1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chợ nổi đồng bằng sông cửu long từ góc nhìn văn hóa học

146 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chợ nổi đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn văn hóa học
Tác giả Đặng Thị Hạnh
Người hướng dẫn TS. Huỳnh Quốc Thắng
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 4,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (4)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (5)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (8)
  • 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiển (9)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu (9)
  • 6. Bố cục luận văn (10)
  • Chương 1............................................................................................................................... 11 (12)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (12)
      • 1.1.1. Khái niệm chợ và chợ nổi (12)
      • 1.1.2. Khái niệm văn hóa chợ và văn hóa chợ nổi (16)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (16)
      • 1.2.1. Một số điều kiện hình thành chợ nổi ĐBSCL (17)
      • 1.2.2. Đặc trưng của chợ nổi ĐBSCL (26)
      • 1.2.3. Các chợ nổi tiêu biểu (28)
  • Chương 2 GIÁ TRỊ VĂN HÓA CHỢ NỔI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (35)
    • 2.1. Văn hóa mua bán (36)
      • 2.1.1. Quảng cáo hàng hóa (36)
      • 2.1.2. Phương thức mua bán (38)
      • 2.1.3. Quy ước mua bán (39)
    • 2.2. Văn hóa tổ chức (40)
      • 2.2.1. Đời sống gia đình (40)
      • 2.2.2. Đời sống tập thể (45)
    • 2.3. Văn hóa nghệ thuật với chợ nổi (49)
      • 2.3.1. Văn học (49)
      • 2.3.2. Âm nhạc và sân khấu (52)
      • 2.3.3. Nhiếp ảnh, điện ảnh và hội họa (55)
  • Chương 3............................................................................................................................... 59 (60)
    • 3.1. Văn hóa chợ nổi trong quá khứ (60)
      • 3.1.1. Thời kỳ manh nha (61)
      • 3.1.2. Thời kỳ hình thành (63)
      • 3.1.3. Thời kỳ phát triển (63)
    • 3.2. Văn hóa chợ nổi trong hiện tại (65)
      • 3.2.1. Vai trò, vị trí của chợ nổi trong đời sống ĐBSCL (65)
      • 3.2.2. Văn hóa quản lý chợ nổi ĐBSCL hiện nay (69)
    • 3.3. Văn hóa chợ nổi trong tương lai (78)
      • 3.3.1. Xu thế và định hướng (78)
      • 3.3.2. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa chợ nổi (83)
  • KẾT LUẬN (11)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (11)
    • A. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT (91)
    • B. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI (98)
    • C. INTERNET (98)
    • D. CD – ROM (100)
  • PHỤ LỤC (101)

Nội dung

Trong các loại hình sinh hoạt đời thường của người dân đồng bằng sông Cửu Long, chợ nổi không chỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa, mà đó còn là một đặc trưng văn hóa đặc sắc của vùng.. Bà

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

-

ĐẶNG THỊ HẠNH

CHỢ NỔI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60.31.70

Người hướng dẫn khoa học:

TS HUỲNH QUỐC THẮNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DẪN NHẬP 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiển 8

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8

6 Bố cục luận văn 9

Chương 1 11

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

1.1 Cơ sở lý luận 11

1.1.1 Khái niệm chợ và chợ nổi 11

1.1.2 Khái niệm văn hóa chợ và văn hóa chợ nổi 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Một số điều kiện hình thành chợ nổi ĐBSCL 16

1.2.2 Đặc trưng của chợ nổi ĐBSCL 25

1.2.3 Các chợ nổi tiêu biểu 27

TIỂU KẾT 32

Chương 2 GIÁ TRỊ VĂN HÓA CHỢ NỔI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 34

2.1 Văn hóa mua bán 35

2.1.1 Quảng cáo hàng hóa 35

2.1.2 Phương thức mua bán 37

2.1.3 Quy ước mua bán 38

2.2 Văn hóa tổ chức 39

2.2.1 Đời sống gia đình 39

2.2.2 Đời sống tập thể 44

2.3 Văn hóa nghệ thuật với chợ nổi 48

2.3.1 Văn học 48

Trang 3

2.3.2 Âm nhạc và sân khấu 51

2.3.3 Nhiếp ảnh, điện ảnh và hội họa 54

TIỂU KẾT 58

Chương 3 59

VĂN HÓA CHỢ NỔI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 59

3.1 Văn hóa chợ nổi trong quá khứ 59

3.1.1 Thời kỳ manh nha 60

3.1.2 Thời kỳ hình thành 62

3.1.3 Thời kỳ phát triển 62

3.2 Văn hóa chợ nổi trong hiện tại 64

3.2.1.Vai trò, vị trí của chợ nổi trong đời sống ĐBSCL 64

3.2.2 Văn hóa quản lý chợ nổi ĐBSCL hiện nay 68

3.3 Văn hóa chợ nổi trong tương lai 77

3.3.1 Xu thế và định hướng 77

3.3.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa chợ nổi 82

TIỂU KẾT 85

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

A TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 90

B TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI 97

C INTERNET 97

D CD – ROM 99

PHỤ LỤC 100

PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ PHƯƠNG NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG BUÔN BÁN CHỢ NỔI ĐBSCL 100

PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ BÀI VIẾT VỀ CHỢ NỔI ĐBSCL 101

PHỤ LỤC 3: CHỢ NỔI ĐBSCL TRONG THƠ CA 121

PHỤ LỤC 4: MỘT SỐ TOUR DU LỊCH LIÊN QUAN CHỢ NỔI ĐBSCL 133

PHỤ LỤC 5: HÌNH ẢNH CHỢ NỔI ĐBSCL 137

Trang 4

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Đồng bằng sông Cửu Long nổi tiếng là xứ sở của ghe xuồng, của những vườn cây trái bốn mùa trĩu quả và đặc biệt đó còn là vựa lúa hàng đầu của cả nước Ngoài ra, trên dãy đất Đồng bằng sông Cửu Long có các dân tộc Việt, Hoa, Chăm, Khmer… cùng sinh sống, tạo nên bức tranh văn hóa đặc sắc vừa thống nhất, vừa đa dạng Với môi trường tự nhiên sông nước với hệ thống sông rạch chằng chịt, Đồng bằng sông Cửu Long có đầy đủ các đặc trưng của vùng văn hóa sông nước

Trong các loại hình sinh hoạt đời thường của người dân đồng bằng sông Cửu Long, chợ nổi không chỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa, mà đó còn là một đặc trưng văn hóa đặc sắc của vùng Chợ không chỉ là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa, mà chợ còn thể hiện trình độ phát triển của xã hội, của người dân địa phương Đặc biệt hơn nữa, chợ còn thể hiện những nét văn hóa riêng của con người, của vùng đất nơi đây Nhà triết gia người Ý Malaparte trước đây đã từng viết: “ Tôi yêu chợ Vì chợ là viện bảo tàng, chợ là viện hàn lâm Thiết nghĩ sự hiểu biết về những viện bảo tàng, viện hàn lâm của thành phố là điều bổ ích biết bao ”1 Chợ nổi là một trong những vấn

đề được nhiều người quan tâm khi đề cập đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long Với nhiều người,tham quan chợ nổi là một kỳ thú2 khi đến Đồng bằng sông Cửu Long Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long là đối tượng nghiên cứu và xem đó là một cách thức để hiểu thêm về vùng đất, về cuộc sống và con người vùng sông nước Đồng bằng sông Cửu Long

Hiện nay, chợ nổi đã trở thành một trong những điểm đến không thể thiếu trong các chương trình tour tham quan du lịch Đồng bằng sông Cửu Long Trước một số khó khăn trong vấn đề quản lý thì việc phát triển chợ nổi như thế nào để chợ nổi vừa là trung tâm trung chuyển hàng nông sản, trái cây của vùng, vừa là địa chỉ

du lịch hấp dẫn thật sự là một trong những trăn trở đối với các ban ngành, địa phương và đối với các nhà nghiên cứu… Được nghiên cứu, tìm hiểu về chợ nổi

1 [Phạm Côn Sơn 2000: Từ điển Du lịch dã ngoại, tr 408]

2 Dẫn theo clip “Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn” trên trang web www.youtube.com/watch

Trang 5

Đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn văn hóa học là một thôi thúc đối với chúng tôi khi nghiên cứu về Đồng bằng sông Cửu Long

Vì vậy, từ góc nhìn văn hóa học, chúng tôi chọn chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long là đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn góp một phần nhỏ công sức của mình vào những mục tiêu, ý nghĩa nói trên

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu, một số bài viết trên các báo, tạp chí và trong các buổi hội thảo, tọa đàm… Dù dưới góc độ nào, chợ nổi cũng được phản ánh như là một nét văn hóa tiêu biểu của vùng sông nước Tây Nam bộ Đặc biệt, từ góc độ du lịch, chợ nổi được quan tâm, chú ý và được xem là một trong những tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Bàn về đặc điểm văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long, chợ nổi cũng là một trong những vấn đề được đông đảo các nhà nghiên cứu chuyên và không chuyên quan tâm và xem chợ nổi như là nét sinh hoạt độc đáo của người dân nơi đây Các phương tiện thông tin đại chúng như báo, tạp chí, internet đã viết rất nhiều

về chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long Nhưng hầu hết chúng đều là những bài viết ngắn gọn, tập trung giới thiệu, mô tả về hoạt động buôn bán và sinh hoạt ở chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long Một số công trình nghiên cứu văn hóa Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long có đề cập đến chợ nổi:

Năm 2002, Bảo tàng Cần Thơ đã thực hiện Báo cáo Khoa học cấp Quốc gia với đề tài “Chợ nổi (huyện Phụng Hiệp – Cần Thơ)” với bài nghiên cứu khoa học

và bộ phim tài liệu dài 35 phút Đề tài đã thu hút sự quan tâm của khá nhiều nhà nghiên cứu của tỉnh Bằng cách viết và góc độ cảm nhận khác nhau, nhưng họ cùng gặp nhau ở sự yêu mến đặc biệt đối với cách thức mua bán độc đáo này Các bài nghiên cứu trong báo cáo đã thể hiện khá rõ đặc điểm, tính chất và những vấn đề liên quan đến chợ nổi Phụng Hiệp nói riêng và chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long nói chung

Trong năm 2004, 2005 và 2006, công trình“Nam Bộ Đất và Người” (tập II, III, IV) do Hội Khoa học Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh xuất bản có một số bài nghiên cứu liên quan đến chợ nổi như: “Ghe xuồng ở Nam Bộ”của nhà nghiên cứu

Trang 6

Nguyễn Thanh Lợi (tập III); “Chợ nổi – Nét đẹp “văn hóa sông rạch” ở Cần Thơ”

của Trần Nam Tiến (tập II); “Phát triển “Văn hóa – Văn minh sông nước miệt vườn” ở Cần Thơ” của Nguyễn Thị Thúy Liễu (tập IV); “Du lịch sinh thái Đồng bằng sông Cửu Long” của nhà nghiên cứu Hồ Hữu Nhật (tập IV); “Kết hợp phát triển kinh tế du lịch với việc bảo tồn văn hóa truyền thống ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” của Trần Văn Phương (tập IV) Các bài viết này đã nhận định chợ

nổi miền Tây Nam bộ “là một phương thức sinh hoạt kinh tế nhưng lại mang đậm dấu ấn của văn minh sông nước; là bức tranh đầy những gam màu sống động của vùng sông nước ở miền nhiệt đới” [Nam Bộ Đất và Người (III) 2005: 569]

Năm 2004, trong “Việt Nam nơi chốn bình yên - A peaceful land with 1001 places for tour” do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành, hình ảnh chợ nổi Cái Răng, Cái Bè, Trà Ôn, Long Xuyên, Phụng Hiệp, Phong Điền, Ngã Năm được đề cập, giới thiệu là một trong những điểm tham quan hấp dẫn khi du lịch đến Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng [Mai Thời Chính 2004: 248,

826, 870, 883, 889, 895]

Gần đây nhất, năm 2009, tác giả Nhâm Hùng - sau bao năm ấp ủ với đề tài -

đã xuất bản công trình“Chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long”.Công trình là kết quả của một quá trình nghiên cứu lâu dài với bao tâm huyết và say mê của một người con nơi vùng đất này dành cho chợ nổi quê hương tác giả Huỳnh Quốc Thắng trong lời giới thiệu quyển sách này, đã viết: “Cuốn sách này có thể xem là một trong những công trình đầu tiên đề cập đến chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long bằng cái nhìn tương đối toàn diện… Tuy dung lượng cuốn sách không thật dày nhưng với nhiều mục, tiểu mục bằng những tiêu đề ngắn gọn, có sức khái quát cao cùng những

nội dung cô đọng trình bày các khía cạnh khác nhau của “Chợ nổi Đồng bằng sông

Cửu Long”…, công trình đã đủ sức giúp người đọc có thể bước đầu hình dung khá

rõ nét về “văn hóa chợ nổi” (Đồng bằng sông Cửu Long)” [Nhâm Hùng 2009: Lời

giới thiệu] Công trình này là nguồn tư liệu rất quý báu đối với chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Ngoài ra, một số bài viết về chợ nổi đăng trên một số báo, tạp chí như Sài Gòn Giải Phóng, Du lịch, Văn hóa thông tin… cũng đề cập đến chợ nổi:

Trang 7

Chợ nổi là một nét văn hóa độc đáo của miền Tây Nam bộ có các bài viết

Chợ nổi – nét văn hóa sông nước Nam bộ” (Hoài Hương), “Chợ nổi – Nét đẹp miền Tây Nam bộ” (Trần Thanh Bình), “Hồn chợ nổi” (Hoài Phương), “Chợ nổi và sông nước miệt vườn” (Phù Sa Lộc)…

Đặt chợ nổi qua cách nhìn nhận và đánh giá của du khách nước ngoài có các bài viết“Chợ nổi miền sông nước dưới mắt du khách nước ngoài” (Huỳnh Thị Thùy Dung), “Cuộc sống sông nước ĐBSCL dưới con mắt của các nhiếp ảnh gia nước ngoài”(Hoàng Hiếu)

Đi vào cuộc sống mưu sinh của một bộ phận người buôn bán và sinh sống trên sông có bài viết “Chợ nổi trên sông Hậu” và “Lái trái cây ở chợ nổi” (Kiều Chinh)…

Qua các bài viết, chúng tôi nhận thấy được đề cập nhiều nhất là chợ nổi Cái

Bè (Tiền Giang) và chợ nổi Cái Răng, Phụng Hiệp (Cần Thơ – Hậu Giang) Trong

số tài liệu từ báo, tạp chí, internet mà chúng tôi sưu tầm được, phần lớn đều viết về các chợ nổi này với cách nhìn nhận chợ nổi là một trong những nét độc đáo của miền sông nước ĐBSCL

Trang Tuổi trẻ online từ ngày 02/8/2007 đến ngày 05/8/2007 đăng ký sự đồng bằng “Đời thương hồ3” do Quốc Việt và Tấn Đức thực hiện, gồm 4 kỳ: Gạo chợ nước sông; Những phiên chợ nổi; Chuyện tình sông nước và Ước mơ trên sông

Tiếp theo, báo điện tử Vietbao ngày 25/12/2007, 27/12/2007, ngày 06/01/2008 và ngày 13/01/2008 đăng bài phóng sự (4 kỳ) về cuộc sống của người dân ở thành phố Cần Thơ của tác giả Bảo Trung Trong đó, 2 kỳ Lênh đênh chợ nổi 4Khốn khổ đời thương hồ đã tập trung đi vào cuộc sống của những người buôn bán tại chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ) Nhìn chung, các bài phóng sự này đã miêu tả khá đầy đủ về cuộc sống buôn bán và sinh hoạt tại chợ nổi Qua đó, người xem có thể hiểu thêm

về cảnh đời và những khó khăn trong cuộc mưu sinh của những người buôn bán, sinh sống trên sông nước

Trang 8

Các đài truyền hình cũng có một số phim tài liệu về đề tài chợ nổi Ngày 26/12/2008, trong chuyên mục Đời sống xã hội, Đài Phát thanh Truyền hình Vĩnh Long đã phát sóng phóng sự chuyên đề “Nỗi niềm thương hồ miền Tây”, giúp cho người xem có cái nhìn gần hơn về cuộc sống của những người buôn bán trên sông

Bên cạnh đó, báo chí nước ngoài cũng đề cập đến chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long Năm 2001, trên tạp chí Ottawa Citizen (Canada), tác giả Peter Emberley

đã có bài viết về cuộc sống của người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long Trong

đó, tác giả cũng đề cập đến chợ nổi

Thuyền ghe tấp nập với hàng núi trái cây bồng bềnh trên sông, dưới ánh bình minh, là hình ảnh về chợ nổi Cần Thơ được phóng viên Mỹ ghi lại trên tờ Los Angeles Times 5 Bài viết đã đánh giá chợ nổi là một trong những điểm thu hút nhất của thành phố Cần Thơ

Ngoài ra, phần lớn là các bài viết về một số chợ nổi ở An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Cà Mau… được đăng tải trên báo, tạp chí, internet của các nhà nghiên cứu không chuyên, các học giả, các nhà báo và những người quan tâm yêu thích

Nhìn chung, hầu hết các bài viết của các nhà nghiên cứu (lẫn các nhà nghiên cứu không chuyên) chỉ tập trung mô tả hoặc khái quát về chợ nổi thông qua việc đánh giá, nhận xét văn hóa Nam Bộ và nhìn từ góc độ du lịch văn hóa Phần lớn các bài viết đều giới thiệu và xem chợ nổi đồng bằng sông Cửu Long là một điểm tham quan hấp dẫn đối với khách du lịch khi đến đồng bằng sông Cửu Long

Vì vậy, nghiên cứu về Chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn văn hóa họclà một đề tài hấp dẫn và lý thú đối với chúng tôi

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu : Chợ nổi là một trong những ấn tượng độc đáo của vùng sông nước Đồng bằng sông Cửu Long Không chỉ là hoạt động buôn bán đơn thuần của loại hình chợ trên sông nước, chợ nổi còn có những nét văn hóa (vật thể và phi vật thể) đặc sắc đã tồn tại hàng trăm năm nay Thực hiện luận văn “Chợ nổi đồng bằng sông Cửu Long từ góc nhìn văn hóa học”, chúng tôi tập trung nghiên cứu các

5 Dẫn theo bài viết trên trang web http://vnexpress.net/GL/The-gioi/Anh/2010/08/3BA1EBF5/

Trang 9

giá trị văn hóa (vật thể và phi vật thể), quá trình hình thành và phát triển, và vai trò của chợ nổi

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trường hợp chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang) và chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ) – hai chợ nổi nổi tiếng nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay Đồng thời, đây cũng là các chợ nổi được đề cập đến nhiều nhất trong nguồn tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được trong quá trình thực hiện luận văn

Về mặt thời gian : Thông qua nguồn tư liệu có được, chúng tôi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long Đặc biệt, chúng tôi chú trọng mốc thời điểm sau năm 2000 đến nay vì đây là khoảng thời gian chợ nổi và hoạt động quản lý chợ nổi nhận được quan tâm, chú ý của chính quyền địa phương và các nhà nghiên cứu với những biện pháp di dời nhằm bảo đảm cho hoạt động mua bán… Đồng thời, đây cũng là khoảng thời gian du lịch Đồng bằng sông Cửu Long phát triển, kèm theo đó là chợ nổi được đưa vào trong các tour du lịch về miền Tây Nam bộ, nên sức lan tỏa và danh tiếng của chợ nổi càng được nhiều người biết đến

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiển

Về khoa học, luận văn trình bày khái niệm chợ và chợ nổi, văn hóa chợ và văn hóa chợ nổi

Về thực tiễn, luận văn đóng góp một phần nhỏ trong việc giới thiệu cụ thể hơn về chợ nổi từ khía cạnh giá trị văn hóa và nêu một vài suy nghĩ về vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của chợ nổi - một loại hình sinh hoạt giao thương đặc sắc của vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số phương pháp sau: Phương pháp hệ thống và liên ngành giúp nhận diện đối tượng nghiên cứu một cách hệ thống trong bối cảnh không gian, thời gian và chủ thể văn hóa Bên cạnh đó, để tiếp cận đối tượng, luận văn cũng đã sử dụng kết quả của các ngành khoa học khác như xã hội học, văn học, sử học, du lịch học… để làm nổi bật các giá trị văn hóa của chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 10

Phương pháp so sánh nhằm so sánh chợ nổi với các loại hình chợ trên bờ, đối chiếu quá trình phát triển của chợ nổi từ khi manh nha cho đến ngày nay Qua đó nhìn thấy được vai trò, vị trí của chợ nổi trong đời sống văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long

Phương pháp khảo sát thực địa nhằm tìm hiểu hoạt động buôn bán của chợ nổi và sinh hoạt của người buôn bán trên chợ Qua đó đưa ra một số giải pháp để giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn tư liệu: Bên cạnh các bài viết có liên quan về đề tài như tài liệu về văn hóa, văn hóa học, sử học, văn học, du lịch, tài liệu trên mạng internet…, người thực hiện luận văn đã cố gắng tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa học liên quan, kết hợp với các kết quả từ điều tra, khảo sát, tiếp xúc trực tiếp với thực tế

lý luận, luận văn sẽ khái quát về sự hình thành, đặc trưng của chợ nổi và giới thiệu một số chợ nổi tiểu biểu của Đồng bằng sông Cửu Long

Chương Hai: “Giá trị văn hóa chợ nổi đồng bằng sông Cửu Long” Với dung lượng 25 trang, gồm những nội dung về các giá trị văn hóa của chợ nổi thể hiện trong văn hóa trao đổi hàng hóa; văn hóa tổ chức đời sống, văn hóa-nghệ thuật trong quan hệ với chợ nổi …

Chương Ba: “Văn hóa chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình phát triển” gồm có 28 trang Chương này đề cập đến văn hóa chợ nổi trong quá khứ, hiện nay Từ đó, thông qua xu thế và định hướng về văn hóa chợ nổi trong tương lai, luận văn đưa ra một số đề xuất về giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa chợ nổi

Trang 11

Kết luận: gồm 3 trang, khẳng định lại vai trò và ý nghĩa của chợ nổi đối với đồng bằng sông Cửu Long

Tài liệu tham khảo: có dung lượng 10 trang, gồm tài liệu tiếng Việt, tiếng nước ngoài, Internet và CD-ROM

Phần phụ lục: 46 trang, gồm 5 phần: Một số phương ngữ liên quan đến hoạt động buôn bán chợ nổi; Một số bài viết về chợ nổi; Chợ nổi qua thơ ca; Một số tour

du lịch liên quan chợ nổi; và Hình ảnh chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm chợ và chợ nổi

Chợ ra đời từ rất sớm trong lịch sử loài người, khi mà con người đã sản xuất được hàng hóa, mang đi trao đổi, lấy một loại hàng hóa khác

“Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên đã đưa ra định nghĩa về chợ

như sau: “Chợ là nơi công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày, buổi nhất định” [Hoàng Phê (cb) 1992: 181]

“Từ điển Bách khoa Toàn thư” đề cập một cách khái quát và khá đầy đủ về tính chất, đặc điểm, vai trò của khái niệm “chợ”: “Chợ là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu các loại hàng hóa, dịch vụ, vốn; là nơi tập trung hoạt động mua bán hàng hóa giữa người sản xuất, người buôn bán, người tiêu dùng Qui mô, tính chất của chợ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế Chợ có vai trò chủ yếu là nơi tiêu thụ hàng hóa, đồng thời có ảnh hưởng kích thích ngược lại đối với sản xuất Vùng miền núi, chợ còn là nơi sinh hoạt văn hóa các đồng bào dân tộc Qui mô, tính chất của chợ rất đa dạng; có chợ quê tự sản, tự tiêu; có loại chợ mang tính chất khu vực hay một vùng rộng lớn Thông thường mặt hàng buôn bán ở chợ rất phong phú, nhiều loại Nhưng cũng có chợ chỉ mua bán những mặt hàng nhất định như chợ trâu bò, chợ gạo, chợ vải, Tùy theo địa điểm và nhu cầu, chợ có thể họp hàng ngày nhưng cũng có chợ chỉ họp theo phiên nhất định trong tháng Vì vậy có thể xem chợ là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của một địa phương” [Trung tâm Biên soạn Từ điển Bách Khoa VN 1996: 486]

Trong ngôn ngữ Việt Nam, khái niệm chợ thường có thêm một số từ kèm theo để chỉ loại hình hàng hóa, hình thức sinh hoạt, tính chất, địa điểm họp… của chợ [Lê Thị Mai 2004: 41] Dựa vào các tiêu chí này, chợ có thể được phân chia thành nhiều loại hình khác nhau:

Trang 13

Tiêu chí phân loại Loại hình chợ

- Chợ chiều

- Chợ hôm, chợ đêm

- Chợ phiên

- Chợ hiện đại (siêu thị)

-Chợ trên sông (chợ nổi)

- Chợ xã (chợ liên làng)

- Chợ huyện (liên xã)

- Chợ thị trấn

- Chợ thị xã Theo tính chất, quy mô trao đổi

Bảng 1 Bảng phân loại loại hình chợ

Tùy theo các vùng, miền khác nhau trên khắp đất nước, mỗi ngôi chợ có màu sắc, đặc điểm riêng, nói lên nét độc đáo của văn hóa chợ Việt Nam Ngày nay, hoạt động mua bán ở các chợ diễn ra sôi nổi suốt cả ngày, từ sáng sớm tinh mơ cho đến

cả rạng sáng ngày hôm sau

Khi tham khảo một số từ điển như “Từ điển Tiếng Việt” (1992) do Hoàng Phê chủ biên, “Từ điển Việt – Hán” (1992) do Đinh Gia Khánh hiệu đính… chúng tôi chỉ tìm được các định nghĩa về khái niệmchợvà những khái niệm liên quan như

“chợ búa”, “chợ chiều”, “chợ đêm”, “chợ trời”, “chợ phiên”… Về khái niệm “chợ nổi”, các từ điển này không đề cập đến

Theo tác giả Nhâm Hùng, thật ra, “khái niệm“chợ nổi”chỉ xuất hiện khoảng

ba mươi năm gần đây… Khi các nhà nghiên cứu để mắt tới, cũng như sự hấp dẫn

Trang 14

của cung cách mua bán trên mặt sông, thu hút ngày càng nhiều tour du lịch, lúc ấy

mô hình chợ nổi mới được đề cập nhiều” [Nhâm Hùng 2009: 21]

Đề cập đến chợ nổi ĐBSCL, nhiều bài viết trên các trang website đã đưa ra những cách hiểu khá tương đồng như sau: “Sở dĩ chợ nơi đây được gọi là chợ nổi vì chợ không họp ở gần nơi đông đúc dân cư mà lại họp ở trên sông, giữa một vùng sông nước bao la với hàng trăm chiếc ghe, xuồng tụ họp mua bán tấp nập Điều khác lạ của những ngôi chợ này xuất phát từ chính vị trí địa lý của vùng đất này Vùng Đồng bằng sông Cửu Long vốn là một vùng đất phù sa, được bồi đắp quanh năm bởi hai con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu Vì tập quán sống trên sông nước, di chuyển chủ yếu bằng ghe thuyền, nên chợ cũng được tổ chức ngay chính trên sông” [Thanh Nguyên: web]; “Chợ nổi là nét sinh hoạt độc đáo của vùng châu thổ sông Cửu Long Chợ họp trên sông, giữa một vùng sông nước bao la là hàng trăm, hàng nghìn chiếc ghe, xuồng của dân miệt vườn miền Tây Nam bộ về đây tụ tập mua bán” [Cuộc sống Việt: web]; “Chợ nổi là một loại hình chợ thường xuất hiện tại vùng sông nước được coi là tuyến giao thông chính Nơi cả người bán và người mua đều dùng ghe hoặc thuyền làm phương tiện vận tải và di chuyển Địa điểm có chợ nổi thường tại các khúc sông không rộng quá mà cũng không hẹp quá Khúc sông phải tương đối rộng, không cạn quá mà cũng không sâu quá Nếu sông sâu quá, lớn quá thì không thể neo đậu ghe, xuồng một cách dễ dàng và rất nguy hiểm” [Wikipedia: web] v.v

Từ một số cách hiểu này, chúng tôi đưa ra định nghĩa ngắn gọn và khái quát

về chợ nổi như sau:“Chợ nổi là hình thức mua bán trên mặt nước”

Để làm rõ định nghĩa trên, chúng ta có thể nêu khái quát các yếu tố để phân loại và so sánh giữa chợ trên bờ và chợ nổi theo bảng sau đây:

Trang 15

Tính chất

phân loại

Chợ (trên bờ) Chợ nổi

Khu vực Miền Bắc, Trung, Nam Miền Tây Nam Bộ (ĐBSCL )

Đặc điểm vị trí Trên bờ; thành thị/nông

thôn; đồng bằng/miền núi

Trên sông, kênh rạch

Đặc điểm hình

thành

Nơi tập trung đông dân cư Trung tâm của các tuyến sông, kênh rạch

Thời gian họp Cả ngày/Theo phiên - Từ rạng sáng đến khoảng 9-10 giờ trưa

- Theo con nước lên/xuống

nông sản, chợ vải…)

Chuyên về một số loại hàng hóa (như trái cây, nông sản)

Tất cả các sản vật từ ruộng, rẫy, vườn… và hàng hóa gia dụng thiết yếu, hàng thủ cộng mỹ nghệ…

Không gian để

hàng hóa

-Trong nhà lồng chợ, sạp hàng, kệ bày bán hàng hóa -Xe đẩy

-Trên ghe, xuồng, thuyền, sà-lan…

Xe cơ giới/thô sơ Ghe, xuồng, đò

Phương tiện đi

lại

Xe gắn máy/Xe đạp/Đi bộ Đò, ghe, xuồng, tàu du lịch…

Giá cả -Theo giá thị trường -Theo thị trường

-Tùy thuộc vào giá cả thu mua tại nhà vườn, thương lái

Vị trí bán Không cố định -Không cố định (ghe nào vào trước thì chọn

được nơi đậu)

Phương thức

mua bán

-Sỉ và lẻ -Theo chục, ký -Chủ yếu là bán sỉ (bán buôn) -Sang chuyến (ghe qua ghe)

-Theo giỏ, cần xé, chục, thiên hoặc bán mão…

Nguyên tắc

mua bán

-thuận mua, vừa bán -nói thách (nhiều khi “coi mặt người mua để ra giá”) -có “bán chịu”, “cho thiếu”

(đối với khách quen) -có thể đổi/trả lại

-thuận mua, vừa bán -không nói thách -không “mua chịu”, “bán chịu”, “thiếu nợ” -không đổi/trả lại (do tính chất của hàng hóa)

Bảng 2 Bảng so sánh chợ (trên bờ) và chợ nổi

Trang 16

1.1.2 Khái niệm văn hóa chợ và văn hóa chợ nổi

Ngày nay, thuật ngữ “văn hóa chợ” được đề cập nhiều trong cuộc sống hàng ngày và trên các phương tiện thông tin đại chúng

Nói đến văn hóa chợ “là nói đến khía cạnh giá trị liên quan phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hóa nghệ thuật, đời sống kinh tế - xã hội… mang nét đặc trưng sinh thái vùng, miền, địa phương và đặc điểm bản sắc văn hóa tộc người”… Trong đó, ““văn hóa chợ” hiện đại chủ yếu thể hiện ở tính công nghiệp-hiện đại trong “dây chuyền công nghệ” tổ chức sản xuất mua bán, ở phong cách (con người) mua bán, ở điều kiện vật chất-kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ mua bán và cả hàng

hóa, sản vật được “đóng gói”, trưng bày ra khi mua bán… Nhìn chung, chợ hiện đại với các đặc điểm như vậy sẽ tạo ra phong cách “quốc tế hóa” với nghĩa nó thường “na ná” giống nhau ở khắp nơi Ngược lại, “văn hóa chợ” truyền thống

luôn là nơi thể hiện tốt nét văn hóa truyền thống, nơi bảo tồn những vốn di sản văn hóa (vật chất và tinh thần) với các vốn “đặc sản” của các cộng đồng địa phương

Do vậy, mỗi ngôi chợ thường là mang nét riêng độc đáo, một “bản sắc” văn hóa đặc thù nhất định [Huỳnh Quốc Thắng 2010: 1]

Điều này cho thấy, dù các loại hình chợ hiện đại như cửa hàng, trung tâm mua sắm, siêu thị có hiện đại và tiện lợi đến đâu thì chợ truyền thống sẽ vẫn và luôn có một vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa ngày nay

Về khái niệm văn hóa chợ nổi, từ định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm, chúng tôi cho rằng văn hóa chợ nổi là các giá trị văn hóa (vật thể và phi vật thể) được hình thành từ nếp sống, thói quen trong hoạt động của chủ thể người mua và bán trên sông, thể hiện qua phương thức và quy ước mua bán, tổ chức đời sống…

1.2 Cơ sở thực tiễn

Khái niệm “Đồng bằng sông Cửu Long” (ĐBSCL) được phổ dụng rộng rãi

từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai cho đến nay ĐBSCL là vùng đất miền Tây Nam Bộ, nơi có sông Tiền, sông Hậu và các chi lưu nhỏ của sông Mê Kông chảy ra biển mà nhân dân ta từ xưa quan niệm là chín con rồng (Cửu Long) phun nước để tưới vùng đất đai này [Lê Anh Trà (cb) 1984: 54] Chúng tôi sử dụng thuật ngữ ĐBSCL cho tên đề tài luận văn “Chợ nổi ĐBSCL từ góc nhìn văn hóa học” nhằm nhấn mạnh đến vai trò đặc biệt quan trọng của sông Mê Kông trong nguồn gốc

Trang 17

hình thành hệ thống sông ngòi, kênh rạch và hình thức sinh hoạt chợ nổi ở miền Tây Nam bộ

1.2.1 Một số điều kiện hình thành chợ nổi ĐBSCL

Khi nghiên cứu về điều kiện hình thành của chợ nổi ĐBSCL, chúng tôi đã tiếp cận được nhiều nguồn tài liệu khác nhau Trên cơ sở phân tích, thống kê, chúng tôi nhận thấy có 3 nguyên nhân chính dẫn đến sự hình thành kiểu cách họp chợ trên sông thường thấy ở ĐBSCL Đó là môi trường sông nước với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt; nền kinh tế hàng hóa và nền nông nghiệp phát triển

1.2.1.1 Môi trường sông nước với hệ thống sông ngòi, kênh rạch

chằng chịt

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu về ĐBSCL, đây là một vùng đất mênh mông sông nước, kênh rạch chằng chịt, với hơn 700 km bờ biển, khoảng 28.000 km sông ngòi, hàng ngàn km kênh đào với hàng trăm cù lao, cùng chín cửa sông đưa nước

ra biển tạo thuận lợi cho cuộc sống của người dân nơi đây Chính đặc điểm này mà

từ lâu, nhiều nhà nghiên cứu đã gọi ĐBSCL là “xứ sở kênh rạch”, “văn minh kênh rạch”… Sơn Nam trong “ĐBSCL -Nét sinh hoạt xưa & Văn minh miệt vườn” đã

viết: “Đường sông, đường biển là huyết mạch Ngoài sông Tiền, sông Hậu với nhiều nhánh nhóc ăn thông vào lung, bào, láng (đất thấp, tù đọng) nên kể thêm nhiều rạch (hoặc gọi là xẻo) bắt nguồn từ rừng U Minh Thượng hoặc U Minh Hạ chảy ra biển phía Tây Đồng bằng là quê hương của kiểu “văn minh sông rạch” khá độc đáo” [Sơn Nam 2004: 30] Trong công trình nghiên cứu “Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam”, Ngô Đức Thịnh cũng cho rằng: “Người ta vẫn

mệnh danh Nam Bộ là xứ sở của văn minh kênh rạch Kênh rạch tạo thành hệ thống chằng chịt bám chặt vào mọi nẻo của cả vùng, nó quy định nhịp điệu làm ăn, làm gì, đi đâu, thậm chí thờ cúng, vui chơi người ta cũng tùy thuộc vào con nước lên hay ròng” [Ngô Đức Thịnh 1993: 292-293]

Thật ra, ở vùng sông nước ĐBSCL, vấn đề giao thông đường thủy đã được quan tâm, chú ý ngay từ xa xưa “Đời Gia Long và Minh Mạng, vua và các quan đã nhận rõ vai trò quan trọng của kênh đào đối với miền Tiền Giang và Hậu Giang” [Sơn Nam 1994: 270] Bởi vì, “đào kênh thì đất ráo phèn, ruộng nương dễ khai

Trang 18

phá, dân chúng thích quy tụ ở nơi “sông sâu nước chảy”” Một số kênh đào lớn giai đoạn này gồm có kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế, nối vịnh Xiêm La qua Hậu Giang

để lên Mỹ Tho, Chợ Lớn, Sài Gòn

Đến thời Pháp thuộc, hệ thống kênh đào ở ĐBSCL được nhân rộng với kỹ thuật dùng xáng để nạo vét Ngay từ đầu, người Pháp đã nhận thấy được tiềm năng của Nam bộ Báo cáo của viên Đô đốc Rigault de Genouilly trước khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn tháng 02/1859 đã ghi nhận như sau: “Khí hậu các tỉnh này tương đối tốt, đất màu mỡ, nuôi được dân địa phương và sản xuất có thừa để bán đi Trung Quốc… sông rạch chằng chịt và sự lưu thông thương mại dễ dàng” [Lê Minh 1984: 13]

Nhìn thấy được tiềm năng lớn của vùng đất “có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao” như vậy nên thực dân Pháp đã thực hiện nhiều chính sách nhằm biến Nam bộ thành một thuộc địa khai thác của chính quốc Pháp6 Một trong những chính sách

đó là đào kinh, khơi ngòi, thủy lợi hóa vùng ĐBSCL “Kênh đào tới đâu, dù chưa hoàn thành, đã thu hút ngay những người khẩn hoang vốn mang sẵn trong người dòng máu “ít nhiều táo bạo”… Các con kênh lớn vừa hoàn thành, hệ thống kênh nhánh, kênh sườn cũng nhanh chóng vươn dài, tỏa rộng ra khắp miền7” như:

Kênh Trà Ết, nối ngọn Cái Bé qua Ô Môn (1890);

Kênh Bạc Hầm, Tân Lược (1896);

Kênh Hà Tiên, nối Châu Đốc ở thượng nguồn sông Tiền và sông Hậu;

Kênh Rạch Giá nối với Long Xuyên;

Kênh xáng Xà No8, từ Ba Láng ở ngạn sông Cần Thơ kéo thẳng đến rạch Cái

Tư, một nhánh của sông Cái Lớn, ăn thông ra vịnh Xiêm La (1901 - 1903)…

Từ 1890 – 1900: Kênh Lái Hiếu (còn gọi là kênh Bassac), nối rạch Cái Côn

từ sông Hậu vào Về sau rạch này được xáng đào rộng ra, từ cầu Phụng Hiệp nhìn

ra thẳng một mạch

6 Nhà kinh tế Pháp Paul Bernard đã nhận xét về vùng Tây Nam bộ, dưới thời Pháp thuộc như sau: Chính nhờ sự

“đóng góp” đó của Nam Kỳ - chủ yếu là từ lú gạo của ĐBSCL – mà chính phủ Pháp có thể đài thọ cho toàn bộ

bộ máy cai trị thực dân trên toàn Đông Dương, đài thọ chó toàn bộ chi phí cho những công trình công cộng, cũng như nuôi toàn bộ quân đội Pháp chiếm đóng Việt Nam, Campuchia và Lào [Lê Minh 1984: 17]

7 Dẫn theo clip “Sông nước, kênh rạch Nam bộ” trên trang web www.youtube.com

8 Kinh xáng Xà No là công trình lớn lao đầu tiên của Nam kỳ về đường thủy, có thể so sánh với việc thiết lập

đường xe lửa Sài Gòn, Mỹ Tho về đường bộ [Sơn Nam 1994: 270]

Trang 19

Kênh Mương Lộ đi Sóc Trăng, đào năm 1901, sau đó đào kênh Mang Cá đi

Kế Sách

Từ năm 1914, kênh Quản Lộ được đào qua đất Sóc Trăng, Bạc Liêu Tạo điều kiện hình thành trung tâm khá sầm uất chợ nổi Ngã Năm với năm con kênh quy tụ về Sau này con kênh đào tới luôn chợ Cà Mau Kênh Quản Lộ rất quan trọng, có tính chiến lược ở vùng này, bởi nó nối liền các tỉnh: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá,

Cà Mau theo đường sông ngắn nhất, thuận lợi nhất lên thẳng vùng Ngã Bảy, ra rạch Cái Côn, đi tắt qua sông Hậu theo kênh Cù Lao Mây – Mang Thít (Trà Ôn – Vĩnh Long) đến Sài Gòn – Chợ Lớn Sơn Nam trong công trình

“Tìm hiểu đất Hậu Giang” đã mô tả chợ Ngã Năm, Ngã Bảy như sau: “Chợ Ngã Bảy trở thành huyện lỵ, khách thương hồ từ bảy ngã kênh xáng gặp nhau, un đúc nên điệu hò Ngã Bảy khá độc đáo Chợ Ngã Năm sung túc hơn nhiều huyện lỵ, có thể nói là phồn thịnh hơn tỉnh lỵ Hà Tiên… Đến quá nửa khuya, các quán ăn vẫn

mở cửa Buổi sáng, lúc nhóm chợ, xuồng ghe tấp nập đến nỗi chúng ta có thể đi một vòng tròn qua năm con kênh xáng, bằng cách bước chuyển từ xuồng này sang ghe kia, đậu sát bên” [Sơn Nam 1959: 99, 100] Hệ thống sông ngòi, kênh rạch như vậy đã giúp cho sự thông thương giữa các vùng dễ dàng hơn như câu ca:

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No, Anh thương em thì mua cho một chiếc đò,

Để em lên xuống thăm dò ý anh

Trang 20

và lưu thông đường thủy ở ĐBSCL được mệnh danh là“mạng thủy lộ kỳ diệu”, từ bất cứ vùng mặt nước nào thuộc ĐBSCL, thuyền của bạn đều có thể lên tới Sài Gòn mà không cần ra biển9

Hình 1.2

Bản đồ Hệ thống kinh đào ở Đồng bằng Nam bộ

Nguồn: Dẫn theo tài liệu của Huỳnh Lứa [Huỳnh Lứa 1987: 172]

Tác giả Lê Thảo Nguyên trong bài viết“Chuyện xưa ở ĐBSCL” cũng khẳng

định nền kinh tế hàng hóa ở ĐBSCL đã phát triển mạnh mẽ sau khi hệ thống kênh đào xuất hiện: “Lúa gạo và các loại nông, lâm, thổ sản khác, tuy sản xuất chủ yếu vẫn là thủ công nhưng do mở rộng diện tích và quy mô khai thác, lưu thông dễ dàng theo đường sông… đã thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển phồn thịnh Chợ búa mọc lên khắp nơi, hoạt động mua bán tấp nập trên những dòng sông, dẫn

9 Dẫn theo DVD MeKong ký sự (tập 19), Hãng phim Truyền hình Tp Hồ Chí Minh

Trang 21

đến một bộ phận nông dân chuyển sang làm thương nghiệp” [Tạp chí Xưa & Nay 2005: 106-107]

Bên cạnh đó, chế độ nước lên, xuống trong ngày của kênh rạch cũng là một thuận lợi rất cơ bản, giúp cho việc lưu thông đường thủy ở ĐBSCL (thời chưa có thuyền gắn máy) dễ dàng hơn so với sông ngòi ở miền Bắc: “Ở ĐBSCL, hầu như kênh rạch nào mỗi ngày cũng có hai con nước Bất kỳ đi về hướng nào cũng có thể xuôi dòng Chỉ cần đợi nước, gặp nước ngược thì nghỉ lại chờ con nước sau” [Phan Quang 2002: 101] Và “đâu là giáp nước10 , ở đó trên bờ mọc lên quán xá, hiệu ăn, chợ búa, có khi hình thành một thị trấn đông đúc”

Cũng nhờ có việc đào kênh, mở “lộ” thủy với các con kênh đào ngang, dọc, nối thông các điểm chiến lược trong vùng, mang lại sự phong phú cho hệ thống kênh rạch ở ĐBSCL, nhiều làng xóm mới hình thành và lưu thông thủy trở nên thuận tiện, dễ dàng hơn, tạo ra đột phá mới cho việc hình thành chợ nổi Theo đó, việc mua bán, vận chuyển hàng hóa trên sông giữa các địa phương cũng phát triển hơn

1.2.1.2 Nền nông nghiệp phát triển

Sự hình thành thói quen buôn bán trên sông gắn liền với việc lên liếp, lập vườn ở ĐBSCL Kinh tế nông nghiệp vùng đất Đồng Nai – Cửu Long phát triển trước hết nhờ sự cần cù lao động và bộ óc thông minh, sáng tạo của cư dân, họ dám nghĩ, dám thay đổi phương thức canh tác, nhất là “lối lên liếp lập vườn” [Nhâm Hùng 2006: 81] Lập vườn là công việc lao động đầy sáng tạo của những người mở đất Sự ra đời của miệt vườn không chỉ có ý nghĩa vật chất mà còn có ý nghĩa văn hóa, thể hiện khả năng ứng xử phù hợp của con người đối với thiên nhiên [Nguyễn Bình Đông: web] Cùng với sự hình thành của hệ thống sông ngòi, kênh đào giúp ích cho việc rửa phèn, dẫn nước vào ruộng vườn, việc lên liếp lập vườn11, đặc biệt

10 Giáp nước: là nơi hai chiều nước lên và nước xuống gặp nhau Chỗ này nước không chảy nữa, là nơi phù sa

lắng đọng, tạo nên những chỗ cạn Đó cũng chính là chỗ mà ghe xuồng nghỉ lại để chờ con nước sau [Phan Quang 2002: 101]

11 Trên đất phù sa, có kênh rạch chằng chịt, chịu ảnh hưởng của thủy triều, người ta đào mương, lên liếp để lập vườn Mương sâu trên một mét, rộng trên hai mét, liếp rộng 4 – 5m Các mương liếp nối với nhau và thông với kênh rạch qua cống đóng mở gọi là bọng Bọng đóng lại để giữ nước vào mùa khô và mở ra để thay nước khi triều lên Ở những nơi cường triều, người ta đắp thêm bờ bao vườn cao hơn mặt liếp để tránh ngập vườn Vườn cây ăn trái thường đem lại thu nhập cao hơn trồng lúa [Văn hóa và cư dân ĐBSCL 1990: 280]

Trang 22

là đối với miệt vườn12, đã giúp cho sản lượng cây ăn quả, hoa màu tăng nhanh đáng

kể Vườn thường ở sát nơi cư trú Ruộng vườn là biểu tượng của cuộc sống kinh tế

và văn hóa của người nông dân đồng bằng Trong vườn trồng các loại cây khác nhau, nhất là cây ăn trái Cần chú ý rằng, “trái cây là mặt hàng thứ 3 có giá trị kinh

tế cao với nông dân ĐBSCL, sau lúa gạo và thủy sản” [Lê Phú Khải 2000: 21] Cũng trong ghi nhận của tác giả Lê Phú Khải, “năm 1960 – 1961, chính quyền Sài Gòn kiểm tra canh nông ghi nhận ĐBSCL chỉ còn 20.195 ha vườn cây ăn trái, cho sản lượng 196.900 tấn/năm Sau nhiều năm phục hồi, đặc biệt là trong kinh tế thị trường hiện nay, miệt vườn ĐBSCL đã phát triển đến sản lượng trên 200.000 ha Miệt vườn tập trung ở vùng Chợ Lách (Bến Tre), Long Hồ (Vĩnh Long), Cái Bè (Tiền Giang), Cần Thơ Mỗi năm miệt vườn ĐBSCL cho 2,4 triệu tấn quả, chiếm 60% sản lượng trái cây cả nước, đặc biệt là đối với các loại trái cây nhiệt đới” Theo “Văn hóa và Cư dân ĐBSCL”, ngoài đợt thu hoạch chính vụ, một số người làm vườn còn có kỹ thuật riêng, “bí quyết” kích thích cây ra trái trái vụ, nhất là vào dịp Tết, đem lại hiệu quả kinh tế rất cao Bên cạnh đó, trái cây để ăn tươi hoặc chế biến thành đồ uống, đồ hộp hoặc sấy khô Nền kinh tế vườn ở ĐBSCL là nguồn cung ứng rất quan trọng cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu [Văn hóa và cư dân ĐBSCL 1990: 281] “Nam Kỳ phong tục nhân vật diễn ca” [Trần Liên Phong 1909:7] đã ghi nhận sự trù phú của vùng đất Cần Thơ:

Cần Thơ xứ lắm bạc tiền, Bởi vì thổ sản điền viên cả ngàn

Chín Tổng trong chín mươi làng, Ruộng thuộc ruộng khẩn muôn vàn biết nhiêu

Vườn nhờ huê lợi cũng nhiều, Bông hoa cây trái mỹ miều thường niên

Cũng theo “Địa chí Tiền Giang”(tập I), sản lượng trái cây thu hoạch và giá trị sản phẩm vườn cây ăn trái của tỉnh tăng trưởng liên tục: năm 1990 là 164.000 tấn (450 tỷ đồng), năm 1995: 325.000 tấn (1.082 tỷ đồng), năm 1999: 540.280 tấn

12 Miệt Vườn là vùng đất phù sa màu mỡ nằm ven và giữa sông Tiền, sông Hậu, quanh năm có nước ngọt Khu dân cư thường phân bố dọc theo sông lạch Nghề trồng vườn và làm ruộng lúa đều có điều kiện phát triển thuận lợi, giao thương dễ dàng, nhờ ở gần lạch, gần sông [Văn hóa và cư dân ĐBSCL 1990: 318]

Trang 23

(1.550 tỷ đồng) [Địa chí Tiền Giang (tập I) 2005: 605] Các loại cây trồng ở Tiền Giang rất phong phú, đa dạng, với nhiều loại cây ăn trái đặc sản, nổi tiếng khắp nơi như xoài cát ở Hòa Lộc, cam, quýt, bưởi, ổi xá lỵ ở Cái Bè, sầu riêng ở Ngũ Hiệp,

vú sữa lò rèn ở Vĩnh Kim…

Như vậy, chính sản lượng cây ăn trái, hoa màu ở ĐBSCL phong phú, có quanh năm, đã dẫn đến nhu cầu trao đổi, mua bán giữa nhà vườn, thương lái và thị trường Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc mua bán ngay trên mặt sông Một điều dễ nhận thấy là hầu hết các chợ nổi đều nằm gần các vườn cây ăn trái lớn, như một quy luật tất yếu của cung – cầu

1.2.1.3 Nền kinh tế hàng hóa phát triển

Qua hai thế kỷ XVII, XVIII khai phá vùng đất Nam bộ, “trên cơ sở một nền nông nghiệp và thủ công nghiệp (chưa tách hẳn nông nghiệp) đã phát triển, và ở một mức độ nhất định đã mang tính chất sản xuất hàng hóa, việc buôn bán trao đổi hàng hóa ở vùng Đồng Nai – Gia Định sớm được mở rộng” [Huỳnh Lứa 1987: 85]

Do sản xuất hàng hóa phát triển và việc buôn bán sớm trở thành một hoạt động kinh tế sôi nổi, nên trong thế kỷ XVIII, vùng này đã xuất hiện nhiều thị tứ, nhiều tụ điểm buôn bán sầm uất như thương cảng Cù lao Phố, tức Nông Nại Đại Phố (Biên Hòa), thương cảng Sài Gòn (Chợ Lớn ngày nay), phố chợ Mỹ Tho… Đặc biệt, phố chợ Mỹ Tho, vào khoảng cuối thế kỷ XVII, đã trở thành một trong những trung tâm thương mại lớn nhất ở toàn Nam bộ lúc bấy giờ, với “chợ phố lớn Mỹ Tho, có nhà ngói cột chạm, đình cao, chùa rộng, ghe thuyền ở các ngã sông biển đến đậu đông đúc, làm thành một chốn đại đô hội, rất phồn hoa, huyên náo” [Nam bộ Xưa

& Nay 2005: 38] Ngoài ra, một mạng lưới các chợ đã sớm hình thành ở những chỗ giao thông thuận tiện và đông người qua lại

Công trình“ĐBSCL nghiên cứu phát triển” cũng nhận định “ĐBSCL là một đồng bằng mà ngay từ khá sớm đã có một nền kinh tế hàng hóa, đã có một hệ thống thương cảng ven sông, đã có một hệ thống đô thị, thị trấn khá sầm uất Đó là một đồng bằng đã sớm hình thành mối quan hệ gắn bó với trung tâm Sài Gòn và miền Đông Nam bộ tạo ra tư thế “3 chân vạc” của một cấu trúc kinh tế công – nông – thương nghiệp mạnh nhất trong nước” [Nguyễn Công Bình 1995: 9]

Trang 24

Tác giả Nguyễn Đình Đầu trong “Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kỳ lục tỉnh ” cũng nhận định sự thịnh đạt của nền thương nghiệp xứ Gia Định cùng với sự xuất hiện của hệ thống chợ trong vùng [Nguyễn Đình Đầu 1999: 70]

Vào thập niên cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, trung tâm thương cảng Bến Nghé – Sài Gòn hình thành và ngày càng chiếm đóng vai trò quan trọng ở Nam bộ Nghiên cứu về chợ nổi, chúng ta không thể bỏ qua việc tìm hiểu sự hình thành của mạng lưới chợ xưa trước khi thực dân Pháp chiếm Nam kỳ lục tỉnh

Sang thế kỷ XIX, vùng Cái Bè ở Định Tường trở thành trung tâm đóng ghe lớn chở hàng hóa ở ĐBSCL Bên cạnh đó, ngay từ đầu thế kỷ XX, Cái Răng - địa danh một huyện cách bến Ninh Kiều vài cây số đường thủy - đã có chành lúa đồ sộ, tiếp nhận, chế biến lúa cho cả miệt Hậu Giang rồi chở lên Chợ Lớn xuất khẩu

“Nam kỳ phong tục diễn ca”đã ca ngợi chợ Cái Răng13[Nam bộ Xưa & Nay 1999: 106] là một nơi phồn hoa đô hội:

Chợ Cái Răng – xứ hào hoa, Phố lầu hai dãy xinh đà quá xinh

Có trường hát cất rộng thinh,

Để khi hứng cảnh, thích tình xướng ca

Hình 1.3 và 1.4 Chợ Ô Môn, chợ Phụng Hiệp (Cần Thơ) thời Pháp thuộc

Ảnh tư liệu của Bảo tàng Cần Thơ

13 Chợ Cái Răng trở thành một chành lúa vĩ đại, chỉ thua Chợ Lớn Thuở ấy, chợ Cái Răng đón nhận lúa của các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, để xay ra gạo, chở về Chợ Lớn xuất cảng [Sơn Nam 1970: 87]

Trang 25

Đi từ hình thức chợ truyền thống thường thấy ở khu vực ĐBSCL, chợ trên

bờ luôn liền kề với sông rạch theo lối “trên bến dưới thuyền” Theo đó, một ngôi

chợ sung túc, hoàn chỉnh sẽ được cấu trúc như sau: nhà lồng chợ - phố xá – bến

sông Nhiều chợ lớn còn liền lạc với cầu cảng, cầu tàu, kho bãi, nhà vựa v.v [Nhâm Hùng 2009: 15]

Việc hình thành hệ thống, mạng lưới chợ ở ĐBSCL đã mang lại hiệu quả thiết thực, giúp người nông dân tiêu thụ nhanh nguồn nông sản và cung cấp hàng gia dụng, thiết yếu thỏa mãn nhu cầu, nâng cao mức sống cho họ Lúc này ở Cần Thơ, các chợ Cái Răng, Phụng Hiệp rất sung túc đến gần như quá tải, đòi hỏi các thương nhân phải tìm phương thức giao thương mới, đáp ứng qui mô, nhu cầu mua bán ngày càng tăng như mô tả trong “Nam Kỳ phong tục diễn ca” [Trần Liên Phong 1909: 9]:

Chợ đông buôn bán lăng xăng, Cần Thơ thứ nhất, Cái Răng thứ nhì

Vùng Tây sông Hậu đã cơ bản hoàn tất việc khai thác với đồng lúa mênh mông; vườn cau, vườn dừa xanh ngát Thêm vào đó, nghề vườn phát triển, sản phẩm trái cây ngày càng dồi dào Một khối lượng lớn hàng nông sản tấp nập đưa về các chợ Thị trường sôi động, sức cạnh tranh càng tăng Muốn vậy, phải rút ngắn thời gian vận chuyển, bớt trung gian không cần đưa hàng lên chợ trên bờ mà nên trực tiếp chào hàng, ngã giá cân, đong đếm giữa hai đàng bán – mua ngay trên mặt sông Dần dần, thấy cách này lợi ích, nên mọi người đổ xô làm theo, hình thành kiểu cách họp chợ trên sông Mặt khác, do lúc này phố xá mở nhanh, lượng người mua bán tăng vọt, chợ trên bờ quá tải nên chợ nổi ra đời cũng là phù hợp với quy luật phát triển của kinh tế hàng hóa [Nhâm Hùng 2006: 81-82] Điều đó cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa chợ trên bờ và chợ trên sông ở ĐBSCL Tương tự như vậy, tác giả Lê Phú Khải cũng có cùng nhận định về sự xuất hiện của chợ nổi ở ĐBSCL: “Người dân đồng bằng chủ yếu đi lại bằng kênh rạch nên tốt nhất chở ra một cái đầu mối ở sông để mà bán nên bỗng nhiên nó thành một cái chợ nổi Chợ nổi Cái Răng nói riêng và các chợ nổi ở đồng bằng nói chung rất sinh động… hình thành từ tập quán sinh sống với những sản vật phong phú…” [Lộc Khanh Hưng : web]

Trang 26

Đây là một số điều kiện quan trọng dẫn đến sự hình thành kiểu cách họp chợ ngay trên mặt sông, kênh rạch ở ĐBSCL – một hình thức giao thương lý thú mà không thể bắt gặp ở các vùng, miền sông nước khác ở Việt Nam

1.2.2 Đặc trưng của chợ nổi ĐBSCL

1.2.2.1 Vị trí

Một đặc điểm chung của các chợ nổi ở ĐBSCL về đặc điểm vị trí là chợ nhóm họp trên điểm hội tụ của các nhánh sông; cạnh chợ trên bờ; và liền kề miệt vườn, rẫy để tốc độ giao thương hàng hóa nhanh chóng, giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh Theo tác giả Nhâm Hùng trong công trình “Chợ nổi ĐBSCL”, “tất cả các chợ nổi đều tọa lạc trên trục giao thông và giao thương chiến lược cạnh sông Tiền, sông Hậu và các chi lưu kênh đào dài rộng” [Nhâm Hùng 2009: 32] Các chợ nổi ra đời sau ngày giải phóng đến nay đều ở cạnh một vùng vườn đặc sản trái cây nổi tiếng, như chợ nổi Phong Điền (Cần Thơ – Hậu Giang) với vườn cam quýt, trái dâu Hạ Châu; chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang) nằm trên đoạn sông Tiền, giáp vùng vườn cây của ba tỉnh với đặc sản bưởi da xanh, xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, cạnh đó là vùng vườn chợ Lách (Bến Tre) nổi tiếng với sầu riêng, măng cụt; chợ nổi Ba Ngàn-Ngã Bảy nằm giữa những khu vườn bạt ngàn của huyện Châu Thành (Hậu Giang), Kế Sách (Sóc Trăng) với đủ chủng loại trái cây miệt vườn… Về mặt địa lý, chợ trên bờ là những nơi rất thuận tiện cho việc mua bán, trao đổi hàng hóa,

dễ làm ăn Hàng hóa từ chợ nổi, được vận chuyển đi các nơi tiêu thụ bằng các ngả sông hoặc đưa lên chợ trên bờ cạnh đó để kịp giao cho các đầu mối Điều này cũng phù hợp với quy luật cung - cầu giữa nhà vườn, thương lái và thị trường

1.2.2.2 Tên gọi

Do đặc điểm vị trí nên chợ nổi có thể được gọi theo tên của các nhánh sông hay gắn liền với tên của địa phương như Chợ nổi Ngã Bảy (chợ nổi Phụng Hiệp), chợ nổi Cái Răng, chợ nổi Phong Điền (Cần Thơ – Hậu Giang), chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang), chợ nổi Ngã Năm (Sóc Trăng), chợ nổi Gành Hào (Cà Mau), chợ nổi Long Xuyên (An Giang)…

1.2.2.3 Thời gian nhóm họp

Khác với chợ trên bờ, chợ nổi thường nhóm vào tờ mờ sáng (từ 5 giờ đến 8,

9 giờ) hoặc theo con nước lên xuống Đây là giờ cao điểm mua bán các loại hàng

Trang 27

nông sản tươi Các loại hàng bông, rau quả thu hoạch hôm trước được chuyển đến chợ từ lúc nửa đêm cho đến rạng sáng Còn từ đó đến chiều, chợ vẫn tiếp tục hoạt động mua bán các loại “hàng nằm”, hàng tạp hóa, hàng gia dụng thiết yếu… Các ghe hàng vào chợ, cứ người trước kẻ sau tìm chỗ neo đậu ghe thuyền để giao dịch mua bán cho thuận tiện, không có sự phân định khu vực cho từng nhóm hàng cũng như không giành quyền ưu tiên cho kẻ gần, người xa14

1.2.2.4 Hàng hóa

Hàng hóa mua bán trên chợ nổi chủ yếu là hàng nông sản tùy theo mùa vụ

mà thay đổi Dựa vào hàng hóa buôn bán, chợ nổi ĐBSCL được phân chia thành 2 dạng15:

Chợ nổi chuyên doanh: thường tập trung mua bán một số loại trái cây và nông sản của miền Tây Nam Bộ, như chợ nổi Cái Răng, Phong Điền, Cái Bè…

Chợ nổi tổng hợp: mua bán tất cả các loại sản vật từ ruộng, rẫy, vườn, biển, rừng và hàng hóa gia dụng thiết yếu, hàng thủ công mỹ nghệ…Từ khi mới ra đời, chợ nổi Ngã Bảy – Phụng Hiệp nằm ở dạng chợ nổi tổng hợp Với vị trí trung tâm của một vùng sản xuất nông nghiệp rộng lớn và là trục giao thông chiến lược, nên chợ đầu mối Ngã Bảy vừa thu hút khối lượng lớn hàng hóa, vừa đi cung cấp cho các nơi có nhu cầu

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền thương nghiệp nói chung, người buôn bán ở các chợ nổi đều thể hiện sự “nhanh nhạy”, nắm bắt kịp thời “nhu cầu của thị trường” nên hàng hóa ở chợ nổi rất đa dạng và phong phú

1.2.2.5 Một số dịch vụ ở chợ nổi

Chợ nổi ra đời, đi kèm theo đó là một số dịch vụ cũng xuất hiện Ngoài các ghe xuồng tập trung mua bán hàng, chợ nổi còn có một mạng lưới ghe dạo, chèo bơi dọc ngang khắp nơi cung ứng các loại dịch vụ cần thiết cho thương lái, bạn hàng và phương tiện vận chuyển của họ Dịch vụ chủ yếu trên chợ nổi là bán thức

ăn, nước giải khát cho dân thương hồ, khách du lịch với nhiều mặt hàng đa dạng, mang phong vị của miền quê sông nước Họ đã góp phần giới thiệu và tiếp thị phần nào nền “ẩm thực” của quê nhà ngay trên sông nước Sự niềm nở, hiếu khách,

14 Dẫn theo DVD “Chợ nổi Phụng Hiệp”

Trang 28

phóng khoáng của con người sông nước miền Tây sẽ dễ dàng nhận ra qua nụ cười, cách mời gọi với chất giọng rất riêng và cung cách phục vụ không kém phần chuyên nghiệp của người bán

Ngoài ra, với dịch vụ “tiệm sửa máy”, “cây xăng lưu động”, “cửa hàng nổi”, người đi chợ còn có thể nhờ thợ chỉnh sửa cân, sửa động cơ ghe thuyền, tiếp nhiên liệu, bảo trì phương tiện hoặc sau khi mua bán xong có thể đến các cửa hàng nổi bán tạp hóa để mua các thứ nhu yếu phẩm phục vụ cho sinh hoạt trong gia đình Đặc trưng cách mua bán ở chợ nổi là sang chuyến (ghe qua ghe, xuồng qua xuồng),

đã phát sinh một loại dịch vụ mới, rất đắt khách là “đò” Đó là những xuồng hoặc ghe nhỏ dùng để chở khách đi chợ, dễ dàng len lỏi, xuôi dọc trên chợ Đặc biệt, ở vùng sông nước ĐBSCL còn có dịch vụ “trạm xá cơ động” Đây là dịch vụ tiêm chích, chủ yếu do các y tá, y sĩ đã từng có thời gian làm việc ở các trạm xá, trạm y

tế nào đó đảm nhiệm “Trạm xá” ven sông rất cơ động Khi người dân miệt vườn

ốm đau, “trạm xá” cũng có xuồng con trang bị gọn nhẹ túi thuốc cấp cứu sẵn sàng phục vụ “Trạm xá cơ động” rất tiện cho bà con miệt vườn ven sông và các hộ gia đình sống bằng nghề sông nước, cách xa bệnh viện, trung tâm y tế [Đoàn Tụ 1997: 5]

Các dịch vụ không chỉ đáp ứng cho nhu cầu của người buôn bán, các hộ gia đình trên sông mà còn phục vụ chu đáo cho khách tham quan chợ nổi, tạo cho du lịch chợ nổi thêm hấp dẫn, kỳ thú

1.2.3 Các chợ nổi tiêu biểu

ĐBSCL có rất nhiều chợ nổi, như chợ nổi Cái Bè - Tiền Giang, chợ nổi Trà

Ôn - Vĩnh Long, chợ nổi Ngã Bảy - Phụng Hiệp, Phong Điền, Cái Răng (Cần Thơ – Hậu Giang), chợ nổi Gành Hào - Cà Mau

Chợ nổi Cái Bè

Nằm trên một đoạn sông Tiền, bắt đầu từ cầu Cái Bè, qua kinh 28, xuôi theo

cù lao Tân Phong về phía hạ lưu, chợ nổi Cái Bè có chiều dài từ 500m đến 1000m Chợ ở vị trí giáp ranh giữa 3 tỉnh: Tiền Giang, Vĩnh Long và Bến Tre [Trần Hoàng Diệu 2005: 703] Chợ nổi Cái Bè hình thành hai khu vực riêng biệt: khu vực bán sỉ

15 [Nhâm Hùng 2006: 84]

Trang 29

hàng hóa nông sản và khu mua bán trái cây Chợ hoạt động theo con nước lớn, nhưng thường diễn ra ở bờ Nam vào khoảng 3 – 5 giờ sáng và từ 13 – 16 giờ chiều Quy mô chợ phụ thuộc vào vụ mùa trái cây, trung bình hàng ngày có vài chục phương tiện trọng tải lớn neo đậu và khoảng vài trăm phương tiện ghe, thuyền lớn nhỏ của các hộ dân địa phương hội tụ lại đây để giao dịch Số lượng trái cây mua bán bình quân mỗi ngày khoảng 100 – 200 tấn [Nhâm Hùng 2009: 104, 105]

Hình 1.5

Chợ nổi Cái Bè

Nguồn: http://www.tourtrongoi.com/detail.useful.information.18

Chợ nổi Long Xuyên

Chợ nổi ở Long Xuyên từ lâu đã trở thành cái tên quen thuộc trong vùng Chợ nằm trên sông Hậu, thuộc phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Nơi đây tập trung hàng trăm ghe xuồng neo đậu san sát trên sông, sinh hoạt

và buôn bán quanh năm suốt tháng [Trithucviet: web]

Hình 1.6

Chợ nổi Long Xuyên

Nguồn: http://www.saigonphoto.net/sg/index.php?name=coppermine&file=displayimage&album=705&pos=8

Trang 30

Chợ nổi Phong Điền

Chợ nổi Phong Điền nằm ngay ngã ba sông, một nhánh từ Cần Thơ vào, một nhánh rẽ đi Cầu Nhiếm và một nhánh xuôi về Trường Long (thuộc xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền), cách thành phố Cần Thơ khoảng 17 km Các nhà thuyền ở đây chủ yếu là dân địa phương, đem các loại hàng nông sản, hoa quả miệt vườn đến bán cho ghe thuyền các nơi khác Chợ hoạt động tập trung nhất vào khoảng 6 đến 7 giờ sáng Chợ nổi Phong Điền cũng là một trong những chợ buôn bán trái cây lớn của vùng ĐBSCL [Nam Bộ-Đất và Người 2004: 407]

Hình 1.8

Chợ nổi Ngã Bảy

Nguồn: http://images.google.com.vn/imgres

Trang 31

nhất Nam Kỳ, song hành với một trung tâm giao thương hàng hoá lớn của cả miền cực Nam, tác động mạnh đến thị trường nông sản miền Tây Đây là chợ nổi nổi tiếng của tỉnh Hậu Giang và cả ĐBSCL [Nam Bộ-Đất và Người 2004: 406]

Chợ nổi Cái Răng

Cách trung tâm thành phố Cần Thơ chỉ khoảng 5 km, chợ nổi Cái Răng được xem là chợ đầu mối giữa thành phố Cần Thơ lan tỏa hàng hóa đi các huyện và các tỉnh trong toàn vùng ĐBSCL Khác với chợ nổi Ngã Bảy và Phong Điền, chợ nổi Cái Răng tập trung rất đông ghe, thuyền từ các tỉnh khác đem hàng hóa đến cho dân địa phương Do gần trung tâm thành phố Cần Thơ nên chợ nổi Cái Răng

có mật độ ghe, thuyền qua lại buôn bán nhộn nhịp [Nam Bộ-Đất và Người (II) 2004: 407-408]

Chợ nổi Trà Ôn

Chợ nổi Trà Ôn nằm ngay giữa ngã ba sông Hậu và sông Mang Thít, thuộc huyện Trà

Ôn, tỉnh Vĩnh Long Đây là chợ nổi cuối cùng trên sông Hậu trước khi đổ ra biển Nét đặc biệt của chợ nổi Trà Ôn so với các chợ nổi khác chính là việc nhóm họp chợ theo con nước

Do đó, du khách có thể ngắm nhìn nét đẹp của chợ vào các buổi trong ngày tùy theo con nước, lúc cao điểm của con nước lớn Tất cả các loại hàng hóa nông sản tại đây đều được mua bán theo nhóm hàng, được phân phối từ các ghe vườn theo dạng bán sỉ Nét độc đáo này

Trang 32

cũng đã tạo cho khu chợ nổi Trà Ôn một nét riêng, có sức cuốn hút du khách gần

xa [Ngọc Trân 2001: 6]

Chợ nổi Ngã Năm

Tại thị trấn Ngã Năm, huyện Thanh Trị (Sóc Trăng), chợ nổi Ngã Năm là giao điểm của 5 con sông tỏa đi 5 ngả: từ Cà Mau lên, Vĩnh Quới vào, Long Mỹ, Thanh Trị qua, Phụng Hiệp xuống Ðây là một trong những chợ nổi có từ lâu

và nhộn nhịp nhất ở vùng ĐBSCL Hàng hoá ở chợ nổi Ngã Năm rất phong phú Ðến nay, chợ nổi Ngã Năm vẫn giữ được nét sinh hoạt đặc trưng văn hoá của chợ nổi ĐBSCL

Chợ nổi Miệt Thứ, Vĩnh

Thuận, Kiên Giang:

Miệt Thứ là vùng đất chạy dọc theo vịnh Thái Lan thuộc hai huyện An Minh và An Biên (Kiên Giang), kéo dài đến rừng U Minh Thứ là thứ tự của những dòng kênh dẫn nước ngọt vào xả phèn, thuần hóa đất đai Ở đây có tất cả

11 thứ, nên tên gọi của các chợ nghe cũng rất ấn tượng Từ thứ 1, 2, 3 đến thứ 11, mỗi thứ có nhóm chợ mọc lên tại các đầu kênh Chợ nổi vùng Miệt Thứ, được hình thành bằng những chiếc ghe lớn, như những ngôi nhà nổi, bềnh bồng trên sông nước, chở theo nhiều loại hàng hóa Trong đó, nhiều ghe bán các loại chén bát, bếp củi, bếp lò đun bằng trấu, bàn ghế… Đặc biệt, do ở đây không có nhiều dừa nước để lấy lá lợp nhà, nên một số

Trang 33

ghe lá từ huyện Gò Quao, huyện Giồng Riềng thường đến buôn bán Vào mùa mưa, mặt hàng này bán rất chạy16

Chợ nổi Gành Hào-Cà Mau

Chợ nổi Gành Hào có chiều dài khoảng 500m trên sông Gành Hào, cách cầu Gành Hào khoảng hơn 200m, thuộc địa bàn phường 8 ở trung tâm thành phố Cà Mau Ngày trước, chợ ở giữa ngã ba chùa Bà cách đó khoảng hơn chục cây số Điều thích thú ở đây mà các chợ nổi khác không

có là thỉnh thoảng có một vài chiếc ghe bán chiếu rong Xưa kia, đây là nơi tụ tập kiếm sống của người tứ xứ và bán nhiều loại hàng hóa khác nhau Bây giờ, chợ chỉ còn bán các sản vật của miệt vườn

Thế mạnh của chợ nổi ĐBSCL là người nông dân tiêu thụ sản phẩm làm ra, bán các loại trái cây và cũng là nơi thu gom nông sản đi thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam bộ bằng ghe tải lớn Chợ nổi thể hiện sự phong phú và giàu có của nông sản miền sông nước ĐBSCL Điểm lý thú ở chợ nổi là nơi hội tủ

đủ các loại người tứ xứ đến buôn bán Từ những người dân bình thường cho đến những người tứ cố vô thân, rời bỏ quê hương tha phương kiếm sống, với “ki-ốt” nổi là chiếc ghe bày hàng hóa, trái cây, khi thì ở nơi này, khi thì ở nơi khác Chỉ cần có một chiếc ghe và sản phẩm hàng hóa là có thể họp chợ buôn bán [Nam Bộ-Đất và Người (II) 2004: 405]

TIỂU KẾT

Chợ nổi ra đời đã góp phần làm cho loại hình chợ ở ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung thêm đa dạng và hấp dẫn Từ loại hình chợ trên bờ quen thuộc bao lâu nay, chợ nổi –chợ trên sông là một hình thức mua bán độc đáo của vùng sông nước ĐBSCL Ở đó, tất cả những ai tham gia trong hoạt động này đều phải mặc

Trang 34

nhiên chấp nhận một số quy ước trong quá trình mua bán đã hình thành ngay từ khi chợ nổi mới ra đời

Tồn tại từ hàng trăm năm nay, chợ nổi là nét văn hóa điển hình của người dân ĐBSCL Cùng với các loại hình chợ khác ở ĐBSCL, chợ nổi đã góp phần tích cực vào công cuộc mở mang và phát triển kinh tế ở ĐBSCL nói riêng và cả Nam

Bộ nói chung, tạo nên các giá trị văn văn hoá độc đáo

Trang 35

Chương 2 GIÁ TRỊ VĂN HÓA CHỢ NỔI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chợ nổi ra đời đã thể hiện một trong những tính cách đặc trưng của người Nam bộ nói chung và ĐBSCL nói riêng Đó là tính năng động, là hệ quả của sự phát triển của thương nghiệp: “Do vị trí đặc biệt nằm ở giao điểm của các luồng giao thông (hằng số 2 – Nam bộ là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông quốc tế: Việt Nam với Đông Nam Á, Việt Nam với thế giới phương Tây, ngã ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương – người viết) mà từ thời Phù Nam, thương nghiệp đã rất phát đạt Lương thư viết: “Các nước ngoài biên cảnh đi lại buôn bán rất thường xuyên… Chợ ở đây là chốn Đông Tây giao hội; mỗi ngày có hơn vạn người” Tấn thư cũng viết: “Thuế má trong nước [Phù Nam] được trả bằng vàng, bạc, ngọc trai, trầm hương”… Người Nam bộ chấp nhận và khuyến khích buôn bán: Đạo nào vui bằng đạo đi buôn, Xuống biển lên nguồn gạo chợ nước sông Nhờ vậy mà tạo nên được một nền kinh tế hàng hóa sớm nhất nước” [Trần Ngọc Thêm 2009: 8]

Cũng đề cập đến vấn đề này, Trần Quốc Vượng trong bài nghiên cứu “Đôi nét về nền cảnh địa – văn hóa của nghệ thuật sân khấu cải lương” từng nhận xét

rằng: “Đất rộng, người thưa, làm ăn mau khá, lúa dư, hàng dư, hệ sông rạch chằng

chịt Nảy sinh dân thương hồ (buôn bán bằng xuồng ghe) và “đạo đi buôn”… Đất

rộng rãi, nông phóng khoáng, cá đầm đìa, nhà không rào, làng không lũy, thương

hồ phiêu lãng: phóng khoáng, hiếu khách là “cá tính miền Nam”” [Trần Quốc Vượng 1998: 468]

Đây là nét sinh hoạt đặc trưng của vùng sông nước ĐBSCL Những chiếc ghe thương hồ xuôi ngược trên sông rạch, biến cuộc sống trên sông nước thành đời thường của nhiều lớp người Giá trị văn hóa của chợ nổi ĐBSCL bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể, được giữ gìn đến ngày nay

Trang 36

2.1 Văn hóa mua bán

2.1.1 Quảng cáo hàng hóa

Ở chợ nổi, môi trường buôn bán luôn nhộn nhịp, “động” hơn so với chợ trên

bờ Không giống như ở chợ trên bờ, những ghe hàng trên chợ nổi không nhất thiết phải quy tập từng khu theo loại hàng Trên sông nước bao la, ghe, xuồng cứ nối tiếp nhau vào neo đậu và buôn bán

Lối chào mời, tiếp thị hàng hóa ở chợ nổi ĐBSCL

Ngay từ xa xưa, dân thương hồ trên chợ nổi đã sáng kiến nghĩ ra kiểu cách

bẹo hàng rất độc đáo Bẹo, tức là cột mẫu hàng vào ngọn sào rồi cắm trước mũi

ghe Việc nhận ra hàng hóa ở chợ nổi rất dễ, bởi ghe nào cũng có cây bẹo cặm ngay đầu mũi hay trên nóc, tùy theo ghe, xuồng lớn nhỏ Nhờ vậy mà người mua có thể trông thấy từ đằng xa, tìm đến xem hàng, trả giá, người bán đỡ phải tốn công rao mời Nguyên tắc bẹo hàng là “bẹo gì bán nấy”, có bao nhiêu mặt hàng thì bẹo hết các mặt hàng đó lên trên ngọn sào Lối quảng cáo này quả là sáng tạo, có một không hai, tạo nên một cảnh quan vừa lạ vừa đẹp mắt gây ấn tượng khó quên cho khách phương xa lần đầu đến thăm chợ nổi

Hình 2.1 Bẹo rau củ Ảnh Đặng Thị Hạnh, 2009

Hình 2 2 Bẹo rau củ và trái cây Nguồn: http://www.google.com.vn/imglanding?

Đây là “cách tiếp thị độc đáo nhất thế giới” [Phù Sa Lộc 2002: 18] Cứ nhìn

“bẹo” để đánh giá sự phong phú về chủng loại và sắc màu hàng hóa của phiên chợ trên sông nước Những cây bẹo “thay thế cho pa-nô, áp-phích quảng bá, một hình thức giản dị, tiết kiệm nhưng đã làm nên nét văn hóa của chợ nổi” [Phương Đình Nguyễn 2008: 6]

Trang 37

Quy tắc “bẹo gì bán nấy” đã trở nên quen thuộc ngay từ buổi ban đầu hình thành chợ nổi Những cây bẹo với các loại trái cây, rau củ khác nhau trông giống như những cột ăng-ten kỳ lạ, đầy màu sắc, di động giữa sông nước và ghe, xuồng Hình ảnh cây bẹo cũng có những đặc điểm khác nhau để phân biệt Cây bẹo của nhiều chợ nổi như ở Cần Thơ, Vĩnh Long là cây tre dài, cắm đứng trước mũi ghe Trong khi đó, cây bẹo ở miệt Cà Mau là cây đước nhỏ với nhiều nhánh được vạt nhọn, trông ngộ nghĩnh như cây có nhiều trái xum xuê [Phan Trường Sơn 2008: 57] Cây bẹo đã tạo thành yếu tố đặc sắc và hấp dẫn đối với du khách mỗi khi đến với chợ nổi

Tuy nhiên, cây bẹo hầu như chỉ được sử dụng cho kiểu chào hàng các loại trái cây, rau củ Với các loại hàng hóa khác, như hàng tạp hóa thì có ghe chuyên dùng riêng, hàng gốm sứ thì chất “cơi” lên khoang ghe Còn hàng gỗ, thủ công cứ

để “lộ thiên”, ai cũng nhìn thấy [Nhâm Hùng 2009: 51]

Đặc biệt, quy tắc chào hàng theo kiểu bẹo hàng cũng có trường hợp ngoại lệ, như “treo cái này, bán cái khác” Trường hợp điển hình và đặc biệt nhất là hình thức “bẹo lá, bán ghe” độc đáo của dân thương

hồ [Nguyễn Thị Mỹ 2007: 35] Người dân thương hồ quanh năm buôn bán, sinh sống ở trên sông Họ coi ghe, xuồng là ngôi nhà của mình Như một quy ước với nhau, khi cần bán ngay chiếc ghe, xuồng mình đang sử dụng thì họ chỉ cần bẹo tấm lá lợp nhà Chính vì vậy, nếu gặp chiếc ghe “bẹo” một tấm lá lợp nhà, có nghĩa là người chủ muốn bán chiếc ghe ấy

Các ghe bán hàng dạo thì thay hình thức “bẹo” hàng bằng âm thanh của những chiếc kèn Có người bấm kèn bằng tay (loại kèn nhỏ, bằng nhựa), có người vừa chèo vừa dùng chân đạp lên kèn (loại kèn lớn, còn gọi là kèn cóc)

Trang 38

Ghe hàng len lỏi vào bến đậu của các ghe lớn với nhiều loại tiếng kèn khác nhau làm cho các khu chợ thêm huyên náo Hiện nay, ở chợ nổi cũng có những hình thức “bẹo hàng” hiện đại hơn như những bảng hiệu, hộp đèn, áp phích, băng rôn của các ghe hàng, các cửa hàng nổi

Hình 2.4 Quảng cáo ngay trên thân ghe

Ảnh Đặng Thị Hạnh, 2009

Hình 2 5 Quảng cáo bằng bảng hiệu của một trạm sửa cân nổi

2.1.2 Phương thức mua bán

Mặt sông được tận dụng làm nơi để trao đổi, mua bán hàng hóa ở vùng ĐBSCL Đến chợ nổi còn có cả niềm thích thú xen lẫn sợ hãi của sự bồng bềnh chao đảo do những con sóng nhỏ từ các ghe, xuồng lướt qua lại tạo nên Tiếng máy ghe, tiếng người kêu gọi nhau í ới, tiếng mời chào mua bán nhộn nhạo, ồn ã cả khúc sông rộng Chính tính “động” này đã làm nên sự khác biệt giữa chợ nổi và chợ trên bờ nói chung

Hoạt động mua bán ở chợ nổi cũng là một khám phá đầy thú vị Ở chợ nổi, tập quán “buôn có bạn, bán có hàng” với phương thức mua bán, trao đổi hàng hóa độc đáo của vùng sông nước đã được hình thành từ hàng trăm năm nay Đặc trưng của cách mua bán ở chợ nổi là bán sỉ (bán buôn) và sang chuyến: ghe qua ghe, xuồng sang xuồng [Nguyễn Thị Mỹ 2007: 34] Đó là phương thức mua bán, trao

Trang 39

đổi theo cần xé, thiên, giạ, chục hoặc theo cách mua “mão” (mua trọn cả cần xé, giỏ hoặc trọn gói cả khối lượng hàng hóa trên ghe) Theo đó, thương lái không mua

lẻ từng quả, từng bó, mà hỏi và trả giá từng cần xé (giỏ), thiên- 1000, giạ - 25kg,

hay ít nhất cũng làmấy chục- ở miền Tây Nam Bộ chục được tính theo từng vùng, như ở Tiền Giang là 12, Cần Thơ là 14, 16, nhưng ở Kiên Giang, Cà Mau có khi chục lên tới 18 Ở chợ nổi, hàng hóa ngã giá xong được chuyển từ ghe này sang ghe khác một cách nhanh chóng, gọn gàng, khéo léo nhằm tiết kiệm thời gian và giảm bớt đầu mối trung gian cho quá trình mua bán Phương thức tính toán linh hoạt như vậy đã cho thấy phần nào tính cách phóng khoáng của người dân vùng đất

“làm chơi ăn thiệt”, vốn được thiên nhiên ưu đãi với sản lượng trái cây, hoa màu dồi dào quanh năm

Hình 2 6 và 2 7 Trái cây, nông sản được cho vào bao, cần xé, giỏ… theo cách thức bán sĩ

Ảnh Đặng Thị Hạnh, 2009

2.1.3 Quy ước mua bán

Do chỉ giao dịch trong thời gian ngắn ngủi, nên giữa người nông dân, nhà vườn và giới thương hồ đã có một quy ước mua bán sòng phẳng Đây là những thỏa thuận không có văn bản, hình thành khá lâu, được sàng lọc qua nhiều thời kỳ

và được mọi người mặc nhiên chấp nhận

Chữtín và nguyên tắc sòng phẳng trong hoạt động mua bán ở chợ nổi luôn được đề cao Việc thỏa thuận mua bán dù với khối lượng hàng hóa cả chục tấn cũng chỉ bằng miệng, không cần giấy tờ Thế nhưng hai bên mua - bán rất tôn trọng phương thức trao đổi này Đây cũng là điều khiến cho người mua và bán ở chợ nổi rất ít có trường hợp kiện cáo Bên cạnh đó, nguyên tắc mua bán giữa người nông dân, nhà vườn, thương lái là “thuận mua vừa bán”, “tiền trao, cháo múc” Ở chợ

Trang 40

nổi, không có khái niệm “mua chịu”, “bán chịu” “thiếu nợ”, mua hàng rồi đổi lại, trả lại… Bởi vì, khi mua bán xong rồi, mạnh ai nấy nhổ sào lui ghe Đời thương hồ nay đây mai đó, hiếm khi ở một chỗ cố định, khó có thể tìm gặp lại để mà đổi, trả lại hàng hóa hay “đòi nợ” Do yếu tố cạnh tranh gay gắt, giới nông dân, thương lái, thương hồ thường xuyên nắm được mặt bằng giá cả, nên người bán ít nói thách như chợ trên bờ [BCKH “Chợ nổi Phụng Hiệp” – Bảo tàng Cần Thơ]

2.2 Văn hóa tổ chức

2.2.1 Đời sống gia đình

Tận dụng môi trường sông nước để sinh sống là đặc điểm của người dân Việt Nam – vốn là một đất nước có địa hình sông nước Do đặc điểm này, phương thức đi

lại phổ biến và chủ yếu ở Việt Nam từ ngàn xưa là giao thông đường thủy Nói về vấn

đề này, tác giả Trần Ngọc Thêm đã nhận xét: “Người Việt Nam không chỉ đi lại bằng thuyền, làm cầu phao bằng thuyền, mà còn gắn bó với con thuyền suốt cả cuộc đời

Hình ảnh con thuyền và sông nước ăn sâu vào tâm khảm đến mức mọi mặt sinh hoạt

của đời sống con người đều lấy con thuyền và sông nước làm chuẩn mực và đối tượng so sánh trong hàng loạt cách nói dân gian (thành ngữ, tục ngữ, ca dao)” [Trần

Ngọc Thêm 2004: 402] Ở chợ nổi ĐBSCL, hình ảnh nổi bật nhất là những chiếc ghe, xuồng chở đầy hàng hóa nông sản, trái cây và đồ dùng sinh hoạt của cả gia đình người thương hồ - góp phần làm nên nét độc đáo của cả khu chợ

2.2.1.1 Ghe, xuồng

Đối với vùng sông nước ĐBSCL, xứ sở của“văn minh kênh rạch”, phương tiện đi lại và chuyên chở chính yếu là ghe17, xuồng18 Ngay từ xưa, dân gian đã có câu “Sắm xuồng là để làm chân” [Ngô Đức Thịnh 1993: 293] “Thời xưa, thời giờ quy định để làm đám cưới, đám giỗ thường ấn định tùy theo con nước ròng, đi nước ngược là mất tốc độ di chuyển… Đi xóm thăm bạn bè, mua trà, mua bánh, đám cưới, đám ma, rước bà mụ, rước thầy thước vẫn dùng ghe xuồng” [Sơn Nam 2004: 31-32] Chợ nổi cũng vậy Vì là chợ họp trên sông nên cả người bán và người mua đều phải sử dụng phương tiện vận chuyển, đi lại duy nhất là ghe, xuồng

và các phương tiện đường thủy khác Ngắm nhìn các loại tàu, ghe chở hàng với đủ

17 Ghe: Thuyền gỗ có mui [Hoàng Phê (cb) 1992: 380]

18 Xuồng: Thuyền nhỏ có mái che, thường đi kèm theo thuyền lớn hoặc tàu thủy [Hoàng Phê (cb) 1992: 1139]

Ngày đăng: 01/07/2023, 15:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Biên khảo lịch sử Phong Điền – Cần Thơ. - Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phong Điền, 2007, 227 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên khảo lịch sử Phong Điền – Cần Thơ
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phong Điền
Năm: 2007
3. Đào Duy Anh (hiệu đính và chú thích) 1998: Gia Định thành thông chí. – NXB Giáo dục Tp. HCM, 775 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Giáo dục Tp. HCM
Năm: 1998
4. Đào Huyền Trang (sưu tầm và biên soạn) 2008: Sổ tay du lịch Việt Nam. – NXB Lao động, 703 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay du lịch Việt Nam
Tác giả: Đào Huyền Trang
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2008
5. Đặng Quang Thành-Dương Ngọc Phương 2000: Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kinh doanh du lịch. – NXB Trẻ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong kinh doanh du lịch
Tác giả: Đặng Quang Thành, Dương Ngọc Phương
Nhà XB: NXB Trẻ TP.HCM
Năm: 2000
6. Hà Xuân Trường (1994): Văn hóa – Khái niệm và thực tiễn. – NXB Văn hóa Thông tin, 103 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa – Khái niệm và thực tiễn
Tác giả: Hà Xuân Trường
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1994
7. Hoàng Phê (chủ biên) 1992: Từ điển Tiếng Việt. – Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ Hà Nội, 1147 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ Hà Nội
Năm: 1992
8. Hội Khoa học lịch sử thành phố Hồ Chí Minh 2004: Nam Bộ - Đất và Người (tập II). – NXB Trẻ TP. HCM, 474 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Bộ - Đất và Người (tập II)
Tác giả: Hội Khoa học lịch sử thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Trẻ TP. HCM
Năm: 2004
9. Hội Khoa học lịch sử thành phố Hồ Chí Minh 2005: Nam Bộ - Đất và Người (tập III). – NXB Trẻ TP. HCM, 580 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Bộ - Đất và Người (tập III)
Tác giả: Hội Khoa học lịch sử thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Trẻ TP. HCM
Năm: 2005
10. Hội Khoa học lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh 2006: Nam Bộ - Đất và Người (tập IV). – NXB Trẻ TP. HCM, 433 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Bộ - Đất và Người (tập IV)
Tác giả: Hội Khoa học lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Trẻ TP. HCM
Năm: 2006
11. Huỳnh Lứa (cb)1987: Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ. - NXB TP.HCM, 275 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ
Tác giả: Huỳnh Lứa
Nhà XB: NXB TP.HCM
Năm: 1987
12. Huỳnh Lứa 2000: Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ 17, 18, 19. – NXB KHXH, 428 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ 17, 18, 19
Tác giả: Huỳnh Lứa
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2000
13. Huỳnh Minh 2001: Định Tường (Mỹ Tho) xưa. – NXB Thanh niên, 286 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định Tường (Mỹ Tho) xưa
Tác giả: Huỳnh Minh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2001
14. Huỳnh Minh 2001: Cần Thơ xưa. – NXB Thanh niên, 251 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần Thơ xưa
Tác giả: Huỳnh Minh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2001
15. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường (sưu tập) 1994: Văn hóa dân gian cổ truyền – Ông Địa-Tín ngưỡng & Tranh tượng. - NXB Tp. HCM, 137 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian cổ truyền – Ông Địa-Tín ngưỡng & Tranh tượng
Tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường
Nhà XB: NXB Tp. HCM
Năm: 1994
16. Huỳnh Ngọc Trảng 1998: Văn học dân gian Đồng Nai – Gia Định, Vè Nam Bộ. – NXB Đồng Nai, 597 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Đồng Nai – Gia Định, Vè Nam Bộ
Tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng
Nhà XB: NXB Đồng Nai
Năm: 1998
17. Huỳnh Ngọc Trảng (cb) 1998: Ca dao Dân ca Nam kỳ lục tỉnh. – NXB Đồng Nai, 321 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Dân ca Nam kỳ lục tỉnh
Tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng
Nhà XB: NXB Đồng Nai
Năm: 1998
18. Huỳnh Quốc Thắng 2004: Một số vấn đề lý luận Văn hóa & Văn hóa học ứng dụng.// Tài liệu chuyên đề “Quản lý văn hóa” dành cho học viên Cao học Khoa Văn hóa học khóa 2006 – 2009, trường ĐH KHXH&NV, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận Văn hóa & Văn hóa học ứng dụng
Tác giả: Huỳnh Quốc Thắng
Nhà XB: Tài liệu chuyên đề “Quản lý văn hóa”
Năm: 2004
19. Khoa Ngữ văn ĐH Cần Thơ 1997: Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long. – NXB Giáo dục, 492 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Khoa Ngữ văn ĐH Cần Thơ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
20. Lê Giang – Lư Nhất Vũ – Nguyễn Văn Hoa – Minh Luân 1986: Dân ca Hậu Giang. – Sở Văn hóa Thông tin Hậu Giang, 666 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Hậu Giang
Tác giả: Lê Giang, Lư Nhất Vũ, Nguyễn Văn Hoa, Minh Luân
Nhà XB: Sở Văn hóa Thông tin Hậu Giang
Năm: 1986
21. Lê Phú Khải 2000: Hồ sơ đồng bằng sông Cửu Long. – NXB Thanh niên TP.HCM, 385 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Lê Phú Khải
Nhà XB: NXB Thanh niên TP.HCM
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w