 1979 đến 1998 đã thu được những kết quả ngoạn mục Ông Trần Ngọc Hoằng, lúc đó là Phó ty Nông nghiệp tỉnh Hậu Giang được cử về làm giám đốc nông trường với 2.350 héc-ta 6 đất và mười sáu lao động, mười chiếc máy cày Khi đó, các tỉnh đều làm mô hình “hợp tác hóa nông nghiệp” và lãnh đạo cấp trên đề nghị ông Năm nhận bốn trăm lao động từ thành thị về làm nông dân nhưng ông kiên quyết từ chối Ông đã bày tỏ quan điểm: “Những người tôi chọn phải là nông dân rặt, tôi phải coi bàn tay họ có chai cứng không, bàn chân họ có dính phèn không, có nứt nẻ không, rồi mới nhận Bởi đó là những nông dân thực thụ có tâm huyết, biết sống chết với đất đai” [Đặng Phong 2014: 269]
Vào lúc đó, người nông dân chưa biết việc giao khoán là gì, chỉ biết mỗi việc giao đất Trong một vài nhóm, người nông dân tự phân công, họ giao cho mỗi người một diện tích cụ thể từ cánh đồng chung; ai làm xong nghỉ sớm miễn là trong ngày, đúng lịch thời vụ hoặc tự quy ước “vần đổi công” để giúp nhau nhanh hơn Nhưng là chỉ một vài nhóm và trong một số khâu nhất định, việc tính công ăn điểm như các tập đoàn khác vẫn được tiến hành Ông Năm Hoằng là một người nông dân có nền tảng tri thức tốt, ông rất tâm huyết với câu nói của Lê-nin: “Hãy để người nông dân suy nghĩ trên luống cày của họ” Cho nên, ông xem xét tình hình thực tế của nông trường và người nông dân bản địa mà áp dụng: “Tới mùa bà con cứ giao cho nông trường một tấn trên một ha
Khâu làm đất, cung cấp phân bón có nông trường lo, ai làm dư bao nhiêu thì được hưởng trọn số đó.” [Đặng Phong 2014: 270] Ngoài ra, ông còn khuyến khích bà con trồng các loại cây thân thuộc như chuối, bạch đàn, xoài, nuôi gà vịt hay bất cứ thứ gì có thể làm ra của cải ở đất thổ cư quanh nhà Điều đó cho thấy, trong cách tổ chức của ông Năm Hoằng và của bà con đều có tính cộng đồng và tính linh hoạt Người nông dân làm việc cho nông trường sông Hậu tích cực, nhiệt tình vì được nông trường hướng dẫn cách làm tiến bộ hơn trước
Họ được hỗ trợ phương tiện, được gieo giống tốt nên chỉ cần làm việc chăm chỉ là không sợ lỗ vì họ được nông trường bao tiêu sản phẩm Nông trường hoàn toàn đầu
6 Cách tính đất đai ở Nam Bộ là 1 mẫu = 10.000 m² = 1 ha, tức 1 héc-ta mà 1 mẫu bằng 10 sào hay bằng 10 công (1 công
= 1 sào) Như vậy, 1 công hay 1 sào đất nam bộ là 1000 m² tư vốn, đảm nhận các khâu cày đất, cung cấp giống, phân bón và cả tưới tiêu còn hộ dân nhận đất thì bỏ công chăm sóc, thu hoạch, sau đó nộp khoán cho nông trường theo mức đã quy định, phần vượt khoán thì họ được hưởng trọn Hơn nữa, xung quanh nông trường có những lũy bạch đàn và có đê bao cao ngăn chặn gió bão nên người nông dân an tâm, không sợ bị thiên tai bão lũ cho đồng ruộng của mình Không chỉ giao khoán trên đất trồng lúa, các công đoạn khác trong sản xuất như cày ải, bơm nước, suốt lúa đều được ông Năm giao khoán theo kiểu "lời ăn lỗ chịu" Thành công của mô hình này là do việc khoán hộ hợp lòng dân và kiên định với cách làm này, mặc dù ông Năm bị người ngoài dèm pha là giao khoán, giao lúa giống như kiểu địa chủ ngày trước
Nhưng ông Năm Hoằng đã làm được, lãnh đạo được là do ông có cách nghĩ linh hoạt nên biết cách tự trang trải, cách làm, cách quản lý thiết thực, khi ông cho chuyển nhiều lao động biên chế sang lao động hợp đồng khoán sản phẩm Cách làm việc của ông là đất đai được cải tạo đến đâu, tùy theo khả năng lao động, nông trường khuyến khích các hộ nhận khoán đến đó Ngay từ ban đầu, nông trường sông Hậu đã đi từ sản xuất có tính chất tự túc tiến lên sản xuất hàng hóa lớn, chỉ sau bốn năm từ năm 1979-1982, nông trường đã chuyển trên 3.000 héc-ta đất hoang từ quảng canh sang thâm canh và nộp nhà nước 5.000 tấn lương thực Từ đó, các nông trường trong vùng Tây Nam Bộ cũng đã học tập kinh nghiệm làm ăn của nông trường sông Hậu
Tháng 4 năm 1979, khi ông Năm Hoằng được cử làm Giám đốc nông trường vừa mới thành lập, thì bà Ba Sương, con gái ông, đã cùng với mười sáu thanh niên được giao nhiệm vụ khai hoang một vùng đất rộng lớn còn hoang hóa ở vùng Hậu Giang Sau đó bà có thời gian học ở Liên Xô và trở về nước phục vụ, bà tiếp tục về công tác tại Nông trường Sông Hậu và trở thành một phụ tá đắc lực cho cha của bà Nhờ sự nỗ lực của cha con ông Năm Hoằng và người dân ở nông trường, sau một thời gian ngắn, vùng đất hoang hóa thời chiến tranh đã nhanh chóng trở thành vùng trù phú Trong những năm khó khăn của thời bao cấp, đời sống nông dân ở nông trường Sông Hậu đã cao hơn hẳn nông dân quanh vùng
Bước vào thời kỳ đổi mới, bà Ba Sương đã tham gia vạch ra những kế hoạch, chiến lược để biến vùng đất tại nông trường sông Hậu bị thiên tai ngập lụt thành trung tâm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, hàng chục ngàn nông dân có cuộc sống ổn định Từ một vùng hoang hóa ngập nước, mỗi năm chỉ sản xuất 1 vụ lúa mùa, sau 10 năm xây dựng thì được chuyển đổi thành trồng 2 vụ Nông trường sông Hậu đã cải tạo đồng ruộng và gần như toàn bộ các khâu trong sản xuất nông nghiệp được cơ giới hóa và đi theo một hướng mới trong sản xuất là kết hợp mô hình canh tác lúa với nuôi trồng thủy sản Năm 1992, nông trường này được phép thành lập doanh nghiệp Nhà nước
Trong khung cảnh đó, cách làm của Nông trường Sông Hậu là một sự tìm tòi táo bạo, dựa trên bối cảnh nông nghiệp của khu vực Tây Nam Bộ Như vậy, có thể thấy ông Năm Hoằng và bà Ba Sương, với tầm nhìn xa của mình, đã thấy được tiềm năng phát triển của vùng đất hoang hóa ban đầu và lập kế hoạch sát với thực tiễn nên đã dẫn dắt tập thể đạt được thành công như vậy Trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ, sự lựa chọn giải pháp đó là một sự tìm tòi đúng hướng, đúng quy luật và cũng hợp lòng người Nhờ những cống hiến của mình, bà ba Sương từng được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lao động và là người Việt Nam đầu tiên được vinh danh Người phụ nữ ấn tượng châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2002 Đáng tiếc rằng một người có nếp sống thanh bạch như bà Ba Sương lại bất ngờ bị khởi tố trong vụ án tại nông trường Sông Hậu về tội "lập quỹ trái phép" Ngày 15/8/2009, Tòa án Nhân dân huyện Cờ Đỏ tuyên phạt bà Sương 8 năm tù, buộc bồi thường thiệt hại cho nông trường hơn 4,3 tỷ đồng Trước khi tòa tuyên án,
110 nông trường viên của Sông Hậu đã gửi đơn “xin đi tù thay” bà vì họ đều biết rằng bà ba Sương bị oan vì cái Quỹ đời sống lập ra ngay từ khi mới hình thành nông trường đó đã được điều hành, sử dụng công khai minh bạch phục vụ cho đời sống các nông trường viên Đến tháng 2 năm 2012, vụ án đã được đình chỉ, mọi oan khuất được làm sáng tỏ, bà Ba Sương được khôi phục sinh hoạt Đảng
Vụ án oan này để lại bài học lớn trong văn hóa quản lý ở vùng Tây Nam Bộ, khi mà một con người giàu đức hy sinh và dám nghĩ dám làm lại bị lao đao, cô lập, bị chèn ép bởi quyền lực và đồng tiền và trở thành nạn nhân những thói hư tật xấu của văn hóa tiểu nông thiếu tầm nhìn “Tính cộng động làng xã là một trong hai đặc trưng quan trọng nhất, điển hình nhất cho văn hóa nông nghiệp - nông thôn truyền thống Việt Nam, nên cũng là một trong hai đặc trưng biến động mạnh nhất khi đi vào giai đoạn hiện đại Những phi giá trị nảy sinh từ đặc trưng này cũng rất nhiều Trong đó, tiêu biểu nhất là 11 thói hư tật xấu sau đây: Thói dựa dẫm, ỷ lại, thói cào bằng, đố kỵ, bệnh hẹp hòi, ích kỷ, bè phái, bệnh sĩ diện, háo danh, bệnh thành tích, bệnh phong trào, bệnh hình thức, bệnh nói xấu sau lưng, bệnh vô cảm, chặt chém, tật ham vui, thích "tám", bệnh triệt tiêu cá nhân ” [Trần Ngọc Thêm 2016: 310-
311] Những thói xấu này một khi tích hợp lại sẽ làm triệt tiêu những con người và tập thể có tầm nhìn xa, làm trì trệ sự phát triển của vùng Tây Nam Bộ nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung
Hơn nữa, kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa của nước ta còn ở mức sơ khai, có những mặt tích cực nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau cũng có không ít tiêu cực Nền kinh tế vĩ mô nước ta đã có những thành tựu đáng kể nhưng còn bất ổn, phát triển xã hội chưa bền vững, chưa giải quyết thỏa đáng vấn đề sở hữu, thành phần kinh tế; chưa đối xử công bằng với kinh tế tư nhân, chưa trọng nhân tài Theo Phạm Quý Thọ thì nguyên nhân cốt lõi của thực trạng trên là chậm đổi mới theo tư duy phát triển hiện đại, còn bị ràng buộc bởi ý thức hệ của thời kỳ chiến tranh lạnh và quan điểm phát triển kiểu cũ (quan điểm công nghiệp hóa cổ điển của những năm 1970 hoặc trước đó, quan điểm phân biệt đối xử với khu vực tư nhân) không phù hợp với thời đại hội nhập phát triển cực nhanh Quan điểm này đã làm cho kinh tế thị trường bị biến dạng và méo mó, gia tăng vai trò can thiệp hành chính, mệnh lệnh của Nhà nước [Phạm Quý Thọ 2015: 168]
Vai trò của tầm nhìn qua tiến trình chinh phục vùng Đồng Tháp Mười
Từ đầu thế kỷ 19, Đồng Tháp Mười là vùng có địa hình trũng như lòng chảo, đồng lũ kín nên nước ở tiểu vùng Đồng Tháp Muời thuộc loại khó tiêu, khả năng nhận lũ thì cao mà khả năng thoát lũ thì rất kém dẫn đến đất đai ở đây nhiễm phèn, chua, chỉ có cỏ lác mọc thành đồng Cho nên vùng này từng được mệnh danh là “túi phèn” hoặc “rốn lũ” của vùng đồng bằng sông Cửu Long Thách thức của thiên nhiên Tây Nam Bộ đối với cư dân là mỗi một nơi đều có một khó khăn riêng như nước nổi, đất ngập mặn, ngập phèn, việc đi lại khó khăn… Những câu ca dao, tục ngữ của vùng đất Tây Nam Bộ đã nói lên những gian nan, nhọc nhằn mà người nông dân phải đối phó như:
- Tháp Mười nước mặn, đồng chua
Nửa mùa nắng cháy, nửa mùa nước dâng
- Bìm bịp kêu nước lớn ai ơi
Buôn bán chẳng lời, chèo chống mải mê
Thời gian đầu, miệt Đồng Tháp dân khẩn hoang ít, dân cư thưa thớt:
- Ai về Đồng Tháp quanh co Điều đó vô hình trung làm nản lòng nhiều nhà khoa học quốc tế khi đến Việt Nam với mục đích hợp tác, cùng cải tạo để phục vụ sản xuất nông nghiệp, các nhà khoa học thời đó cho rằng phải mất hàng triệu đô-la để cải tạo Do đất ở đây có độ chua phèn cao nên muốn sống được, có nguồn nước cho cây trồng và cho sinh hoạt hằng ngày thì phải đào rất nhiều con kênh để rửa phèn từ trong nội vùng và ra ngoại vùng Sau ngày thống nhất đất nước, trước nhu cầu phải giải quyết cấp bách về trình trạng thiếu lương thực trong cả nước, các tỉnh của vùng này đã tổ chức các cuộc di dân về Đồng Tháp Mười để khai hoang trồng lúa với quy mô lớn và tập trung Quá trình đổi mới của nông nghiệp ở vùng Tây Nam Bộ diễn ra tương đối chậm Trong quá trình tiến triển từ năm 1975 đến 1988, các tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang đã cùng chung kế hoạch khai thác vùng trũng Đồng Tháp Mười Kiên Giang, Hậu Giang và Vĩnh Long đã tăng thêm được một vụ lúa và làm thủy lợi tốt hơn
Lòng tin về triển vọng cải tạo của vùng Đồng Tháp Mười bắt nguồn từ tầm nhìn xa của người lãnh đạo đối với tiến trình phát triển nền nông nghiệp vùng Tây Nam Bộ, phải đề cập đến tầm nhìn cũng như vai trò mang tính quyết định cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt Trong thập niên 80, ông Võ Văn Kiệt lúc bấy giờ đang là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đã tổ chức cuộc họp với lãnh đạo ba tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp để bàn về những biện pháp cải tạo vùng đất này Cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt luôn đau đáu về vấn đề: “Đồng bằng sông Cửu Long sẽ đi lên bằng cái gì, công nghiệp hóa bằng cái gì, thoát khỏi đói nghèo bằng cái gì, nếu không phải là cơ sở hạ tầng? Đó là cái cơ bản nhất để giải quyết các vấn đề khác
Hạ tầng đó là thủy lợi gắn liền giao thông và gắn liền với đời sống…” [Tư Duy
Với tầm nhìn và quyết tâm của mình, thủ tướng Võ Văn Kiệt đã chỉ đạo thực hiện thành công chương trình “sống chung với lũ” cũng như “thoát lũ ra biển Tây”, chương trình này đã giúp thoát lũ, dẫn ngọt, tháo chua, rửa phèn, khai hoang, hồi phục hóa hàng trăm ngàn hec-ta đất của vùng Tây Nam Bộ Nhờ sự quy hoạch ban đầu cùng với kế hoạch dài hạn và ngắn hạn mà đã có hàng nghìn người dân từ các tỉnh lân cận như: Bến Tre, Vĩnh Long, Tiền Giang, Cà Mau, Long An… đến Đồng Tháp Mười Nhờ tính cần cù, linh hoạt, có sự thích nghi đủ để khắc phục, ứng phó với những thách thức của tự nhiên nhất là trong thời kỳ đầu của quá trình chinh phục vùng đất mới này, mà cư dân vùng Đồng Tháp Mười đã cùng nhau tồn tại và phát triển, tham gia vào các nông trường trồng lúa, an cư lạc nghiệp Qua trường hợp này có thể thấy vai trò quan trọng về tầm nhìn chiến lược của người lãnh đạo
Nhà nước, cụ thể là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong sự phát triển của vùng Đồng Tháp Mười
Trong khi các chuyên gia nước ngoài được mời về Đồng Tháp Mười thời kỳ đó đều khẳng định đất vùng này phèn nặng không thể cải tạo, nếu muốn cũng phải mất hàng triệu đô-la, thì những cán bộ thời kỳ đó kêu gọi đầu tư đào đắp hệ thống kênh mương rửa phèn, dẫn lũ Sau nhiều năm kiên trì với chiến lược ngọt hóa vùng đất phèn, vùng lòng chảo Đồng Tháp Mười đã trồng được lúa, cán bộ kỹ thuật và người dân đều hết sức vui mừng Sau 6 năm, từ năm 1976 đến năm 1982, toàn vùng Đồng Tháp Mười đã xây dựng được 27 nông trường quốc doanh nhưng chưa có hiệu quả cao do chỉ canh tác được một vụ lúa nổi Bên cạnh tiến trình chinh phục Đồng Tháp Mười, sau đổi mới được 2 năm, tức năm 1988, cả nước đứng trước nguy cơ thiếu gạo ăn khi mà nhân dân phải độn bo bo, chuối, khoai, sắn thì công trình ngọt hóa phần trũng phèn của tiểu vùng tứ giác Long Xuyên được thực hiện với quy mô lớn và mười năm sau mới hoàn tất về cơ bản để khai thác vùng lòng chảo này
Các đoàn nghiên cứu, nhà khoa học trong khu vực đã được cơ quan chức năng huy động xuống vùng Đồng Tháp Mười cùng băng đồng, lội nước, sống với người dân Trong đó, những nghiên cứu quan trọng của nhóm PGS.TS Hồ Văn Chín đến từ Viện Địa lý - Tài nguyên Tp Hồ Chí Minh, những nhà khoa học Việt Nam đã chỉ ra cho người dân biết được họ phải trồng cây gì trên vùng đất nào là thích hợp, và thủy lợi đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong sản xuất
Việc đưa nước ngọt từ các con sông Tiền, sông Vàm Cỏ theo các dòng kênh đổ về Đồng Tháp Mười không chỉ giúp tiêu độc, rửa phèn, mà còn giúp thoát lũ ra biển Đông, làm giảm áp lực của nước khi mưa lũ tràn về; đồng thời cung cấp nước ngọt cho cây trồng, cho cuộc sống sinh hoạt của người dân Với cách làm sạ ngầm, dùng phân lân nung chảy để ém phèn trồng lúa thì nước ngọt đi tới đâu, diện tích trồng lúa có đặc tính chịu phèn tăng theo tới đó, còn diện tích hoang hóa thì ngày càng được thu hẹp
Trên chặng đường lịch sử nông nghiệp của vùng Tây Nam Bộ, cây lúa đã từng chiếm thế độc canh, cư dân không có nhiều giống cây và con giống để lựa chọn Theo Nguyễn Quới, Phan Văn Dốp, như xã Tân Hòa Đông thuộc vùng Đồng Tháp Mười, từ năm 1976 đến 1995, dân cư của xã đã trải qua nhiều lần thất bại trong nỗ lực tìm kiếm cây trồng có thể đứng được trên vùng đất này Sau người dân ở đây trồng được cây bàng như một kiểu kinh tế tự nhiên góp phần nhỏ vào thu nhập; cây khoai mỡ cho kết quả tốt hơn Và đến năm 1997, sự thành công của vụ lúa đông xuân đầu tiên trên phèn mặn là nhân tố thứ hai giúp cộng đồng có đời sống đỡ vất vả hơn [Nguyễn Quới, Phan Văn Dốp 1999: 288]
Sản xuất nông nghiệp ở vùng Tây Nam Bộ luôn có trường hợp phải phá huề hoặc thua lỗ, người nông dân biết trước không phải lúc nào cũng có lời Kết quả khảo sát thực địa ở Đồng Tháp Mười cho thấy, đại đa số trường hợp trồng lúa bị thua lỗ đều gặp ở hộ mới bắt đầu canh tác từ năm 1994 trở lại đây – tức là thời gian thực sự khai hoang chưa quá ba năm Từ giai đoạn ba năm “tác nghiệp” đến giai đoạn “lạc nghiệp”, mỗi hộ di dân và khẩn hoang phải đề ra cho mình một chiến lược kinh tế quá độ
Khi đó tầm nhìn cho đời sống tại vùng đất mới là một sự lựa chọn Sự lựa chọn chiến lược này tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, mà yếu tố then chốt ở đây là bằng sự chứng nghiệm của chính bản thân mình Người khẩn hoang nhận định về triển vọng thuần hóa đất và thích ứng cây trồng, độ dài của thời gian phải chờ đợi, tiềm lực vật chất và sức chịu đựng của gia đình mình trong cuộc đương đầu với sự
“ù lì” của đất và sự khắc nghiệt của thiên nhiên “Quá trình khai khẩn đất hoang để canh tác nông nghiệp ở Đồng Tháp Mười, nhìn trên góc độ kinh tế, thực chất là quá trình giảm dần sự thua lỗ qua những vụ canh tác đầu, để từng bước nhích dần tới mức đủ trang trải chi phí sản xuất, rồi sau đó mới đến giai đoạn có thể hy vọng kiếm lời từ cây trồng.” [Nguyễn Quới, Phan Văn Dốp 1999: 299, 300] Tầm nhìn xa của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, những người quản lý cấp địa phương, các nhà khoa học cùng với người dân là về việc vùng Đồng Tháp Mười hoàn toàn có thể cải tạo được, tầm nhìn này được đặt trong điều kiện tự nhiên cùng với bối cảnh văn hóa – lịch sử – xã hội của vùng Từ tầm nhìn nông nghiệp này đã cải tạo hệ thống thủy lợi, tìm ra các giống lúa chịu phèn, áp dụng kỹ thuật trồng lúa, phân bón và cách trị phèn phù hợp để làm đổi thay Đồng Tháp Mười được như ngày hôm nay Sau bốn thập niên (1975 – 2015), người dân vùng Tây Nam Bộ đã biến Đồng Tháp Mười thành vựa lúa lớn của đất nước, từ đây góp phần giúp Việt Nam thành một cường quốc về xuất khẩu gạo trên thế giới.
Vai trò của tầm nhìn qua mô hình nông nghiệp công nghệ cao (trường hợp thương hiệu dưa leo Mai An Tiêm ở Vĩnh Long)
(trường hợp thương hiệu dưa leo Mai An Tiêm ở Vĩnh Long)
Mai An Tiêm là tên vườn dưa leo được trồng trong nhà kín của ông La Văn Khoa, ở xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Tầm nhìn của người nông dân này đi liền với mong muốn tạo ra những trái dưa có chất lượng tốt, bán được giá cao và an toàn cho người tiêu dùng Mô hình này có nền phủ bạt ni-lông, phần vách từ mặt đất cho tới mức 3 mét thì phủ lớp màng ni-lông, từ 3 đến 4 mét thì phủ lưới, từ 4 mét trở lên và toàn bộ phần nóc tiếp tục phủ màng ni-lông, nhờ hệ thống điều chỉnh nhiệt độ nên bên trong nhà vườn có nhiệt độ thấp hơn bên ngoài
Hình 2.1: Sơ đồ mối quan hệ và vai trò của bộ ba người quản lý cơ sở rau an toàn Mai An Tiêm 2016 [ảnh: Trăng Thanh]
La Văn Khoa Vĩnh Long
Kỹ sư - đồng chủ vườn Trần Ngọc Cần
20 năm sống ở Úc về tp.HCM
Kỹ sư - quản lý kỹ thuật Nguyễn Thành Phong Úc
Hình 2.2 a,b: Ông La Văn Khoa và mô hình trồng dưa leo sạch ở cơ sở Mai An
Tiêm, Tam Bình, Vĩnh Long 2013 [Ảnh: Thanh Đức]
Hình 2.3 a,b: Quạt gió và hệ thống máy tự động trong vườn dưa leo Vĩnh Long
Hình 2.4: Cây dưa leo được trồng trên giá thể mụn dừa và được tưới nước nhỏ giọt
Vĩnh Long 2016 [ảnh: Trăng Thanh]
Việc trồng trọt ở đây có sự giám sát của kỹ sư Nguyễn Thành Phong, Trần Ngọc Cần và những phụ tá Hai kỹ sư này từng đại học chuyên ngành nông nghiệp ở Úc, họ có đi thực tế nhiều nơi, chứng kiến những mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hiệu quả Nhóm kỹ sư này đã có được tầm nhìn xa về tiềm năng của ngành sản xuất rau sạch ở Việt Nam trong tương lai, trên cơ sở quan sát hiện trạng người tiêu dùng; khi họ đang e dè trước thông tin về thực phẩm bẩn
Từ đó, với mong muốn đưa những tiến bộ khoa học trên thế giới về Việt Nam, được sự chấp thuận của ông Khoa, nhóm chọn cách trồng rau màu theo phương pháp mới với mục đích tạo ra sản phẩm sạch, bán giá cao, thay thế cách trồng truyền thống mà lâu nay cho hiệu quả kém
Ngay từ ban đầu, tầm nhìn của ông Khoa, kỹ sư Phong, Cần cùng với nhóm cộng sự là nhắm đến thị phần rau sạch còn bỏ ngỏ trong vùng Tây Nam Bộ Khi các siêu thị và những chợ lớn ở các đô thị trong nước đều có nhu cầu sử dụng rau màu sạch rất lớn, nhưng cung không đủ cầu, ngay ở chính nông thôn, người dân cũng sẵn sàng bỏ tiền ra cao hơn để mua được rau sạch Đây là mô hình làm ăn theo chuỗi giá trị, trong đó chuỗi giá trị có thể hiểu là chuỗi hoạt động mà sản phẩm đi qua theo thứ tự Tại mỗi hoạt động, sản phẩm thu được một số giá trị nào đó và chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn Sau nhiều vụ vạch trần rau không nguồn gốc, rau màu trồng trong nhà lưới như một số nơi đang làm vẫn chưa được an toàn và sạch như quảng cáo, thì mô hình này tạo được niềm tin lớn vì trước hết là nó an toàn
Mô hình này được quy hoạch trên diện tích 1.500 mét vuông, có số vốn ban đầu khoảng một tỷ đồng Đặc điểm của cơ sở trồng dưa này là có hệ thống tưới nước, cung cấp dinh dưỡng, hệ thống phun nước làm mát, quạt gió, hệ thống điều hòa nhiệt độ và hệ thống nâng mái Tất cả đều được chạy chương trình tự động hằng ngày, ứng dụng công nghệ cao để kiểm soát nhiệt độ và quá trình phát triển của cây nên nguồn điện ở đây phải luôn đảm bảo 24/24 Hệ thống này được kết nối dữ liệu tự động với máy vi tính, có kết nối in-tơ-nét, được theo dõi trực tiếp bởi ông Khoa, cộng sự ở Việt Nam cùng với người kỹ sư hiện sống ở Úc, là con rể của ông Khoa, anh Nguyễn Thành Phong, ông Khoa và cộng sự ở Việt Nam cập nhật tình hình của cơ sở 24/24 và trao đổi thông tin với kỹ sư ở Úc Trong quá trình sản xuất, là người nông dân có tầm nhìn xa, ông chủ vườn La Văn Khoa cùng cộng sự còn tính toán đến nguồn điện thất thường ở nông thôn, nếu lỡ mất điện đột ngột sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của cây, thậm chí cây sẽ chết, cho nên cơ sở này có hệ thống cung cấp điện dự phòng Nước tưới cho cây cũng phải được lấy từ nguồn nước máy do Trung tâm Nước và Vệ sinh môi trường tỉnh Vĩnh Long cung cấp
Việc trồng dưa leo trong nhà kín này có hai ưu điểm có sức thuyết phục là: Thứ nhất, mô hình cho năng suất cao hơn mô hình trồng dưa theo cách phổ thông ở bên ngoài Ưu điểm của mô hình này là cây tăng trưởng nhanh, giảm tới 80% nhân công, sản phẩm thì có độ đồng đều cao [Huỳnh Trọng 2013].Với một lứa cây dưa leo Mai An Tiêm, thời gian tính từ lần thu hoạch đầu tiên đến lần thu hoạch cuối của cây đó là 2 tháng rưỡi, tức dài hơn khoảng 2 đến 3 tuần, so với thời gian tính từ lần thu hoạch đầu tiên đến lần thu hoạch cuối của của cây dưa leo bình thường Có được thời gian thu hoạch dài , cho nhiều lứa trái như vậy là nhờ cây dưa leo này được trồng trên giá thể mụn dừa (mụn dừa là xơ dừa được nghiền nhỏ, ủ chua và bắt đầu phân hủy), mụn dừa được người nông dân này thu gom ngay trong huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Thứ hai, mô hình này được quản lý, kiểm soát chặt chẽ đầu vào đầu ra, với đầy đủ thiết bị như trên nên cây dưa leo ở đây ít bị sâu bệnh hơn so với dưa leo trồng theo cách thông thường, không thuốc trừ sâu nên dưa leo sạch và an toàn Theo nhận xét của người dùng thì trái dưa leo này giòn và ngon hơn so với loại dưa thông thường được bày bán ở các chợ
Ngay từ vụ đầu, người chủ vườn năng động này đã tìm nhiều cách tiếp cận khách hàng như đưa dưa lên khu công nghiệp Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long Họ bán cho những công nhân tan tầm vào mỗi buổi chiều, giới thiệu về giống dưa được trồng theo công nghệ Úc, đảm bảo sạch 100% bằng cách ăn thử trước sự chứng kiến của mọi người Từ một người ăn thấy ngon, chấp nhận mua dưa sạch, thì dần dần nhiều người khác cũng mua theo Sau đó, dưa này được mang tới chợ Vĩnh Long và một số chợ khác tiêu thụ với giá gấp rưỡi giống thường Cuối cùng, giống dưa leo sạch này cũng được siêu thị Big C Cần Thơ bao tiêu toàn bộ với giá 13.000 đồng một ki- lô-gram, cao hơn dưa địa phương khoảng 4.000 đồng một ki-lô-gram Bằng việc tính toán lời lãi để rút kinh nghiệm, để làm nông nghiệp một cách khoa học hơn, theo ông Khoa chi phí cho mỗi đợt trồng dưa leo giống của Úc khoảng gần 35 triệu đồng, bao gồm tiền mua: giá thể mụn dừa, hạt giống, phân, thuốc… nhưng nếu bán theo giá thị trường tại các chợ thì chỉ thu được hơn 50 triệu đồng, còn tiền công chăm sóc và nhất là tiền điện, tiền nước… cũng mất khoảng 15 triệu đồng, tổng cộng gần 50 triệu Như vậy, sau khi trừ chi phí, chủ vườn chưa có lợi nhuận trong tháng đầu, nên mô hình này được cải thiện để chủ vườn có thu nhập cao hơn trong những vụ tới Nhìn thấy hiệu quả trong tương lai của mô hình này, gia đình ông Khoa có dự tính mở rộng diện tích để tăng số lượng nhằm bán cho các siêu thị trong và ngoài tỉnh
Trước tình hình biến đổi khí hậu của toàn cầu, mưa nắng thất thường cộng với việc ô nhiễm hóa chất trên đồng ruộng ở đồng bằng sông Cửu Long như hiện nay, vựa trái cây nức tiếng Tây Nam Bộ cũng đang chống chọi với thực phẩm bẩn, thì việc sản xuất rau màu theo công nghệ cao như mô hình này là một cách làm tích cực, cần được phổ biến cho các nông dân khác học hỏi để sản xuất sản phẩm nông nghiệp sạch tạo thành chuỗi giá trị theo hướng bền vững trong tương lai Cùng với dưa leo, cơ sở rau sạch Mai An Tiêm dự định tiếp tục ứng dụng công nghệ cao sẵn có của Úc để trồng cà chua, cà bi, cà tím, ớt Đà Lạt
Vai trò của tầm nhìn qua những mô hình sản xuất nhỏ của hộ nông dân
Người nông dân vùng Tây Nam Bộ kế thừa truyền thống làm nông nghiệp lâu đời, mang dấu ấn từ hoàn cảnh lịch sử của người Việt Nam “Số đông nông dân, diêm dân, người trồng rừng, thợ thủ công, chủ trang trại Việt Nam vẫn áp dụng hệ thống sản xuất quảng canh, quy mô nhỏ, lạc hậu; không ít nơi tuy trồng giống lúa mới nhưng vẫn là con trâu đi trước cái cày theo sau, tát nước bằng gầu, cuốc đất tay ; tuy nuôi lợn nhưng vẫn cho ăn bèo tây, cây chuối như hàng trăm năm trước Hệ thống sản xuất nhỏ khiến cho năng suất lao động trong sản xuất nông nghiệp dậm chân tại chỗ, tụt hậu rõ rệt so với mức tăng năng suất lao động chung trong toàn xã hội.” [Đặng Kim Sơn 2008: 51] Vì thế, người dân Tây Nam
Bộ mang trong mình tâm lý tiểu nông, đó là tâm lý của người sản xuất nhỏ, mang tính tự phát, manh mún, tự cung tự cấp “Tư duy manh mún tầm nhìn hẹp là biểu hiện đặc trưng của sự hiện diện tâm lý tiểu nông trong người lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh của nhà nước ta hiện nay, thể hiện trong quá trình định hướng, điều khiển và điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp cũng như trong cách giải quyết vấn đề mang tính chất chắp vá, chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt mà không tính đến chiến lược kinh doanh đã vạch trước.” [Lê Hữu Xanh 2005: 31]
Từ những năm đầu của thế kỷ hai mươi, cũng do kinh tế hàng hóa phát triển, giao lưu rộng rãi, người nông dân Nam Bộ sẵn sàng tiếp thu cái mới “Cũng như lao động, tư hữu là một mặt thuộc về bản chất của nông dân Trong nền kinh tế tự cấp tự túc, người nông dân dành dụm thu vén, có được chút ít của ăn của để là điều đáng thỏa mãn lắm rồi Ở Nam Bộ, kinh tế hàng hóa tương đối phát triển, tầm nhìn của nông dân rộng hơn, ảnh hưởng của giai cấp tư sản đối với nông dân cũng sâu sắc hơn.” [Phan Quang 2014: 476] Trong giai đoạn từ năm 1975 đến 1988, theo nhà nghiên cứu Dương Hồng Hiên thì những thay đổi quan trọng trong ngành nông nghiệp vùng Tây Nam Bộ là: Thứ nhất, người nông dân vùng Tây Nam Bộ đã chuyển từ nếp làm nông nghiệp quảng canh, tức là phương thức canh tác dựa vào việc mở rộng diện tích để tăng sản lượng, dựa vào tự nhiên là chính và chuyển từ nếp làm nông nghiệp làm một vụ lúa một năm, sang làm thâm canh tăng vụ Trong đó, có các vùng kinh tế mới nổi bật như Đồng Tháp Mười, vùng trũng rộng Tây Hậu Giang (từ kênh Xà No đến kênh Cái Sắn), vùng tứ giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau Thứ hai, sự chuyển đổi của vùng Tây Nam Bộ diễn ra rộng rãi, từ độc canh cây lúa sang bước đầu sản xuất toàn diện ở ba lĩnh vực là nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Cây dừa được trồng nhiều nơi, nghề nuôi tôm đem lại nguồn lợi mới cho người nông dân, một số nơi có rừng thì kết hợp trồng rừng ngập mặn với nuôi tôm Thứ ba, việc chuyển từ sản xuất cá thể phân tán sang bước đầu sản xuất tập thể với hình thức thích hợp, chủ yếu là tập đoàn sản xuất với cơ chế khoán sản phẩm ngày càng phù hợp, coi trọng việc gây phấn khởi và phát huy tính chủ động và tích cực của các hộ nông dân Thứ tư, các tỉnh, huyện đã chuyển từ chỉ đạo sản xuất kỹ thuật manh mún sang bước đầu chỉ đạo sản xuất theo quy hoạch, theo kế hoạch dài hạn và ngắn hạn, phân định rõ ràng các vùng sản xuất trọng điểm lúa, dừa, tôm, trồng rừng, để tập trung sức thực hiện đồng thời ba cuộc cách mạng, đổi mới cơ cấu sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao [Dương Hồng Hiên 1989: 91]
Từ năm 1986 đến năm 2000, nghề nông ở vùng Tây Nam Bộ nhìn chung không có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi nhanh và mạnh mẽ như giai đoạn từ năm 2001 đến hiện nay Vì sau đổi mới, đời sống rất khó khăn, nghề nông là công việc mà người nông dân cho rằng có thể “ăn chắc mặc bền, không lo bị đói” Họ vẫn tích cực tìm kiếm tri thức mới trong hy vọng vượt qua đói nghèo, nhưng không thoát khỏi tầm nhìn tiểu nông với lối tư duy cũ theo kiểu “trăm nghe không bằng một thấy” Khi chứng kiến người khác làm, đã thành công nhất định, họ mới mang những mô hình mới về làm Cho nên một khi thấy rõ cái lợi, nông dân liền hăng hái lao vào làm, sẵn sàng học hỏi áp dụng khoa học kỹ thuật canh tác tiến bộ, mở rộng gieo trồng các giống lúa năng suất cao, trồng những cây ăn quả tốt đặc sản của các vùng khác Việc chuyển đổi cây trồng vật nuôi, du nhập các giống cây ăn trái, heo, bò ngoại thực hiện ở đây tương đối dễ dàng Ngay trong chính cách ứng xử với nghề nông, người thất bại lại tìm cách thoát ly ruộng đồng, tình trạng ly hương ly nông vẫn diễn ra hằng ngày trong tiến trình hiện đại hóa và phát triển xã hội vùng Tây Nam Bộ Tiếp cận với thực tế, có thể thấy rằng có những người nông dân rất yêu nghề nông nhưng vẫn phải chuyển sang nghề khác dù có ước mơ làm người nông dân thành đạt Và tầm nhìn cuộc sống của họ không thoát khỏi câu chuyện cơm, áo, gạo, tiền nên họ phải làm công việc khác
Một dấu ấn của sự đổi mới trong nông nghiệp và phát triển nông thôn trong vùng Tây Nam Bộ là các công trình thủy lợi và hệ thống đê bao ngăn lũ được nhà nước và người dân cùng làm Từ đó, đã góp phần điều khiển lũ làm giảm ngập lụt, cải thiện môi trường sinh thái, mang lại hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp và chủ động trong thời vụ Các công trình thủy lợi và sự xuất hiện của máy cày, máy gặt đập liên hợp, lò sấy lúa đã làm biến đổi tập quán canh tác trong văn hóa nông nghiệp Thêm vào đó, sự xuất hiện của các giống lúa mới như giống lúa cao sản ngắn ngày có khả năng chống sâu bệnh và thích hợp với thời gian tránh lũ đã làm tăng diện tích trồng lúa Nhờ đó mà phong trào thâm canh tăng vụ phát triển nhanh chóng, từ việc chuyển đổi một vụ lúa nổi thành mô hình sản xuất lúa cao sản hai vụ, rồi sản xuất lúa ba vụ, mô hình canh tác kết hợp lúa với trồng tràm hoặc bạch đàn, canh tác lúa kết hợp màu Nhiều giống lúa có chất lượng cao được nghiên cứu du nhập vào Tây Nam Bộ đã làm thay đổi căn bản tập quán và quy trình sản xuất nông nghiệp của người nông dân như cách bón phân hóa học trong kỹ thuật thâm canh, tăng vụ
Nhắc đến sản xuất nhỏ ở vùng Tây Nam Bộ, có thể nói đến khu vực được dân gian gọi là miệt vườn gồm Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ, Tiền Giang và một phần của tỉnh Hậu Giang là vùng chuyên trồng các loại cây ăn trái đặc sản ngon, có tiếng vang trong cả nước Các vườn dừa ở Bến Tre được người nông dân trồng xen vào các loại cây khác như ca cao, hồ tiêu và nuôi tôm Sau đổi mới, trong các hộ gia đình làm kinh tế vườn ở Bến Tre đã xuất hiện mô hình xen canh đạt hiệu quả cao như: dừa – măng cụt, dừa – ca cao, dừa – cam – quýt, đồng thời người nông dân còn tận dụng mặt nước mương vườn để phát triển nuôi thủy sản để có thêm thu nhập
Hình 2.5: Ao nuôi cá tai tượng ở Phú Phụng, Chợ Lách, Bến Tre 5/2015 [ảnh:
Từ những kỹ sư nông nghiệp, các hộ nông dân xứ dừa Bến Tre đã học hỏi và áp dụng mô hình ba tầng ở vườn dừa gồm cây dừa, cây trồng xen và nuôi tôm ở dưới mương Đây là kỹ thuật trồng xen canh để lấy ngắn nuôi dài, rất cần thiết để có sản phẩm ngay từ năm đầu, vì hộ dân cần trả tiền đào mương, lên liếp đắp bờ, v.v Cách làm này được áp dụng liên tục năm năm liền cho đến khi thu hoạch dừa nên mỗi năm thu hoạch hai đến ba lứa trái Khi cây dừa mọc cao cũng vẫn thu hoạch được ba tầng mỗi năm: tầng dừa, tầng cây trồng xen và dưới mương nuôi tôm xuất khẩu Nhiều hộ chăn nuôi gia đình nuôi theo kiểu bán công nghiệp có quy mô khá và làm ăn có lời
Nhờ điều kiện tự nhiên có nhiều thuận lợi như sông Tiền Giang có nhiều nhánh, gần vàm biển mỗi nhánh khá rộng với bờ đất phù sa cao ráo, rất tốt để trồng đậu, trồng khoai, đặc biệt là trồng ruộng, trồng cau, trồng trầu, trồng dừa, các loại cây ăn trái Vì thế nên tỉnh Tiền Giang đã thực hiện chương trình kinh tế biển bao gồm khôi phục rừng ngập mặn, nuôi tôm và cá biển, nuôi tôm cá nước lợ và trong đồng; nuôi tôm kết hợp với làm ruộng muối, nuôi vịt ven biển, trồng lúa cao sản, dừa, hệ sinh thái dừa và cói, bàng làm nguyên liệu cho thủ công nghiệp và xuất khẩu Đồng thời với cách làm này, để có đầu ra cho người nông dân, tỉnh Tiền Giang đã xây dựng được nhà máy đông lạnh, chế biến tôm cá xuất khẩu, bột cá, nước mắm, chế biến các sản phẩm của dừa Chiến lược nông nghiệp của tỉnh này là xây nhà máy chế biến kết hợp với nuôi tôm, khôi phục rừng ngập mặn, và một loạt nhà máy công nghiệp như nhà máy đông lạnh, chế biến tôm cá xuất khẩu, bột cá, nước mắm, chế biến sản phẩm của dừa, kết hợp với du lịch nghỉ mát So với các tỉnh khác trong vùng Tây Nam Bộ thì Cà Mau là tỉnh làm được cả ba mô hình lâm – ngư – công nghiệp
“Vùng ven biển hiện nay đang có sự chuyển dịch cơ cấu trong nuôi trồng mạnh sang nuôi tôm, tuy nhiên những thất bại nuôi tôm đầu từ những năm 90 của thế kỷ 20 cũng cảnh báo trước về mức độ rủi ro lớn, trước hết đó là do môi trường nước và sau đó là chất lượng con giống Trong mấy năm gần đây, ở Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu nhân dân vùng ven biển phải phá đập, mở cống lấy nước mặn vào nuôi tôm Tạm thời nhiều nơi thu nhập của nông dân nuôi tôm cao hơn nhiều so với trồng lúa và yếu tố kích thích mở rộng vùng nuôi tôm.” [Bộ NN & PTNT 2002:
Theo tư liệu điền dã, tầm nhìn của người nông dân vùng Tây Nam Bộ được thể hiện qua cách nghĩ, cách làm phù hợp với điều kiện gia đình Theo Nguyễn Hiến Lê: “Không phải phấn đấu kịch liệt với thiên nhiên, với đồng loại mà người miền này cũng đủ ăn, ít khi phải lo tới ngày mai, nên tính tình chất phác, thuần hậu, nhân từ Nhưng, cũng vì hoàn cảnh quá thuận lợi mà người ta không biết phòng xa, không chịu gắng sức.” [Nguyễn Hiến Lê 1989: 141] Tầm nhìn của họ không phải là một hình dung phức tạp mà trước hết có thể chỉ ra tầm nhìn của nông dân đối với hoạt động trồng lúa một vụ tại các tỉnh, sản phẩm làm ra có thể một phần phục vụ cho nhu cầu lương thực của gia đình, một phần để bán như một nguồn huê lợi để trang trải các chi phí khác của hộ gia đình Sản phẩm nông dân làm ra để bán cho thị trường, từ đó có tiền trang trải cho sinh hoạt, mua lại từng cân gạo, từng ký đường để phục vụ nhu cầu cơ bản của gia đình Có nhiều hộ đã thoát nghèo, mua được thêm đất, lo cho con ăn học nhờ làm kinh tế nông nghiệp hiệu quả
Một khi có sự tiếp cận thông tin, thì tầm nhìn của người dân ngày càng mở rộng Bởi ngày nay, nông dân Tây Nam Bộ không chỉ biết làm luân canh, dùng màng phủ nông nghiệp mà còn biết kỹ thuật xử lý trái cây rải vụ hay xử lý trái cây nghịch mùa để hàng hóa bán được giá cao Điển hình thành công trong việc áp dụng kỹ thuật mới là việc 100% xã viên ở hợp tác xã xoài Mỹ Xương của tỉnh Đồng Tháp áp dụng biện pháp bao trái trên cây Với mô hình hợp tác xã kiểu mới, đã có 21 héc- ta xoài được cấp chứng nhận đạt chuẩn Globalgap, 33 héc-ta đất ở đây được cấp giấy chứng nhận mã số vùng trồng xoài xuất khẩu sang New Zealand Cuối mùa, hợp tác xã này đã thu mua 275 tấn xoài tươi của xã viên, đồng thời làm liên kết với doanh nghiệp để xuất khẩu xoài sang các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc và Hồng Kông
Hình 2.6: Nhà vườn Mỹ Xương, Đồng
Tháp thực hiện việc bao trái xoài đạt chuẩn GlobalGAP, 2013 [ảnh: Thúy
Hình 2.7: Vườn ổi Ngũ Hiệp, Tiền Giang được người nông dân áp dụng kỹ thuật bao trái trên cây Tháng 12/2015 [ảnh: Trăng Thanh]
Hình 2.8 a,b: Vườn nhãn Idor (giống được nhập từ Thái Lan) ấp Thuận Long và ấp
Phú Mỹ 2, xã Đồng Phú, Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Th 6/2016 [ảnh: Trăng Thanh]
Hình 2.9: giống dừa lùn, ở xã Thuận
Thới, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Hình 2.10: Mít siêu sớm, xã Ngũ Hiệp huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tháng 12/2014 [ảnh: Trăng Thanh]
Hình 2.11: Bò trắng được lai tạo từ giống bò nhập từ Pháp, ở xã Thuận
Thới, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Hình 2.12: Vườn nhãn xen canh với chanh, cóc, chuối ở ấp Phú Mỹ I, xã Đồng Phú, h Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tháng 6/2016 [ảnh: Trăng Thanh]
Hình 2.13: Bò được thả ăn cỏ ven đường ở Vĩnh Châu, Sóc Trăng 2014 [ảnh:
Hình 2.14: Nhãn tiêu da bò đang ra hoa ở ấp Phú Mỹ I, xã Đồng Phú, h Long
Hồ, tỉnh Vĩnh Long 2014 [ảnh: Trăng Thanh]
Sau khi đổi mới, nông nghiệp vùng Tây Nam Bộ vẫn dựa vào “tượng đài” cây lúa, nhưng người nông dân đã có thể tiếp cận nhiều giống cây hơn trước Ngoài trồng lúa, để có thêm cái ăn cho gia đình và tích lũy thì người Việt vùng Tây Nam
Bộ còn linh hoạt sử dụng phần đất vườn để trồng một số hoa màu ngắn ngày như rau, bắp, các loại đậu, dưa hấu, khoai mỡ, khóm… bằng các mô hình một lúa với một cây hoa màu, hoặc hai màu một lúa, hai lúa một màu Các hộ dân ở đây chuộng trồng trong vườn nhà các loại cây ăn trái như nhãn, bưởi, chuối, đu đủ, cam, chanh, măng cụt, vú sữa, xoài, mãng cầu ta, táo ta, ổi xá lị, sa-pô-chê với quan niệm mỗi thứ một ít và tận dụng đất, công sức lúc nông nhàn Một số hình thức sản xuất cho lợi cao như nuôi tôm, nuôi ba ba, trồng cây ăn trái đặc sản như bưởi Năm Roi ở Bình Minh Vĩnh Long, Bưởi Năm roi Phú Hữu Hậu Giang, xoài cát Hòa Lộc Tiền Giang, vú sữa Lò rèn Vĩnh Kim Tiền Giang, dâu Hạ Châu Cần Thơ, khóm Tắc Cậu Kiên Giang, Khóm Cầu Đúc Hậu Giang được người nông dân chú ý và trồng theo diện chuyên canh, họ rất mạnh dạn đổi mới, với quan niệm chọn giống cây hợp thổ nhưỡng và có giá trị kinh tế cao
Trong vườn nhà của nông dân, nông dân làm kết hợp kết hợp vườn cây ăn quả (V), ao cá (A), chăn nuôi (C), đây là mô hình áp dụng nhiều nơi trong vùng có sự linh hoạt, phù hợp với từng hộ nông dân Những nơi xứ ruộng, có mô hình kết hợp vườn cây ăn quả (V), ao cá (A), chăn nuôi (C), ruộng (R), tùy theo số nhân công (người lao động) và sự cần cù của các thành viên trong gia đình Người nông dân thiếu vốn tập cho mình “lấy ngắn nuôi dài” để kinh doanh tài nguyên đất đai và lao động của mình Trên liếp trồng cây dài ngày, họ trồng xen cây ngắn ngày để có thu nhập tạm thời, thí dụ trồng chuối giữa các gốc xoài, bưởi, cam mới đặt Những suy nghĩ như vậy chỉ xuất phát từ đầu óc biết kinh doanh, có tri thức kỹ thuật
Bảng 2.1: Phân loại mô hình nông nghiệp vùng Tây Nam Bộ qua hệ tọa độ K-C-T
Thời gian Chủ thể (đồi tượng) Không gian
- Xử lý trái nghịch mùa,
Kiểu vườn tạp – đất ít Quảng canh – đất rộng Thâm canh – diện tích xử lý rải vụ
- Tránh chăn nuôi trong điều kiện bất lợi, ví dụ mùa mưa giảm nuôi tôm thẻ, tôm sú mà nuôi tôm càng xanh biogas
Và nhiều mô hình khác
- Áp dụng khoa học kỹ thuật, ví dụ như: Trồng cây hoa thu hút thiên địch trên ruộng lúa nhất định, có đầu tư và kỹ thuật
Xen canh - phối hợp nhiều cây trồng trên cùng diện tích Điểm sáng của nông nghiệp vùng Tây Nam Bộ là nhà nước, nông dân, doanh nghiệp, nhà khoa học đã bắt đầu từ xác định các mặt hàng có lợi thế tương đối, có tổ chức nghiên cứu về sản xuất với ba sản phẩm chủ lực là lúa, trái cây và thủy sản Nhà doanh nghiệp lớn hay nhỏ đều quan tâm khâu chế biến và bảo quản mặt hàng, các tỉnh trong vùng Tây Nam Bộ được chính sách thuế ưu đãi các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư bên ngoài vào Tây Nam Bộ đầu tư sản xuất mặt hàng, có bước đầu tổ chức tìm thị trường và giữ thị trường, cung cấp thông tin thị trường, tổ chức sản xuất qui mô lớn bằng các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) hoặc trang trại
Tiểu kết chương 2
STT Nội dung minh họa Trang