1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Miếu thờ của người hoa ở biên hòa đồng nai dưới góc nhìn văn hóa học (trường hợp thất phủ cổ miếu chùa ông)

116 175 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 15,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI CẢM ƠN

  • MỤC LỤC

  • BẢNG KÊ HÌNH ẢNH VÀ BẢNG BIỂU

  • PHẦN DẪN LUẬN

    •  Lý do chọn đề tài

    •  Mục đích nghiên cứu

    •  Lịch sử nghiên cứu đề tài

    •  Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    •  Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

    •  Phương pháp nghiên cứu

    •  Bố cục của luận văn

  • CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

    • 1.1. Khái niệm về miếu

    • 1.2. Phân loại miếu

    • 1.3. Miếu thờ người Hoa ở Biên Hòa nhìn từ hệ tọa độ văn hóa

      • 1.3.1. Không gian văn hóa

      • 1.3.2. Thời gian văn hóa

      • 1.3.3. Chủ thể văn hóa

    • 1.4. Tổng quan chung về Thất Phủ Cổ Miếu

      • 1.4.1. Lịch sử hình thành Thất Phủ Cổ Miếu

      • 1.4.2. Mô tả chung về Thất Phủ Cổ Miếu

  • CHƯƠNG II : MIẾU THỜ TRONG VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI HOA

    • 2.1. Thế giới quan và nhân sinh quan của người Hoa

      • 2.1.1. Phong thủy – một yếu tố quan trọng trong cơ sở tâm linh của người Hoa

      • 2.1.2. Đá Bửu Long – một dấu ấn tinh khiết của thiên nhiên.

      • 2.1.3. Sự dung hợp văn hóa Hoa-Việt trong lĩnh vực tín ngưỡng-tôn giáo

    • 2.2. Tâm thức tín ngưỡng qua ý nghĩa các quần thể tiếu tượng gốm

  • CHƯƠNG III : MIẾU THỜ TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC CỦA NGƯỜI HOA

    • 3.1. Quan Thánh Đế-vị quan toà của thương nhân

    • 3.2. Hệ thống “đa thần” trong miếu thờ người Hoa

    • 3.3. Nơi cố kết cộng đồng các bang người Hoa và cư dân địa phương

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

    • Phụ lục 1: Biểu phân bố dân cư người Hoa ở thành phố Biên Hòa (Tính đến 30/09/2011)

    • Phụ lục 2: Bảng thống kê cơ sở tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở Biên Hòa

    • Phụ lục 3: Phụ lục Ảnh

Nội dung

PHẦN DẪN LUẬN  Lý do chọn đề tài Với những đặc trưng riêng biệt về địa lý, kinh tế-xã hội, Nam Bộ nói chung và thành phố Biên Hoa nói riêng đã và đang là nơi hội tụ, tiếp biến nhiều dò

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Khái niệm về miếu

Theo người Việt Nam thì miếu có nhiều cách hiểu khác nhau như:

Trong quyển thượng Tín ngưỡng Việt Nam, Toan Ánh cho rằng: Miếu cũng như đền là nơi quỷ thần an ngự Miếu nhỏ hơn đền (đền nhỏ hơn đình), thường xây theo kiểu hình chữ nhật với hai phần cách nhau bởi một bức rèm, nội điện bên trong và nhà tiền tế bên ngoài… miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân chúng làm nhộn Trong miếu cũng có tượng thần hoặc bài vị thần linh, đặt trên ngai, ngai đặt trên bệ với thần sắc hoặc bản sao…

Trong Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính cho rằng:

Mỗi làng thờ thần phải có một tòa miếu Có nơi thì vừa có miếu, vừa có đình… Miếu là chỗ quỷ thần bằng y, đình là nơi thờ vọng và để làm nơi công sở cho dân hội họp Miếu thường hay kén những nơi đất thắng cảnh, nhất là trên gò cao, hoặc ở nơi gần hồ to sông lớn thì mới hay… Đình miếu cũng theo một kiểu mẫu, chỉ khác nhau to với nhỏ mà thôi…

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ (2005) thì: Miếu là nơi thờ thần thánh (hoặc những nhân vật đã được thần thánh hóa) ; đền thờ nhỏ

Theo Địa chí tôn giáo-lễ hội Việt Nam thì lại cho rằng :

Am, miếu, mưỡu, được hiểu là nơi thờ thần linh, ma quỷ, khi tín ngưỡng thờ Mặt trời đã phai mờ, nhưng sấm chớp mây mưa rồng nước vẫn chiếm lĩnh một góc trời tôn kính; những nơi thờ cúng các thần linh này thường nhỏ hơn đền, có khi khiêm tốn nép gọn lại chỉ còn là một bộ phận nhỏ của một ngôi đình, đền lớn; trong các miếu, có hệ thống các văn miếu, võ miếu, y miếu, mà chủ yếu là Văn miếu thờ Khổng Tử và các môn đệ, không chỉ thờ Ngũ Luân (quan hệ vua-tôi, cha-con, vợ- chồng, anh-em, bè-bạn) và Tứ Đức (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí), mà còn thờ nhiều thầy dạy đạo cao đức trọng như Chu Văn An, Võ Trường Tỏa, v.v ; đó là còn chưa nói đến các am nơi hẻo lánh để người xưa tĩnh mịch ở ẩn, như am Bạch Vân của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Còn theo trang mạng wikipedia thì viết rằng: Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, có quy mô nhỏ hơn đền Miếu thường được tọa lạc ở nơi xa làng, yên tĩnh, thiêng liêng và chỉ là nơi yên nghỉ của các vị thánh thần Khi miếu phối thờ Phật cùng thì được gọi là Am, ở Nam Bộ miếu còn được gọi là miễu 1

Còn theo nhà văn Sơn Nam trong cuốn Đình - Miễu và lễ hội dân gian đã viết: …Đình - miếu (miễu) là cơ ngơi làm biểu tượng nhắc nhở lòng nhân nghĩa, đạo lý tự giác, vì vậy mà tồn tại và phát triển trong thời gian dài mãi đến nay hãy còn ảnh hưởng sâu đậm… Miễu, do miếu nói trại ra Nhà thờ riêng của dân (nhà thờ họ) gọi gia miếu Nhà thờ giòng họ của triều đại gọi là thế miếu… ở đồng bằng sông Cửu Long, chẳng nghe nói đến hai tiếng “Phúc thần” Các hạng tà thần tuyệt nhiên không có, họa chăng vài am miễu dựng lên nơi có người chết oan ức vì tai nạn xe cộ, đắm thuyền, hùm tha, sấu bắt, cúng sơ sài không tế lễ…

Với các khái niệm trên thì điểm chung của miếu người Việt chính là một nơi thờ tự thần linh đi đôi với đình làng, đã có đình thì không nhất thiết phải có miếu, còn vị trí đặt miếu thường là nơi yên tĩnh, trên gò cao Còn điểm khác biệt trong các khái niệm về miếu của người Việt chính là những miêu tả chi tiết hơn về kiến trúc miếu để phân biệt với các loại hình cơ sở tín ngưỡng khác ở Việt Nam; theo cách hiểu phổ biến dân gian của từng vùng miền

Theo quan điểm của người Hoa thì từ miếu (廟) mà người Hoa sử dụng là dùng để chỉ : Nhà thờ tổ tiên – Nhà thờ thần – Cung điện của vua (Miếu vũ 廟 宇)

Theo Từ điển Hán ngữ hiện đại thì từ miếu được giải thích: (1) nơi cúng tổ tiên và các vị thần, (2) nơi cúng các vị thần phật hoặc các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử 2

Như vậy, người Hoa xem miếu như là một nơi thờ tự các thần, tổ tiên và các đối tượng khác trong lịch sử đại diện tiêu biểu cho những giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội

1 http://vi.wikipedia.org/wiki/Mi%E1%BA%BFu

2 Trích dịch từ 现代汉语词典 2010 (第 5 版),商务印书馆, 949 页。

Từ những góc nhìn khác nhau về cơ sở thờ tự này, ta thấy “miếu” là một thành phần trong số các cơ sở thờ tự (chùa, đền, đình) của hệ thống đa dạng các cơ sở tín ngưỡng của người Việt Còn đối với người Hoa, miếu được xem như là thành tố chính (chiếm hơn 50% các cơ sở tín ngưỡng khác) trong các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa Và quá trình cộng cư giữa hai dân tộc Việt và Hoa, ít nhiều cũng đã có những tiếp biến văn hóa lẫn nhau ảnh hưởng đến cơ sở thờ tự này Vì vậy, ta có thể đưa ra một khái niệm chung như sau: Miếu là loại hình phổ biến của tín ngưỡng cộng đồng người Hoa, đa số các vị thần linh, các bậc hiền thánh đều được thờ tự trong đó tạo thành một hệ thống đa thần

Về loại hình tín ngưỡng thì trên tấm biển các cơ sở thờ tự của người Hoa đa phần đều khắc chữ Hán là Miếu (廟)nhưng về tên gọi dân gian thì các cơ sở thờ tự lớn này lại được gọi là Chùa như: Chùa Ông (nơi thờ Quan Thánh Đế quân) và Chùa Bà (nơi thờ Thiên Hậu Thánh mẫu) Nói đến Chùa thường khiến chúng ta có một khái niệm chung: Chùa là nơi thờ Phật và là nơi sinh hoạt, tu học của các tăng ni Phật tử Nhưng tại sao các ngôi miếu Hoa này không thờ Phật mà vẫn có cách gọi là Chùa? Cách gọi này có thể lý giải bởi ba nguyên nhân: (1) Do cách dịch từ Hán sang từ tiếng Việt; (2) Đối tượng thờ chính ở đây là người được Phật giáo tôn thờ như một vị Phật hay người có linh nguyện như đức Quan Âm Bồ tát trong Phật giáo;

(3) Miếu Hoa thường kết hợp với hoạt động của Hội quán-chức năng tổng quát của miếu có nét tương đồng với chức năng của ngôi chùa Việt.

Phân loại miếu

Miếu là một loại kiến trúc tế tự, nó được hình thành từ những lễ chế Tông pháp nghiêm khắc của xã hội Trung Quốc cổ đại Từ xa xưa, khi trình độ sản xuất còn thấp kém, cuộc sống và việc sản xuất của con người thường chịu nhiều ảnh hưởng của thiên nhiên và sự xâm hại của các loài mãnh thú Chính sự hạn chế về trình độ nhận thức, con người đối với những vấn đề mà khoa học không giải thích được, đem hy vọng gửi gắm vào sự bảo hộ của thần linh Việc xuất hiện thần linh có quá trình phát triển khác nhau Vào lúc sơ khai của nhân loại, tư duy của con người còn đơn giản, giàu ảo tưởng, đối với tất cả hiện tượng tự nhiên và vạn vật trong tự nhiên đều cảm thấy thần bí và đáng sợ Mây mưa trên trời biến thành sự vận hành nhật nguyệt kì ảo; núi non chim muôn và cây cối ở dưới đất đều được xem là có thần linh chúa tể; thế là sinh ra quan niệm “vạn vật hữu linh” Các vị thần linh này đã nuôi nấng loài người trưởng thành, lại cũng đe dọa đến sự sinh tồn của họ Vì thế, loài người vừa cảm kích họ, vừa cảm thấy sợ hãi đối với những gì mà họ tạo ra Đồng thời, loài người cũng có cảm giác tương tự và khó có thể lý giải được về những cảnh tượng mộng ảo và sinh lão bệnh tử của bản thân mình Người xưa tin rằng, con người sau khi chết, linh hồn của họ có một năng lực vượt ra khỏi tự nhiên, có thể giao lưu với người sống trong mộng, và cũng có thể làm những điều ám muội khiến người sống sinh bệnh hoặc gặp tai nạn Loại tâm lý tôn kính và sợ hãi các thần trở thành nhân tố quan trọng sinh ra hành vi cúng tế

Quan điểm “vạn vật hữu linh” đã hình thành nên sự sùng bái đa thần, cũng khiến cho đối tượng cúng tế của con người nhiều hơn dẫn đến việc xây dựng nhiều ngôi miếu để làm nơi trú ngụ cho thần linh và tổ tiên

Xét theo đối tượng được thờ cúng chính về đại thể ta có thể phân làm 3 loại:

 Miếu thờ thần linh: đối tượng được thờ trong ngôi miếu này thường là những vị thần của thiên giới và địa giới Thần linh của thiên giới chủ yếu là trời, thần mặt trời, mặt trăng, thần mưa,… Thần linh địa giới thì có thần táo, thần núi, thần nước, thần đá, các thần động thực vật,….; tất cả các vị thần đó đều có mối quan hệ mật thiết với sự sinh tồn của loài người

 Miếu thờ các vị hiền thánh: nơi thờ những người có đạo đức và tài năng rất cao, được coi là mẫu mực cho xã hội (cũ); khai quốc công thần

 Miếu thờ tổ tiên: nơi thờ cúng ông cha từ nhiều đời trước hay các vị tổ thần nghề; tất cả họ đều trực tiếp có mối quan hệ với cuộc sống thường ngày của loài người

Nếu xét về phương diện sở hữu thì ta có 2 loại:

 Miếu thờ của gia đình: đa số là các ngôi miếu thờ nhỏ, mang tính chất riêng tư của gia đình Nó thường là các ngôi miếu thờ thổ thần của cuộc đất đó hay miếu thờ tổ tiên trong gia đình, dòng họ (gia miếu)

 Miếu thờ của cộng đồng: dạng miếu này thường lớn hơn các ngôi miếu của gia đình và mang tính chất chung cho cả làng hay vùng đó

Nếu xét về quy mô thì ta có 3 loại miếu: lớn, vừa và nhỏ

Miếu thờ người Hoa ở Biên Hòa nhìn từ hệ tọa độ văn hóa

Biên Hòa là thành phố nằm ở phía tây của tỉnh Đồng Nai, nam giáp huyện Long Thành, bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, đông giáp huyện Trảng Bom, tây giáp huyện Dĩ An, Tân Uyên (tỉnh Bình Dương) và Quận 9 (thành phố Hồ Chí Minh) Thành phố Biên Hòa nằm hai bên bờ sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30km, cách thành phố Vũng Tàu 90 km

Hình 1.1.1 Bản đồ thành phố Biên Hòa Nguồn: Phần tài liệu mạng [1]

Nằm ở vị trí chiến lược của vùng Đông Nam Bộ, Biên Hòa được xem là thành phố đô thị loại II, là đầu mối giao lưu, là trung tâm kinh tế - xã hội quan trọng của tỉnh Đồng Nai Đồng thời, thành phố Biên Hòa còn được mệnh danh là “thành phố khu công nghiệp”, bởi riêng nơi này đã có 7 khu công nghiệp lớn đã đi vào hoạt động với cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ Hơn nữa, nơi đây cũng giữ một vị trí an ninh quốc phòng trọng yếu của cả vùng

Thành phố Biên Hòa có tổng diện tích là 264,08 km 2 , dân số thành phố năm

2010 là 784.000 người, với mật độ dân số là 2.969 người/km 2 , là thành phố thuộc tỉnh có dân số cao nhất nước Nơi đây là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc, trong đó, ngoài người Việt từ các tỉnh miền Trung, miền Bắc vào; các dân tộc thiểu số bản địa (Tày, Nùng, Chơro, GiaRai,….) thì còn có một lượng lớn người Hoa sống rải rác ở hầu hết 30 phường, xã của thành phố Biên Hòa

Biên Hòa không chỉ có tiềm lực phát triển về kinh tế mà nó còn là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa-xã hội, trong đó văn hóa tín ngưỡng của người Hoa là một điểm đặc sắc trong văn hóa Việt ở Biên Hòa Với số lượng 16 cơ sở tín ngưỡng của người Hoa: 10 miếu; 2 tự; 1 cung và 3 nghĩa từ (chiếm nhiều nhất so vớiĐịnh Quán

(8), Long Khánh (5), Long Thành (3), Nhơn Trạch (2), Tân Phú (5), Thống Nhất

(13), Vĩnh Cửu (0), Xuân Lộc (7)) 3 được phân bố rải rác ở các phường xã thuộc thành phố Biên Hòa Trong đó, Thất Phủ Cổ Miếu là một ngôi miếu được xem là cơ sở văn xã đầu tiên của cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ Ngôi miếu này được xây dựng trên một địa bàn có một lượng lớn người Hoa đến sinh sống từ thưở khai phá vùng đất Đồng Nai, đó là vùng Cù Lao Phố

Cù Lao Phố (còn có tên gọi là Nông Nại Đại Phố; Đông Phố; Giản Phố và Cù Châu) là một bãi phù sa rộng khoảng 6,6 km 2 nằm ở giữa sông Đồng Nai, nay thuộc xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Phía Bắc Cù Lao Phố giáp phường Thống Nhất; phía Nam giáp xã Tân Vạn; phía Đông giáp phường An Bình và Tam Hiệp; phía Tây giáp phường Quyết Thắng và Bửu Hòa

3 Số liệu do Bảo Tàng Đồng Nai cung cấp

Cù Lao Phố có tuyến đường sắt xuyên Việt và quốc lộ I băng qua mỏm phía Tây Cù Lao Đây là tuyến đường huyết mạch dẫn đến thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam Bộ; nếu ngược ra phía Bắc thì tới các tỉnh miền Trung và thủ đô Hà Nội…

Cù Lao Phố có địa hình tương đối bằng phẳng và mang hình dạng của một chiếc chuông chùa treo nghiêng, đỉnh chuông ở phía Đông Bắc; thân chuông được tạo thành bởi sự uốn vòng của sông Cát (còn gọi là Sa Hà hay Rạch Cát) từ hướng Tây Nam lên Đông Bắc rồi lại chảy xuôi về hướng Đông Nam; dòng chính Đồng Nai chảy thẳng hướng Tây Bắc – Đông Nam làm thành đáy chuông Hệ thống sông bao quanh này hằng năm đã cung cấp một lượng phù sa (tuy không nhiều) vào phần đất liền ở mé sông, nhưng khu vực ven bờ này lại không thích hợp cho việc sản xuất nông nghiệp vì chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều xuất hiện với biên độ lớn và thời gian xuất hiện nhanh Thế nhưng bù lại khiếm khuyết trên thì Cù Lao Phố lại có hai rạch nhỏ là rạch Ông Án và rạch Lò Gốm đã đưa nước sông Đồng Nai chảy

Hình 1.1.2 Toàn cảnh Cù Lao Phố https://www.google.com.vn/search?tbm=isch&hl=en&source=hp&biw24&bihd6&q=cu+lao+pho&gb v=2&oq=cu+lao+pho&aq=f&aqi=g-S1&aql=&gs_l=img.3 0i24.4658l6393l0l7269l10l10l0l0l0l0l74l531l10l10l0.frgbld vào những cánh đồng trong lòng cù lao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng trọt ở đây Ngoài ra, với vị trí là bãi phù sa trên nền đá cứng, đất đai Cù Lao Phố còn thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả nhiều loại Dưới lớp đất mặt có tầng sét dày hạt mịn màu đỏ là nguyên liệu tại chỗ cho nghề làm đồ gốm và gạch ngói xuất hiện

Hơn nữa, cũng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt như thế đã nối kết tạo thành một tuyến đường giao thông thủy thuận tiện từ Bắc xuống Nam, lên Cao Miên và xuống miền Tây Nam bộ Nó đã trở thành nhân tố quan trọng đóng góp vào công cuộc Nam Tiến, bởi lẽ, chính dòng sông này đã khiến cho vùng đất Cù Lao Phố-địa danh một thời nổi tiếng với tên gọi Nông Nại Đại Phố-trở thành một trung tâm thương mại sầm uất, một thương cảng quan trọng nhất Nam Bộ, trước khi nhường chỗ cho phố thị Sài Gòn và Bến Nghé nổi lên thay thế Hình ảnh về một xứ phồn hoa đô hội đã được khắc họa khá rõ nét trong sách Đại Nam nhất thống chí:

“Trần Thượng Xuyên chiêu nạp được người buôn nước Tàu, xây dựng đường phố, lầu quá đôi từng rực rỡ trên bờ sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ: nhai lớn giữa phố lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, nhai nhỏ lót đá xanh, đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to ở đây thì nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội ” 4

Từ ưu thế của một cảng sông sâu trong nội địa, đầu mối tập trung nhiều loại hàng hoá đã làm cho ngành thương nghiệp phát đạt ở vùng Cù lao Phố Theo đó thì các ngành nghề thủ công khác cũng được lôi kéo đến như: dệt chiếu, làm tơ lụa, làm gốm, mộc, đúc đồng, làm pháo hay chăn nuôi tằm, trồng mía, nấu đường Ngoài nguồn hàng cung cấp tại chỗ, thương cảng Cù lao Phố còn tiếp nhận các chủng loại hàng hóa từ những địa điểm khác trong vùng chuyển đến như Phước Thiền, Bến Cá, Phú Hội, Chợ Đồn, Long Tân, Phước An …

Với những ưu thế về vị trí địa lý như trên, nó không những giúp cho Cù Lao Phố có thể phát triển kinh tế mạnh mẽ mà nó còn trở thành nơi xây dựng khá nhiều

4 Quốc sử quán triều Nguyễn – Đại Nam nhất thống chí, tập thượng, Biên Hòa, trang 25 những kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng đồ sộ lúc bấy giờ, điển hình là Thất Phủ Cổ Miếu

Trong tiến trình lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ, trước thế kỷ thứ VI, vùng Đồng Nai – Gia Định là một vùng đất hoang vu thuộc Vương quốc Phù Nam Sau thế kỷ thứ VI, sắc tộc Kambuja từ miền Bắc tràn xuống đã phá tan vương quốc Phù Nam và thành lập vương quốc Chân Lạp Thủy Chân Lạp trở thành vùng trung gian giữa hai biên giới Việt và Miên Bởi vậy, bất kỳ dân tộc nào gan dạ, có sức lực đến khai phá vùng này lấy đất sinh sống đều được tự do, không hề bị cản trở, cấm đoán Nhưng vào cuối thế kỷ XVI, về cơ bản thì đây vẫn còn là một vùng đất hoang dã, chưa được khai phá Điều này được Lê Quý Đôn ghi lại vào khoảng thời gian giữa thế kỷ XVIII như sau: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ cửa biển Cần Giờ,

MIẾU THỜ TRONG VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA NGƯỜI HOA

Thế giới quan và nhân sinh quan của người Hoa

2.1.1 Phong thủy – một yếu tố quan trọng trong cơ sở tâm linh của người Hoa

Trong khoảng 310 năm, cùng với quá trình di dân và định cư tại vùng đất Biên Hòa-Đồng Nai, các ngôi miếu đã được hình thành nhằm để đáp ứng nhu tâm linh của cộng đồng người Hoa Các ngôi miếu này không chỉ cung cấp cho chúng ta những thông tin về kiểu thức kiến trúc, các mô típ hoa văn trang trí, hệ thống thờ tự- tế lễ mà còn có thể giúp ta hiểu rõ hơn đặc trưng văn hóa của tộc người với các quan niệm về thế giới xung quanh; về cuộc đời, đạo đức và lối sống của con người

Trong quan niệm về thế giới quan, người Trung Quốc xem thế giới là một vũ trụ, điều đó có nghĩa là chỉ sự hài hòa giữa con người và vũ trụ một cách có trật tự

Họ cho rằng thế giới không có đấng tạo hóa, mọi sự vật hiện tượng được sinh ra bởi hai yếu tố âm “阴 /yīn/ – dương阳/yáng/” Âm dương hòa hợp sẽ sinh ra muôn loài, biểu hiện sự thịnh vượng của vạn vật Hai yếu tố này đã trở thành một triết lý quan trọng trong cuộc sống con người, đặc biệt là trong nhận thức của người Trung Hoa

Và theo dòng phát triển, triết lý âm dương đã có sự phân tách theo hai con đường gắn với loại hình của hai miền Nam – Bắc Trung Quốc tạo thành 2 triết lý về cấu trúc không gian của vũ trụ Một là, triết lý phương Bắc với mô hình Tứ tượng, Bát quái Hai là, triết lý phương Nam với mô hình Tam tài, Ngũ Hành Hai triết lý này gắn với hai loại hình văn hóa nông nghiệp và văn hóa du mục đại diện cho lối tư duy tổng hợp của người phương Nam và lối tư duy phân tích của người phương Bắc Cùng với tư duy phân tích phương Bắc và chú trọng yếu tố đã tạo nên những mô hình vũ trụ với số lượng thành tố chẵn Đối với người phương Bắc, âm dương được gọi là Lưỡng nghi và phát triển theo mô hình Tứ tượng, Bát quái bằng phép phân đôi thuần túy Vì vậy mà trong Kinh Dịch đã trình bài nguyên lý hình thành vũ trụ dưới dạng: Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hóa vô cùng Trong lối tư duy này không thấy nhắc đến âm dương – ngũ hành Vậy triết lý vũ trụ theo mô hình này xuất phát ở đâu? Đây có thể nói là sự ảnh hưởng của văn hóa Bách Việt phương Nam, cùng với lối tư duy tổng hợp và trọng quan hệ đã tạo nên những mô hình vũ trụ với số lượng thành tố lẻ: âm dương (2) sinh tam tài (3), tam tài sinh ngũ hành (5) Nó là quan niệm được Lão

Tử ghi lại: Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật [44 : tr.118 – tr.119] Xuất phát từ quan niệm về một thế giới có trật tự nhưng vẫn cân bằng hài hòa đã khiến cho người Hoa chú trọng hơn đến việc xây dựng và bài trí ngôi miếu Muốn đạt được sự cân bằng hài hòa với môi trường xung quanh, người Hoa đã tự điều chỉnh để tạo ra những ưu thế tốt cho miếu Thông qua đó, họ còn thể hiện khá rõ quan niệm của mình về mô hình vũ trụ Vốn là khối di dân người Hoa đến từ Nam Trung Quốc nên họ đã chịu ảnh hưởng nhiều của triết lý phương Nam kết hợp với yếu tố sẵn tồn tại của khối cư dân Bách Việt nên quan niệm về vũ trụ cũng thiên về mô hình âm dương – ngũ hành Từ kiến trúc cho đến các vật dùng để trang trí đều thể hiện nét cân bằng âm dương Điển hình, loại ngói dùng để lợp cũng là ngói âm dương Ngói âm dương bao gồm: Ngói âm và ngói dương có hình như là một phần của hình chóp cụt bị cắt bởi một mặt phẳng song song trục tâm, nó có một đầu lớn và một đầu bé Ngói dương là ngói được tráng men một phần ở mặt lồi, còn ngói âm là ngói được tráng men một phần ở mặt lõm

Cùng với vật liệu lợp mái miếu thì hình ảnh của các cặp tượng cũng thể hiện khá rõ yếu tố âm dương Đầu tiên là hình ảnh của cặp tượng “ông Nhật-bà Nguyệt” ở hai đầu đao trên nóc các ngôi miếu Hoa (Thất Phủ Cổ Miếu, Tân Lân Cổ Miếu/Đình Tân Lân - phường Hòa Bình, Thiên Hậu Cổ Miếu/miếu Tổ sư nghề đá - phường Bửu Long) (xem hình 2.1.1.1a, b, c) và hình tượng rồng – phụng Bản thân thần Nhật được biểu trưng bằng tượng nam thần - yếu tố dương và thần Nguyệt được biểu trưng bằng tượng nữ thần-yếu tố âm Hay hình ảnh của cặp kỳ – lân bằng đá trên thanh ngang bằng đá ở hai bên lối đi tiền sảnh Cũng như phượng – hoàng và uyên – ương, kỳ – lân là biểu tượng của cặp đôi lưỡng thể - đó là cái nguyên sơ của vũ trụ để từ đó khai sinh ra muôn loài Ở đây, kỳ lân được hiểu là một con đực (kỳ) và một con cái (lân) biểu thị cho sự hòa hợp của âm – dương Và cuối cùng là hình tượng rồng-phượng, một hình ảnh khá quen thuộc đối với người Trung Hoa Nó là hình ảnh được trang trí nhiều trong đám cưới hay là biểu tượng cho hình ảnh của hoàng tộc về cặp đôi vua – hoàng hậu Đây được xem là hai biểu tượng cho quan hệ hạnh phúc giữa chồng và vợ, một kiểu ẩn dụ khác của triết lý âm-dương

Con đường đi từ triết lý âm dương đến tam tài được thể hiện trong miếu bằng những hình tượng minh họa cụ thể về hai yếu tố âm dương tiến dần đến thế giới thờ tự Để bước vào thế giới linh thiêng, mỗi chúng ta đều phải bước qua cổng Tam quan (xem hình 2.1.1.2) Cánh cổng này có thể xem là một hình thức nhỏ thể hiện cho tam tài Ở đây, con số 3 lại được nhắc đến như một biểu hiện rõ nét cho lối tư duy tổng hợp của người dân vùng Bách Việt phương Nam Với cánh cổng ba lối đi này, mỗi cổng như là một con đường khác nhau dẫn dắt ta đến với thế giới của các bậc tiên thánh, giúp ta tiến gần hơn đến với các đối tượng được thờ phụng Các đối tượng ấy cũng là những nhân vật đại diện cho tam giới (Thiên – Nhân – Địa)-một kiểu thể hiện của mô hình tam tài trong triết lý phương Nam Trong tam tài, “Thiên – Nhân – Địa” này, Thiên dương, Địa âm còn Nhân sẽ là đối tượng trung hòa ở giữa Thiên – Địa Xuất phát từ nhiều khía cạnh trên, ta có thể thấy người Hoa đã thể hiện rõ mong muốn của bản thân về một thế giới đạt được sự hài hòa, cân bằng trong cuộc sống Đồng thời, nó cũng thể hiện ước vọng của con người về một cuộc sống an vui, hạnh phúc và may mắn khi nhận được sự an ủi, che chở, ban phước từ mọi cõi thế giới cho cuộc sống trần tục của con người Đặc biệt với những người con xa quê hương, trải qua bao khó khăn để đến lập nghiệp trên vùng đất mới nơi đây, nó đã trở thành động lực mạnh mẽ giúp họ kiên cường hơn, nổ lực phấn đấu hơn cho một cuộc sống tốt đẹp hơn nơi họ đã ra đi

Tiếp nối con đường phát triển của tam tài là ngũ hành Trong quan niệm của người Trung Quốc cổ đại, ngoài nguyên lý “âm – dương” thì Ngũ hành cũng được xem là học thuyết chứa đựng 5 yếu tố tạo nên thế giới loài người Học thuyết này

“nhằm giải thích nguồn gốc và quá trình biến hoá của vạn vật trong vũ trụ Nó đánh dấu bước phát triển sơ khai của tư duy khoa học nhằm thoát khỏi sự chi phối của tư tưởng duy tâm tôn giáo về cái gọi là thượng đế, quỷ thần…” [5: tr.276]

Chính vì xem trọng học thuyết này, người Hoa đã cụ thể hóa 5 yếu tố ấy bằng hình ảnh của 5 vị nương nương để thờ Mỗi cốt tượng nương nương được hình thức hóa với một hành tương ứng trong ngũ hành Năm cốt tượng đại diện cho năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và được thờ chung trong một ngôi miếu nhỏ gọi là miếu Ngũ Hành Hình thức thờ này hiện có ở Thất Phủ Cổ Miếu, Tân Lân Cổ Miếu, miếu Thiên Hậu (miễu Cây Quăn-phường Bửu Long) như một minh chứng cho sự công nhận của người Hoa đối với học thuyết này (xem hình 2.1.1.3a, b, c) Và từ đó không phải ngẫu nhiên mà ngũ hành có ứng dụng rộng rải như vậy Nó đã trở thành một nhân tố căn bản cho bộ môn khoa học phong thủy (风水 có nghĩa là “gió và nước”) Đối với người Trung Quốc, phong thủy là một môn khoa học thần bí kết hợp các tri thức cổ xưa với truyền thống văn hóa Nó thể hiện sự hiểu biết của người Trung Quốc về sự lưu thông của những dòng năng lượng trong vũ trụ Nói đến phong thủy là nói đến thế giới huyền bí của gió-nước, khí âm-khí dương và sự tương sinh tương khắc của Ngũ Hành trong thiên nhiên

Phong thủy bắt nguồn từ Trung Quốc, cho nên, người Trung Quốc xem nó như là một phần nghệ thuật đặc biệt giúp cân bằng cuộc sống, khai thông và phát triển vận may trong mọi lĩnh vực có liên quan đến cuộc sống của họ Cho nên, khi xây dựng các công trình kiến trúc nói chung, cơ sở tín ngưỡng nói riêng, người Hoa luôn chú ý thuật phong thủy bởi họ cảm nhận “không gian nhà ở là một tiếu vũ trụ trong trật tự của vũ trụ lớn” [38 : tr.214] Với những chú ý về yếu tố “minh đường thủy tụ” giúp nơi ấy vượng khí, các ngôi miếu Hoa ở Biên Hòa đã đặc biệt chú ý đến vấn đề này khi chọn nơi xây dựng miếu

Theo phong thủy truyền thống, thế đất tốt là những vùng đất có đồi núi, những nơi có không khí trong lành, gió thổi nhẹ, dòng nước chảy chậm và uốn khúc, khu vực xung quanh xanh tươi Đây là một địa thế tốt do địa hình này tượng trưng cho sự che chở, bảo vệ Từ những quan điểm truyền thống như vậy mà các ngôi miếu Hoa ở thành phố Biên Hòa cũng đã tìm được thế đất tọa lạc riêng tuân theo một số nguyên tắc nhất định trong yêu cầu này Trong đó, Thất Phủ Cổ Miếu và Thiên Hậu

Cổ Miếu là hai ngôi miếu lớn trên địa bàn tọa lạc trên những vùng đất đắc địa Nếu Thiên Hậu Cổ Miếu có ngọn núi Bửu Long ở vị trí sau lưng miếu (được bảo vệ, che chắn tốt bởi thế đất có Huyền Vũ) thì Thất Phủ Cổ Miếu lại có dòng sông Đồng Nai hiền hòa ở mặt tiền ngôi miếu Trước đây, khách quan mà nói vị trí này của miếu chủ yếu là để giúp giải quyết nhiều vấn đề trong kinh doanh buôn bán của vùng Cù Lao Phố thịnh đạt ngày trước Nhưng đến nay việc kinh doanh buôn bán không còn nữa thì nó vẫn hiện hữu như một dấu hiệu tốt về phong thủy Bởi nước luôn tượng trưng cho của cải và sự thịnh vượng Đồng thời, nó còn là tác nhân dẫn khí, nhất là khí từ một dòng sông nước sạch và chảy chậm như sông Đồng Nai Đây là những yếu tố giúp khí tích lũy và đem đến vận may Lợi dụng ưu thế này, ngoài Thất Phủ

Cổ Miếu thì Tân Lân Cổ Miếu, Quan Đế Miếu - p.Thanh Bình và Phụng Sơn Tự cũng lựa chọn xây dựng mặt tiền miếu hướng ra sông Đồng Nai

Còn các ngôi miếu khác không chọn được thế đất lý tưởng như mong muốn thì họ cũng đã vận dụng và điều chỉnh cảnh quan theo một số yêu cầu cơ bản trong phong thủy Họ tiến hành cải tạo địa thế bằng cách xây hồ nước trước công trình kiến trúc (tượng trưng cho dòng sông) như Thiên Hậu Cổ Miếu - p.Bửu Long và Hộ Quốc Miếu - p.Tân Phong Hoặc cải tạo hai bên vách miếu bằng cách điều chỉnh theo thế đất Thanh long-Bạch hổ tượng trưng cho thế đất “rồng thu, hổ phục” như trong lý thuyết về biểu tượng của phong thủy cảnh quan Hoặc chọn vị trí con đường trước miếu làm điều kiện thay thế cho dòng nước-đây là một khía cạnh được nhắc đến trong phong thủy đô thị như: Thiên Hậu Cổ Miếu - p.Bửu Long và Hộ Quốc Miếu - p.Bình Đa Đây là cách cải tạo cho những ngôi miếu không có điều kiện tiếp cận với yếu tố nước Như vậy, dù ở vị trí không tốt thì một số ngôi miếu nhờ những cải tạo theo các cách khác nhau đã giúp cải thiện tình hình phong thủy Thậm chí, có miếu còn đạt được nhiều ưu thế tốt cùng một lúc trong phong thủy như Thiên Hậu

Cổ Miếu - p.Bửu Long (xem hình 2.1.1.4)

Bên cạnh việc lựa chọn một thế đất tốt thì việc bài trí và lựa chọn những vật dụng phù hợp để tăng cường năng lượng tốt hoặc hạn chế bớt sát khí trong không gian miếu Hoa cũng là một yêu cầu quan trọng trong phong thủy cảnh quan Điều này được người Hoa rất chú ý khi thiết kế tiền sảnh của miếu Hoa Tiền sảnh là một khoảng sân rộng ngoài việc dùng làm không gian phục vụ cho những lễ hội của miếu thì nó còn được thiết kế sao cho nơi đây trở thành không gian thoáng đãng, đẹp đẽ, tươi sáng để có thể đón nhận những nguồn năng lượng tốt nhất từ thiên nhiên đất trời thổi vào Ngoài ra, ở tiền sảnh của các ngôi miếu Hoa nói chung và Thất Phủ Cổ Miếu nói riêng còn đặt một cặp tượng sư tử làm bằng đá Bửu Long

MIẾU THỜ TRONG VĂN HÓA TỔ CHỨC CỦA NGƯỜI HOA63 3.1 Quan Thánh Đế-vị quan toà của thương nhân

Ngày đăng: 11/05/2021, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w