Nơi ựây ẩn chứa những nét văn hóa rất riêng, rất ựộc ựáo ở từng tiểu vùng sinh thái của vùng ựồng bằng sông nước, vùng núi rừng ven biên giới và vùng rừng ngập mặn ven biển, trong ựó có
NHỮNG VẤN ðỀ CHUNG
Không gian văn hóa 28
CỦA CƯ DÂN MIỆT THỨ - U MINH THƯỢNG
U Minh là một vùng đất được khai thác muộn, chủ yếu do điều kiện thiên nhiên đặc thù với rừng tràm ngập nước Ngành nghề truyền thống nơi đây rất đa dạng, gắn liền với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống con người Một số nghề truyền thống tiêu biểu bao gồm làm ruộng, nuôi cỏ, bắt cỏ, chế tác các công cụ đánh bắt thủy sản, bắt thú rừng, bắt rắn và thu hoạch mật ong.
Làm ruộng là một nghề truyền thống phổ biến ở Việt Nam, nhưng mỗi vùng miền lại có phương pháp canh tác riêng Trong khi vùng núi trồng lúa rẫy và làm ruộng bậc thang, thì vùng U Minh lại có cách làm ruộng đặc biệt, phù hợp với điều kiện tự nhiên của khu vực.
Vào buổi đầu khai thác vườn U Minh, người dân đã tìm cách tạo ra nguồn lương thực bền vững cho cuộc sống hàng ngày Những người tiên phong đã phải phát rừng bằng cách đốn tràm, tạo ra khoảng đất trống, rồi lột cây, bụi rậm trên vùng đất vừa phát hoang để trồng lúa Ruộng lúa ở đây phát triển tốt nhờ vào chất lượng đất trồng rất màu mỡ, mang lại năng suất cao Sau này, khi việc khai hoang trở nên thuần thục, người dân đã chuyển sang gieo mạ và cấy lúa như ở những nơi khác, nhưng do đất ở đây còn gốc cây và mềm nên họ không cần cày bừa, chỉ cần phát cỏ, dọn sạch ruộng rồi nhổ mạ cấy.
Phát cỏ dọn ủất là một khâu rất quan trọng trong nông nghiệp, và dụng cụ để phát cỏ bao gồm cày phảng và cày cự nốo Sau khi chặt một lô phảng, người nông dân cần dựng cự nốo để cỏ phát qua một bên rồi tiếp tục phát tiếp Những người có kinh nghiệm có thể phát được ba cụng ủất tầm cắt trong một ngày, với mỗi cụng ủất tầm cắt tương đương 1.440 một vuông Để phát được hiệu quả, cần có kỹ thuật và dụng cụ phù hợp.
ðỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA CƯ DÂN MIỆT THỨ - U MINH THƯỢNG 37
Văn hóa ăn 47
Rừng tràm U Minh có hệ sinh thái đa dạng và phong phú cả về động và thực vật Người dân Miệt Thứ - U Minh Thượng khéo léo chế biến những món ăn ngon từ sản vật có sẵn trong thiên nhiên Động vật ở đây rất phong phú với nhiều loài chim như bồ nông, chàng bè, gà nước, và các loài ong lấy hoa tràm làm mật, tạo ra hương vị đặc trưng Ngoài ra, động vật trên cạn như nai, heo rừng, cọp, và khỉ cũng rất đa dạng Các loài sống dưới nước như rùa, trăn, và cá cũng phong phú với nhiều loại cỏ nước như cỏ lúc, cỏ sặc rằn Miệt Thứ - U Minh là quê hương của cỏ nước, với môi trường rừng ngập nước gần như quanh năm, tạo điều kiện cho các loài cá nước ngọt sinh sôi nảy nở, không thể khai thác triệt để như những nơi khác.
Rừng U Minh sở hữu sự phong phú về thực vật, bao gồm nhiều loại có thể làm thức ăn như ủọt choại, hẹ nước, bồn bồn, bụng sỳng, trỏi giỏc, bỡnh bỏt dõy, rau ủắng ủất, rau muống biển và ủọt rỏng Ngoài ra, các loại khoai củ như khoai lang, bớ ủỏ, khoai mụn, khoai ngọt và củ từ cũng phát triển tốt trong khu vực này, góp phần làm phong phú bữa ăn của người dân nơi đây.
Hệ thực vật phong phú đã góp phần làm phong phú thêm văn hóa ẩm thực của người dân Miệt Thứ - U Minh Thượng Người dân nơi đây có những phương pháp chế biến món ăn độc đáo, phù hợp với khẩu vị truyền thống và điều kiện sống, tận dụng tối đa sản vật thiên nhiên xung quanh.
2.2.1 Quan niệm và phong cách ăn uống
Bữa ăn đóng vai trò quan trọng trong đời sống của cư dân nông nghiệp lúa nước, như Trần Ngọc Thờm đã chỉ ra Mặc dù điều kiện sinh hoạt còn thiếu thốn và người dân phải lao động vất vả để tồn tại trong môi trường khắc nghiệt, họ vẫn duy trì thói quen ăn uống đơn giản nhưng ngon miệng Người Miệt Thứ khéo léo chế biến các sản vật từ rừng và sông nước thành những món ăn vừa đủ no, vừa bổ dưỡng, thể hiện sự gần gũi với thiên nhiên và khả năng thích ứng của họ.
Cơ cấu ăn uống của người dân nơi đây chủ yếu thiên về thực vật, với các món như cơm, rau, cá và thịt (Trần Ngọc Thêm, 2006:349) Điều này dễ hiểu khi họ sống trong môi trường phong phú với nhiều loại rau củ xung quanh Người Miệt Thứ thường sử dụng các loại củ dại như khoai rạng, khoai mụn dề, củ co, củ năng, và các loại rau rừng như lỏ dõy bính bỏt, rễ năng, ủọt choại, ủọt rỏng, bồn bồn, hẹ nước, cùng nhiều loại khác Câu tục ngữ "đói ăn rau, đau uống thuốc" phản ánh rõ nét thói quen ăn uống của họ.
Người dân Miệt Thứ coi cơm cá là món ăn phổ biến thứ hai sau cơm rau, thể hiện thói quen ẩm thực đặc trưng của vùng Thủy sản ở Miệt Thứ - U Minh Thượng rất đa dạng và phong phú, góp phần làm phong phú thêm bữa ăn hàng ngày của người dân nơi đây.
Nước là nguồn thực phẩm thiết yếu và bổ sung dinh dưỡng cho con người, đặc biệt đối với cư dân Miệt Thứ Nó không chỉ là nguồn thực phẩm dự trữ mà còn mang lại lợi ích kinh tế Trong điều kiện khó khăn, nước trở thành nhu cầu sống còn Nước trong rừng U Minh có màu nâu sậm do ảnh hưởng của xác thực vật, chủ yếu là tràm và than bùn, được người dân cho là rất lành và có thể sử dụng cho ăn uống Thậm chí, khi vào rừng mà quên mang theo nước, người ta vẫn có thể múc nước này để uống sống.
Người dân Miệt Thứ sống trong môi trường thiên nhiên khắc nghiệt đã tận dụng nguồn nước sạch từ thiên nhiên, chủ yếu là nước mưa Tại bất kỳ nhà nào của cư dân Miệt Thứ, chúng ta thường thấy nhiều cái lu, thậm chí có khi cả chục cái xếp hàng ở trước cửa để hứng và chứa nước mưa Họ tin rằng nước mưa là loại nước tinh khiết nhất, nên có thể uống trực tiếp mà không cần đun sôi hay nấu chín.
Vào mùa mưa, người dân sử dụng nước mưa cho mọi hoạt động ăn uống và sinh hoạt Khi hết mùa mưa, nước mưa được trữ lại để dùng cho việc uống và pha trà, trong khi nước dùng để nấu nướng thường được lấy từ ao, sau khi lắng cặn Những gia đình khá giả có điều kiện kinh tế thường khoan giếng để lấy nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày.
Điều kiện lao động chủ yếu ở trong rừng, sau này khai hoang thành ruộng, dẫn đến việc làm ngoài ruộng Nhà cửa ở Miệt Thứ thường đơn sơ, tạm bợ, nên người dân không quá cầu kỳ về chỗ ngồi ăn uống Họ có thể dọn cơm trên nền đất, ngồi chồm hổm tại bếp hoặc ở góc nhà, mái hiên Khi nhậu, chỉ cần trải chiếu ngoài sân, bên bờ ruộng, hoặc ngay tại gốc tràm, tạo khoảng trống cho hai chiếc chiếu Thức ăn và món nhậu có thể được bày trên tàu lá chuối, lá sen, hoặc lá bụng sậy.
Người dân vùng này thường ăn bốc, sử dụng tay để đưa thức ăn vào miệng, đặc biệt là khi thưởng thức cơm nguội với khô, mắm sống, ba khía, hay bánh xèo Trong những buổi ăn nhậu ở rừng, ngoài ruộng, hay bên miệng nước, nếu không có dụng cụ gắp thức ăn, họ có thể dùng nhánh cây nhỏ hoặc thậm chí chỉ cần dùng tay để bốc Điều này thể hiện tính bình dân, linh hoạt của người dân Miệt Thứ, tạo nên phong cách ăn uống giản dị không thể giản dị hơn.
Người dân U Minh có thói quen uống rượu với tửu lượng cao, thường thưởng thức rượu mọi lúc, mọi nơi, kể cả trong bữa cơm Rượu nếp và rượu gạo là những loại rượu được ưa chuộng Tình cộng đồng thể hiện rõ nét khi họ ngồi ăn nhậu cùng nhau, thường chỉ cần một cốc để rót rượu và chuyền tay nhau uống Việc uống rượu không chỉ giúp họ giải lao sau một ngày lao động mệt nhọc mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết, kết nối bạn bè và cùng nhau trò chuyện trong không gian thiên nhiên.
Nhiều phụ nữ ở U Minh Thượng có khả năng uống rượu, thậm chí một số người còn có tửu lượng tốt Họ coi việc chồng uống rượu là điều bình thường, thể hiện qua câu ca dao: "Đốt than nướng cá trê vàng, xách chai mua rượu cho chàng nhậu chơi."
Đối với người Miệt thứ và người dân Tây Nam Bộ, nhậu nhẹt là một hoạt động quan trọng trong cộng đồng, giúp mọi người gắn kết, hiểu biết và thắt chặt tình thân trong các mối quan hệ xã hội Nhiều khi, những mối quan hệ thông gia cũng được hình thành qua những buổi trò chuyện bên chai rượu.
Người Miệt Thứ chế biến thức ăn bằng các phương pháp như nấu canh, luộc, kho, chiên, xào, chưng, hấp và nướng, nhưng cách làm của họ thường giản dị hơn so với các vùng khác.
Văn hóa mặc 555
Mặc là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người, không chỉ để che thân mà còn để thể hiện vẻ đẹp và sự sang trọng Trang phục không chỉ phản ánh yếu tố vật chất mà còn biểu hiện nét đẹp tinh thần và truyền thống văn hóa Nó liên quan mật thiết đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội như địa lý, lịch sử, tôn giáo, đẳng cấp, nghề nghiệp và phong tục tập quán Trang phục thể hiện trình độ và thị hiếu thẩm mỹ của mỗi dân tộc và cá nhân Qua lịch sử di dân của người Việt, trang phục đã trải qua quá trình kế thừa và phát triển, đồng thời vẫn giữ được bản sắc và tính truyền thống Mỗi giới tính, dân tộc và lứa tuổi đều có kiểu dáng và thiết kế trang phục riêng, phù hợp với đặc điểm sinh hoạt, lao động, giao tiếp và các dịp lễ hội.
Trong các loại vải sợi được sử dụng may y phục cho cả nam và nữ vùng Miệt Thứ - U Minh Thượng, lụa tơ tằm vùng Tân Châu và cù lao Giêng - Chợ Mới, gọi là lónh Mỹ A, là chất liệu phổ biến cho các dịp đặc biệt như cưới hỏi và giỗ chạp trước năm 1970 Lónh Mỹ A có bề mặt bóng bẩy, trơn và mềm mại khi chạm vào Chất liệu này được nhuộm từ trỏi mặc nưa, kết hợp với nước êm ngõm, tạo ra màu đen tuyền, và trong dân gian, sản phẩm này còn được gọi là vải mặc nưa.
2.3.1 Trang phục trong lao ủộng sản xuất và sinh hoạt thường ngày
Ngày xưa, trang phục truyền thống bao gồm quần ủi và áo cổ bẻ, thường được làm từ vải nhuộm màu nâu hoặc đen Phụ nữ cũng mặc trang phục tương tự nhưng với quần dài và áo có yếm vải ở trước ngực.
Sau này, ủàn ụng cũng bắt đầu mặc quần dài, bao gồm hai loại: quần ống suông với hai ống thẳng, gọn gàng và dài, và quần lỏ tọa, còn được gọi là quần ủỏy nem với ống rộng.
Quần sâu với lưng quần to bảng mang lại sự tiện lợi cho người mặc, cho phép điều chỉnh chiều dài dễ dàng bằng cách buộc dây thả mối ngoài lưng quần, phù hợp với nhiều hoạt động khác nhau.
Bộ quần áo bà ba đã trở nên phổ biến trong cộng đồng người Việt, bao gồm áo ngắn và quần dài, với sự khác biệt chủ yếu ở kích thước và kiểu dáng cho nam và nữ Qua nhiều thăng trầm của xã hội, bộ quần áo bà ba, cùng với vải ủn, nõu và khăn rằn, đã trở thành biểu tượng gần gũi và gắn bó với cuộc sống của người dân Miệt thứ.
Người Khơ-me thường mặc áo bà ba và vắt khăn rằn (khăn Krama) trên vai Phụ nữ trong tộc thường chọn áo ngắn tay, bó sát và đa dạng màu sắc Phần dưới được quấn xà rụng, thường là tấm vải dệt cầu kỳ với các hoa văn ngang màu vàng, xanh, đỏ.
Người Hoa có trang phục tương tự như người Việt, nhưng nét truyền thống chủ yếu còn thấy ở phụ nữ lớn tuổi với áo xẩm ngắn, có hò, cài nút bằng vải thắt qua sườn phải, cổ áo cao và vạt xẻ bên hông hoặc giữa Nam giới thường mặc quần ủựi màu ủen, rộng và dài đến gối, kết hợp với áo xỏ xẩu tay lỡ Phụ kiện đi kèm bao gồm nón cơi lối hoặc tức lối ủan bằng tre, có vành rộng và chóp nhọn.
2.3.2 Trang phục trong ngày lễ, tết, ủỏm cưới
Ngày xưa, nam giới thường mặc áo dài, quần trắng, khăn ủng ủen, và đi giày hoặc dộp, trong khi nữ giới mặc áo dài, phổ biến là áo tứ thân được may từ bốn thớ vải Hai thân áo sau được nối liền ở giữa sống lưng, còn phần thân trước có hai vạt áo không có khuy Khi mặc, người ta buộc thắt hai vạt áo vào nhau, bên trong có thêm cỏi yếm để che ngực.
Từ những năm 30 của thế kỷ trước, áo dài truyền thống đã trải qua sự cải tiến đáng kể, bắt nguồn từ hai họa sĩ Lê Phổ và Cát Tường Sự thay đổi này không chỉ thể hiện ở màu sắc và chất liệu mà còn ở hoa văn của vải Áo dài được may khéo léo, tôn lên hình thể với phần eo nhấn mạnh, làm nở phần ngực, và hai vạt áo xẻ cao đến hông, có thể cài khuy hoặc nút áo.
Trong ngày cưới, cô dâu thường mặc áo dài màu sáng kết hợp với áo thụng rộng và quần lãnh màu cỏnh sen, cùng với khăn xếp màu vàng Vào năm 1940, trang phục cưới của cô dâu bao gồm hai áo gấm dài, áo trong có màu vàng hoặc hồng, áo ngoài gấm xanh lam, quần trắng, và khăn xếp xanh Khi làm lễ ở bàn thờ tổ tiên, chú rể có thể mặc áo dài hoặc âu phục Hiện nay, nhiều cô dâu chọn áo dài màu và quần trắng, với áo ngắn màu trắng, cài lược bằng ngọc trai hoặc bạc, và choàng khăn trùm cột dưới cằm Trang phục cưới hiện đại ngày nay thường mang ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, với các kiểu áo soiree, jupe, và sự phát triển của thời trang hiện đại.
Vào ngày lễ, phụ nữ Việt Nam thường mặc áo dài với kiểu dáng khác biệt Áo được may bớt tà, thân rộng, dài dưới gối, cổ xẻ trước ngực, tay áo chật, và hai bên sườn có ghép thêm bốn miếng vải theo chiều dọc từ nách đến vai, gọi là "áo tầm phong" Vải may áo thường có hoa văn và màu sắc rực rỡ, kết hợp với quần ống rộng và khăn vải trắng dài, vắt qua vai Nam giới có trang phục đơn giản hơn với quần ống rộng, áo bà ba trắng hoặc đen, kèm khăn trắng vắt ngang vai Khi nghỉ ngơi trong nhà, họ thường quấn xà rông hoặc chăn cùng với áo ngắn bó sát.
Trong lễ cưới, cô dâu và chú rể mặc trang phục truyền thống rực rỡ, kết hợp với trang sức cầu kỳ Cô dâu diện Xămpốt hụl, một loại trang phục truyền thống với cách mặc đặc biệt, giúp dễ dàng di chuyển Chiếc quần có ống phồng ở phần trên, không chật sát vào cơ thể, trong khi phần dưới được bú sỏt vào chân Cùng với đó, áo ngắn tay phồng ở bờ vai hoặc hở một bên vai, tạo nên vẻ đẹp duyên dáng Đặc biệt, cô dâu đội mũ cưới (kpal plụp) hình tháp bằng kim loại mạ vàng, trang trí bằng trâm và hoa vải nhiều màu sắc.
Chú rễ thường mặc áo truyền thống cổ điển với tay dài, cài thắt lưng và dải lụa chéo qua vai Hiện nay, nhiều chú rễ lựa chọn áo veste kết hợp với xà phòng hôl để tạo phong cách hiện đại hơn.
Xưa kia, người Hoa thường mặc xiêm ủỏ bằng gấm thờu, dài ủến gút và áo ngắn bằng gấm, cổ ủứng, xẻ giữa, nỳt thắt, tay áo dài và rộng, hoặc áo xiêm thêu nổi hình phụng Chú rể mặc xiêm và áo bằng gấm xanh, hoa văn chữ thọ, phúc, nếu thêu rồng là lùng xám Ngày nay, qua quá trình cộng cư lâu dài, văn hóa ăn mặc và trang sức của người Hoa đã giao thoa với người Việt Đặc biệt, đối với những người Miệt thứ theo một tôn giáo cụ thể, họ có trang phục phù hợp với tín ngưỡng khi tham dự lễ hội hoặc thực hiện nghi lễ theo quy định của giáo luật.
Văn hóa ở 60
Khi mới khai hoang ở rừng U Minh, người dân thường tụ họp và sinh sống ven sông, rạch, bờ kinh, bờ biển để thuận tiện cho việc lấy nước và sinh hoạt Nhà ở của họ ban đầu rất đơn sơ, phản ánh quan niệm "Khôn cất trại, dại cất nhà" và "Ăn nhiều chứ ở chẳng bao nhiêu".
Nhà ủạp và nhà ủỏ là những lựa chọn phổ biến Theo thời gian, người dân nhận ra rằng việc đầu tư vào những loại hình này có thể mang lại lợi ích trong tương lai, vì vậy họ quyết định an cư lạc nghiệp Các căn nhà đơn giản, nhà ủỏ và nhà ủạp dần được thay thế bằng những ngôi nhà bằng gỗ, tạo nên một tương lai bền vững hơn.
Ngôi nhà của con người được ví như tổ của loài chim, không chỉ là nơi che mưa, che nắng mà còn chứa đựng những yếu tố nhân văn sâu sắc Nhà là chỗ dựa thể xác và tinh thần, nơi chứng kiến bao niềm vui, nỗi buồn và những khó khăn trong cuộc sống Cảm giác yên tâm khi ở nhà khiến con người thường nhớ nhà khi phải rời xa Người dân Miệt Thứ thường gọi vợ/chồng của mình là “nhà tôi”, thể hiện tình cảm gắn bó Trước và sau khi dựng nhà, mọi người thường cầu mong cuộc sống yên ổn, hạnh phúc, vì vậy ngôi nhà được coi là “tổ ấm” Dưới góc độ văn hóa, ngôi nhà không chỉ là vật chất mà còn chứa đựng nhiều giá trị tinh thần.
Sau một thời gian dài, cư dân từ các nơi đổ về đây sinh sống, con đường mòn được mở thành đường lớn để dễ lại, lần lượt nhà cửa được dựng lên cạnh đường, mặt tiền nhà hướng ra một con đường hoặc nhìn thẳng xuống bờ sông Tùy vào số người ở hoặc lực lượng lao động mà nhà được dựng lớn hay nhỏ và phân định phần bố cục căn nhà Người Miệt thứ không quá chú trọng đến trang trí nội thất bên trong, chủ yếu sao cho có chỗ ăn, chỗ nấu bếp và chỗ ngủ là được Họ không cầu kỳ vào hình thức của căn nhà, vì vậy đến tận ngày nay, “tập quán làm nhà ở của họ cũng vẫn chủ yếu là những ngôi nhà được cất bằng cây tràm và lá dừa nước với phong cách truyền thống” [Trương Thanh Hựng 2003:77] Các chỗ để ngủ, để nấu ăn, chỗ để dụng cụ cũng tùy theo sự bố trí của mỗi hộ, hoặc sử dụng chung trong một căn nhà hoặc cất dựng từng căn riêng để dễ bề sinh hoạt trong gia đình.
2.4.2 Nguyên tắc cất nhà của cư dân Miệt thứ - U Minh Thượng
Một kiểu nhà ở đặc trưng mang tính truyền thống của một vùng đất bao giờ cũng phải được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản Ngôi nhà trước hết phải phù hợp với điều kiện về địa hình, địa vật, khí hậu, thời tiết của vùng Xem trọng những yếu tố này sẽ giúp con người sống tạo ra mẫu nhà phù hợp nhất để tự bảo vệ mình và thích ứng với môi trường, điều kiện tự nhiên Đất hai vùng U Minh Thượng tuy trũng, nhưng ít chịu tác động của triều cường từ biển và ảnh hưởng của lũ lụt từ sông Cửu Long, cho nên nơi đây không có kiểu nhà sàn như ở một số địa phương đầu nguồn lũ như Châu Đốc của tỉnh An.
Nhà sàn Giang được thiết kế với nền lỳn để chống lại sự mềm nhóo, do đó sàn nhà không quá cao nhưng phải đảm bảo độ cứng và chắc chắn.
Việc lựa chọn vị trí xây dựng và cách làm nền nhà ở vùng U Minh Thượng chủ yếu nhằm mục đích chống ngập trong mùa mưa Mặc dù nước ngập không cao, nhưng nền nhà thường được làm cao hơn Đặc điểm chung của các ngôi nhà ở đây là cạnh nền thường có một ao nước, kết quả từ việc đào đất để lắp nền Sau khi xây dựng, ao nước này trở thành nơi nuôi cá Trước đây, khi chưa có cách khai thác nước ngầm, nguồn nước trong ao được sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày, đặc biệt là trong mùa khô hạn.
2.4.3 Vật liệu cất nhà ðiều kiện kinh tế - xó hội là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp ủến vấn ủề xõy dựng nhà ở, cho nên việc làm nhà bằng nguồn vật liệu tại chỗ là sự lựa chọn tất yếu ðiều ủú lý giải tại sao nhà lỏ (Hỡnh 17) lại rất phổ biến ở Miệt thứ – U Minh Thượng đúng theo tên gọi, nhà lá ựược xây dựng bởi cây và lá Và, cây lá ựó ựược lấy từ nguồn vật liệu sẵn cú tại chỗ Cõy là gỗ tràm ủược xử lý qua quỏ trỡnh húa sinh tự nhiên bằng phương pháp ngâm cây ngập sâu trong nước một thời gian từ sáu thỏng trở lờn, khi cất nhà sẽ vớt lờn sử dụng Lỳc này, gỗ tràm ủó nhả hết chất dầu trong thõn sẽ trở thành một loại gỗ rất rắn chắc, dẻo dai, ớt bị mối mọt ủục khoột và lõu bị mục trong mụi trường cú ủộ ẩm cao, nhiều nấm mốc Một bộ cột nhà bằng tràm ủược xử lý kỹ theo kinh nghiệm dõn gian như ủó núi sẽ cú khả năng sử dụng lõu ủến hàng chục năm
Lá dừa nước là vật liệu lợp nhà truyền thống, nổi bật với sức sống mạnh mẽ và khả năng thích nghi với cả môi trường nước ngọt và nước lợ Người xưa đã tìm kiếm nhiều loại lá lợp, nhưng cuối cùng chọn lá dừa nước vì độ bền cao trước sự thay đổi của thời tiết, đặc biệt là khí hậu miền nhiệt đới ở Nam Bộ Vào mùa khô, lớp lá dừa nước không chỉ bảo vệ ngôi nhà mà còn tạo ra khả năng cách nhiệt hiệu quả, giúp duy trì không khí mát mẻ trong những ngày hè oi ả Nếu được chọn lọc và lợp cẩn thận, lớp lá này có thể sử dụng trung bình từ năm năm trước khi cần thay mới.
Từ lá cây dừa nước, có thể tạo ra nhiều kiểu lợp mái và làm vách khác nhau Mỗi kiểu lợp đều có cách buộc dây riêng khi sử dụng, và dây buộc được gọi chung là
“dõy lạt”, chỳng ủược làm từ “bẹ”
(thân) hoặc “cà bắp” (chồi lá non) của cây dừa nước
Điều kiện sống ngày càng được cải thiện nhờ sự phát triển nhanh chóng của kinh tế và xã hội, dẫn đến việc nhà lợp lá dần được thay thế bằng nhà kiên cố Tuy nhiên, mặc dù có sự thay đổi về vật chất, nếp sống và bản chất sinh hoạt của người dân Miệt Thứ - U Minh Thượng vẫn giữ được những đặc trưng văn hóa riêng Hiện nay, nhà lợp lá vẫn tồn tại với tỷ lệ nhất định trong các khu dân cư, cho dù nhà lợp lá có thể sẽ hoàn toàn được thay thế bằng nhà có cấu trúc chắc chắn Nhiều hộ dân vẫn giữ truyền thống với nhà sườn gỗ, vách lá, mái lá dày hai tấc, kiểu dáng nhà ba gian hai chái, kiến trúc nhà rường của người Việt hay nọc ngựa của người Hoa, tạo nên vẻ đẹp duyên dáng cho không gian sống.
Nhà lá đã tồn tại qua nhiều thế hệ, trở thành tổ ấm gắn bó với con người suốt hàng trăm năm qua ở những vùng quê.
Mẫu nhà truyền thống ở U Minh Thượng có thiết kế cột chôn chân xuống đất, phù hợp với môi trường ẩm thấp Tuy nhiên, do cột dễ bị mục nát, người dân đã sáng tạo ra mẫu nhà với cột kề tỏng Khi cột được kề trên tỏng ỏ, nó giúp cách ly khỏi độ ẩm.
Hình 17: Nhà lá ở Miệt thứ - U Minh Thượng Ảnh: Mỹ Duyên
Nhà ở trong môi trường ẩm ướt giúp tăng độ bền của bộ cột, kéo dài thời gian sử dụng Tuy nhiên, nhà kiểu truyền thống thường có chi phí cao hơn, dẫn đến sự tồn tại song song của hai kiểu nhà này Bên cạnh đó, cũng cần nhấn mạnh sự khác biệt giữa ngôi nhà của người Việt và người Khơ-me, trong đó mẫu nhà truyền thống của người Khơ-me không có những đặc điểm giống như nhà Việt.
Người Khơ-me không làm cửa sổ, mà chỉ có cửa chính kiểu cửa sập Qua thời gian, sự giao thoa văn hóa giữa các cộng đồng dân tộc đã khiến người Khơ-me chuyển sang xây dựng nhà theo kiểu của người Việt và người Hoa.
Sỏch Người U Minh qua kiểu ăn cỏch ở của tỏc giả Nguyễn Mỹ Hồng ủó thống kờ rất nhiều kiến trỳc, kiểu nhà ở trờn vựng ủất U Minh Thượng như:
- Nhà thuyền (nhà nổi): tức nhà ở trờn ghe trong giai ủoạn ủầu ủến U Minh vỡ trờn bờ ủất thấp khú làm nhà
Văn húa ủi lại 66
2.5.1 Hệ thống giao thông ði lại là ủiều kiện tất yếu của con người, ủi lại ủể lao ủộng, sản xuất, ủể quan hệ, giao dịch… Thiên nhiên tạo sẵn cho Kiên Giang nhiều sông rạch Qua nhiều giai ủoạn lịch sử, do yờu cầu cuộc sống, con người lại mở thờm nhiều kờnh mương lớn nhỏ khỏc nhau; bởi thế, ủến nay trờn ủất Kiờn Giang ủó hỡnh thành một hệ thống kênh rạch chằng chịt, khó thống kê một cách chính xác Mặt khác, cứ mỗi năm, số kờnh ủào lại khụng ngừng tăng lờn Cú thể núi, vựng nụng thụn ở Kiờn Giang núi chung và Miệt thứ - U Minh Thượng nói riêng là xứ sở của sông nước, của kênh rạch
Vào cuối thế kỷ 18, giao thông chủ yếu dựa vào đường thủy với các sông rạch tự nhiên, nơi ghe xuồng phải len lỏi qua những dòng nước và cây cối um tùm Có những khúc sông phải chờ đợi người qua lại do nước sâu lội và cọp rình rập trên bờ Để di chuyển xa hơn, người ta sử dụng đường biển với thuyền buồm loại vừa và nhỏ, trong khi tàu thuyền có động cơ chỉ mới xuất hiện sau này Trước năm 1945, nhiều người sống ven rừng không hề biết đến xe cộ hay tàu thuyền là gì.
Miệt Thứ rừng U Minh có mười con rạch tự nhiên chảy ra biển Tõy, và sau này có thêm con kinh thứ mười một Số lượng này chỉ mang tính tượng trưng, vì từ vàm Tiểu Dừa đến ranh giới phía bắc Miệt Thứ có hơn bốn mươi con rạch Nếu tính thêm các kinh lớn nhỏ, con số này chắc chắn còn cao hơn Ngoài ra, các chi lưu của rạch Tiểu Dừa - Trèm Trẹm ở vùng cực nam và sông Cái Lớn ở vùng cực bắc cũng góp phần làm cho Miệt Thứ trở nên chằng chịt rạch, ngòi và sông nước.
Vựng U Minh là một vùng đất ẩm ướt nằm trong lòng chảo, nơi có nhiều trảng và gũ, được gọi là vùng ẩm hoang phế Hệ sinh thái của rừng ở đây đang trong tình trạng nguyên sinh Đặc điểm địa lý này tạo ra một hệ thống sông rạch dày đặc, xen kẽ với các loại đường nước phức tạp, dẫn đến những biến đổi bất thường về tình trạng thủy văn.
Khi lưu thông trên các đường thủy trong khu vực này, cần chuẩn bị nhiều dụng cụ chống chống khác nhau để ứng phó với các loại đường nước cụ thể.
Do ủú người ta mới cú cõu:
“ði xuồng có bốn cái vui, Lúc chống, lúc lạo, lúc bơi, lúc chèo”
Lỳc xuồng vượt cạn, cần dựng sào để chống Khi xuồng ủi tới khúc đường hẹp, nếu có nước sâu, góc chéo lên và ủứng chồm tới trước Nếu đường nước quá hẹp, không thể lạo thì cần dựng dầm để bơi Đến đoạn sụng sâu nước chảy, cần dựng chéo để chở.
Hầu hết việc giao lưu giữa huyện và các xã, cũng như giữa các xã với ấp, đều sử dụng đường sông Tại tỉnh có hai bến tàu chính, nằm ở thị xã Rạch Giò và thị trấn Rạch Sỏi, phục vụ cho các tuyến đường dài qua Miệt Thứ - U Minh Thượng.
Mạng lưới sông rạch và kênh rạch chằng chịt, cùng với địa hình thấp trũng, đã tạo nên vai trò quan trọng trong hệ thống thủy lợi tại Miệt thứ Dù cho các tuyến đường bộ liên tục được sửa chữa, mở rộng và nối dài, nhưng hệ thống thủy lợi vẫn giữ vị trí hàng đầu trong việc phát triển khu vực này.
Sụng rạch và kờnh ủào ở nơi ủõy rất ủa dạng, mỗi con kờnh mới mở ra thu hút sự quần cư của con người, làm tăng thêm sự trù phú cho vùng Nhà cửa, phố chợ, và trường học nhanh chóng mọc lên bên bờ kênh, cùng với vườn tược xanh tươi sau vài năm định cư Cuộc sống sinh sôi nảy nở bên dòng kờnh mới.
Vào đầu thế kỷ 19, một số kênh rạch đã xuất hiện, dẫn đến việc hình thành các đường bộ dựa trên nền tảng của những bờ kênh Quá trình này diễn ra rất chậm, từ việc xây dựng nền đường cho đến khi rải lớp nhựa Hiện nay, hệ thống đường sá và phương tiện giao thông vận tải ở Miệt Thứ - U Minh Thượng đã hoàn thiện.
Tuyến đường Minh Lương - Tắt Cậu, An Biên - Vĩnh Thuận được khởi công từ năm 1934 - 1936, nhưng chỉ hoàn thành đoạn Minh Lương - Tắt Cậu, trong khi đoạn qua sông Cỏi Bộ và sông Cỏi Lớn vẫn chưa hoàn thiện Dự kiến ban đầu chỉ xây dựng một cây cầu, nền lộ chưa được hoàn chỉnh Sau năm 1975, tuyến đường này đã được xây dựng lại theo phương án mới Minh Lương - Tắt Cậu.
Vào ngày 19 tháng 5 năm 1985, lộ 19 U Minh được khánh thành tại An Biờn - Vĩnh Thuận Đây là tuyến đường chiến lược được hình thành theo quy hoạch của nhà nước, bên cạnh những con đường tự phát do nhu cầu di chuyển của người dân Các lộ làng và đường cái cũng được hình thành, kết nối từ nơi này đến nơi khác theo tập quán sinh hoạt của cộng đồng.
Tại Miệt Thứ - U Minh Thượng, các loại cầu truyền thống như cầu khỉ, cầu dừa, cầu ván, cầu tre đang dần được thay thế bằng cầu bê tông, cầu treo và cầu bờ tường Hệ thống lộ nhựa cũng đã được mở rộng, chạy suốt từ huyện.
An Biờn, An Minh, U Minh Thượng và Vĩnh Thuận đã mở rộng nhiều đường liên xóm, trải nhựa và bờ tụng rộng rãi Các tuyến đường liên ấp cũng được nâng cấp để phục vụ nhu cầu giao thông của người dân ngày càng thuận lợi và nhanh chóng.
Chiếc xuồng ba lá đã giữ một vị trí quan trọng trong đời sống của người dân vùng U Minh Thượng suốt hàng trăm năm qua Đây không chỉ là phương tiện di chuyển mà còn là biểu tượng của sự gắn bó, thủy chung với con người nơi đây Xuồng ba lá hiện diện khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhưng đặc biệt nổi bật ở khu vực rừng U Minh xưa và U Minh Thượng của Kiên Giang, nơi nó trở thành phương tiện chủ yếu cho người dân.
13 Xuồng ba lỏ là tờn gọi dựa trờn cấu tạo của loại xuồng ủược ghộp bởi ba tấm vỏn: hai tấm vỏn be và một tấm vỏn ủỏy