1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện tượng chửi ở người việt từ góc nhìn văn hóa học

179 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng cách tiếp cận văn hóa học, hiện tượng chửi sẽ được nghiên cứu và tìm hiểu một cách khái quát và toàn diện, làm rõ những đặc trưng, bản chất trong cách chửi, lối chửi, tâm lý chửi củ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THẢO CHI

HIỆN TƯỢNG CHỬI Ở NGƯỜI VIỆT

TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

Mã số: 60.31.06.40

TP HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THẢO CHI

HIỆN TƯỢNG CHỬI Ở NGƯỜI VIỆT

TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

Mã số: 60.31.06.40

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH TRẦN NGỌC THÊM

TP HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 3

 LỜI CAM ĐOAN 

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những nhận xét, đánh giá, kết quả nghiên cứu, bảng biểu điều tra… của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác có trích dẫn trong luận văn, đều được chú thích và ghi rõ nguồn Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tôi thu thập và xử lý từ kết quả điều tra khảo sát

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

về nội dung luận văn của mình

Học viên thực hiện

Nguyễn Thảo Chi

Trang 4

 LỜI CẢM ƠN 

Để hoàn thành bài luận văn này, không chỉ là công sức của cá nhân tác giả, mà còn là sự hỗ trợ đắc lực và giúp sức to lớn từ giảng viên hướng dẫn, khoa Văn hoá học, lãnh đạo của cơ quan đang công tác, đến các cô chú, anh chị đồng nghiệp, gia đình, người thân, bạn bè…

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành với tất cả lòng kính trọng đến người Thầy đáng kính, người hướng dẫn khoa học cho đề tài, GS.TSKH TRẦN NGỌC THÊM, bốn năm là một khoảng thời gian dài để hoàn thành một luận văn cao học, nhưng thầy vẫn dành cho tôi một sự kiên nhẫn, động viên tôi lúc tôi cảm thấy đuối sức, nghiêm khắc trong quá trình hướng dẫn, chỉnh sửa bài, chỉ để tôi cố gắng hết sức hoàn thành một cách tốt nhất Chính nhờ thầy mà tôi tìm ra được “điều cốt lõi và quan trọng nhất” trong nghiên cứu của mình

Tôi xin cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Văn hoá học, các Thầy Cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức nền tảng bổ ích, các anh chị chuyên viên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập và hoàn tất hồ sơ xin bảo vệ luận văn

Tôi cũng thật sự biết ơn TS Phạm Tấn Hạ, trưởng phòng đào tạo trường ĐH KHXH&NV, đã tạo điều kiện cho một chuyên viên là tôi tham gia vào chương trình đào tạo cao học, luôn động viên và cho tôi những lời khuyên hữu ích không chỉ trong học tập, nghiên cứu, mà còn trong những ứng xử ngoài xã hội

Đồng thời, các cô chú, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè đã luôn động viên, ủng

hộ, và giúp đỡ tôi rất nhiều trong công việc, tạo điều kiện và môi trường cho tôi hoàn thành luận văn này Đặc biệt, lời cảm ơn là không đủ để tôi gửi đến gia đình mình, nơi tôi sống và học tập trong tình thương và sự chăm sóc của mọi người Một lần nữa, tận đáy lòng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới tất cả mọi người

Ngày 04 tháng 11 năm 2016

Nguyễn Thảo Chi

Trang 5

MỤC LỤC

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 6

7 Bố cục và cách trình bày luận văn 8

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9

1.1 Giao tiếp và văn hoá giao tiếp 9

1.2 Khái quát về hiện tượng chửi 11

1.2.1 Các định nghĩa đã có về khái niệm chửi 11

1.2.2 Định nghĩa khái niệm chửi 14

1.2.3 Phân biệt chửi với các khái niệm liên quan 16

1.2.4 Phân loại chửi 22

1.3 Hiện tượng chửi dưới ảnh hưởng của không gian và loại hình văn hoá 24

1.4 Hiện tượng chửi dưới sự chi phối về mặt sinh học giữa hai giới 33

1.5 Sự phân biệt giữa thiêng và tục 35

1.6 Tiểu kết 38

Chương 2: HIỆN TƯỢNG CHỬI Ở NGƯỜI VIỆT TỪ GÓC ĐỘ TĨNH TRẠNG 40

2.1 Hiện tượng chửi xét theo chủ thể 40

2.1.1 Ở góc độ sinh học cá nhân 40

2.1.2 Ở góc độ tôn giáo – tín ngưỡng 49

2.1.2.1 Tín ngưỡng phồn thực 49

2.1.2.2 Tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên 52

2.1.2.3 Tín ngưỡng thờ Trời – Mẫu – Thần 54

2.1.2.4 Các tôn giáo khác 56

Trang 6

2.1.3 Ở góc độ ngành nghề xã hội 58

2.2 Hiện tượng chửi xét theo không gian 60

2.2.1 Nông thôn – thành thị 60

2.2.2 Vùng miền: Bắc – Trung – Nam 67

2.3 Hiện tượng chửi nhìn từ quan hệ (cấu trúc) 73

2.3.1 Quan hệ đặc thù giữa các từ xưng hô 73

2.3.1.1 Quan hệ chủ thể - đối tượng 73

2.3.1.2 Quan hệ trên – dưới 74

2.3.2 Các bài chửi dân gian nhìn từ cấu trúc nghệ thuật 76

2.4 Tiểu kết 81

Chương 3: HIỆN TƯỢNG CHỬI Ở NGƯỜI VIỆT TỪ GÓC ĐỘ ĐỘNG THÁI 83

3.1 Hình thức phi ngôn từ của hiện tượng chửi 83

3.1.2 Phi ngôn từ mang tính biểu tượng 84

3.1.3 Phi ngôn từ thuần tuý 85

3.2 Tính giá trị của hiện tượng chửi nhìn từ các góc độ 89

3.2.1 Từ góc độ chủ thể 89

3.2.1.1 Chửi với việc giải t a cảm xúc bất bình 89

3.2.1.2 Chửi với việc giải quyết xung đột 91

3.2.2 Từ góc độ đối tượng 92

3.3.2.1 Chửi với chức năng giáo dục 93

3.3.2.2 Chửi với việc lựa chọn cách ứng xử của đối tượng 94

3.2.3 Từ góc độ xã hội 95

3.2.3.1 Chửi với việc phát triển xã hội 95

3.2.3.2 Chửi trong mối quan hệ với các tác phẩm văn chương 98

3.2.3.3 Chửi với tính giải trí trong văn hóa đại chúng 105

3.3 Những nguyên nhân lý giải hiện tượng chửi nhiều ở người Việt 107

3.3.1 Ảnh hưởng từ nguồn gốc loại hình văn hóa 107

3.3.1.1 Tính cộng đồng làng xã 107

Trang 7

3.3.1.2 Tính trọng âm 110

3.3.2 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và bối cảnh lịch sử 111

3.3.3 Ảnh hưởng của cách giáo dục truyền thống trong gia đình Việt Nam 112

3.3.4 Ảnh hưởng của toàn cầu hoá, đặc biệt là internet 115

3.3.4.1 Thời đại của "sự sỉ nhục toàn cầu" 115

3.3.4.2 Bản chất của internet 120

3.4 Những tiêu chí xác định tính văn hoá của hiện tượng chửi 123

3.5 Tiểu kết 131

KẾT LUẬN 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137

TƯ LIỆU KHẢO SÁT 141

PHỤ LỤC I: MỘT SỐ BÀI THƠ CỦA NGUYỄN KHUYẾN, TÚ XƯƠNG, HỒ XUÂN HƯƠNG 145

PHỤ LỤC II: MỘT SỐ CÂU CHỬI ĐỘC ĐÁO 154

PHỤ LỤC III: PHIẾU ĐIỀU TRA 158

PHỤ LỤC IV: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA 165

Trang 8

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Chửi là một hiện tượng mang tính phổ quát có mặt ở khắp nơi trên thế giới Chỗ nào có con người chỗ đó có chửi, cho dù họ sử dụng những ngôn ngữ khác nhau, từ ngữ khác nhau nhưng cùng chung mục đích là thể hiện phản ứng bất bình trước những khó khăn, mâu thuẫn trong cuộc sống Đó là cách phổ biến nhất để con người giải t a

và cân bằng cảm xúc, là cách thức tự giải quyết mâu thuẫn, cho dù cách giải quyết này

có thể dẫn tới những cách thức khác nặng nề hơn như đánh nhau (bằng tay chân, vũ khí, kiện tụng…) Trong chửi có nhiều loại, nhiều mức độ, nhìn chung hầu khắp các xã hội đều đánh đồng hiện tượng chửi nói chung là chửi tục, chửi bậy, và vì thế hiện tượng chửi được xem như một hiện tượng phi văn hóa cần lên án, nghiêm cấm và xử phạt ở nhiều quốc gia Nhưng thực chất, chửi thề, chửi tục chỉ là một bộ phận nh trong khái niệm chửi Bên cạnh chửi thề, chửi tục còn có nhiều hình thức chửi khác, vì thế việc đánh đồng này là không chính xác

Chửi là một hiện tượng văn hoá lâu đời, nhưng cho đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về nó, đặc biệt dưới góc độ văn hóa Bằng cách tiếp cận văn hóa học, hiện tượng chửi sẽ được nghiên cứu và tìm hiểu một cách khái quát và toàn diện, làm rõ những đặc trưng, bản chất trong cách chửi, lối chửi, tâm lý chửi của người Việt Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng

ở Việt Nam có cái gọi là “Văn hóa chửi” Nếu xét ở góc độ nào đó, người Việt Nam không chỉ chửi nhiều, mà còn chửi rất “nghệ thuật”, với lối chửi có vần có điệu, lên bổng xuống trầm, người Việt có thể chửi dài và chửi “hay” Vậy hiện tượng chửi ở Việt Nam có những đặc trưng gì? Vì sao người Việt hay chửi? Chửi như thế nào là có văn hoá? Đó cũng là những câu h i làm động lực để chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu Tìm hiểu một nền văn hóa bắt nguồn từ những hiện tượng tưởng chừng như phi giá trị có khi sẽ giúp chúng ta khám phá thêm những điều hay, thú vị về nền văn hóa nơi mình đang sống

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài này là nghiên cứu hiện tượng chửi ở người Việt một cách khái quát và toàn diện từ cách tiếp cận văn hóa học Trên cơ sở đó, đề tài đặt

ra những mục tiêu cụ thể như sau:

- Tìm ra những đặc trưng, bản chất của hiện tượng chửi ở người Việt

- Phân tích hiện tượng đặt trong hai trạng thái đối lập: tĩnh và động

- Đánh giá tính giá trị của hiện tượng theo góc độ chủ thể - đối tượng – xã hội Trong mỗi góc độ, tính giá trị được thể hiện khác nhau trong những trường hợp khác nhau

- Xây dựng tiêu chí xác định “tính văn hóa” của hiện tượng

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới, việc nghiên cứu về ngôn ngữ tục khá nhiều, được tập trung chú ý vào khoảng thập niên 70, 80 của thế kỷ XX và hiện nay được các nhà ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lý học đi sâu vào nghiên cứu như một đề tài khoa học mới, chủ yếu là các tài liệu tiếng Anh và tiếng Hoa Nhất là sau phong trào giải phóng phụ nữ từ năm 1857 đến 1975 (ngày 8 tháng 3 năm 1975 được Liên Hiệp Quốc chọn làm ngày Quốc tế phụ nữ) sự giải phóng tính dục được khởi xướng mạnh mẽ đồng thời cũng là lúc các công trình nghiên cứu liên quan đến hiện tượng sử dụng ngôn từ tục lần lượt ra đời, một số

công trình như System and function in language (Hệ thống và chức năng trong ngôn ngữ) của G.R Kress năm 1976, Bad Language (Ngôn ngữ “tồi tệ”) của L.G Andersson

và P Trudgill năm 1990, Cursing in America: A psycholinguistic study of dirty language in the court, in the movie, in the schoolyards and in the street (Sự nguyền rủa

ở Mỹ: nghiên cứu ngôn ngữ học tâm lý về từ ngữ tục ở tòa án, trong phim ảnh, trong sân trường và ngoài đường phố) của Timothy Jay năm 1992 v.v…

Ở phương Đông, tiếng Trung, theo Trần Duy Khương, là ngôn ngữ có số lượng

từ dùng để nói tục, chửi thề vào loại phong phú nhất thế giới, cho nên giới nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ của Trung Quốc, Đài Loan đã nghiên cứu và dịch thuật nhiều công

Trang 10

trình nghiên cứu về hiện tượng sử dụng ngôn từ tục [Trần Duy Khương 2008: 6], như

Ngôn từ tục thường dùng ở Đài Loan của Trịnh Văn Hải (chủ biên) năm 2000, hay Từ ngôn từ tục bôi nhọ phụ nữ đến sự thể hiện của quyền lực phụ quyền thông qua việc sử dụng ngôn ngữ của Thái Bội năm 2005 [Trần Duy Khương lược dịch 2013], hay như công trình Language Most Foul (Ngôn ngữ thô tục nhất) năm 2006 của Ruth Wajnryb

(Nghiêm Vận dịch từ nguyên bản tiếng Anh) Tuy nhiên, ngôn từ tục chỉ là một bộ phận trong hiện tượng chửi nói chung, chúng chưa thể xem là những công trình nghiên cứu về hiện tượng chửi dưới góc độ văn hóa học

Ở Việt Nam, hiện tượng chửi của người Việt cũng đã được nghiên cứu tuy chưa nhiều và phổ biến Năm 1967, Nguyễn Văn Trung lần đầu đề cập đến hiện tượng nói

tục, chửi thề trong cuốn “Ngôn ngữ và thân xác”, nhưng cũng chỉ là bước đầu, mang

tính chất liệt kê, phân loại dưới góc độ ngôn ngữ Ông cũng là người đầu tiên đề xuất

cần có những nghiên cứu đúng đắn về hiện tượng này ở Việt Nam, “đòi hỏi một công trình kê khai có hệ thống để giải thích khoa chửi tục của người Việt Nam.” [dẫn theo

Nguyễn Hưng Quốc 2010] Theo lời của Nguyễn Văn Trung, cùng thời gian này, linh

mục Trương Đình Hòe cũng đã có một luận án tiến sĩ ở Paris về Ý nghĩa tôn giáo của chửi tục Việt Nam nhưng chúng tôi chưa tiếp cận được tài liệu này nên chưa thể kiếm

chứng cũng như có được thông tin chính xác

Tiếp đến, nhà văn Võ Phiến cũng bàn đến vấn đề này trong hai bài viết đăng

trên tạp chí Bách Khoa năm 1968 là “Chửi” và “Từ chuyện chửi tục” Trong hai bài

viết này, Võ Phiến cho rằng “chửi” chính là một biểu hiện đặc sắc của dân tộc tính Việt Nam, nó có giá trị cao đẹp hơn nhiều so với những dân tộc chuyên đánh nhau và giết

chóc [Võ Phiến 1968a 1968b] Tuy bài viết này đã phân tích hiện tượng chửi ở Việt

Nam một cách rất chi tiết, nhưng chưa có những dẫn chứng cụ thể, khoa học, ít nhiều còn mang tính chủ quan

Ở góc độ cấu trúc ngôn ngữ, bài viết đáng chú ý Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa trong các lối chửi của người Việt của Nguyễn Thị Tuyết Ngân đăng trên Tạp chí Ngôn

ngữ số 1, năm 1993 đã nghiên cứu sâu và rất kỹ lưỡng về các hình thức chửi của người

Trang 11

Việt, cấu trúc của ngôn ngữ được sử dụng Tuy nhiên, bài viết này chưa đi sâu vào khía cạnh văn hóa của hiện tượng

Trong công trình Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm năm

1996, tái bản năm 2006, tác giả cũng đề cập đến hiện tượng này trong phần Văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ như sau: “Thậm chí ngay cả trong việc chửi nhau, người Việt cũng chửi nhau một cách có bài bản, cân đối, nhịp nhàng, đầy chất thơ (không chỉ lời chửi, mà cả cách thức chửi, dáng điệu chửi… cũng mang đầy tính nhịp điệu)”, “Với lối chửi có vần điệu, có cấu trúc chặt chẽ, người Việt có thể chửi từ giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác mà không hề nhàm chán Đây là một

“nghệ thuật chửi” độc nhất vô nhị mà có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có được” [Trần Ngọc Thêm 2006: 290] Như vậy, theo tác giả, lối chửi của người Việt

(đặc biệt là những bài chửi dân gian) là một hiện tượng độc đáo, một “bản sắc riêng” trong văn hóa giao tiếp của người Việt mà không dân tộc nào trên thế giới có được, góp phần làm cho kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam trở nên phong phú, đa dạng

Năm 2008, luận văn thạc sĩ của Trần Duy Khương (thực hiện dưới sự hướng

dẫn của Trần Ngọc Thêm) với đề tài Hiện tượng sử dụng ngôn từ tục dưới góc nhìn văn hóa học có thể xem là công trình nghiên cứu có liên quan đến hiện tượng chửi dưới

góc độ văn hóa Tuy nhiên phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài này tương đối rộng, bao gồm cả Việt Nam, Trung Hoa trong so sánh đối chiếu với phương Tây Bên cạnh đó, đề tài cũng chưa chú trọng việc khai thác, tìm hiểu về hiện tượng này trong cuộc sống, mối quan hệ của hiện tượng với những thành tố trong hệ thống văn hóa Việt Nam

Bên cạnh đó trên các trang báo, tạp chí điện tử, diễn đàn internet, ta cũng có thể

dễ dàng tìm ra những bài viết của nhiều tác giả như “Chỉ Hà Nội mới có văn hóa chửi” của Huệ Bạch ghi lại từ cuộc ph ng vấn PGS.TS Văn Giá [Huệ Bạch 2012], “Nghệ thuật chửi móc” [Anh Tú 2010],“Nhìn lại chửi thề” [Nguyễn Thành Nhân 2010] Trên các diễn đàn internet, những chủ đề tranh luận về “Văn hóa chửi của người Việt” hay

“Nghệ thuật chửi của người Việt” thu hút được nhiều sự chú ý, tham gia thảo luận…

Trang 12

Đáng chú ý là loạt bài viết của Mai Thị Hảo Yến đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và

đời sống, gồm các bài: Xác định và phân loại hành động ngôn ngữ chửi mắng trong Tiếng Việt (số 7, 2014), Văn hoá giao tiếp của người Việt qua hành động ngôn ngữ chửi (số 3, 2015), Xưng hô trong hành động ngôn ngữ chửi mắng Tiếng Việt (số 3,

2016) Loạt bài viết chủ yếu xác định và phân loại hành động chửi mắng ở góc độ ngôn ngữ, góc độ văn hoá tuy có tiếp cận qua bài viết về văn hoá giao tiếp nhưng chỉ mang tính chung chung, chưa nêu bật được đặc điểm văn hoá của hiện tượng Đối với những

nhà nghiên cứu ngôn ngữ, họ đa phần đều thống nhất chửi, mắng, trách đều củng một

nhóm hành động ngôn ngữ “phản chuẩn” [Mai Thị Hảo Yến 2014: 11] Nhưng đến bài viết năm 2015, cũng chính nhà nghiên cứu này đặt ra vấn đề cần phải xem xét lại quan

niệm về hành động ngôn ngữ chửi theo cách hiểu lâu này, bởi bà đã nhận ra “sự phong phú trong cách biểu hiện thái độ tình cảm trong hành động chửi và có thể xem là một nét văn hoá bản sắc của người Việt” [Mai Thị Hảo Yến 2015: 28]

Như vậy, tuy ở Việt Nam hiện tượng chửi chưa có những công trình nghiên cứu tập trung và hệ thống, nhưng lại là đề tài thu hút nhiều sự quan tâm từ giới học giả, nhà văn cho đến tầng lớp bình dân trong xã hội Sự tồn tại hai mặt của hiện tượng này ở khía cạnh xã hội và khía cạnh khoa học thôi thúc chúng tôi một cách mạnh mẽ trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về hiện tượng này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Như tên đề tài, đối tượng nghiên cứu chính là hiện tượng chửi ở người Việt Ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng là cái phát triển hằng ngày, hằng giờ, rất

đa dạng, phong phú và luôn luôn biến đổi, sáng tạo Cho nên đối tượng của luận văn sẽ chỉ tập trung giới hạn ở những từ ngữ, câu chửi, bài chửi phổ biến Bên cạnh đó, luận văn cũng phân biệt hiện tượng chửi và hiện tượng sử dụng ngôn từ tục để tránh sự hiểu lầm, như sau:

- Hoạt động chửi có thể sử dụng ngôn từ tục hoặc không sử dụng

- Sử dụng ngôn từ tục trong giao tiếp có thể là hoạt động chửi hoặc không

Trang 13

Hai hiện tượng này có phần giao nhau là “hiện tượng chửi sử dụng ngôn từ tục”

- một phần trong hiện tượng chửi nói chung Đề tài sẽ không đề cập đến những trường hợp sử dụng ngôn từ tục nhưng không mang tính chất của hoạt động chửi

Phạm vi thời gian của đề tài chủ yếu là trong thời kỳ hiện đại

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Chửi là hiện tượng phổ quát, nhưng không phải ai cũng hiểu và nhìn nhận nó một cách khách quan như một thành tố của hệ thống văn hóa dân tộc Hầu hết đều cho rằng đó là hiện tượng phi văn hóa cần được hạn chế và ngăn cấm Nhưng nếu nghĩ như vậy, vô hình chung đã thu hẹp giá trị và nhìn nhận chủ quan về hiện tượng

Về mặt khoa học, công trình hoàn thành sẽ góp phần làm sáng t thêm một số vấn đề trong văn hóa giao tiếp và ứng xử của người Việt, cung cấp cái nhìn khách quan hơn, đúng đắn hơn không chỉ trong những vấn đề thuộc về văn hóa giao tiếp, mà còn trong những vấn đề thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn khác Đồng thời xác định cách ứng xử và nhìn nhận phù hợp đối với những hiện tượng văn hóa nằm giữa làn ranh của tính giá trị và phi giá trị

Về mặt thực tiễn, công trình sẽ mang lại cách nhìn nhận khách quan hơn, bao quát hơn về tính hai mặt của hiện tượng, đồng thời góp phần cho những nhà quản lý đề

ra những quy định, luật lệ mang tính chất công bằng và chính xác hơn trong văn hóa giao tiếp và ứng xử, định hướng các giá trị chuẩn mực phù hợp với thuần phong mỹ tục, bảo tồn và lưu giữ những nét văn hóa của hiện tượng như là một nét độc đáo trong bản sắc văn hóa Việt Nam

Bên cạnh đó, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu những vấn đề trong văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử, hoặc các ngành lĩnh vực khác có liên quan như tâm lý, xã hội, ngôn ngữ…

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Quan điểm và hướng tiếp cận: đề tài này được thực hiện với cách tiếp cận liên ngành (văn hóa học, ngôn ngữ học, tâm lý học, xã hội học, sử học, địa lý học,.v.v ),

Trang 14

tiếp cận hệ thống, cùng với việc xem xét hiện tượng từ góc nhìn địa văn hóa, sử văn hóa

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: được sử dụng trên cơ sở thu thập tài liệu và tư liệu liên ngành từ nhiều lĩnh vực khác nhau để đưa ra quan điểm và kiểm chứng quan điểm

- Phương pháp hệ thống: được áp dụng xuyên suốt quá trình thực hiện luận văn Phương pháp này được sử dụng trong những công việc cụ thể như sau:

 Hệ thống hóa các tài liệu, tư liệu từ nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, từ đó xác lập được hình ảnh hệ thống của đối tượng nghiên cứu

 Phân tích hệ thống nhằm xác định mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành, làm cơ sở cho việc đưa ra các luận điểm khoa học

 Phương pháp này đóng vai trò quan trọng trong các khâu thành phần như: định vị, định nghĩa đối tượng, sắp xếp tư liệu, xây dựng đề cương, xây dựng thuật giải, lập bảng, lập mô hình…

 Việc áp dụng phương pháp hệ thống xuyên suốt sẽ đảm bảo được tính chặt chẽ và khoa học cho đề tài luận văn

- Phương pháp loại hình: được vận dụng để lý giải những đặc trưng của đối tượng nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh, giải thích những hiện tượng đặc thù Do mang tính khái quát cao nên phương pháp loại hình giúp ta nhìn nhận đối tượng ở cái nhìn rộng

và bao quát, đồng thời hiệu quả trong việc phát hiện những yếu tố mới trong nghiên cứu

- Phương pháp so sánh: được thực hiện để nghiên cứu sự biến đổi của hiện tượng theo không gian (nội văn hóa được đặt ra trong so sánh hiện tượng ở ba miền đất nước Bắc Trung Nam và so sánh xuyên văn hóa nhằm lý giải sự khác biệt phương Đông và phương Tây), theo thời gian (quá trình hình thành và biến đổi của hiện tượng) nhằm tiếp cận và soi rõ đối tượng ở nhiều góc độ khác nhau

Trang 15

- Phương pháp thống kê xã hội học: kết hợp với phần mềm thống kê SPSS được tiến hành để xử lý kết quả của cuộc khảo sát lấy ý kiến, việc khảo sát được thực hiện

online qua công cụ hỗ trợ Google Drive Đây là nguồn tư liệu khảo sát bổ sung cần

thiết nhằm cung cấp những giá trị định lượng giúp cho công trình hài hòa và hoàn chỉnh hơn

Đề tài sử dụng nguồn tư liệu phong phú trong văn học dân gian, những tác phẩm văn chương, những bài báo, bài bình luận trên các diễn đàn internet…

7 Bố cục và cách trình bày luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Những vấn đề chung, đưa ra cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa

ngôn ngữ và văn hoá, giao tiếp và văn hóa giao tiếp, những yếu tố lý thuyết chi phối đến đặc điểm hiện tượng chửi ở Việt Nam

- Chương 2: Hiện tượng chửi ở người Việt từ góc độ tĩnh trạng, phân tích hiện tượng chửi của người Việt trong khung tham chiếu: Chủ thể - Không gian – Quan hệ

- Chương 3: Hiện tượng chửi ở người Việt từ góc độ động thái, xem xét hiện tượng – hoạt động chửi trong mối quan hệ của nó với thực tiễn cuộc sống người Việt

Việc phân làm ba chương đảm bảo sự hợp lý không chỉ về mặt hình thức, mà còn có sự hài hòa về mặt nội dung Việc nghiên cứu hiện tượng từ hai góc độ đối lập giúp ta có thể nhận định một cách khái quát, khách quan và chính xác hơn

Để đảm bảo tính chính xác và thực tế, trong luận văn sẽ trình bày một cách

“thẳng thắn” và “đầy đủ” các từ ngữ “tục” ở dạng tự nhiên của chúng, chứ không thay thế bằng những cách nói vòng, cách nói thay thế hoặc chữ viết tắt

***

Trang 16

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Giao tiếp và văn hoá giao tiếp

Ngôn ngữ là mộtbộ phận quan trọng vào bậc nhất của văn hoá, tuy nhiên, chức năng chính của ngôn ngữ vẫn là giao tiếp Giao tiếp là hoạt động thường xuyên và

không thể thiếu trong cuộc sống của loài người Ngay từ khi ngôn ngữ chưa xuất hiện, con người đã biết giao tiếp, đó là quá trình cho – nhận gồm những hành động, cử chỉ, tiếng kêu… giúp con người truyền tải ý muốn, thông tin đến đồng loại của mình và nhận lại thứ tương tự Song chỉ đến khi ngôn ngữ xuất hiện, giao tiếp của con người mới ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn, là yếu tố quyết định sự khác biệt giữa người và loài vật Tuỳ vào mục đích và góc độ nhìn nhận mà quan niệm về giao tiếp cũng có nhiều khác biệt, nhưng cơ bản hoạt động giao tiếp bao gồm những đặc điểm sau:

- Là hoạt động có mục đích của con người

- Thực hiện việc trao đổi, truyền đạt thông tin

- Dẫn tới hành động, thái độ, tình cảm, quan hệ

Tóm lại, có thể hiểu: Giao tiếp là quá trình thực hiện việc trao đổi, truyền đạt thông tin giữa người với người nhằm thực hiện các mục đích nhất định

Giao tiếp của con người tồn tại ở hai dạng: ngôn từ (lời nói, từ viết) và phi ngôn

từ (điệu bộ, cử chỉ, trang phục, thái độ, biểu cảm khuôn mặt, chất giọng…) Trong giao tiếp hằng ngày, con người sử dụng song song và xen kẽ hai hình thức này, đó là nét độc đáo và đặc biệt tạo nên sự đa dạng, phong phú, nhiều mặt và nhiều nghĩa trong giao tiếp Giao tiếp giúp con người thực hiện việc truyền đạt thông tin, truyền đạt tình cảm, thái độ, nhu cầu cá nhân…từ đó dẫn tới hành động, thiết lập các mối quan hệ xã hội, quan hệ tình cảm

Trang 17

Khi nhắc đến văn hóa giao tiếp, ta nghĩ ngay đến những chuẩn mực trong thái

độ và hành vi ứng xử giữa con người với nhau, phù hợp với những giá trị chung của cộng đồng Hiểu như vậy không sai nhưng chưa đủ, văn hóa giao tiếp không chỉ đơn thuần là những giá trị về chuẩn mực giao tiếp, mà đó còn là những giá trị mang tính

bản sắc, là biểu hiện cho đặc trưng văn hóa của dân tộc “Nhìn từ góc độ giao tiếp thì nét đặc trưng nổi trội nhất của văn hoá là thái độ hay hành vi ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội Tạo nên nét đặc trưng này chính là cái giá trị được gọi là bản sắc miền vùng, hay bản sắc dân tộc Trong đó ngôn ngữ có vai trò cực kỳ quan trọng nếu không muốn nói là yếu tố quyết định tạo nên bản sắc ấy” [Hữu Đạt 2009: 19]

Văn hoá giao tiếp là một thành tố của văn hoá cộng đồng, sản phẩm biểu hiện không chỉ đơn giản là ngôn ngữ, mà còn nằm ở thái độ, cách hành xử, suy nghĩ và thói quen trong giao tiếp Văn hoá giao tiếp của người Việt khác với người Mỹ, văn hoá giao tiếp châu Á khác với châu Âu, văn hóa giao tiếp phương Đông khác với phương Tây… Ở phương Tây, hành động ôm hôn khi gặp gỡ rất phổ biến và bình thường, nhưng ở phương Đông, sự thân mật gần gũi này lại rất hạn chế, nếu có chỉ trong nội

bộ gia đình và diễn ra trong môi trường kín đáo Có thể hiểu văn hoá giao tiếp của một cộng đồng là tổng hoà các mối quan hệ và hình thức giao tiếp mang tính đặc trưng của tính cách văn hoá ở cộng đồng đó Ở một góc độ hẹp hơn, văn hoá giao tiếp được xem

là những quy định, chuẩn mực trong hoạt động giao tiếp của một cộng đồng được cộng đồng đó đặt ra và chấp nhận Mọi hành vi giao tiếp nào được cho là không giống quy định, vượt quá chuẩn mực đều bị xem “phản văn hoá giao tiếp”

Hữu Đạt cho rằng: “Văn hoá giao tiếp là một khái niệm dùng để chỉ các hình thức giao tiếp mang tính đặc tính đặc thù cho hoàn cảnh giao tiếp hoặc trình độ giao tiếp ở những cộng đồng người thuộc các nhóm nghề nghiệp hoặc xã hội khác nhau” [Hữu Đạt 2009: 94] Trong văn hoá giao tiếp chung, còn có văn hoá giao tiếp riêng

đặc trưng cho các lĩnh vực, ngành nghề, nơi chốn, vùng miền… khác nhau tuỳ thuộc vào đặc thù hoàn cảnh, trình độ, tính chất của lĩnh vực, ngành nghề, nơi chốn, vùng miền đó Ví dụ như theo lĩnh vực, ngành nghề thì có văn hoá giao tiếp trong kinh

Trang 18

doanh, văn hoá giao tiếp trong nghệ thuật, văn hoá giao tiếp trong giáo dục…Theo nơi chốn thì có văn hoá giao tiếp công sở, văn hoá giao tiếp nơi công cộng… Theo vùng miền thì có văn hoá giao tiếp xứ Huế, văn hoá giao tiếp người Nam Bộ, văn hoá giao tiếp miền Trung…Đó là những ví dụ cụ thể về văn hoá giao tiếp ở nghĩa hẹp

Ở phạm vi đề tài này, hiện tượng chửi được xem là hiện tượng nằm trong văn hoá giao tiếp vì:

- Đó là hiện tượng sử dụng ngôn ngữ để thực hiện hành vi giao tiếp và giải toả

cảm xúc

- Tồn tại tính hai mặt giữa phi giá trị và giá trị

- Tồn tại lâu đời và được chấp nhận trong cộng đồng xã hội

1.2 Khái quát về hiện tượng chửi

1.2.1 Các định nghĩa đã có về khái niệm chửi

Theo từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên (1977) thì“chửi là dùng lời độc ác

và thô tục nói phạm đến người khác”, còn theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ

biên (1992) thì chửi là “thốt ra những lời cay độc để làm nhục cho hả giận” Còn Từ điển American Heritage® Dictionary of the English Language, Fourth Edition coi chửi (vituperate) là động từ chỉ việc quở trách hay chỉ trích gay gắt hoặc quá mức, trách móc; hay là việc sử dụng ngôn ngữ gay gắt, chửi rủa om sòm Nguyễn Thị Tuyết Ngân

trong bài viết Đặc trưng ngôn ngữ văn hoá trong các lối chửi của người Việt đã định

nghĩa khái niệm này tương đối rõ nét và mang tính khoa học:“Chửi là một hiện tượng

văn hóa ngôn từ phản chuẩn bày tỏ một cách chủ động phản ứng bất bình nhằm làm giảm căng thẳng tinh thần của người chửi và hạ uy tín của người bị chửi” [Nguyễn Thị Tuyết Ngân 1993: 32] Mai Thị Hảo Yến thì định nghĩa: “Chửi mắng là hành động nói năng khi SP1 nêu lỗi của SP2 vừa để bày tỏ thái độ không hài lòng của mình, để trút bỏ bực tức của mình, vừa làm cho người bị chửi mắng thấy xấu hổ vì điều mình phạm lỗi, để không tái phạm nữa” [Mai Thị Hảo Yến 2014: 11] Các cách hiểu đã nêu

về khái niệm “chửi” có thể được tổng hợp lại trong bảng 1.1

Trang 19

Bảng 1.1: Tổng hợp các định nghĩa về khái niệm chửi

1 Từ điển tiếng việt

Văn Tân (cb)

Chửi là dùng lời độc ác và thô tục nói phạm đến người khác

(+) Ngắn gọn, dễ hiểu (-) Chưa khái quát được chính xác hiện tượng

2 Từ điển tiếng việt

Hoàng Phê (cb)

Chửi là thốt ra những lời cay độc để làm nhục cho hả giận

(+) Ngắn gọn, dễ hiểu (-) Chưa khái quát được chính xác hiện tượng

Chưa khái quát được chính xác hiện tượng

4 Nguyễn Thị Tuyết

Ngân (1993)

Chửi là một hiện tượng văn hóa ngôn từ phản chuẩn bày t một cách chủ động phản ứng bất bình nhằm làm giảm căng thẳng tinh thần của người chửi và hạ uy tín của người bị chửi

*phản chuẩn mực XH: bị chê trách, hạn chế, cấm đoán

(+) Nêu rõ các đặc trưng của hiện tượng

(-) Chưa khái quát được chính xác hiện tượng

5 Mai Thị Hảo Yến

(2014)

Chửi mắng là hành động nói năng khi SP1 nêu lỗi của SP2 vừa để bày t thái độ không hài lòng của mình, để trút b bực tức của mình, vừa làm cho người bị chửi mắng thấy xấu hổ vì điều mình phạm lỗi,

để không tái phạm nữa

(+) Nêu các đặc điểm của hiện tượng

(-) Chưa khái quát được chính xác hiện tượng

Điểm chung của các định nghĩa trên:

(1) Tất cả các định nghĩa đều thống nhất rằng chửi là một hành động ngôn từ

(2) Chửi là một hiện tượng mang tính chủ động

(3) Các hoạt động chửi đều sử dụng những từ mang tính chất “ác ý” : từ thô tục, cay độc, độc ác, phản chuẩn…

(4) Mục đích của hiện tượng chửi là nhằm hạ nhục, xúc phạm đối tượng cụ thể (4 trong số 5 định nghĩa trên cho rằng chửi có đối tượng cụ thể: Từ điển Văn Tân (cb), Hoàng Phê (cb) và Nguyễn Thị Tuyết Ngân, Mai Thị Hảo Yến)

Ở các định nghĩa trên vẫn còn tồn tại những vấn đề sau:

Thứ nhất, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp chính của con người Ngôn ngữ được

biểu đạt dưới hai hình thức ngôn từ và phi ngôn từ Ngôn từ bao gồm hai dạng lời nói

Trang 20

và văn bản Nếu hiểu chửi là một hành động sử dụng ngôn từ (như các định nghĩa nói trên) là công cụ chính thì vô hình chung, chúng ta đã b qua một dạng truyền đạt thông

tin trong giao tiếp, đó là hình thức phi ngôn từ thuần tuý, được thể hiện qua thái độ,

cử chỉ, trang phục, biểu cảm khuôn mặt, chất giọng… (phân biệt với hình thức phi ngôn từ mang tính biểu tượng, nhằm diễn đạt một ý nghĩa nào đó, mang tính ẩn dụ,

hoán dụ)

Thứ hai, các định nghĩa trên đều cho rằng nguyên liệu của chửi là các từ ngữ mang tính chất ác ý, độc ác, nguyền rủa nhằm xúc phạm, hạ nhục người khác… điều này đúng nhưng chưa đủ, đó là sự nhìn nhận ở góc độ hẹp Một lời chửi vẫn có thể được cấu tạo từ những từ ngữ hoàn toàn “trong sáng”, “sạch sẽ” Điều quan trọng khi nhận định một lời nói hay một câu viết có phải là một câu chửi hay không, yếu tố chính

là nội dung chứ không phải là hình thức bên ngoài Một hành động chửi phải hội đủ những đặc trưng cơ bản của hành động, đồng thời phải được xem xét trong hoàn cảnh

và trường hợp cụ thể Ví dụ: Hai bà hàng xóm chửi nhau, một bà nói: “Tôi không hơi đâu nói với bà, tôi để con tôi ra tiếp chuyện bà”, câu nói này chứa đựng hai hàm ý

chửi, nhục mạ: thứ nhất là nghĩa tại ngôn, theo đó bà chỉ ngang hàng với bậc con tôi; thứ hai là nghĩa tình huống, khi thực tế người đàn bà kia không có con, nên câu nói này ngầm có ý chửi bà kia là người “tuyệt tự, vô sinh”, với nền văn hóa coi trọng việc sinh

đẻ thì đây là câu chửi rất độc địa, khiến bà kia dù rất tức giận và tủi thân nhưng không làm gì được

Thứ ba, các định nghĩa trên đều cho rằng mục đích của chửi là xúc phạm, hạ nhục

người khác, đây cũng là cách nhìn hẹp, bởi vì nó không thể bao quát được các loại chửi

khác như chửi thề, chửi đổng - là lối chửi không có đối tượng cụ thể mà cũng không

nhằm xúc phạm hay hạ uy tín cụ thể của một ai Như vậy, hiểu mục đích của chửi là hạ

uy tín, xúc phạm người khác là chưa đầy đủ

Thứ tư, hầu hết các định nghĩa đều không đề cập đến nguyên nhân xuất phát của hành động chửi chính là sự bất bình, là nguyên nhân cốt lõi khiến chủ thể có những

hành động ngôn từ để bày t những cảm xúc tiêu cực đó Chỉ riêng định nghĩa của

Trang 21

Nguyễn Thị Tuyết Ngân khắc phục được hạn chế này Đây là đặc điểm cần được tiếp thu

Thứ năm, hầu hết các quan niệm đều cho rằng chửi là một hành động phản chuẩn

mực xã hội, bị lên án và nghiêm cấm ở một số quốc gia, nhiều nền văn hoá vì nó có chứa yếu tố sỉ nhục, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm người khác Tuy nhiên, việc xác định một hành động chửi ở mức độ nào thì bị xem là xúc phạm thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều góc độ

Về mặt yếu tố, có hai thang đo là “mức độ xúc phạm” của câu chửi và “mức độ cảm thấy nhục nhã” của người bị chửi Có khi người chửi cảm thấy lời nói đó không xúc phạm nhưng người nghe cảm thấy rất xúc phạm, hoặc người chửi cảm thấy lời nói

đó sẽ xúc phạm rất nhiều đến người nghe nhưng người nghe lại cảm thấy không có gì Điều này rất khó xác định vì nó mang tính chủ quan, để đánh giá chính xác cần phải xem xét ở nhiều yếu tố khác như tính cách, nghề nghiệp, hoàn cảnh nhân thân, tâm lý

xã hội… của cả chủ thể lẫn đối tượng Mặc dù hành vi “nhục mạ người khác bằng lời nói” đã được đưa vào luật nhưng cũng khó khăn trong việc định danh tội lỗi cũng như khung hình phạt xử lý

Về mặt góc độ, chửi tưởng chừng là một hoạt động của riêng chủ thể và đối tượng, nhưng sẽ là một thiếu sót nếu b qua góc nhìn xã hội Do không bị tác động trực tiếp của những lời chửi rủa nên góc nhìn xã hội mang tính khách quan hơn khi đánh giá một hành động chửi là đúng hay sai, nên hay không nên Góc nhìn xã hội còn là góc nhìn quan trọng trong việc nhìn nhận giữa tính giá trị - phi giá trị của một hành động chửi

1.2.2 Định nghĩa khái niệm chửi

Trên cơ sở những vấn đề còn tồn tại nêu trên, cộng với việc kế thừa và tiếp thu những đặc điểm của hiện tượng từ các quan niệm, định nghĩa đã có, chúng tôi khái quát bốn đặc trưng chính của hiện tượng chửi như sau:

- Chửi là một hành động giao tiếp ngôn từ, có thể có các hình thức phi ngôn từ kèm theo

Trang 22

- Là một hành động mang tính chủ động của chủ thể

- Có nguyên nhân là sự bất bình của chủ thể

- Có mục đích chính là giải t a những ẩn ức tâm lý cho chủ thể

Như vậy, có thể định nghĩa hiện tượng chửi như sau: Chửi là một hành động giao tiếp ngôn từ, có thể đi kèm với các hình thức phi ngôn từ, để bày tỏ một cách chủ động phản ứng bất bình, nhằm giải tỏa những ẩn ức về mặt tâm lý cho người chửi

Chửi là một hành động giao tiếp ngôn từ: Đây là đặc trưng đầu tiên và quan

trọng nhất trong việc cấu thành một hành động chửi Trước hết, đó phải là một hành động giao tiếp, thông tin giao tiếp được truyền đi với chất liệu truyền dẫn chính là ngôn

từ Ngôn từ được biểu đạt bằng lời nói (hữu thanh) và chữ viết (vô thanh) Một hành động chửi có thể có hoặc không có hình thức phi ngôn từ đi kèm Ở dạng lời nói, hầu hết các trường hợp đều có các hình thức phi ngôn từ đi theo để diễn đạt cảm xúc giận

dữ, thái độ bất bình của người chửi Tuy nhiên, cá biệt cũng có những trường hợp không có hình thức phi ngôn từ đi kèm (ví dụ: trường hợp những người lạnh lùng, hoặc người không muốn thể hiện cảm xúc…) Ở dạng văn bản, hình thức phi ngôn từ ít được

thể hiện hơn dạng lời nói, tuy nó có thể được miêu tả cụ thể bằng lời, ví dụ: "Giận quá, tôi đưa tay lên miệng làm loa thét: -Con c.!" (Nguyễn Quang Sáng): ở đây hình thức

phi ngôn từ được miêu tả cụ thể bằng cụm từ “giận quá” thể hiện cảm xúc, thái độ của chủ thể

Chửi mang tính chủ động, tức là một hành động do chính chủ thể tự giác lựa

chọn thực hiện một cách có ý thức Trong cuộc sống có nhiều cách để bày t sự bất bình, giải t a cảm xúc… như khóc, la, cãi nhau, đánh nhau, đập phá đồ đạc… việc lựa

chọn chửi hay không hoàn toàn do chủ thể tự quyết định

Nguyên nhân gây ra hiện tượng chửi là sự bất bình của chủ thể, dễ nhận thấy

nhất đó là những cảm xúc tiêu cực như giận dữ, phẫn nộ, tổn thương, đau đớn… Thực

tế vốn dĩ phức tạp và nhiều va chạm mà không ai trong chúng ta có thể tránh kh i, cho nên nguyên nhân của sự bất bình cũng rất đa dạng và phức tạp Một lời nói cho dù hội

Trang 23

đủ các đặc trưng của hiện tượng chửi nhưng có nguyên nhân xuất phát không phải từ

sự bất bình thì lời nói đó cũng không được xem là một lời chửi

Mục đích của hiện tượng chửi là giải tỏa những ẩn ức tâm lý của người chửi

Ẩn ức là những ức chế tồn tại bên trong chúng ta Trong cuộc sống, không phải vấn đề

gì cũng có thể giải t a, con người với nhiều mối quan hệ phức tạp của mình khiến họ phải kiềm chế một cách vô thức hoặc hữu thức Tựu trung lại, ẩn ức có thể chia làm hai dạng chính: ẩn ức sinh lý và ẩn ức tâm lý Ẩn ức sinh lý là những ức chế về mặt sinh

lý, tức ức chế tự nhiên của cơ thể, hình thành, tồn tại và giải t a không phụ thuộc vào

sự điều khiển của ý thức con người Trong khi đó, ẩn ức tâm lý là những ẩn ức được tạo thành do ý thức, suy nghĩ, quan niệm của con người, chịu sự chi phối của não bộ, chịu sự cấm đoán của những cấm kỵ, quan niệm của xã hội nên con người phải hạn chế

và kiềm nén bản thân

Ẩn ức tâm lý cũng có liên quan đến sinh lý, đó là những ẩn ức liên quan đến tính dục và bài tiết Ví dụ: Khi xã hội xuất hiện sự cấm kỵ về “cái tục” thì việc nói tục, chửi thề, chửi tục liên quan đến tính dục, bài tiết chính là sự giải t a ẩn ức tâm lý bị xã hội kiềm hãm và thể hiện mong muốn được “phá cấm” Trong môi trường bị kiềm chế, khi có cơ hội được nói tục, văng tục, họ cảm thấy “sảng khoái”, “thích thú”, là cách giải t a tinh thần nhanh chóng và trực tiếp Tuy nhiên, sự giải t a này cũng có giới hạn của nó, đó là sự kiểm soát về mặt không gian (hạn chế ở những nơi công cộng, những môi trường xa lạ…), kiểm soát về mặt chủ thể (chỉ khi nào giận dữ, bất bình mới phát

ra những lời chửi rủa…), kiểm soát về mặt thời gian (tuổi tác, chế độ chính trị…) Vì mục đích chính là giải t a ẩn ức của bản thân chủ thể, nên chửi là hành động có hoặc không có đối tượng chửi cụ thể, cũng như có hoặc không có mục đích hạ uy tín, xúc

phạm đối tượng, mà chuyện có hay không phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên nhân gây ra ẩn ức

1.2.3 Phân biệt Chửi với các khái niệm liên quan

Do số lượng từ ngữ trong tiếng Việt dùng để chỉ việc chửi và ám chỉ việc chửi rất

đa dạng và phong phú, cho nên việc nhầm lẫn, quan niệm sai về các khái niệm là phổ

Trang 24

biến trong cộng đồng Những đặc trưng trên đây giúp chúng ta khu biệt, phân biệt hiện

tượng với những khái niệm dễ gây nhầm lẫn như nói tục - văng tục - chửi tục; chửi thề

- chửi tục; chửi - mắng…

1.2.3.1 Nói tục - văng tục - chửi tục: Từ tục theo nghĩa rộng bao gồm cái tục

trong tính dục (dâm tục), cái dơ bẩn trong bài tiết và trong mối quan hệ giáng cấp (mạo phạm, bất kính, vô lễ, chuyển đổi vai vế với súc vật…) [Trần Duy Khương 2008: 26]

Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên năm 1998, từ “tục” được giải thích là

từ mang nghĩa “thô bỉ, tỏ ra thiếu lịch sự, thiếu văn hoá” , thường bị hạn chế và cấm

cản trong các hoạt động giao tiếp Như vậy, các khái niệm như nói tục – văng tục –

chửi tục trước hết phải là những hiện tượng sử dụng từ tục làm chất liệu diễn đạt chính

Nói tục: đây là hành động giao tiếp sử dụng ngôn từ tục, mang tính chủ động,

được thực hiện trong môi trường thân thuộc, nhằm mục đích tìm kiếm cảm giác

thích thú từ việc “phá cấm” những chuẩn mực xã hội trong việc sử dụng ngôn từ tục, là

cách giải tỏa những ẩn ức tính dục khi bị xã hội cấm kỵ.“…người ta sẽ dùng đến từ

ngữ phi chính thống nếu trong tư duy của họ xuất hiện sự khao khát muốn tìm lại lạc thú từ việc vi phạm cấm kỵ” [Trần Duy Khương 2008: 29] Môi trường hoạt động của

nói tục là môi trường quen thuộc như bạn bè hoặc những người có cùng sở thích nói tục, còn trong môi trường xã giao công khai, người ta rất ít, hiếm khi dùng vì e dè người khác sẽ đánh giá xấu về mình hoặc nghi ngờ mục đích phát ngôn của mình Tất nhiên, việc kiểm soát điều này ở mỗi người lại khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ học vấn, khả năng kiểm soát suy nghĩ, trạng thái cảm xúc, môi trường sinh sống… Nói tục được thể hiện qua những câu chuyện tiếu lâm, những hình thức diễn tục dân gian như ca dao, tục ngữ, phong dao, đố tục giảng thanh, nói lái, nói trại, các bài hát hội hè…

Văng tục: Ở khía cạnh từ vựng, từ văng thể hiện một hành động bộc phát (vô

thức, bị động) vuột miệng nói ra lời nào đó khi chưa kịp suy nghĩ như văng bậy, văng chữ văng nghĩa… Văng tục phân biệt với nói tục ở tính chủ động, mục đích sử dụng và

môi trường hoạt động Trạng thái văng tục là trạng thái bị động của chủ thể, khi hành

Trang 25

động sử dụng từ tục lâu dài đã trở thành thói quen và được chủ thể sử dụng một cách

vô thức không phân biệt bất cứ môi trường nào, mục đích nhằm nhấn mạnh trạng

thái tình cảm, lập trường Ví dụ: “Đụ mẹ, thằng này đá hay quá!” (cảm xúc phấn

khích khi xem đá banh)

Chửi tục: Đây là hành động giao tiếp sử dụng ngôn từ tục để bày t một cách

chủ động phản ứng bất bình đối với một đối tượng cụ thể, nhằm giải t a những ẩn

ức tâm lý của người chửi Ví dụ: “Đ.mẹ, mày có tin tao đào cả mồ mả nhà mày lên mà đái vào không?”

Cả ba loại trên đều có đặc điểm chung là dùng ngôn từ tục làm chất liệu chính

Điểm giống và khác nhau giữa nói tục - văng tục - chửi tục được thể hiện ở bảng 1.2

Bảng 1.2: So sánh các khái niệm nói tục, văng tục, chửi tục

Giải t a những ẩn ức tâm lý được gây ra bởi sự bất bình của chủ thể về một đối tượng cụ thể

Có đối tượng cụ

Môi trường hoạt

Đối tượng được nói đến trong tiêu chí “Có đối tượng cụ thể hay không” là đối tượng mà hành động chửi nhắm đến Điều này liên quan đến mục đích chính của hành

động, ở nói tục, mục đích chính là chủ thể tìm thấy sự thích thú khi “phá cấm” những rào cản của xã hội về việc sử dụng ngôn từ tục, mục đích của hành động nói tục không

nhắm vào bất kỳ một đối tượng cụ thể nào khác, mặc dù trong những câu chuyện tục

có đối tượng cụ thể Tương tục, văng tục cũng là hành động mà chủ thể sử dụng khi

muốn nhấn mạnh lập trường, là cách thể hiện trạng thái tình cảm của họ một cách

mạnh mẽ hơn mức bình thường, cho nên văng tục cũng không nhắm đến đối tượng cụ

Trang 26

thể nào Ngược lại, chửi tục có nguyên nhân từ sự bất bình gây ra bởi một người nào

đó

Dựa vào bảng trên, ta có thể thấy:

Văng tục phân biệt với nói tục ở tính chủ động, mục đích sử dụng và môi trường

hoạt động

Văng tục phân biệt với chửi tục ở tính chủ động, nguyên nhân (sự bất bình), mục

đích hành động và đối tượng

Nói tục phân biệt với chửi tục ở nguyên nhân, mục đích và đối tượng

1.2.3.2 Chửi thề - chửi tục: đều là hai hình thức của chửi, ngoài những đặc trưng

cơ bản của hiện tượng, chúng còn có những đặc điểm riêng

Chửi thề là hiện tượng chửi sử dụng ngôn từ tục một cách chủ động (như chửi

tục) nhưng được thực hiện khi chủ thể đang cần giải t a cảm xúc tiêu cực ngay lập tức

Chửi thề là cách giải tỏa cảm xúc tiêu cực tự thân trước những sự việc không như ý

trong cuộc sống (khó khăn, trở ngại, vấp váp, bất mãn…) và do đó, lời chửi thề không nhằm xúc phạm cụ thể người nào (không có đối tượng chửi cụ thể) Ví dụ:

- Mẹ kiếp, không biết cái số tôi sinh ra vào cái giờ nào mà khổ thế không biết!

- Đụ má, sao bài này khó dữ vậy!

- Giận quá, tôi đưa tay lên làm loa thét: - Con cặc! (Nguyễn Quang Sáng Một

chuyện vui)

Trong xã hội, văng tục và chửi thề là hai khái niệm tưởng chừng như tương đồng

với nhau Tuy nhiên, sự khác biệt trong việc định danh cũng đã thể hiện ít nhiều sự khác biệt về bản chất giữa hai khái niệm này

Sự khác biệt giữa ba khái niệm Văng tục - Chửi thề - Chửi tục được tóm tắt trong

bảng 1.3

Bảng 1.3: So sánh các khái niệm văng tục, chửi thề, chửi tục

Trang 27

Tính chất Phản ứng vô thức (Bị động) Phản ứng có ý thức (Chủ động)

Mục đích lập trường một cách mạnh mẽ Biểu đạt trạng thái tình cảm, (bất bình, buồn bực, đau khổ, bế tắc…) Giải t a cảm xúc tiêu cực

Cách thức Không nhằm hạ uy tín, xúc phạm bất kỳ ai Hạ uy tín, sỉ nhục, xúc

phạm đối tượng bị chửi

Như vậy, chửi thề phân biệt với chửi tục ở việc có hay không có đối tượng chửi

cụ thể cũng như có xúc phạm đến người khác hay không, còn văng tục phân biệt với chửi thề ở tính chủ động và mục đích sử dụng

1.2.3.3 Mắng và Chửi: đây là hai khái niệm cũng thường xuyên bị quan niệm sai

và gây nhầm lẫn nhiều trong xã hội hiện nay

Mắng là hiện tượng sử dụng ngôn từ để thể hiện phản ứng bất bình với một đối

tượng cụ thể có quan hệ thân thiết, nhằm thực hiện chức năng giáo dục (răn đe,

chỉnh đốn sai phạm…), thường kèm theo yêu cầu đối tượng không được tiếp tục vi

phạm Hành động mắng chỉ được thực hiện khi chủ thể thực hiện ở cấp bậc cao hơn

đối tượng, thường là quan hệ giữa người lớn – người nh (cha mẹ đối với con cái, ông

bà đối với cháu, anh chị đối với em…), cấp trên – cấp dưới, thầy cô – học trò…

Hai khái niệm này có thể được phân biệt theo bảng 1.4

Bảng 1.4: So sánh hai khái niệm mắng và chửi

Trường hợp sử dụng Người lớn nói với người

Trang 28

Chửi mắng cũng là khái niệm được sử dụng nhiều trong đời sống hằng ngày, ví

dụ như trong câu “cha mẹ có chửi mắng hay đánh đập là vì muốn chúng ta nên người , không học theo thói hư tật xấu” Đây là một từ ghép gồm hai hành động “chửi” và

“mắng”, trong đó, hành động chính là mắng, hay nói cách khác, chửi mắng là một loại

mắng (do đó nó có đầy đủ các đặc trưng của hành động mắng), sử dụng những từ ngữ

ở cấp độ mạnh (xúc phạm, giáng cấp, hạ nhục… đối tượng), cũng nhằm mục đích

chính là giáo dục, răn đe Tương tự như mắng, chửi mắng cũng được dùng trong

những mối quan hệ thân thuộc khi chủ thể là người có cấp bậc cao hơn

Ví dụ:

- Sao mày ngu như heo vậy, bài này chỉ cần học thuộc công thức là làm được, làm lại bài này ngay cho bố!

- Có vậy mà không làm được, sao mày ngu thế hả con!

Mắng yêu, chửi yêu là khái niệm đặc biệt, là hiện tượng giao tiếp có sử dụng

ngôn từ tục, từ giáng cấp… nhưng lại nhằm mục đích thể hiện tình cảm yêu thương

hoặc, là lời trách cứ nhẹ nhàng của người nói Chúng ta thường nghe các bà, các mẹ,

các chị mắng yêu như “Cha bố cô”, “Mồ tổ cha mày”, “Thằng chó con”… chất chứa

tình yêu thương, sự thân tình âu yếm khi mắng những đứa con, đứa cháu… hoặc là lời

trách cứ nhẹ nhàng: “Cha mày, tao già rồi ăn gì được mà mua lắm thế!”

Như vậy, với sự phân tích và xác định rõ những đặc trưng khu biệt của hiện tượng chửi như đã nêu, chúng ta có thể kết luận rằng chửi không chỉ đơn thuần là một hành động ngôn từ, mà tổng quát hơn đó chính là một hành động giao tiếp sử dụng công cụ chính là ngôn từ có thể đi kèm với phi ngôn từ, nhằm mục đích giải t a những ẩn ức tâm lý tiêu cực tồn tại trong con người Sự có hay không tính chất xúc phạm, thóa mạ người khác phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra ẩn ức, chứ bản thân sự xúc phạm không phải là nguyên nhân chính cho sự xuất hiện và tồn tại của hiện tượng Và do đó, sự tồn tại của một cái gọi là “chửi có văn hoá” là hoàn toàn khả thi khi lời chửi đó đảm bảo các yêu cầu, những thước đo về chuẩn mực văn hoá của một xã hội mà vẫn chứa đựng các điều kiện cần và đủ để cấu thành một hoạt động chửi

Trang 29

1.2.4 Phân loại Chửi

Có nhiều tiêu chí để phân loại hiện tượng chửi như sau:

Theo vỏ ngôn ngữ thể hiện: chúng ta có thể phân loại thành chửi thanh và

chửi tục Chửi thanh là những câu nói có lớp v ngôn từ vô cùng thanh tao, trong

sáng, đơn giản nhưng tầng giải mã nội dung lại ẩn chứa ý nghĩa nhục mạ người khác

cay độc không kém gì những lời chửi tục (tức lời thanh nhưng ý tục) Loại hình chửi thanh này thường sử dụng cách nói hàm ý, lối nói lái, từ đồng âm khác nghĩa, dùng điển tích, câu đối, hoặc sử dụng hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ… Thông thường, với hình

thức chửi thanh, người bị chửi sẽ không thể làm gì được người chửi vì không có chứng

cứ rõ ràng cho việc nhục mạ của người chửi, chỉ có thể ấm ức, ngậm bồ hòn làm ngọt, hoặc phải mất nhiều thời gian để suy nghĩ về thâm ý của người chửi, đến khi nghĩ ra thì người chửi cũng đã không còn ở đó Ví dụ trong kho tàng truyện Trạng Quỳnh, có

chuyện: “Một bà Chúa nhan sắc mặn mà nhưng tính kiêu ngạo, hễ đi ra chơi phố phường thấy ai trái ý là sai lính bắt liền Một lần, Quỳnh lững thững đi chơi, gặp kiệu Chúa Gần đấy có cái ao bèo, Quỳnh vội vàng chạy xuống cầu ao đá nước chơi Chúa biết Quỳnh, thấy chơi lẩn thẩn như thế mới hỏi: “-Ông làm gì đó?” Quỳnh ngẩn lên

thưa: “- Tôi ở nhà, “nắng cực” nên buồn quá, ra “đá bèo” chơi!” Bà Chúa đỏ mặt

tía tai, tức lắm nhưng chẳng dám nói gì.” Từ “nắng cực” tức nắng to, nên Quỳnh mới

xuống ao “đá bèo” cho mát (lời thanh), nhưng khi đọc lái hai cụm từ trên, ta được

nghĩa mới mang tính tục là : “nứng cặc” và “đéo bà” (ý tục) Ngược lại, chửi tục cũng

nhằm mục đích xúc phạm đối tượng bị chửi (ý tục), nhưng không hề có chuyện chửi

tục mà lại có ý nghĩa thanh tao, chỉ có kiểu nói tục giảng thanh mà thôi

Theo quan hệ giữa chủ thể và đối tượng: ta chia thành quan hệ trực tiếp và quan hệ không trực tiếp (gián tiếp)

Quan hệ trực tiếp: khi người nghe đồng thời là đối tượng được nhắc đến của

hành động chửi xuất phát từ chủ thể, tức người bị chửi Được thực hiện bằng những từ chửi, câu chửi, bài chửi trực tiếp (hình thức ngôn ngữ riêng) hoặc bằng các hình thức lối nói lái, cách nói ẩn dụ, hoán dụ…(không có hình thức ngôn ngữ riêng)

Trang 30

Quan hệ gián tiếp: là khi người nghe không phải là đối tượng được nhắc đến của

hành động chửi, hoặc đối tượng nhắc đến không được thể hiện rõ trong hành động (không nêu rõ đích danh, thể hiện bằng đại từ ngôi thứ hai, thứ ba) Dân gian gọi bằng

những từ như chửi phong long, chửi bóng gió, chửi đổng, chửi thề… Lối chửi gián tiếp

này không có đối tượng hoặc đối tượng không rõ ràng, được thể hiện bằng đại từ nhân xưng khái quát, hoặc bằng các yếu tố miêu tả

Thông thường, người ta sử dụng lối chửi gián tiếp trong trường hợp không rõ đối tượng cần chửi là ai hoặc, biết đối tượng là ai những để tránh hậu quả nặng nề hơn

có thể xảy ra khi chửi trực tiếp nên đã chuyển sang lối gián tiếp Lối chửi này thường được thực hiện công khai ở nơi công cộng, vừa có thể bêu rếu được đối tượng trước cộng đồng, vừa không phải chịu trách nhiệm về việc chửi của mình khi có người phản ứng Đối tượng bị “nhắm đến”, nếu có “giật mình” mà phản ứng thì cũng sẽ khó mà bắt

bẻ được vì người chửi đâu có nêu đích danh ai trong câu chửi của mình

Theo hình thức ngôn ngữ: chúng ta phân thành 3 loại theo cấp độ ngôn ngữ gồm từ chửi, câu chửi và bài chửi

Từ chửi: Thực tế, số lượng từ vựng dùng để chửi trong Tiếng Việt rất phong

phú, tuy nhiên hình thức chửi bằng từ, cụm từ ít được người Việt sử dụng, mà chủ yếu

là những câu chửi

Câu chửi: là những câu trong đó có những từ, cụm từ chửi Lối chửi bằng câu

rất phổ biến trong các lối chửi của người Việt Thường gặp là những cấu trúc câu chửi

có tính chất so sánh, đánh giá âm tính, câu chửi với những động từ tính giao, câu chửi với bổ ngữ với những từ, cụm từ chỉ quan hệ dòng họ, tổ tiên…

Bài chửi: Đây là những bài nói hoặc lời nói bao gồm nhiều câu chửi, có chứa

các từ, các ngữ, các câu có nội dung chửi Là lối chửi đặc biệt hiếm có trên toàn thế giới Các bài chửi của người Việt không chỉ là một loại hình văn bản đơn thuần, mà là một “áng văn chương” đầy “chất thơ” Với một cấu trúc chặt chẽ về mặt ngữ pháp, các thủ pháp nghệ thuật trong văn chương được lồng ghép tài tình trong những lời chửi rủa khiến cho bài chửi trở nên sâu cay, độc địa nhưng không kém phần thu hút người nghe

Trang 31

Có thể nói, lối chửi thành bài của người Việt đã bước vào hàng “nghệ thuật chửi”, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hoá Việt Nam… Tất cả những điều đó tạo nên

“tính nhạc, tính thơ”, chất nghệ thuật trong các bài chửi (xem thêm 2.3.2)

1.3 Hiện tượng chửi dưới ảnh hưởng của không gian và loại hình văn hoá

Lâu nay người ta hay nói đến đối lập phương Tây và phương Đông Nhưng phương Đông (bằng cả châu Á) là vùng đất quá lớn và vô cùng phức tạp, đến nỗi mỗi khi nói đến một đặc trưng gì, nó thường chỉ đúng cho một khu vực chứ không phải toàn bộ phương Đông Trần Ngọc Thêm là người đầu tiên mà từ năm 1996 đã nói rằng

“sự phân chia Đông-Tây truyền thống chưa phải là hợp lý, bởi lẽ bên cạnh hai vùng văn hóa gốc nông nghiệp và gốc du mục khá điển hình (cực Tây-Bắc và cực Đông-

Nam), có một vùng đệm khá lớn bao gồm từ châu Phi qua Ai Cập lên Đông Xibiri sang

tới Ấn Độ, Mông Cổ, Bắc Trung Hoa – vùng này mang những đặc trưng của cả hai loại hình trên nhiều phương diện”, và ông chú thích “Bởi vậy, nếu chia thành 3 vùng thì sẽ chính xác hơn” [Trần Ngọc Thêm 2001: 51-52] Trong các cuốn Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng và Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại

và con đường tới tương lai xuất bản gần đây, tác giả đã trình bày rất rõ và đầy đủ quan

niệm phân chia lục địa Á-Âu thành ba vùng địa lý, đại diện cho ba loại hình văn hóa:

Phương Tây là đại diện điển hình cho loại hình văn hóa trọng động, trọng dương, gốc

du mục Đông Nam Á là đại diện điển hình cho loại hình văn hóa trọng tĩnh, trọng âm, gốc nông nghiệp lúa nước Đông Bắc Á và Tây Nam Á là đại diện điển hình cho loại hình văn hóa trung gian, vừa có những đặc trưng âm tính giống Đông Nam Á, lại vừa

có những đặc trưng dương tính giống phương Tây; trong đó Đông Bắc Á là đại diện

cho tiểu loại hình văn hóa trung gian trọng thế tục (phân biệt với Tây Nam Á là là đại diện cho tiểu loại hình văn hóa trung gian trọng tâm linh) [Trần Ngọc Thêm 2013: 88-

89; 2016: 84]

Trên cơ sở lý thuyết này, ở ngoại diên rộng nhất, chúng tôi sẽ xem xét hiện tượng chửi theo không gian văn hóa Đông Nam Á (đại diện là Việt Nam) trong so sánh

Trang 32

với phương Tây và vùng văn hoá trung gian trọng thế tục Đông Bắc Á Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên là nguồn gốc sâu xa cho sự khác biệt về văn hóa, tự nhiên khác nhau

sẽ dẫn đến cách thức lao động khác nhau trên chính điều kiện tự nhiên của vùng đất đó Với một hiện tượng mang tính phổ quát như thế này, ở Việt Nam, Đông Bắc Á và phương Tây vừa có sự tương đồng vừa có sự khác biệt

Sự tương đồng trong việc chửi mắng ở bất kỳ ngôn ngữ nào được Mao Sheng quy kết lại ở tính dục, sinh dục, bài tiết, súc vật, sự hoán đổi vai vế… trong đó những

gì liên quan đến tính dục sẽ là đối tượng được sử dụng đầu tiên, còn Lion thì nhận định

rằng:“…quả thực là một kiểu một loại, khiến cho người ta không khỏi kinh ngạc mà cho rằng phương Đông 1 và phương Tây đã mật ước với nhau về phương diện ngôn từ tục” [dẫn theo Trần Duy Khương 2008: 63] Sự tương đồng thứ hai nằm ở quan niệm

về cái tục, từ Đông (cả châu Á) sang Tây đều loại b chửi mắng ra kh i phạm vi nghiên cứu khoa học hoặc né tránh chúng Để làm rõ điều này trước hết phải nhắc đến ngôn từ tục, nếu phân chia ngôn từ tục theo tiêu chí mục đích thì sẽ có hai hình thức thể hiện: nói và chửi Việc sử dụng ngôn từ tục gắn liền với hoạt động chửi mắng của nhân loại từ bao đời nay, cho nên ranh giới giữa hai hiện tượng gần như lu mờ và bị nhìn nhận không chính xác, thậm chí người ta thường xuyên quan niệm chửi được bao hàm bởi ngôn từ tục và được xem như một trong hai hoạt động thể hiện chính của nó Chính vì thế, chửi cùng với người bạn ngôn từ tục đã bị loại b kh i phạm vi của việc nghiên cứu, nhân loại né tránh hoặc hạn chế nhắc đến Ngay cả các quốc gia phương Tây được xem là có tư tưởng thoáng mở, tự do, cũng t ra dè dặt khi nhắc đến

Điều kiện tự nhiên (địa lý - khí hậu) và điều kiện xã hội (lịch sử - kinh tế) là hai yếu tố dẫn đến sự khác biệt về mặt đặc trưng văn hóa giữa khu vực Đông Nam Á với loại hình kinh tế gốc nông nghiệp lúa nước làm chủ đạo và phương Tây ứng với loại hình kinh tế công - thương nghiệp gốc du mục Việc lấy hai loại hình gốc nông nghiệp

và gốc du mục làm tiêu chí gốc để phân tích một hiện tượng mang tính phổ quát như

1

Với khái niệm “Phương Đông”, tác giả nói đến Trung Quốc

Trang 33

hiện tượng chửi cũng ít nhiều làm sáng t tính chất của hiện tượng ở góc độ không gian

Lối chửi ở phương Tây đa phần là chửi tục, chửi thề Việc này không còn là

của riêng tầng lớp bình dân, mà thậm chí, các chính khách và các nhân vật nổi tiếng, các tầng lớp trên cũng thường xuyên sử dụng lớp từ ngữ này ở dạng văng tục, chửi thề Wajnryb Ruth đã dẫn chứng nhiều ví dụ về lời phát ngôn của nhiều người nổi tiếng từ các nhà khoa học, hoạ sĩ, chính trị gia nổi tiếng có sử dụng lớp từ ngữ thô tục như:

- Mẹ kiếp, tôi làm sao nghĩ ra được cái định lý này nhỉ? (Pithagore)

- Bức tranh này, mẹ nó, giống cô ấy thật đấy (Picasso)

- Bất kể một thằng ngốc dập trứng nào cũng hiểu được (Enstein)

- Đụ mẹ nó, ai có thể phát hiện ra? (Richard Nixon)

- Không có gì, ở đây chỉ có tôi và anh thôi, đéo có đứa nào biết được đâu (Bill Clinton) [dẫn theo Trần Duy Khương 2008: 67]

Người phương Tây hay sử dụng từ chửi nên đa phần là các từ ở dạng danh từ, cụm danh từ, cho nên có đặc điểm là ngắn gọn, hình thức câu chửi cũng được sử dụng nhiều nhưng kém đa dạng, còn bài chửi thì không có Cấu trúc câu chửi: động từ tục + tân ngữ (object) được xã hội sử dụng khá phổ biến nhưng lại không đa dạng, chủ yếu là: damn it (từ damn mang ý nghĩa lời nguyền rủa), fuck you (đụ mày), fuck your mother (đụ mẹ mày)… Bổ ngữ (tân ngữ) trong các câu chửi chủ yếu ở dạng đại từ ngôi thứ hai (you) (lối chửi trực tiếp), còn dạng sở hữu cách (lối chửi gián tiếp) thì ít phổ

biến Ngược lại, câu chửi gián tiếp lại được sử dụng rất phổ biến ở Việt Nam và Trung Hoa

Những ngôn từ liên quan đến tính dục giữa Việt Nam và phương Tây lại xuất phát từ quan niệm hoàn toàn khác nhau Ở phương Tây, đó là sự thể hiện năng lực phụ quyền, và đối tượng bị áp đặt là người phụ nữ: một là thân thiết gần gũi nhất với đối tượng bị chửi, hai là người phụ nữ hành nghề mại dâm có giá trị đạo đức thấp kém (theo quan niệm xã hội) Do đó, trong lớp từ ngữ dùng để chửi, đối tượng bổ ngữ gián

tiếp không phải là tất cả mọi người, mà chỉ hạn định ở phụ nữ, như fuck your mom,

Trang 34

your mother„s a whore, son of a bitch… hoặc thể hiện quan niệm về giá trị đạo đức đối với những người phụ nữ làm công việc “bán hoa” như whore, bawd, harlot, stumpet, drab, vamp… ở dạng từ lóng như bitch, floozie, moll, scarlet women, tart, tramp… (tương tự như đĩ, điếm trong tiếng Việt)

Lịch sử phương Tây là các cuộc chiến tranh đẫm máu, quyền lực nằm trong tay

kẻ mạnh, mạnh ở đây là mạnh về sức Với nguồn gốc du mục hoang dã, rong ruổi trên những thảo nguyên bao la bạt ngàn, những vùng núi đá băng tuyết hoang vu… đã hình thành nên tính cách người phương Tây hiếu chiến, thích chinh phục tự nhiên, trọng võ hơn trọng văn, mạnh được yếu thua là nguyên lý bất bại trong các cuộc chiến Sự thay đổi một vương triều trong chế độ phong kiến, hay chế độ dân chủ tư sản hầu hết đều là các chiến thắng bằng con đường vũ trang Do đó, chế độ phụ quyền ở các quốc gia phương Tây phát triển mạnh mẽ hơn so với các quốc gia có nguồn gốc văn hóa nông

nghiệp Đối với văn hoá phương Tây, chửi không phải là một phương thức giải quyết mâu thuẫn, đó chỉ là một cách giải toả những ẩn ức tâm lý một cách bộc phát Nội dung chửi của người phương Tây tựu trung lại ở: phương diện tính dục bài

tiết, phương diện tôn giáo - tín ngưỡng, rồi đến hạ cấp trong so sánh với động vật và

cuối cùng là những đánh giá mang tính tiêu cực

Đối với văn hoá phương Tây, phụ nữ chỉ đảm nhận nhiệm vụ sinh sản để duy trì nòi giống, do đó người phụ nữ và mẫu quyền không được đề cao như ở các quốc gia làm nông nghiệp lúa nước Sự phân biệt giữa nam và nữ được thể hiện rất rõ qua các bản trường ca của Homes, các thần thoại Hy Lạp cổ đại… Sự phát triển của xã hội loài người cũng đồng hành với những cuộc chiến tranh mở rộng lãnh thổ, mở rộng bờ cõi, bành trướng thế lực… cùng với đó là sự lên ngôi của sức mạnh nam giới, sự trải rộng

của chế độ phụ quyền.“Kết cấu giới tính trong việc sử dụng ngôn từ tục là một quan hệ quyền lực nam trên nữ dưới, nam tôn nữ ty; hàm ẩn giới tính trong ngôn từ tục càng thể hiện rằng quan hệ tính dục là một đặc quyền của nam giới…” [Hong Wen Long,

dẫn theo Trần Duy Khương 2008: 120] Việc sử dụng những từ ngữ tục tĩu và hạ thấp người phụ nữ trong giao tiếp là một trong những cách để nam giới phô trương quyền

Trang 35

lực và sức mạnh của mình Điều này cũng thể hiện sự cưỡng đoạt không khoan nhượng của chế độ phụ quyền đối với chế độ mẫu quyền ở xã hội Tây phương

Đông Bắc Á là vùng văn hoá trung gian trọng thế tục, nên sự ảnh hưởng của tôn giáo vì thế cũng không mạnh mẽ, không ảnh hưởng sâu sắc đến ý thức hệ của người dân, điều này cũng khiến cho việc hiện tượng chửi ở vùng văn hóa này cũng đa dạng

và “thoải mái” hơn những vùng văn hóa trọng tôn giáo khác Cư dân Đông Bắc Á cũng làm nông nghiệp, nhưng là nông nghiệp khô Đồng thời, Đông Bắc Á cũng có nguồn gốc du mục nên có xu hướng trọng sức mạnh, trọng dương Hiện tượng chửi của họ vì vậy có ít nhiều tương đồng và khác biệt với cả phương Tây và Đông Nam Á

Người Hàn Quốc, người Nhật cũng có phần giống phương Tây khi bộc lộ thái

độ tình cảm một cách trực tiếp, sử dụng lời chửi thô tục như một công cụ, vũ khí giải quyết tranh chấp Theo Jin Wen Xue, người Korea (thường là nam giới) thường mắng

người khác là 배설물/shiparu/ (đồ cứt) hoặc chửi tục 씨발 /shiban/ (nghĩa đụ, đéo

trong tiếng Việt) [Trần Duy Khương 2008: 73] Người Nhật cũng có nhiều từ chửi tục

như: じょろ/ joro, ばいた/ baita (tương tự đĩ, điếm trong tiếng Việt), くたばれ/ kutabare, ざけんなよ/ zakennayo (nghĩa tương tự đụ mẹ mày), ちんこ/ chinko (chỉ dương vật với nghĩa xấu, tương tự từ cặc), まんこ/ manko (chỉ âm hộ với nghĩa xấu, tương tự như lồn), おっぱい/ oppai (chỉ ngực phụ nữ với nghĩa xấu) Ngoài ra, câu chửi nặng theo quan điểm người Nhật là câu chửi mang nghĩa “đi chết đi!” (死ぬ), hoặc “đồ kém cỏi/ đồ hèn nhát” (不完全に/ 臆病な) Văn hoá Nhật coi trọng chủ

nghĩa tập thể, nên khi chửi rủa ai đó “đi chết đi” tức là sự tồn tại của bạn không còn là mong muốn của họ, họ cho rằng bạn thật sự đáng ghét và muốn đẩy bạn ra kh i tập thể Cũng như vậy, tinh thần samurai – tinh thần võ sĩ đạo đề cao sự chính trực, không lùi bước gục ngã trước khó khăn, không hèn nhát trước giặc thù cũng là nguồn gốc của câu chửi “đồ hèn nhát/ kém c i” trong tiếng Nhật

Trang 36

Trong ba quốc gia Đông Bắc Á, có lẽ Trung Quốc là quốc gia có “văn hóa chửi”

giống Việt Nam nhiều nhất Đó là sự giống nhau về các phương diện: hình thức ngôn

từ, lối chửi, đặc điểm chửi, nội dung chửi, cấu trúc câu chửi gián tiếp

(1) Về hình thức ngôn từ, mặc dù số lượng từ chửi của Việt Nam và Trung Hoa rất đa dạng, phong phú, nhưng cả người Việt và Trung Quốc thường sử dụng câu chửi nhiều hơn từ chửi Đặc biệt, chửi thành bài, gọi là bài chửi có ca có kệ, có vần điệu

cũng là điểm giống nhau đáng chú ý giữa hai quốc gia

(2) Lối chửi của cả hai nền văn hóa cũng rất đa dạng, phong phú, chẳng hạn, để

chỉ hành động chửi, tiếng Trung có: 骂 (mạ), 诟 (cấu), 呵 (kha), 诃 (kha), 谴 (khiển),

詈 (lị), 呲 (tử), 僝僽 (sàn sậu), 叱喝 (sất kha), 叱骂 (sất mạ), 唾骂 (thóa mạ), 喝斥 (hát xích), 嘲诟 (trào cấu), 嚷骂 (nhưỡng mạ), 大骂 (đại mạ), 嫚骂 (man mạ), 怒叱 (nộ sất), 怒骂 (nộ mạ), 斥骂 (xích mạ), 毁讟 (huỷ độc), 毒骂 (độc mạ), 海骂 (hải mạ),

痛诋 (thống để), 痛骂 (thống mạ), 苛责 (hà trách), 呵骂 (kha mạ), 诃詈 (kha mạ),

诃咄 (kha đốt), 诃谴 (kha khiển), 诋排 (để bài), 诋毁 (để huỷ), 诋訾 (để tư), 诋谤 (để báng), 诟谇 (cấu toái), 谇骂 (toái mạ), 谤骂 (báng mạ), 谩骂 (mạn mạ), 谴何 (khiển hà), 谴呵 (khiển kha), 谴诃 (khiển kha), 责骂 (trách mạ), 贬辱 (biếm nhục), 造谤 (tạo báng), 骂街 (mạ giai), 骂詈 (mạ lị) Trong tiếng Việt, nếu nhóm theo hình thức thì có:

chửi thề, chửi tục, chửi cha, chửi xéo, chửi bới, chửi móc, chửi leo, chửi đổng, chửi phong long…; nhóm theo nội dung, mức độ thì có: chửi mắng, chửi bới, chửi độc, chửi thề, chửi đổng, trách mắng, quát mắng, quát tháo, nhục mạ, lăng mạ, mắng nhiếc, mắng chửi, sỉ nhục, sỉ vả, bài xích, báng bổ, nguyền rủa, hạ nhục, làm nhục, phỉ báng ; nhóm theo tính chất thì có: chửi té khói, chửi không kịp vuốt mặt, chửi như vãi trấu, chửi như tát nước (vào mặt), chửi tưới hột sen, chửi tá lả, chửi tá lả bùng binh, chửi búa xua, chửi tứ tung, chửi tùm lum tà la, chửi sa sả, chửi cho tắt đài, chửi thẳng vào mặt, chửi sủi bọt mép, chửi như hát, v.v…

Trang 37

(3) Về đặc điểm chửi, người Trung Quốc cũng có lối chửi dài, dai như người Việt Nếu như người Việt có bài chửi mất gà nổi tiếng với rất nhiều biến thể của nó lưu

truyền trong dân gian, thì Trung Quốc có Vi Tiểu Bảo, nhân vật chính trong bộ tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung, được coi là bậc thầy của nghề chửi bới Cũng nhờ hình tượng của Vi Tiểu Bảo mà chúng ta biết được rằng, ngôn ngữ chửi mắng của người Trung Quốc cũng rất phong phú, có ca có kệ, có vần có điệu Vũ

Đức Sao Biển cho biết: "Ngay trên bàn đàm phán, đang làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Thanh triều, hắn cũng chửi Phí Diêu Đa La Quả La Văn (Feodore Golovin), đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Nga La Tư (La Sát) Gặp Kim Dung viết: “Con mẹ quân chó đẻ! Ta nguyền rủa tổ tôn mười tám đời bọn quỷ La Sát các ngươi” Thốt xong câu đó, hắn chửi Phí Diêu Đa La ào ạt Kim Dung viết: “Rồi tiếp đến những lời thô tục tuôn ra như nước chảy, thao thao bất tuyệt Hắn chửi cao tổ mẫu, tằng tổ mẫu, rồi đến tổ mẫu, mẫu thân, tỷ muội, bà ngoại, a di, cô mẫu nhà Phí Diêu Đa La Hắn chửi tưới hột sen, chửi vung xích chó Bao nhiêu đàn bà người họ Phí của nước La Sát hắn chửi tuốt, không chừa một ai" [Vũ Đức Sao Biển 2010] Trong lịch sử chiến tranh

Trung Hoa cũng ghi chép lại một loại quân gọi là mạ thủ, là những tên lính cao to,

giọng kh e, chỉ có nhiệm vụ duy nhất là "chửi bên địch" Về hình thức, đây là một thứ

tâm lý chiến, phải ngoác miệng ra mà chửi, chửi làm sao cho có ca có kệ, có vần có điệu theo cái kiểu hợp xướng một giọng cho phía bên kia nghe được Các mạ thủ phải học “bài chửi” cho thuộc, chửi lên cùng một giọng càng lớn càng tốt để nhà vua hay tướng thủ thành bên kia "thủng màng nhĩ" Về nội dung, bài chửi làm sao phải đạt yêu cầu “đào mồ cuốc mả” của kẻ địch, đem hết cái xấu, cái dơ, cái bẩn trút lên đầu lên cổ người ta Nhà vua hoặc tướng thủ thành bên địch nghe chửi nín nhịn không nổi, phải

mở cửa thành nhảy ra đánh nhau Nhiệm vụ của mạ thủ được coi là thành công Món

võ ấy được gọi là võ lưỡi [Vũ Đức Sao Biển 2014]

Trang 38

(4) Về nội dung chửi, tựu trung lại ở các phương diện: tính dục bài tiết, tổ tiên

đấng sinh thành, hạ cấp trong so sánh với động vật, tín ngưỡng - tôn giáo, rồi đến những đánh giá mang tính tiêu cực

(5) Về bổ ngữ trong cấu trúc câu chửi, bổ ngữ chủ yếu ở dạng sở hữu cách

(danh từ chỉ đối tượng+ tính từ sở hữu), hay còn gọi là lối chửi gián tiếp, vì không

chửi trực tiếp vào đối tượng, mà là chửi những người/vật thân thuộc với đối tượng mình muốn chửi Ví dụ:

- Mẹ mày!  mày là danh từ nhưng trong cấu trúc này lại là tính từ sở hữu, bổ nghĩa cho danh từ mẹ, mẹ là đối tượng bị chửi một cách gián tiếp (chủ thể muốn chửi mày nhưng lại chửi mẹ của mày)

- Cha bố tiên nhân thằng Cốc!  thằng Cốc là tính từ sở hữu cho danh từ cha

bố tiên nhân, cha bố tiên nhân là đối tượng bị chửi gián tiếp (chủ thể muốn chửi thằng Cốc nhưng lại chửi cha bố tiên nhân của thằng Cốc)

Mặc dù có sự tương đồng cao, nhưng giữa Trung Quốc và Việt Nam, hiện tượng chửi cũng có nhiều chỗ khác biệt, thể hiện ở những điểm sau:

(1) Mục đích chửi: ngoài mục đích giải t a ẩn ức tâm lý là mục đích phổ quát,

do có xu hướng thiên về dương tính, nên mục đích chửi của người Trung Quốc giống với phương Tây là nhằm kích động bạo lực, còn Việt Nam thì dùng chửi làm công cụ giải quyết mâu thuẫn

(2) Việt Nam và Trung Quốc hay sử dụng câu chửi ở dạng chửi đối tượng gián tiếp, tuy nhiên ở Trung Quốc đối tượng gián tiếp chỉ hạn định ở phụ nữ giống như phương Tây, nhưng đa dạng hơn (ngoài mẹ, bà, còn có chị em gái, tổ tiên thuộc giới nữ như tỷ, muội, cao tổ mẫu, a di, cô mẫu…), ví dụ: 他媽的 (tha má tợ/ mẹ nó), 祖奶奶 (tổ nãi nãi/ bà tổ nội), 肏你妈 (chao nỉ ma/đụ mẹ mày) là những từ chửi tục rất phổ biến Trong công trình nghiên cứu của Gao Yu (Cao Du), lượng ngôn từ mang tính lăng nhục người phụ nữ chiếm 23/29 (79.31%), một tỷ lệ rất cao trong các tổ hợp từ tục trong ngôn ngữ Đài Loan [dẫn theo Trần Duy Khương 2008: 124] Ngược lại, đối

Trang 39

tượng gián tiếp trong câu chửi của người Việt lại có đầy đủ tất cả các đại từ nhân xưng chỉ tất cả các bậc tiền bối, trưởng bối, cả nam lẫn nữ không phân biệt giới tính, thậm

chí có cả tầng tầng lớp lớp các thế hệ trong cùng một câu chửi Ví dụ: “Cha bố tiên nhân thằng Cò! Cha bố tiên nhân thằng Cốc! Cha họ nội họ ngoại, họ gần họ xa, họ năm đời giở lên, ba đời giở xuống thằng Cò, thằng Cốc! Cha tam đại, tứ đại, ngũ đại mai thần chủ thằng Cò, thằng Cốc Cha đứa già đứa trẻ, đứa nhớn đứa bé đứa mẹ đứa con, đứa đỏ như son, đứa vàng như nghệ nhà thằng Cò, thằng Cốc bảo nhau định vỗ

nợ của tao.” (Đồ Phồn Khao)

Cũng như phương Tây, văn hoá vùng Đông Bắc Á cũng có tư tưởng trọng nam,

chủ nghĩa gia đình, tông tộc ở văn hoá Đông Bắc Á rất mạnh mẽ, phụ nữ hiếm hoặc

hầu như không có vai trò gì trong xã hội Ngược lại, tâm thức trọng nữ trong văn hoá

Việt lại mạnh mẽ và tính dân chủ làng xã ở Việt Nam mạnh hơn tính tôn ty trong gia

tộc,“lấn át và chi phối tính tôn ty một cách rõ rệt… Người Việt Nam đã dân chủ hoá mọi quan hệ tôn ty trên dưới” [Trần Ngọc Thêm 2016: 169] "vai trò gia đình, gia tộc

ở Đông Bắc Á cao hơn nhiều so với Việt Nam, còn vai trò làng xã ở Việt Nam lại cao hơn nhiều so với Đông Bắc Á" [Trần Ngọc Thêm 2016: 157] So với Đông Bắc Á, cụ

thể là Trung Quốc, tính tôn ty trật tự trong gia đình, gia tộc đã bị tính dân chủ làng xã của cư dân nông nghiệp lúa nước làm giảm bớt đi Bởi tính tôn ty đã bị dân chủ hoá

nên các lối chửi của người Việt rất đa dạng về đối tượng gián tiếp, “công bằng” và không có sự thiên vị, chứ không bó buộc như lối chửi của Trung Hoa Người Việt dễ dàng lôi ông bà, cha mẹ, tổ tiên của người khác ra mà chửi nhưng đồng thời người Việt cũng cảm thấy bị xúc phạm rất cao khi người khác chửi ông bà, cha mẹ, tổ tiên của mình (do vai trò của gia đình, gia tộc của mình thì rất quan trọng nhưng của

người khác thì không) Sự tương đồng và khác biệt về hiện tượng chửi giữa phương Tây, Trung Hoa và Việt Nam được thể hiện qua bảng 1.5

Trang 40

Bảng 1.5: So sánh hiện tượng chửi giữa Việt Nam với phương Tây và Trung Hoa

Hiện tượng Chửi

Tiêu chí

Phương Tây (Văn hoá trọng dương)

Trung Hoa (Văn hoá trung gian trọng thế tục)

Việt Nam (Văn hoá trọng âm)

Ít Nhiều, Phổ biến Nhiều

Lối chửi Ít đa dạng (chủ yếu là

Nội dung chửi

(xếp theo thứ tự độ phổ

biến)

-Tính dục, bài tiết -Tôn giáo, tín ngưỡng

ngữ) trong câu chửi

Chủ yếu là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (chửi trực tiếp đối tượng)

Chủ yếu là dạng sở hữu cách (chửi gián tiếp đối tượng)

Loại đối tượng gián tiếp Hạn định ở phụ nữ Đa dạng, không hạn

định ở phụ nữ

1.4 Hiện tượng chửi dưới sự chi phối về mặt sinh học giữa hai giới

Ở góc độ giới tính, cùng một đối tượng, nhưng giới tính khác nhau sẽ hình thành nên quan niệm và suy nghĩ khác nhau, dẫn đến hành động, thái độ, hành vi cư xử cũng khác nhau trước cùng một sự việc Sự khác biệt này chịu ảnh hưởng của hai yếu tố: yếu

tố sinh lý và sự phân công lao động trong xã hội

Trước hết đó là do sự khác biệt về yếu tố sinh học, hay sinh lý, được quyết định bởi hàm lượng hormone trong cơ thể con người Nam giới chứa hàm lượng testosterone trong máu cao hơn gấp nhiều lần so với nữ giới (ngay cả một người nam

có nồng độ testosterone thấp nhất thì vẫn cao hơn so với nữ), còn ngược lại nữ giới lại

có hàm lượng hormone estrogen cao hơn nhiều lần so với nam giới Hai loại hormone

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bakhtin Mikhail Mikhalovich 1965: Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hoá dân gian Trung cổ và Phục hưng, Từ Thị Loan dịch, 2006.- Hà Nội:NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hoá dân gian Trung cổ và Phục hưng
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
2. Bùi Lưu Phi Khanh 2008: Vô thức tập thể.- https://sites.google.com/site/buiquangthangvicas/sach/xxx/x Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vô thức tập thể
3. Đỗ Lai Thuý 1999: Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực.- Hà Nội: NXB Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
4. Đỗ Lai Thúy 2013: Vấn đề dâm tục trong thơ Hồ Xuân Hương.-http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/doi-song-van-hoa/van-de-dam-tuc-trong-tho-ho-xuan-huong-412030 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dâm tục trong thơ Hồ Xuân Hương
5. Hà Sĩ Phu 2005: Văn hóa chửi.- http://www.hasiphu.com/vh3.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa chửi
6. Hoàng Phê (chủ biên) 1992: Từ điển tiếng việt, in lần thứ 2.- Đà Nẵng: Trung tâm Từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
7. Hồ Chí Minh 1995: Toàn tập. – Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
8. Huệ Bạch (ghi) 2012: Chỉ Hà Nội mới có văn hoá chửi.- http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/68674/chi-ha-noi-moi-co-van-hoa-chui.html 9. Hữu Đạt 2009: Đặc trưng ngôn ngữ và Văn hoá giao tiếp tiếng việt.- Hà Nội:NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ Hà Nội mới có văn hoá chửi".- http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/68674/chi-ha-noi-moi-co-van-hoa-chui.html 9. Hữu Đạt 2009": Đặc trưng ngôn ngữ và Văn hoá giao tiếp tiếng việt
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
10. Lê Ngọc Trà 2007: Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới.- http://phebinhvanhoc.com.vn/van-hoc-viet-nam-nhung-nam-dau-doi-moi/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới
11. Lê Ngọc Trụ 1993: Tầm Nguyên Tự Điển Việt Nam.- TPHCM: NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm Nguyên Tự Điển Việt Nam
Nhà XB: NXB TPHCM
12. Mai Thị Hảo Yến 2014: Xác định và phân loại hành động ngôn ngữ chửi mắng trong tiếng Việt.- In trong: Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống.- số 7, trang 10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định và phân loại hành động ngôn ngữ chửi mắng trong tiếng Việt".- In trong: "Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống
13. Mai Thị Hảo Yến 2015: Văn hoá giao tiếp của người Việt qua hành động ngôn ngữ chửi.- In trong: Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống.- số 3, trang 26-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá giao tiếp của người Việt qua hành động ngôn ngữ chửi.-" In trong:" Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống
14. Mai Thị Hảo Yến 2016: Xưng hô trong hành động ngôn ngữ chửi mắng tiếng Việt.- In trong: Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống.- số 3, trang 72-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xưng hô trong hành động ngôn ngữ chửi mắng tiếng Việt".- In trong: "Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống
15. Nguyễn Quang 2007: Giao tiếp phi ngôn từ.- In trong: Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội.- Ngoại ngữ số 23, trang 76-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp phi ngôn từ".- In trong: "Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Nguyễn Thanh Huyền 2013: Ngôn ngữ cơ thể–yếu tố quan trọng, tác động nhiều nhất đến người nghe trong giao tiếp.- http://huc.edu.vn/chi-tiet/2727/Ngon-ngu-co-the-yeu-to-quan-trong-tac-dong-nhieu-nhat-den-nguoi-nghe-trong-giao-tiep.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ cơ thể–yếu tố quan trọng, tác động nhiều nhất đến người nghe trong giao tiếp
17. Nguyễn Thị Tuyết Ngân 1993: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong các lối chửi của người Việt.- In trong: Tạp chí Ngôn ngữ.- số 1, trang 32-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá trong các lối chửi của người Việt".- In trong: "Tạp chí Ngôn ngữ.-
18. Nguyễn Thiện Giáp 1992: Mác, Ăngghen, Lênin bàn về ngôn ngữ.- Hà Nội: NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác, Ăngghen, Lênin bàn về ngôn ngữ
Nhà XB: NXB Sự thật
20. Nguyễn Văn Khang 2001: Từ điển tiếng lóng và tiếng lóng Việt Nam.- Hà Nội: NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng lóng và tiếng lóng Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
21. Raymond Lloyd Richmond 2010: Anger and forgivenesss, Rubi dịch, 2015: Tâm lý học của sự tức giận và quản lý cơn giận: Xúc phạm, trả thù và tha thứ.- http://tamlyhoctoipham.com/tam-ly-hoc-cua-su-tuc-gian-va-quan-ly-con-gian-xuc-pham-tra-thu-va-tha-thu/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anger and forgivenesss", Rubi dịch, 2015: "Tâm lý học của sự tức giận và quản lý cơn giận: Xúc phạm, trả thù và tha thứ
22. Trần Duy Khương 2008: Hiện tượng sử dụng ngôn từ tục dưới góc nhìn văn hóa học.- Luận văn thạc sĩ văn hóa học (GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm hướng dẫn), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG Tp. HCM, 197 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng sử dụng ngôn từ tục dưới góc nhìn văn hóa học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w