Ở bài viết i nh vô h nh qu n th o tác giả đã bày tỏ sự đồng cảm với bài thơ u h t y của guyễn Thị ai: “từ một nét đ p văn hóa đã mở ra sức khái quát, nhà thơ đã cài đặt được cái lớn lao
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
PHẠM THỊ HÀ
TÍNH NỮ TRONG THƠ NGUYỄN THỊ MAI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 822 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn T Bích Thu
Thái Nguyên - Năm 2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các kết quả đƣợc nghiên cứu là trung thực, chƣa đƣợc công bố trong bất kì công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2022
Tác giả luận văn
P m T H
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô Ban Giám hiệu, Ban lãnh đạo Khoa Sau đại học Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên; thầy cô giảng dạy lớp Cao học K14 đã tạo mọi điều kiện để tác giả được học tập, nghiên cứu và hoàn thành công trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam, khóa 2020 - 2022
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, dìu dắt, chỉ bảo một cách tận tình, nghiêm khắc tác giả luận văn trong suốt thời gian nghiên cứu, hoàn thiện luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban ãnh đạo, Tổ chuyên môn tổ gữ Văn – Anh trường THPT Vân Nham, đã tạo điều kiện về mọi mặt để tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới nhà thơ guyễn Thị ai đã giúp đỡ nhiều tư liệu nghiên cứu cho tác giả Tác giả cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, chia sẻ, giúp tác giả có động lực để hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Luận văn đã được thông qua, tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2022
Học viên
P m T H
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc luận văn 8
Chương 1SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN THỊ MAI TRONG DÒNG CHẢY 9
THƠ Ữ ĐƯƠ G ĐẠI 9
1.1 Khái lược về thơ nữ Việt am đương đại 9
1.2 Giới thuyết tính nữ 13
1.3 Hành trình sáng tác của Nguyễn Thị Mai 17
1.3.1 Vài nét về tác giả 17
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác 19
1.3.3 Quan niệm sáng tác của nhà thơ 21
Chương 2CÁI TÔI TRỮ TÌNH HIỆN THÂN TÍNH NỮ TRO G THƠ 25
NGUYỄN THỊ MAI 25
2.1 Giới thuyết về cái tôi trữ tình 25
2.2 Các dạng thức cái tôi trữ tình trong thơ guyễn Thị Mai 28
2.2.1 Cái tôi hoài niệm 28
2.2.2 Cái tôi từng trải 39
2.2.3 Cái tôi tự tin 49
Chương 3 PHƯƠ G THỨC NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN TÍNH NỮ TRONG THƠ GUYỄN THỊ MAI 58
3.1 Thể thơ 58
3.1.1 Giới thuyết khái niệm về thể thơ 58
3.1.2 Thể lục bát 60
3.1.3 Thể tự do 66
3.2 Ngôn ngữ 71
3.2.1 Giới thuyết khái niệm về ngôn ngữ thơ 71
Trang 53.2.2 Ngôn ngữ giàu nữ tính mang màu sắc dân gian 73
3.2.3 Ngôn ngữ mang màu sắc hiện đại 76
3.3 Giọng điệu trữ tình 80
3.3.1 Giới thuyết khái niệm về giọng điệu 80
3.3.2 Giọng dịu dàng đằm thắm 80
3.3.3 Giọng đồng cảm, sẻ chia 85
3.3.4 Giọng điệu hài hước, hóm hỉnh 88
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PH C 98
Trang 6C n ung n t Nguyễn T M
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong nền thơ Việt am, thơ nữ có một truyền thống lâu dài và kết tinh được nhiều giá trị độc đáo Sáng tác của họ đã làm phong phú thêm đời sống văn học đương thời, đồng thời thể hiện sinh động con người và văn hóa Việt am
i tác giả là một gương mặt thơ riêng, một phong cách riêng không dễ bị trộn lẫn hắc đến các thế hệ nhà thơ nữ Việt am, chúng ta không thể quên những tên tuổi: Hằng Phương, Anh Thơ, Thúy Bắc, uân Qu nh, hi, Phan Thị Thanh hàn, âm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Hồng gát, Đoàn Thị am uyến,
B i Kim Anh, Nguyễn Thị ai, Dư Thị Hoàn, Tuyết Nga, Hoàng Việt Hằng, Dạ Thảo Phương, Vi Th y inh, Phan Huyền Thư, Bình guyên Trang, Trương Quế Chi, ữ ai…
Trong không khí dân chủ hóa của đời sống văn học nghệ thuật, đội ngũ thơ nữ từ sau 1975, đặc biệt từ giai đoạn đổi mới đến nay càng phát triển và và
có những thành tựu đáng trân trọng Hầu hết những cây bút nữ làm thơ d có mạnh mẽ đến đâu cũng mang trong mình ít nhiều chất nữ tính Trong sáng tác của các nhà thơ nữ, một cách tự nhiên, các yếu tố nữ tính ùa vào trang viết, làm nên bản sắc riêng của thơ họ Điều này có thể biểu hiện đậm nhạt khác nhau đối với từng trường hợp cụ thể Trong số các nhà thơ nữ hiện diện sau 1975, Nguyễn Thị ai được xem là nhà thơ mà tính nữ trở thành một đặc trưng nổi bật trong cảm hứng sáng tạo, làm nên một cá tính thơ “rất Nguyễn Thị Mai”
Thơ guyễn Thị Mai giàu tính nữ, dịu dàng, nhân hậu, vừa truyền thống vừa hiện đại Hiện lên trong trang thơ bà là hình ảnh người phụ nữ tần tảo, đảm đang, thông minh, nhân hậu, giàu tình thương và nghị lực sống, đồng thời đằng sau vẻ đ p dịu dàng ấy là sự mạnh mẽ của một người phụ nữ tràn đầy nhiệt huyết, luôn có ý thức hài h a giữa cái tôi cá nhân với ý thức công dân Có thể nói, thơ guyễn Thị ai mang đậm tính nữ từ đề tài, giọng điệu đến ngôn ngữ nghệ thuật Với những thành tựu thơ của mình, đã có một số bài viết và công trình nghiên cứu về thơ guyễn Thị Mai, tuy nhiên chúng tôi nhận ra c n dư địa
để khảo sát và tìm hiểu thơ bà Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Tính nữ trong thơ
Trang 8Nguyễn Thị Mai” làm đối tương nghiên cứu, nhằm nhận diện nét đặc sắc mang
âm hưởng phái tính và giới, trên cơ sở đó ghi nhận đóng góp của bà với thơ nữ nói riêng và thơ Việt am đương đại nói chung
2 L ch sử vấn đề
Việc nghiên cứu về tính nữ trong thơ nói chung và tiếp nhận thơ guyễn Thị Mai nói riêng đã thu hút sự chú ý của đông đảo độc giả và các nhà nghiên cứu phê bình
Nổi bật trong số các công trình nghiên cứu về thơ nữ nói chung có thể kể
đến Hoàng Thu Linh với nghiên cứu Tư duy thơ nữ sau 1975, Nguyễn Ngọc Thu Anh với nghiên cứu Phái tính trong thơ nữ Việt Nam sau 1975 Các tác giả
đã làm sáng tỏ những nội hàm phái tính với “nữ tính”, “mẫu tính”, “cá tính”,
“dục tính” và xem đó như là những khái niệm gần nghĩa nhau, có những khía cạnh nghĩa giao nhau để phóng chiếu vào nghiên cứu thơ nữ Inrasara với bài
Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố nữ đã đề cao và chứng minh những
cách viết mới, mạnh bạo của các nhà thơ nữ đương đại
Nghiên cứu về thơ guyễn Thị ai, đáng chú ý nhất phải kể đến bài viết
của nhà phê bình văn học Trần Thị Trâm trong t thoáng h n dung t m h n
đ n iệt đăng trên tạp chí ăn nghệ qu n đ i tháng 12 2 15 đã kh ng định:
“Nguy n Th i gương m t tiêu i u ho v đ p thơ phái nữ” 48 Hình
ảnh trung tâm trong thơ bà luôn là người phụ nữ truyền thống: đôn hậu, dịu dàng, tâm hồn bao dung và tràn ngập yêu thương, vị tha, hi sinh Bên cạnh đó là hình ảnh người phụ nữ hiện đại tự tin, tự trọng, ý thức về giá trị cá nhân, khao khát cống hiến, luôn tự cân bằng giữa khát vọng, trách nhiệm và bổn phận Cũng trong một bài viết khác của mình, nhà phê bình Trần Thị Trâm đặc biệt chú ý
đến bài thơ Nh hông ố của guyễn Thị ai Theo tác giả, bài thơ là lời
cảnh tỉnh cho các bậc làm cha làm m , hãy vì con cái mà xây dựng một tổ ấm đủ
đầy Nh hông ố đã chứa đựng một thông điệp mang sức nặng xã hội:
“mang đến cho bạn đọc và m i thành viên trong các gia đình thông điệp quý báu của muôn đời, tổ ấm gia đình không gì sánh được in hãy c ng chung sức xây
tổ ấm” [48]
Trang 9Thơ guyễn Thị ai có nhiều bài viết về gia đình, đặc biệt là viết về tình cảm m con D là m đẻ, m chồng, hay m kế thì trong thơ của bà, những người phụ nữ ấy đề hiện lên rất đ i hiền từ và đáng kính ét đặc sắc này đã
được tác giả B i Kim Anh kh ng định trong tiểu luận Nguy n Th i v những
v n thơ át đ m thắm ngh t nh chính ý thức về giới đã giúp guyễn Thị
ai có những bài thơ cảm động về họ 1 Viết về người phụ nữ, xuất phát từ thiên tính nữ và sự đồng cảm về giới, guyễn Thị ai đã dành nhiều vần thơ cho người phụ nữ, bà đã thay cho tiếng l ng luôn chia sẻ chân thành, động viên,
an ủi, khích lệ họ tự vươn lên trong cuộc sống [1]
Theo khảo sát của chúng tôi, nhà thơ âm uân Vi là người có bài viết về
thơ guyễn Thị ai nhiều nhất Trong Nguy n Th i đ i v thơ như tôi đ
i t, âm uân Vi đã chỉ ra rằng: “chính tuổi thơ vất vả, nhọc nhằn đã giúp
guyễn Thị ai biết vươn lên sống, học tập, tự lực để sáng tác những thi phẩm
có sức rung cảm đến độc giả sau này” [51] âm uân Vi kh ng định: “Thơ guyễn Thị ai rộng về thể loại và người đàn bà ấy đã vận dụng rất hiệu quả từng thể loại để đạt tới sự giản dị, xúc động cho thơ mình, mà dấu ấn sâu đậm nhất chính là thể lục bát hững vần lục bát đó chị viết để sẻ chia với thân phận con người, nhất là người phụ nữ với gia đình, hạnh phúc lứa đôi” [51]
Trong bài, m t h trăng nữ nhi u v n, khi cảm nhận về bài thơ
h đêm ong iên của guyễn Thị ai, nhà thơ âm uân Vi cho rằng
“ guyễn Thị ai đã làm ta xúc động thấm thía, tìm được sự đồng điệu, sẻ chia,
để miễn dịch được với căn bệnh thờ ơ, vô cảm Sự vô cảm bi thảm đến mức cả cây cầu sang chợ vô tri cũng phải buông xuống d ng sông tiếng thở dài thế sự”
52 Ở bài viết i nh vô h nh qu n th o tác giả đã bày tỏ sự đồng cảm với bài thơ u h t y của guyễn Thị ai: “từ một nét đ p văn hóa đã mở ra sức
khái quát, nhà thơ đã cài đặt được cái lớn lao quốc gia, quốc tế trong một câu chuyện tình giản dị, cảm động Thế mới biết, cái hay huyền bí của thi tứ chỉ có thể có được bằng năng lực sáng tạo chân cảm và giản dị nhất” [53]
à một tác giả nữ, Dương Hiền ga cũng rất chú ý đến thơ guyễn Thị
ai, trong bài ương i n Ng đọ u h ng tr u nh m Nguy n Th
Trang 10Mai, tác giả bị chinh phục bởi tiếng l ng của người con hiếu thảo viết về m khi
m đã qua đời, khoảng trống trong trái tim người con không gì có thể b đắp nổi Cảnh vật vẫn thế, nhưng m đã không c n Bài thơ tự nhiên như hơi thở, cảm xúc chân thực, hình ảnh ấn tượng, chỉ một việc tưởng chừng rất nhỏ mà khái quát được một tình cảm lớn, nhà thơ không chỉ nói lên tâm sự riêng mình với m thân yêu mà c n gửi đến m i chúng ta một thông điệp mang tính đạo lý ngàn xưa [31]
Trong bài viết: Những ngọn n n í trong thơ nhà thơ ê Thành ghị
nhận thấy thơ guyễn Thị ai dịu dàng, tinh tế, pha chút hài nh , thơ bà không hợp với những gì gân guốc, mỉa mai, căm phẫn sâu cay Thơ guyễn Thị ai là những xúc động của tầng bậc kí ức trong đó có kí ức về những người thân, kí ức
về những chuyến đi, những trải nghiệm tâm hồn, kí ức về thời gian, về những
n i đau mất mát mà đời người không tránh khỏi Để diễn tả những miền kí ức
ấy, guyễn Thị ai đã lựa chọn thể thơ lục bát như nhà thơ ê Thành ghị nhận định: “ ột miền kí ức chất chứa, một trái tim nhạy cảm, một khả năng diễn đạt tình tứ, lẽ tự nhiên guyễn Thị ai thường đến với thể lục bát như một
sự lựa chọn để biểu hiện tâm trạng của mình” [36]
Bên cạnh những nhà thơ, nhà nghiên cứu thường xuyên có bài viết về thơ guyễn Thị ai, cũng có nhiều bài viết khác phân tích hoặc cảm nhận về một hay nhiều bài thơ riêng lẻ của bà guyễn ạnh H ng đặc biệt ấn tượng với bài
thơ Tản m n v i t m u n, ông cho rằng đây là bài thơ tình xót xa, dịu ngọt:
“Đọc bài thơ đậm chất hoài niệm, xót xa, dịu ngọt này, tôi buồn da diết cả buổi chiều hôm đó” 12 Thói thường, yêu mà không đạt được thì sẽ là hờn trách, là căm ghét, là hận nhưng thay vì trách móc, người con gái trong bài thơ vẫn nhớ đến người ấy, n i nhớ dịu ngọt, có xen lẫn nuối tiếc, xót xa nhưng từ trong sâu
th m vẫn là sự vị tha, nhân ái Có lẽ chính điều này đã tạo nên sức hấp dẫn và vị ngọt giăng mắc trong thơ bà
C ng là đọc thơ guyễn Thị ai, nhưng ê Hoài am lại yêu mến những bài thơ viết về m a xuân của guyễn Thị ai đến mức gọi bà là “thi sĩ có gương mặt m a xuân” Tác giả ê Hoài am cho rằng: “những trang thơ viết về
Trang 11tết và m a xuân của guyễn Thị ai không có những xa lạ, nó gắn với câu chuyện tình yêu của chị, rất chân thực nhưng lại mang tính khái quát cao” [37]
Thơ guyễn Thị ai không chỉ viết về gia đình, về người phụ nữ, về tính
nữ mà c n có nhiều bài thơ viết về tình yêu quê hương đất nước, về hình ảnh
người lính trong thời bình Qua bài viết: i nh m n ính đảo, tác giả ê Văn
Thành đánh giá đây là “một bài thơ cô đọng về ngôn từ, tiêu biểu về hình ảnh, song lại có một sức khái quát lớn về hình tượng đất nước, Tổ quốc và người lính trong công cuộc giữ gìn và bảo vệ biển đảo hiện nay” [41]
Trong cuốn sách 33 gương m t thơ nữ của Vũ ho, ông gọi guyễn Thị
ai là “người thơ tần tảo bến thực, bến mơ” chính sự hết mình và tận tụy với công việc của một cán bộ hội phụ nữ đã tạo điều kiện cho bà khám phá thế giới hiện thực phong phú, bộn bề để kết tinh nên những vẫn thơ trong sự thăng hoa đầy cảm hứng Sự h a mình, nhiệt tình hết mực, hài h a chung, riêng đã tạo nên sức sáng tạo dồi dào và sức hấp dẫn riêng của thơ bà
goài ra trong khoảng thời gian từ năm 2 16 đến nay cũng có một số luận văn thạc sĩ lấy thơ guyễn Thị ai làm đề tài nghiên cứu cho mình Đáng chú ý
có một số luận văn sau: uận văn Thơ Nguy n Th i của tác giả ê Thị Thúy Lan, Đại học khoa học, Đại học Thái guyên năm 2 16, luận văn T m hi u giá
th thơ Nguy n Th i của tác giả Đặng Thị Thủy, Đại học sư phạm Hà ội năm 2 16, luận văn đi m ngôn ngữ thơ Nguy n Th i, Đại học sư phạm,
Đại học Thái guyên năm 2 18 Tuy nhiên các luận văn trên mới khai thác thơ guyễn Thị ai trong cái nhìn chung về giá trị nội dung và nghệ thuật, hoặc đi sâu tìm hiểu riêng về đặc điểm ngôn ngữ thơ guyễn Thị ai chứ chưa có hướng khai thác từ góc nhìn về giới và tính nữ Chính vì thế chúng tôi nhận thấy vẫn c n khoảng trống để tiếp cận và khai thác thơ bà
Có thể thấy tất cả các bài báo và công trình nghiên cứu đều kh ng định nhà thơ nữ Nguyễn Thị Mai có nhiều đóng góp cho thơ ca Việt am giai đoạn sau năm 1975, thơ bà giàu tính nữ và thành công ở thể thơ lục bát
Trang 12Tiếp thu ý kiến của những người đi trước trên cơ sở khảo sát những tập thơ của nhà thơ guyễn Thị Mai, bằng cái nhìn hệ thống và toàn diện chúng tôi
hi vọng có thể tìm hiểu kĩ hơn và sâu hơn giá trị thơ của bà
3 Đố tượng và ph m vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tính nữ trong thơ guyễn Thị Mai thể hiện qua phương diện nội dung và nghệ thuật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu là các tập thơ sau:
- N n trắng s ng đò, B Văn hóa thông tin, 1997
- t hú sông trăng, B Văn học, 2 1
- Th i ho g o háy, B Phụ nữ, 2 5
- T n tảo g t huy , B Văn học, 2 5
- át nh v m, B Quân đội nhân dân, 2 1
- Không xóa n i i ho , B Văn học, 2 14
- T m u n mắt i , B Văn học, 2 14
- ng quê r đảo, B Hội nhà văn, 2 15
- đ p uôt tr i, B Hội nhà văn, 2 18”
Để có được những đánh giá toàn diện về đặc điểm và giá trị của thơ Nguyễn Thị ai, chúng tôi cũng quan tâm thêm một số tập thơ khác và so sánh với thơ của một vài cây bút nữ cùng thời
Trang 134.2 hương ph p thống ph n oại
Phương pháp này giúp chúng tôi tìm hiểu tính nữ trong thơ guyễn Thị
ai một cách hệ thống, thông qua việc tập hợp những dẫn chứng phục vụ cho từng biểu hiện của tính nữ trong thơ guyễn Thị ai
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát, tìm hiểu thơ guyễn Thị ai, đặt thơ bà trong d ng chảy chung của thơ nữ hiện đại trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật biểu hiện Từ
đó làm sáng tỏ diện mạo và những đóng góp của thơ guyễn Thị Mai trong dòng chảy thơ ca Việt am sau năm 1975
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống thơ guyễn Thị Mai nhìn từ phương diện tính nữ hiện thân qua hình tượng cái tôi trữ tình và nghệ thuật thể hiện nhằm nhận diện đặc trưng tính nữ trong thơ guyễn Thị ai, trên cơ sở đó
kh ng định tiếng nói riêng của bà trong thơ nữ đương đại
Trang 147 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
hương 1: Sáng tác của Nguyễn Thị Mai trong dòng chảy thơ nữ từ sau 1975 hương 2: Cái tôi trữ tình hiện thân tính nữ trong thơ guyễn Thị Mai
hương 3: Phương thức nghệ thuật biểu hiên tính nữ trong thơ guyễn Thị Mai
Trang 15C ư ng 1 SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN THỊ MAI TRONG DÒNG CHẢY
THƠ NỮ ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 K á lược về t nữ Việt N m đư ng đ i
Sau năm 1975 khi đất nước hòa bình, thống nhất, hội nhập kinh tế toàn cầu, Việt Nam ngày càng nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế Trong bối cảnh đó, những cây bút nữ trẻ có cơ hội làm mới mình, thể hiện cái tôi cá nhân vừa mang hơi thở của thời đại vừa mang nét thuần Việt không thể trộn lẫn Đằng sau những cách tân, những nổi loạn, phá cách thì sau tất cả thơ họ vẫn trở
về với thiên tính nữ với tiếng thơ đằm thắm, dịu dàng và ăm ắp những yêu thương Tất cả đã tạo nên một bức tranh đa màu sắc cho d ng thơ nữ Việt Nam đương đại
Sau ngày 3 4 1975, cuộc kháng chiến chống ỹ thành công, đất nước được hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối Trong niềm vui hân hoan của chiến thắng, các ngành kinh tế, khoa học, kĩ thuật, văn hóa, đặc biệt là văn học đều có những bước chuyển mình quan trọng và thơ cũng nằm trong dòng chảy chung đó
Điều đầu tiên, phải nói đến sự cách tân trong tư duy thơ, đổi mới tư duy là cội nguồn của mọi sự cách tân, đổi mới khác Tinh thần dân chủ hóa trong văn học chính là căn nguyên của mọi sự đổi mới Văn học bây giờ không chỉ là tiếng nói chung của cộng đồng, nhân danh cái ta, mà c n thể hiện tiếng nói cá nhân, giá trị cá nhân và phong cách cá nhân Đã qua rồi cái thời phải đè nén cảm xúc
để ngợi ca cái chung, ngợi ca chiến thắng, ngợi ca sự hi sinh vì lợi ích cộng đồng, lợi ích dân tộc Văn học thời kì này hướng đến cảm hứng thế sự và đời tư, hướng vào cuộc sống hằng ngày với những số phận đời thường, giản dị, những
mơ ước, tâm sự cá nhân, những khó khăn, thiếu thốn, hết sức đời thường mà ở đâu cũng có, ch nào cũng thấy Đồng thời, các nhà thơ cũng trở nên băn khoăn,
Trang 16dằn vặt, thể hiện chiều sâu tư tưởng trong thơ như nhà thơ guyễn Trọng Tạo đã tâm sự:
“Thời tôi có bao nhiêu câu hỏi Câu trả lời thật ch ng dễ dàng chi”
(Tản m n th i tôi sống – guyễn Trọng Tạo)
Trước một diện mạo mới của văn học và thơ ca, các nhà thơ đã mạnh dạn thể hiện quan điểm cá nhân, tiếng nói cá nhân về những vấn đề mà trước đây người ta c n ngại ng ng, e sợ, thậm chí tránh né “vượt qua mọi sự cấm kị, văn học sau năm 1975 nói thật to cái sai, cái xấu và cái ác trong nội bộ chúng ta,
giữa chúng ta với nhau” ã guyên
Có thể nói, sau năm 1975 nền văn học Việt am nói chung và thơ ca Việt
am nói riêng đã có sự chuyển biến vô c ng mạnh mẽ, tiến những bước tiến dài trên con đường hội nhập với văn học và văn hóa nhân loại
Trong bối cảnh vô c ng sôi động ấy, thơ nữ Việt am cũng có những bước đi riêng để tạo nên một bức tranh nhiều sắc màu được vẽ nên bởi nhiều gương mặt thơ và phong cách thơ khác nhau hững gương mặt thơ nữ tiêu biểu cho thơ ca hiện đại sau năm 1975 có thể kể đến theo các thế hệ: Thế hệ các nhà thơ nữ trưởng thành trong kháng chiến chống ỹ như uân Qu nh, hi, Phan Thị Thanh hàn, âm Thị ỹ Dạ, ê Thị ây, guyễn Thị Hồng gát Thế hệ các nhà thơ nữ mới bắt đầu xuất hiện ở chặng đầu đổi mới như: Phạm Thị gọc iên, Đoàn Thị am uyến, Vũ Thị Huyền Thế hệ nhà thơ nữ xuất hiện từ nửa cuối thập niên 9 đến nay, như Phan Huyền Thư, guyễn Phan Quế
ai, Vi Th y inh, Trương Quế Chi
hắc đến thế hệ những nhà thơ nữ trưởng thành trong kháng chiến chống
ỹ không thể không nhắc đến uân Qu nh, một gương mặt thơ rất đ i quen thuộc với độc giả yêu thơ Việt am, và một thi sĩ mà mọi thế hệ học sinh THPT
đều nhớ đến qua bài thơ ng Xuân Qu nh được gọi là “người đàn bà yêu và
làm thơ” Đoàn Thị Đặng Hương bởi trong thơ bà không chỉ có một trái tim yêu đương nồng nhiệt, cháy bỏng, một khao khát hạnh phúc bình dị, đời thường
Trang 17mà c n có một chiều sâu triết lý, không chấp nhận cái tầm thường, nhỏ bé mà muốn vươn tới sự trọn v n, hài h a trong tình yêu:
“Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tân bể”
( ng – uân Qu nh
Ở thế hệ sau uân Qu nh, một gương mặt thơ đáng chú ý chính là nhà thơ nữ Đoàn Thị am uyến với mảng đề tài chủ yếu là tình yêu và cái tôi khát vọng yêu và được yêu, suốt cuộc đời tìm kiếm tình yêu: “Ta đã gửi cho anh
ột con tim dào dạt Và anh trả cho ta i buồn đau tan nát” i t nh yêu – Đoàn Thị am uyến)
hững câu thơ này sau cũng được cố nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc thành
bài hát vọng nổi tiếng Chính nhà thơ Phan Thị Thanh hàn trong bài viết
o n Th m uy n, uốt u đ i tôi t m i m t nh yêu (trên
http://tienphong.vn, cập nhật 6 9 2 15 đã nhận xét: “Có thể nói, trong các nhà thơ nữ hiện nay, Đoàn Thị am uyến là người tài hoa, dám viết ra những mất mát, đau xót trong tình yêu mà phái nữ đã và đang phải gánh chịu” Với bài
thơ h ng h , h ng m tưởng chừng như sẽ nhằm chán với một lối thơ đơn
giản như thơ lục bát nhưng Đoàn Thị am uyến đã găm vào l ng đọc giả ở tính nhân văn sâu sắc ở tâm sự của người đến sau trong cuộc hôn nhân: “ ưa thì chị nay thì em Phải duyên chồng vợ nối thêm tơ hồng Được lúa, lúa đã gặt bông
Được cải, cải đã chặt ngồng muối dưa” ( h ng h , h ng m – Đoàn Thị am
uyến
Thơ của Đoàn Thị am uyến chạm đến tâm can người phụ nữ, nói về
n i đau rất thật nhưng vẫn mạnh mẽ, cứng rắn để đứng lên Tiếp nối tinh thần mạnh mẽ ấy, người đọc không khỏi cảm thấy ngỡ ngàng trước sự thể nghiệm phá cách độc đáo của các nhà thơ trẻ như Vi Th y inh, Phan Huyền Thư, y Hoàng y hắc đến cái tên Phan Huyền Thư, người đọc không thể quên được
tập thơ độc đáo N m nghiêng gay từ khi mới xuất bản, tập thơ đã gây được
tiếng vang lớn, tạo nên một cuộc tranh luận sôi nổi trên văn đàn một thời Giới nghiên cứu đã nhận định, với tập thơ này, Phan Huyền Thư đã mở ra một thế kỉ
Trang 18giải phóng của Việt am, giải phóng phái yếu, giải phóng chính mình, mở ra một sự cách tân mới, trọn v n, quyết liệt chứ không phải nửa vời, lưng chừng
Qua phân tích, khảo sát một số gương mặt thơ tiêu biểu qua các thời kì,
có thể thấy các nhà thơ nữ hiện đại chịu nhiều ảnh hưởng từ mạch nguồn thơ truyền thống với các đề tài quen thuộc như: tình cảm gia đình, thân phận người phụ nữ, tình yêu đôi lứa, tình mẫu tử, làng xóm, bạn bè Bên cạnh đó, những cây bút trẻ cũng đi sâu khám phá những địa hạt mới, những đề tài mới của đời sống đầy rẫy những bất ngờ, những va đập, họ khao khát khám phá những chân trời mới lạ
Trong d ng chảy của cuộc sống mới, những nhà thơ nữ đương thời mau chóng h a nhịp vào bối cảnh xã hội mới Họ đưa vào trang thơ những lo toan thường nhật của cơm áo gạo tiền, chuyện sống và viết, bến thực và bến mơ
Họ không chỉ tái hiện được hiện thực cuộc sống trên trang thơ, mà c n gửi gắm vào
đó cả tâm tư, tình cảm của chính mình Đó là những cảm xúc nóng bỏng, giản dị, táo bạo, mang đầy đủ đặc trưng của tính nữ Có thể nói, thơ nữ đương đại là tổng
h a của nhiều thế hệ nhà thơ nữ, với nhiều phong cách, nhiều cung bậc, nhưng điểm chung của họ là sự tìm t i và sáng tạo không ngừng nghỉ Tuy nhiên, ẩn sau trong tất cả vẫn là bản tính dịu dàng, đằm thắm, bao dung với chiều sâu thiên tính
nữ với tình mẫu tử thiêng liêng, những vun vén cho hạnh phúc bé nhỏ đời thường, những khát khao riêng tư về tổ ấm, những suy tư, trăn trở về ngang trái đời thường,
sự xuống cấp của đạo dức xã hội, là sự xót xa, cay đắng khi bị phụ bạc nhưng vẫn toát lên sự vị tha và nghị lực vượt lên chính mình
Tựu trung lại, đội ngũ sáng tác thơ nữ thời kì này vô c ng đông đảo và
có chất lượng, chính họ đã kh ng định tài năng và tiếng nói của mình, góp phần vào sự thành công của thơ Việt đương thời
Trong số những cây bút nữ có nhiều đóng góp cho thơ ca Việt Nam hiện đại, Nguyễn Thị Mai là một cây bút có bản sắc riêng Nếu Đoàn Thị Lam Luyến sôi nổi, mạnh mẽ; Xuân Qu nh tinh tế, đằm thắm; Phan Thị Thanh Nhàn giản
dị, chân thành, thì Nguyễn Thị Mai lại mẫn cảm, mặn mà Thơ guyễn Thị Mai thể hiện những tình cảm chân thành, xúc động bởi sự hi sinh, lòng nhân ái, bao
Trang 19dung của một phụ nữ trí thức Bà viết về nhiều đề tài khác nhau và ở đề tài nào cũng thấy hiện lên một Nguyễn Thị Mai đôn hậu, sâu sắc, đầy tính nữ Từ những bài thơ của Nguyễn Thị Mai, ta thấy hiện lên chân dung của một người phụ nữ Việt Nam thời hiện đại: nồng nàn, say đắm, sâu sắc, chân thành, yêu thương con người và đầy trách nhiệm với bản thân, với gia đình, với xã hội, với đất nước
Đó là điều rất đáng quý, đáng trân trọng ở nữ thi sĩ này hà thơ guyễn Thị
ai đã tạo nên hình tượng một cái Tôi cá nhân mang đậm tính nữ vừa truyền thống, vừa hiện đại Đọc thơ bà, ta nhận ra chân dung người phụ nữ Việt Nam thời kì hiện đại: vừa rất tình cảm, dịu dàng, yếu đuối, vừa lí trí, mạnh mẽ tỉnh táo, quyết liệt gười phụ nữ ấy mang trong mình nét đ p, phẩm chất cao quí của người phụ nữ Việt Nam truyền thống từ ngàn xưa đảm đang, tháo vát, yêu thương và hi sinh hết mình, vì chồng, vì con hết thảy nhưng cũng mang trong mình nét đ p, tính cách, phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam thời đại mới (trí tuệ, mạnh mẽ, quyết liệt, có ý thức công dân cao, có lòng yêu nước, tự hào dân tộc)
Có thể nói, c ng với các nhà thơ nữ thuộc thế hệ trước và sau mình, guyễn Thị ai đã để lại cho thơ đương đại Việt am một dấu ấn riêng - một cái tôi tràn đầy tính nữ, vừa ngọt ngào, sâu lắng, dịu dàng nhưng cũng quyết liệt, mạnh mẽ guyễn Thị ai xứng đàng là một cây bút tiêu biểu cho d ng thơ nữ Việt am đương đại
1.2 Giới thuyết tính nữ
Trong ngôn ngữ học và phê bình văn học, tính nữ thường được d ng để khu biệt với nam tính Về đặc điểm giới, nhìn chung đàn ông thiên về sự mạnh mẽ, vững chãi, tổng thể, đơn giản…, trong khi đó, phụ nữ lại thiên về sự đa cảm, yếu đuối, chi tiết… Tất cả những điều này cũng được thể hiện r nét trong đời sống vật chất và tinh thần của họ, trong đó có hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật
Theo i t đi n Ti ng iệt “Tính được hiểu theo ba nghĩa: Tính là
những đặc trưng tâm lí ổn định của riêng m i người tính nóng, mát tính, tính cách, tâm tính, thiên tính, thú tính Tính là những đặc điểm riêng của sự vật tính chất, ác tính, bản tính, cá tính, đặc tính, nhân tính, phẩm tính Tính được
Trang 20hiểu là giới đồng tính, đơn tính, lưỡng tính, nam tính, nữ tính ”.Trong phạm
vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi thống nhất hiểu tính theo nghĩa thứ
ba, tức là yếu tố thuộc về giới
Con người cũng giống như trời đất, vạn vật, đều có sự phân định rạch r i:
âm dương, tối sáng, nóng lạnh, ngày đêm, nam nữ Trong nền văn hóa của m i dân tộc, đã có sự phân biệt về giới tính giữa nam và nữ Họ không chỉ khác nhau
về mặt cấu tạo sinh học cơ thể mà c n khác nhau về tính cách, xu hướng tình cảm và cả ở mặc định phân công lao động ói tóm lại, những đặc điểm về giới biểu trưng cho đàn ông đều thiên về sự mạnh mẽ, rắn rỏi, vững chãi, quyết đoán “nam thực như hổ” trái lại, người phụ nữ thường được nhắc đến với những tính cách như yếu đuối, đa cảm, dịu dàng, cần được che chở
Cơ sở của tính nữ là gì Căn cứ vào những nghiên cứu về giống, phái, người ta tin tưởng và hi vọng có một bản sắc nữ vĩnh cửu, họ tin rằng: phụ nữ vẫn là phụ nữ Chính nền văn hóa đã định hướng những đặc điểm tâm lý, tư duy
và hành động của người phụ nữ Giới tính ám chỉ đặc điểm liên kết bằng văn hóa với m i phái Trong xã hội, phái nam được xã hội hóa thành nam tính, phái
nữ được dạy bảo thành nữ tính gay từ khi c n nhỏ, ở trong m i gia đình, chúng ta đã được giáo dục và định hướng chúng ta nên nghĩ về mình như thế nào, cách chúng ta tương tác với người khác ra sao, chúng ta ở vị trí nào trong
xã hội Tất cả những đều đó thể hiện rất r trong văn hóa và văn học Việt am, đồng thời nó có sự khác biệt qua từng thời kì lích sử
Có thể thấy, với văn hoá truyền thống Việt am, đàn ông thường làm những công việc nặng nhọc như: cày ruộng và một số công việc khác Trong nền văn minh nông nghiệp lúa nước, hình ảnh “Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” trong ca dao là hình ảnh rất quen thuộc về sự phân công lao động của hai giới Trái lại, trong những năm chiến tranh, “Đường cày đảm đang” trong bài hát
c ng tên của nhạc sĩ An Chung là biểu tượng cho sự chung l ng gắng sức của hậu phương với tiền tuyến trong chiến tranh: “C n giặc xâm lăng, tiền tuyến hậu phương Tất cả ta chung l ng gắng sức hôm nay Giặc tan anh về, đón anh thăm
đường cày” ư ng y đảm đ ng)
Trang 21Từ năm 1975, sau khi chiến tranh kết thúc, h a bình lập lại, cái nhìn về người phụ nữ cũng như sự tự ý thức, tự biểu hiện của phụ nữ có nhiều thay đổi
so với giai đoạn trước hà phê bình Vương Trí hàn trong bài: Ph nữ v sáng
tá văn hương (T p hí ăn họ số 6 1996 đã nhận xét: “Hình như, do sự
nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới Họ luôn gần với cái lỉnh kỉnh, dở dang của đời sống ặt khác với cái cực đoan s n
có - tốt, dịu dàng, rộng lượng thì không ai bằng, mà nhỏ nhen, chấp nhặt, dữ dằn cũng không ai bằng - từng cây bút nữ tìm ra mặt mạnh của mình khá sớm, định hình khá sớm” 39 hìn từ góc nhìn nữ giới, nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào
trong cuộc tranh luận: á h vi t ph nữ so v i n m gi i g há cho
rằng: “thế mạnh của phụ nữ khi viết văn chính là ở ch họ đưa tất cả cuộc đời, tâm hồn họ vào trang sách, hoặc nói như phương tây, họ tự ăn mình”
hìn vào d ng chảy của thơ ca nữ sau 1975 không khó để nhận ra tính nữ trong thơ họ Sau bao năm chiến tranh, giờ đây đất nước h a bình, người phụ nữ được sống với chính bản thân họ, với thiên tính nữ vốn có đó là làm m , làm vợ, làm người phụ nữ dung dị, đời thường Có thể kh ng định, các nhà thơ nữ thời
kì này đều quay về với bản thể, ý thức phái tính của họ khuôn về tính nữ như chính họ đã tâm sự: “Em trở về đúng nghĩa trái tim em à máu thịt đời thường
ai ch ng có Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không c n nữa hưng biết yêu anh
cả khi chết đi rồi” (T hát - uân Qu nh
D mạnh mẽ, khao khát, chủ động trong tình yêu, nhưng đâu đó trong cuộc sống đời thường họ vẫn là những người phụ nữ đầy lo toan, vun vén theo thiên chức và bổn phận của mình ói cách khác, tính nữ ở đây c n có thể hiểu nghiêng về thiên chức của người phụ nữ đó là yêu thương chồng con, chăm lo gia đình : “Cuộc sống ngặt nghèo phải tính sao đây Gạo bánh, củi dầu chia sao cho đủ Đầu óc linh tinh chỉ nghĩ về chợ búa hững quả cà mớ tép rau dưa”
(Thơ vui v phái y u – uân Qu nh Hoặc: “Em đối mặt với ồn ào của đời thường Ch ng nhàn hạ gì hơn con gà đi kiếm ăn Con chim đi tha rác” ( ối m t
v i đ i thư ng - guyễn Thị Hồng gát Và thâm chí đôi khi những cơm áo
gánh nặng đời thường làm phai nh a cả tình yêu thủa ban đầu tươi đ p: “ ải lo
Trang 22cơm áo đời thường Em xin tạ l i con đường c ng anh” ( on đư ng - guyễn
Thị uân
Thơ nữ sau 1975 và đặc biệt sau 1986 mang đậm màu sắc nữ tính, nghiêng về thể hiện số phận, cuộc sống của người phụ nữ Trong tư duy và sáng tác của mình, họ nghĩ đến giới, đến phái, đến vai tr và vị trí của nữ giới trong văn chương và nghệ thuật Cái tôi cá nhân, cái tôi nữ giới thôi thúc họ phải viết
về chính họ, phải là sự tự bộc bạch tâm tư tình cảm của mình, viết cho mình, cho giới của mình Chính điều đó đã ám ảnh họ khi sáng tạo, chi phối đối tượng và cách thể hiện thức về tính nữ trở thành một nét nổi trội của cá tính sáng tạo trong thơ nữ, nó biểu hiệu r trong các hình ảnh, biểu tượng ngôn ngữ và trong cái tôi trữ tình Điều này được minh chứng r rệt trong quan niệm về nữ tính trong hành trình sáng tạo của các nhà thơ
Trong một bài đăng trên tạp chí Ti sáng ngày 12 1 2 9 17 , i thảo
n tròn th nữ v nh văn, khi trả lời phỏng vấn, các các giả đều cho rằng,
giới tính là điều quan trọng và chi phối đến phong cách và cá tính sáng tạo trong văn chương gô Thị Hạnh cho rằng: “Tôi là nữ, nên tôi có cảm quan của người
nữ làm thơ, đề tài về chính con người tôi luôn khai thác một cách mãnh liệt…cảm xúc về nữ giới trong tôi luôn vượt trội” Thanh uân thì cho rằng:
“Cá nhân tôi, không n lực thể hiện tính nữ trong văn chương, mà nó mặc nhiên được có đặc quyền đó Trần ê Sơn thì bộc bạch: Tôi có ý thức mình là nữ, khi tôi viết điều gì đó cho mình C n cảm giác luôn luôn muốn vượt qua những hạn định, những định kiến…tôi nghĩ rằng ch ng phải của riêng những người nữ làm văn chương…”
Trong số các nhà thơ nữ, Phan Huyền Thư được coi là có cách tân mới mẻ cũng đã trải lòng: “Có những ngày tôi mệt nhoài vì công việc, trở về nhà, nấu một bữa ăn và chợt hiểu, việc thích hợp nhất đối với mình là làm đàn bà, làm vợ, làm m hưng khi ngồi đan áo len cho con, tôi đã sáng tác được rất nhiều trong đầu mình Tôi hiểu rằng nếu vứt đôi kim đan xuống, sẽ có những bài thơ được viết ra Vậy theo bạn, tôi nên tiếp tục đan len hay cầm lấy giấy bút Tôi là người mâu thuẫn khủng khiếp, đa đoan và cầu toàn Kết quả là con tôi vẫn có
Trang 23chiếc áo len đó và bản thân tôi vẫn có những bài thơ của mình Để làm được mọi việc, cho mình và cho mọi người, tôi đã phải hi sinh nhiều hơn người khác Và tôi hạnh phúc vì điều đó” [46]
hư vậy qua tìm hiểu khái niệm tính nữ và khảo sát một số quan niệm sáng tác của các nhà thơ nữ đương đại, chúng tôi thấy rằng, có thể hiểu tính nữ với nội hàm: đó là xu hướng nghiêng về những nét rất riêng của nữ giới qua đó người phụ nữ biểu hiện giới tính của mình một cách trọn v n, đ p đẽ nhất; đó là những thiên chức riêng của người phụ nữ
Tìm hiểu tính nữ trong thơ guyễn Thị ai chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và nghiên cứu những biểu hiện nét riêng biệt của hình tượng cái tôi trữ tình hiện thân tính nữ trong thơ của bà
1.3 Hành trình sáng tác của Nguyễn Th Mai
1.3.1 Vài nét về tác gi
Nguyễn Thị ai sinh ngày 2 6 1955, bà sinh ra và lớn lên ở Ngọc Lâm- Long Biên – Hà Nội, quê gốc ở Cẩm Khê, Phú Thọ Bà có một tuổi thơ không may mắn: bố m chia tay sớm, m đi bước nữa và bà có thêm sáu người em Hoàn cảnh gia đình khiến bà sớm phải bươn chải với nhiều công việc nặng nhọc như: chặt củi thuê, làm chổi thanh hao, bốc bè nứa thuê trên sông Đuống, đóng gạch thuê, làm thợ nấu nhựa ép quai guốc Cuộc sống mưu sinh càng trở nên khó khăn hơn sau khi năm 198 bố dượng mất, năm 1982 m bà cũng qua đời, guyễn Thị ai gánh trên vai trách nhiệm nuôi nấng đàn em thơ dại
ặc d hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhưng cô gái guyễn Thị ai rất ham học và học rất giỏi i ám ảnh của cái nghèo, cái đói khiến bà ý thức được rằng chỉ có con đường học hành mới là cơ hội để giải thoát n i vất vả đeo bám gia đình bao lâu nay Chính nhờ quyết tâm, l ng ham học và sức mạnh nghị lực, guyễn Thị ai đã học xong các cấp phổ thông, học đại học và thạc sĩ ngữ văn khi mới 26 tuổi Quả thật, đây là một cố gắng đáng nể phục, bởi vì ở thời kì ấy học xong được các cấp học phổ thông đã là điều đáng quý rồi
gay cả khi đã là một cô giáo trường Cao đ ng sư phạm H a Bình, rồi đứng trên bục giảng của Cao đ ng sư phạm Hà Tây, cô giáo - thạc sĩ guyễn
Trang 24Thị ai vẫn phải bươn chải với hàng chục nghề làm thêm để kiếm sống, nuôi dạy các em và các con Đồng lương giáo viên ít ỏi không đủ để bà chi tiêu, gồng gánh cả gia đình nên bà đã không nề hà bất cứ việc gì để kiếm thêm thu nhập: từ việc đưa diêm, thuốc lá cho các quán, tráng bánh cuốn đêm để sáng bán, đổi gạo, ép nhựa, làm mành tre, thêu áo kimono xuất khẩu… Thậm chí, bà c n làm pháo đ ng thuê cho dân làng pháo Bình Đà, khi bị bắt giữ, khám cặp thấy toàn giáo án, sách vở, thuế vụ đành thông cảm cho bà đi Bà c n từng đi cắt tóc dạo khắp các làng quê Thường Tín trên chiếc xe đạp cà tàng khi vào thời kì khó khăn, nhà trường nợ ba tháng lương không trả cho giáo viên
ghề dạy học đã giúp guyễn Thị ai đào tạo hàng ngàn thầy cô giáo, cống hiến cho sự nghiệp trồng người của nước nhà, học tr của bà có người trở thành cán bộ chủ chốt của Đảng và nhà nước, có người trở thành nhà khoa học tài năng Với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm và sự nhiệt tình tham gia các công tác Đoàn thể của nhà trường, guyễn Thị ai rất có năng lực tổ chức vận động quần chúng, cơ duyên đã đưa bà sang một cương vị công tác khác Bà đã tham gia Ban thường vụ Tỉnh hội phụ nữ Hà Tây, rồi cán bộ Trung Ương Hội Phụ ữ Việt am, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ và cuối c ng là cán
bộ giảng dạy của Trường Đào tạo cán bộ Phụ nữ Trung Ương
hận xét về con người của guyễn Thị ai, nhà thơ âm uân Vi trong
bài viết Nguy n Th i, đ i v thơ như tôi đ i t viết rằng: “Ở các cơ quan
chị công tác, đều làm nhiệm vụ truyền dạy, giáo dục đào tạo con người Muốn được khảng định mình, ngoài n lực phấn đấu vươn lên trong nghề, phải rất mực yêu thương con người, gìn giữ mình như một tấm gương, và thực sự chị
đã là một tấm gương sáng Việc gì cũng tận tâm, sáng tạo và hiệu quả đạt được mang tính thuyết phục, để lại những dấu ấn sâu đậm, những tình cảm chân thành với cơ quan, đồng nghiệp, với những miền đất con người đã từng gặp, từng qua Một người luôn chu tất với mọi việc, sống tình nghĩa, tự trọng, đầy đặn, thuỷ chung, tất phải vất vả lo toan, chịu nhiều áp lực Chị luôn cởi mở, nhanh nhạy tháo vát, thông minh, quyết đoán, nhưng biết nhẫn nhịn, chờ đợi,
Trang 25nhận thiệt th i thương khó về mình Những người quen biết, yêu mến chị thường gọi đ a bằng cái tên: Nguyễn Thị Tất Bật” [51]
hìn từ bức tranh toàn cảnh của thơ nữ hiện đại sau năm 1975, chúng tôi nhận thấy các nhà thơ nữ đương đại nói chung và guyễn Thị ai nói riêng đều chịu ảnh hưởng lớn từ hoàn cảnh xã hội, văn hóa thời kì đó Đồng thời, với guyễn Thị ai, chính hoàn cảnh gia đình với tuổi thơ vất vả, cuộc sống nhiều mất mát, tổn thương từ ngày nhỏ cộng với hành trình mưu sinh đầy khó khăn đã giúp cho guyễn Thị ai tạo được những tác phẩm đầy cảm xúc, chạm tới tận trái tim độc giả Không chỉ vậy, sở hữu một tài năng văn chương từ nhỏ, cộng với đam mê nghệ thuật và tâm hồn dịu dàng, tinh tế, lại được trải nghiệm qua cuộc sống của một giáo viên thời kì khó khăn và công việc của một cán bộ phụ
nữ tháo vát, nhiệt huyết; các yếu tố ấy đã được phản ánh trong thơ bà, tạo nên một hồn thơ chan chứa yêu thương mang đậm tính nữ
Tựu trung lại, ngoài yếu tố văn hóa, xã hội, thời đại, cuộc sống gia đình,
nghề nghiệp thì tính cách và nghị lực cá nhân đã ảnh hưởng lớn đến phong cách thơ guyễn Thị ai và là yếu tố quyết định, chi phối đến tính nữ trong thơ bà
1.3.2 Sự nghiệp sáng tác
Phải nói rằng guyễn Thị ai có duyên với thơ và bà bén duyên với thơ
ca từ rất sớm hư bà tâm sự: Tôi rất thích thơ và tập làm thơ từ hồi học lớp 5 - guyễn Thị Mai kể - ớn lên thi vào Trường Đại học Sư phạm tôi cũng chọn Khoa Văn để có cơ hội tiếp cận với văn chương Vì thế, từ lúc là sinh viên Khoa Văn đến khi trở thành nhà giáo, tôi đã được đọc nhiều thơ của các nhà thơ nổi tiếng và viết được nhiều bài thơ cho mình Tôi nghĩ giáo viên dạy văn mà làm thơ sẽ có rất nhiều thuận lợi Đó là sẽ dễ đồng cảm với tâm hồn tác giả khi giảng văn Biết cách nắm bắt ý tưởng sâu kín ẩn trong hình tượng của tác phẩm, sẽ tinh tế hơn trong cách cảm, cách nghĩ về những tứ thơ và vì thế mà yêu văn chương, say mê nghề nghiệp, hết mình với giờ giảng 39 Tác phẩm đầu tay của
guyễn Thị ai là bài thơ T m s ô giáo tr được in trên báo N i m i năm
1976 khi bà mới là sinh viên năm thứ ba gay lúc đó, nhiều bạn học khoa văn trong trường đều thuộc l ng bài thơ, thậm chí c n ghi chép vào sổ tay hoặc sưu
Trang 26tầm đăng trên báo tường của lớp Trong chặng đường 4 năm cầm bút, đến nay
bà đã có tất cả 16 tập thơ, truyện:
1 “Th i ho g o háy - Tập thơ - B Phụ nữ - 1995
2 N n trắng s ng đò - Tập thơ - B Văn hoá thông tin- 1997
3 Ngư i yêu ính – Tập truyện vui về bộ đội - B QĐ D – 2000
4 t hú sông trăng -Tập thơ - B Văn học- 2001
5 ng trăng trư nh -Tập thơ thiếu nhi - B Phụ nữ - 2003
6 Tảo t n g t huy -Tập thơ - B Văn học- 2005
7 Ngư i t nh trưởng ản P hi - Tập truyện vui về miền núi
8 ng yêu m như m t tr i -Tập thơ - B QĐ D – 2006
9 n t y m giọt sương đông – B Hội V – 2010
10 át nh v m – tập thơ - B QĐ – 2010
11 hông n i i ho - tập thơ – B Hội V – 2014
12 T m u n mắt i – tập thơ - B Hội V – 2014
13 ng quê r đảo – Tập thơ - B QĐ – 2015
14 ố n on r hải qu n – Tập truyện vui về bộ đội – BQĐ - 2015
15 đ p uốt tr i tập thơ) – B Hội hà văn – 2018
16 N i òn i yêu ỏ ngỏ Tập thơ về Hà ội - B Hội hà văn – 2019
Trên con đường thơ bà đã đạt được nhiều giải thưởng văn học:
1 Tập thơ Th i ho g o háy - giải - và Tập thơ N n trắng s ng đò -
Giải A iên hiệp các Hội Văn học - ghệ thuật Việt am và 2 Giải thưởng Văn học guyễn Trãi 1996 và 2 1 Hội Văn học nghệ thuật Hà Tây trao tặng
2 Chùm thơ 2 bài: Nh hông ố và i văn - Giải nhất Cuộc thi sáng
tácvăn học cho trẻ em – Hội hà văn V và UB Thiếu niên nhi đồng Việt am
tổ chức năm 1992
3 Bài thơ N i v i on h ng – Giải nhì Cuộc thi thơ viết về Gia đình do
Báo Phụ nữ Việt am tổ chức năm 1994 không có giải nhất
4 Bài thơ Ru m - Giải nhất Cuộc thi thơ ph ng chống ma túy do Bộ Văn
hóa Thể thao và Du lịch tổ chức năm 2 7
5 Chùm thơ 3 bài - Giải C Cuộc thi thơ tình – Báo Văn nghệ trẻ năm 2 7
Trang 276 Bài thơ h đêm ong iên - Giải hì không có giải nhất Cuộc thi thơ ục bát Ng n năm thương nh do 5 đơn vị Báo chí tổ chức trong đó có báo
Văn nghệ năm 2 1
7 Giải hì tập thơ ng quê r đảo – Giải thưởng sáng tác về biển đảo
và Biên giới do Hội hà văn trao tặng 2 2 ”
1.3.3 Quan niệm sáng tác của nhà thơ
Khi xác định theo con đường nghệ thuật, đặc biệt là trở thành một nhà thơ, guyễn Thị ai đã xác định một quan niệm nghệ thuật riêng: “Thơ là phương tiện cao cấp, sang trọng để bộc bạch sẻ chia n i niềm gôn ngữ đời thường vẫn có thể bộc bạch, sẻ chia nhưng người ta chỉ hiểu và cảm thông Thơ hơn thế Thơ hấp dẫn, ám ảnh người ta, xáo động c i l ng người ta và mách bảo người ta biết yêu hơn cuộc đời đang sống Bởi thơ là nghệ thuật sáng tạo không ngừng của ngôn ngữ đời thường” 19, 26 Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình, guyễn Thị ai trăn trở nhất là việc tìm tứ thơ Bà cho rằng “tứ phải
lạ, phải mới, phải bất ngờ và mê hồn người đọc”, bà nhận ra: “ hiều người không thuộc được bài thơ nhưng rất nhớ tứ, xúc động vì cái tứ chứ không phải
vì hình thức bài thơ Có tứ sẽ có hình thức thể hiện” 13 Bà làm thơ là để trải
l ng, để bộc lộ những cảm xúc dồn nén bấy lâu trong tâm hồn chứ không phải
để được vinh danh hay được nổi tiếng, bà làm thơ như một bản năng, một công việc thường ngày của cô giáo - nhà thơ “Tôi làm thơ ch ng khát khao để thành danh hay để có vị trí trong thi đàn mà chỉ vì yêu thích kiểu bộc lộ suy nghĩ, chia
sẻ tình cảm của mình một cách xúc tích, lãng mạn và ấn tượng” [13]
ằm trong d ng chảy của thơ ca nữ Việt am đương đại, thơ guyễn Thị
ai vẫn có nét đằm thắm, trữ tình, sâu lắng và sự quyến rũ rất riêng Sức hấp dẫn ấy có cội nguồn từ cuộc sống nhiều khó khăn vất vả và tình yêu vô bờ bến dành cho thơ ca Thơ guyễn Thị ai phong phú cả về thể loại và đề tài, m i đề tài bà đều để lại dấu ấn riêng của mình Đặc biệt nhất và chiếm nhiều nhất trong các sáng tác của bà là đề tài về gia đình, tình yêu và người phụ nữ Qua thơ bà,
ta thấy được sự dung dị, đôn hậu, truyền thống của người phụ nữ xưa nhưng cũng có nét mạnh bạo, bản lĩnh của người phụ nữ trí thức thời kì hiện đại Bà
Trang 28khéo léo hài h a cả đời sống hiện thực và nghệ thuật, để vừa nuôi con bến thực,
nuôi mình bến mơ Tác giả ê Thành ghị trong bài viết: Những ngọn n n í trong thơ đã nhận xét: “ guyễn Thị ai đã mang đến cho thơ Việt nam hiện đại
một nhan sắc thơ rất riêng của một phụ nữ tảo tần, đảm đang, biết r đâu là thực đâu là mơ của cuộc đời, biết r đâu là trách nhiệm, đâu là đam mê của bổn phận mình, sáng tỏ cái nghiệt ngã của kiếp nhân sinh và cái vô minh muôn thuở của thơ lơ mơ… ghĩa là đã đến lúc thấu hiểu, thấu cảm lẽ đời, nghiệp văn Quả là rất đáng chia sẻ, cảm thông với những ai vẫn c n đam mê, theo đuổi nghiệp văn chương trong thời buổi các giá trị tinh thần đang không được xem trọng như lúc này hưng tôi tin, với họ đam mê sáng tạo là không gì thay thế được, không gì đánh đổi được” [36]
D làm thơ ở đề tài nào, bà cũng thể hiện được vẻ đ p của tính nữ trong thơ mình, vẻ đ p ấy bộc lộ một cách kín đáo, nhưng càng đọc càng thấm, càng đọc càng hay ói đến thơ guyễn Thị ai ta không hề thấy cái phá phách, chông gai, khác lạ mà chỉ thấy ánh lên sự dịu dàng, ấm áp, đôn hậu nhưng lại không hề cổ hủ, lạc hậu hững vần thơ vẫn giữ nét đ p truyền thống của người phụ nữ Việt am: nồng ấm, chắc chắn, dịu dàng để chở che, bảo vệ hạnh phúc gia đình, nhưng cũng dứt khoát, mạnh bạo khi kh ng định chủ quyền của người phụ nữ gười đọc yêu thơ guyễn Thị ai dễ dàng nhận ra rằng, phần lớn các bài thơ của guyễn Thị ai đều viết ở thể thơ lục bát Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay, vì thế bà đã đưa vào thơ lục bát những cấu tứ nghệ thuật riêng để tạo
nên dấu ấn của thể thơ này guyễn Thị ai vận d ng nhiều tục ngữ, ca dao làm
sâu sắc hơn cho thơ lục bát như ở các bài thơ: Nh hông ố, N i v i on
h ng, Ru m , i th th m v i h Bên cạnh đó bà cũng rất thành công trong
sử dụng ngôn ngữ hiện đại để lục bát biểu hiện sát đúng tình cảm và tâm trạng con người Thơ lục bát của guyễn Thị ai có cả chất hài hước, hóm hỉnh và đa nghĩa, tạo nên những giây phút thư giãn, thú vị cho người đọc như ở các bài:
n gái m gi ng, T m ảo v nh, Tắm i n g p sư, êm ph qu sông ậu,
i n thơ
Trang 29Không chỉ là một cô giáo - nhà thơ, guyễn Thị ai c n là một nhà tâm
lý, một cán bộ phụ nữ hoạt động vì bình đ ng giới và hạnh phúc của người phụ
nữ Bạn đọc yêu thích chuyên san nh phú gi đ nh của báo Ph nữ iệt Nam
h n đã quen với bút danh Hạnh Hoa xuất hiện đều đặn hơn mười năm nay với hàng nghìn câu chuyện ý nghĩa về đời sống hôn nhân, gia đình Giờ đây, d đã nghỉ hưu, nhưng với l ng yêu nghề, nhiệt huyết và sự tận tâm, guyễn Thị ai thường xuyên được các cơ quan nhà nước, các tổ chức phi chính phủ mời giảng dạy cho các trường, các địa phương về công tác phụ nữ và bình đ ng giới
ột trong những điểm đáng quý, đáng trọng ở guyễn Thị ai là bà rất trân quý những người yêu thích văn chương hà thơ âm uân Vi đã vô c ng xúc động và khâm phục guyễn Thị ai bởi tấm l ng nhân hậu và sự quan tâm, chia sẻ với những người yêu văn học, ông kể: “Tôi được biết, chị thường qua những nhà xuất bản văn học quen biết, xin lại sách tồn kho rồi đóng gói gửi qua bưu điện cho các câu lạc bộ thơ quen chị, hoặc tự mua sách để tặng cho những ai trả lời xuất sắc trong các cuộc giao lưu mà chị lại là khách mời Chị là người rất trân trọng những ai tặng sách mình, bận mấy cũng dành thời gian, không chỉ để đọc, mà còn viết thư cám ơn kèm theo những cảm nhận của mình với thái độ: khen, chê th ng thắn, nên nhiều người chỉ một lần tặng sách mà trở nên gần gũi thân thiết với chị Chính nhờ hồn thơ giàu sức sẻ chia và tình cảm nồng ấm chân thành nơi chị, mà có những công chúng rất đặc biệt của mình Một lần tôi và chị cùng mấy người về thăm câu lạc bộ thơ àng Hiệp, huyện Phúc Thọ, Hà Đông (nay là Hà Nội Hàng trăm hội viên tề tựu, dành cho chúng tôi cuộc gặp gỡ ân tình, họ đã thi nhau: đọc, ngâm, hát và bình thơ guyễn Thị Mai Tôi thật sự bất ngờ về sức lan toả, và hạnh phúc của người làm thơ khi đến được với những miền đất cần lao này…” [51]
Trang 30T ểu kết c ư ng 1
Có thể thấy rằng, thơ Việt từ sau 1975, nhất là sau 1986 đã đạt được nhiều thành tựu trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật, trong đó không thể thiếu dự phần của các cây bút nữ Thế hệ nhà thơ nữ sau năm 1975 phát triển đông đảo cả về số lượng và chất lượng, mang đến một diện mạo mới cho nền văn học đương đại Việt am Các cây bút nữ thời kì này đã có sự đổi mới tư duy nghệ thuật với những khám phá mới về đề tài, cảm hứng và cách thức thể hiện kiến tạo khuôn diện mới cho thơ nữ giới Có thể nói, trong không khí văn học đổi mới và hội nhập, các nhà thơ nữ đã mạnh dạn thể hiện cái tôi cá nhân
ph hợp với yêu cầu cảm thụ và tiếp nhận của độc giả yêu thơ và đọng lại vẫn là
vẻ đ p tâm hồn của người phụ nữ Việt am mà nhà thơ guyễn Thị ai là một gương mặt thân quen và nổi bật trong số đó Với gần 4 năm cầm bút, tuy không gây ồn ào, chú ý như một hiện tượng văn học song bà đã có những đóng góp đáng kể cho đời sống thơ ca đương đại, được giới phê bình nói riêng và công chúng nói chung đánh giá là gương mặt tiêu biểu cho vẻ đ p của thơ ca nữ phái
Trang 31C ư ng 2 CÁI TÔI TRỮ TÌNH HIỆN THÂN TÍNH NỮ TRONG THƠ
NGUYỄN THỊ MAI
2.1 Giới thuyết về cái tôi trữ tình
Trong tác phẩm trữ tình, cái tôi trữ tình được xem như một chỉnh thể trung tâm tinh thần của con người ó mang giá trị thẩm mĩ, được kết tinh từ những giá trị văn hóa, lịch sử và có sự tổng h a giữa ba phương diện cơ bản: cái chủ quan cá nhân, tính xã hội, tính thẩm mĩ Cái tôi trữ tình là một hiện tượng nghệ thuật, là thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của tác giả được thể hiện trong tác phẩm trữ tình bằng các phương tiện nghệ thuật Cái tôi trữ tình không đồng nhất với cái tôi của nhà thơ trong đời sống thực tại Trong thơ ca hiện đại, cái tôi trữ tình hướng tới chủ thể, phản ánh tâm tư, tình cảm cá nhân đồng thời vừa hướng nội vừa hướng ngoại
Theo nghĩa h p, “cái tôi trữ tình là hình tượng cái tôi - cá nhân cụ thể, cái tôi - tác giả - tiểu sử với những nét rất riêng tư, là một loại nhân vật trữ tình đặc biệt khi tác giả biểu hiện về chính mình” Theo nghĩa rộng, “cái tôi trữ tình
là nội dung, đối tượng, phẩm chất của nhân vật trữ tình Quan điểm này hiểu cái tôi trữ tình như một khái niệm phổ quát của trữ tình, phân biệt trữ tình với các thể loại khác”
gười nghệ sĩ thông qua cái tôi trữ tình để bộc lộ tâm tư, tình cảm, thế giới quan của mình trước cuộc đời Trong công trình nghiên cứu của mình, giáo
sư ã Giang ân đã bày tỏ quan điểm: “Sáng tạo thơ là một hành động chủ quan, cái chủ quan tồn tại và trở thành trung tâm quy tụ mọi yếu tố khác như cảm hứng, tư tưởng, hình ảnh, giọng điệu, lời thơ Cái chủ quan được biểu hiện
cụ thể bằng cái tôi trong thơ” 21 Cái tôi trữ tình là chủ thể của hành trình sáng tạo thi ca, có vai tr quan trọng trong thơ với tư cách là trung tâm để bộc lộ tất
cả suy nghĩ, tình cảm, thái độ được thể hiện bằng một giọng điệu riêng
Trang 32Cái tôi trữ tình chỉ tồn tại ở trong các tác phẩm thơ bởi nó thể hiện một cách chân thực cảm xúc với thế giới của người nghệ sĩ, đồng thời gửi gắm tâm
tư tình cảm của tác giả đến với độc giả Vì vậy, có thể hiểu sự biểu hiện của cái tôi trữ tình ở hai dạng chủ yếu: cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Đối với m i nhà thơ, cái tôi trữ tình phong phú và giàu đ p tựa như viên nam châm luôn có sức hút về mình sự tr phú, đa màu sắc của cuộc đời Đặc điểm của cái tôi trữ tình phụ thuộc vào phong cách của m i nhà thơ, đồng thời
nó cũng bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh sống, hoàn cảnh xã hội và các trào lưu, khuynh hướng văn học Chính vì vậy, m i thời đại lại có một kiểu cái tôi trữ tình đóng vai tr chủ đạo
Trong thơ trung đại, bởi quan niệm phi ngã, cái ta đại diện cho cộng đồng nên từ nội dung đến hình thức đều mang tính khuôn mẫu chung: “văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí” Con người trong văn học trung đại ít dám bộc lộ mình, có chăng cũng chỉ dừng lại ở mức xưng tên trong thơ như Hồ uân Hương, guyễn Công Trứ , guyễn Du Trái lại, trong thơ mới cái tôi hướng tới cá nhân, hướng tới cảm nhận riêng của chủ thể trữ tình, chính vì thế m i nhà thơ lại
có một gương mặt thơ riêng: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện c ng một lúc một hồn thơ rộng lớn như Thế ữ, mơ màng như ưu Trọng ư, h ng tráng như Huy Thông, trong sáng như guyễn hược Pháp, ão não như Huy Cận, quê
m a như guyễn Bính, kì dị như Chế an Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn
như uân Diệu” (Thi nh n iệt N m - Hoài Thanh
Bước sang giai đoạn 1945 - 1975, các nhà thơ tuyên bố rời bỏ cái tôi cá nhân, cái tôi riêng tư để h a mình vào cái ta chung: “Phá cô đơn để h a nhập với người” Chế an Viên , “Tôi c ng xương thịt với nhân dân tôi” uân Diệu Hướng vận động của cái tôi trữ tình giai đoạn này là h a hợp cái tôi nhỏ bé của
cá nhân với cái ta cộng đồng, xã hội, từ bỏ lợi ích riêng để đến với lợi ích chung
Có thể nhận thấy, cái tôi trữ tình của thơ Việt am giai đoạn 1945 -1975 chủ yếu là cái tôi sử thi bởi nội dung của văn học giai đoạn này là lịch sử, chiến tranh vệ quốc Cái tôi sử thi xuất hiện với tư cách con người công dân - chiến sĩ mang cảm hứng lịch sử của thời đại Cái tôi sử thi xuất hiện và mang tiếng nói
Trang 33của dân tộc, phát ngôn đại diện cho cái chung, cho dân tộc và cho đất nước:
“Chào 61 Đỉnh cao muôn trượng Ta đứng dậy, mắt nhìn bốn hướng Trông lại
nghìn xưa, trông tới mai sau Trông Bắc, trông am, trông cả địa cầu” i
m u n 1 - Tố Hữu) Cái tôi sử thi đi kèm với cảm hứng lãng mạn luôn
hướng con người tới một tương lai tốt đ p Sự sống d có được dệt nên bởi bom đạn, máu chảy, mất mát và đau thương thì vạn vật vẫn sinh sôi, tinh thần và tư thế của con người Việt am, dân tộc Việt am vẫn bất khuất và không dễ dàng
bị hủy diệt
Kháng chiến chống ĩ thắng lợi, văn học có sự đổi mới, cái tôi trữ tình sử thi, cái tôi công dân trở thành cái tôi cá thể Cái tôi ý thức được mình là một vũ trụ riêng, một sự sống riêng, không h a tan, không trộn lẫn ó thể hiện ý thức sâu hơn về bản ngã, về giá trị tự thân của mình úc này, cái tôi thế sự ra đời, đó
là cái tôi với những gì chân thật nhất của cuôc đời, cuộc sống hiện ra với đủ các mảng màu đậm - nhạt, tốt - xấu, thiện - ác: “Tôi đã đi quá nửa cuộc đời Qua những thập kỉ hát ca, những thế kỉ anh h ng/ Say mê quá chợt bây giờ nhìn lại/
Chứa bao điều bão tố ở bên trong” V Văn Trực
Thơ nữ Việt am sau năm 1975, nhìn trên tổng thể được thể hiện một cách chân thực với tất cả những niềm vui, n i buồn, những khát vọng, ý chí c ng những n i niềm và tâm sự cá nhân Thậm chí trong thơ nữ Việt am
c n thể hiện những cái tôi tìm kiếm rất táo bạo, những lối suy nghĩ riêng và cách
tư duy cũng rất riêng: “Em đoạt anh từ tay người đàn bà kia hư người đàn bà kia đoạt anh từ tay người đàn bà khác” Chiến tranh - Đoàn Thị am uyến
uất hiện và kh ng định tên tuổi c ng thời với các nhà thơ nữ giai đoạn này nhưng guyễn Thị ai lại đem đến cho độc giả một gương mặt thơ rất riêng - một hồn thơ mang đậm tính nữ ó là kết tinh của vẻ đ p dịu dàng, đức
hi sinh, vị tha, sự bao dung, sẻ chia, đồng cảm, phối trộn với nét đ p hiện đại: tự tin, mạnh bạo, dứt khoát Vẻ đ p ấy thống nhất từ nội dung đến hình thức thơ guyễn Thị ai, tạo nên một giọng điệu riêng, tín hiệu riêng để người đọc dễ dàng nhận ra thơ bà
Trang 342.2 Các d ng thức cái tôi trữ tìn trong t Nguyễn Th Mai
2.2.1 Cái tôi hoài niệm
Với Nguyễn Thị ai, thơ là nơi ghi dấu hoài niệm của tâm hồn Thế giới thơ bà là một miền kí ức vô cùng phong phú, nó là những xúc cảm sâu sắc nhất trong tâm hồn người phụ nữ luôn quan sát, luôn ghi nhớ bằng chính trái tim đa cảm, dịu dàng Đó là hoài niệm về người cha, là kí ức ngày mất m , kí ức về gia đình, về tình yêu, người yêu, về những đứa con M i miền kí ức, hoài niệm của
bà đều không nằm ngoài thế giới của người phụ nữ Soi chiếu vào những hoài niệm của miền kí ức ấy, chúng tôi nhận thấy những vẻ đ p tính nữ trong thơ guyễn Thị ai: vẻ đ p của sự đảm đang, tần tảo, cần c , chịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh, giàu l ng vị tha, trắc ẩn, đặc biệt là tình mẫu tử thiêng liêng Tính nữ toát lên trong từng mảng kí ức, từng câu chữ, từng hoài niệm trong cuộc đời thơ của guyễn Thị ai
2 2 1 1 o i niệm v ngôi nh ư
Một khía cạnh đặc sắc trong thơ guyễn Thị Mai là hiện ra cả một vùng trời
ký ức, với những hoài niệm về cha m , tuổi thơ và người thân Phải chăng, điều này xuất phát từ cội nguồn tính nữ, mẫu tính của người phụ nữ, bởi đối với m i người phụ nữ thì gia đình và những người thân yêu là tất cả, không gì có thể thay thế được Tuổi thơ khốn khó, phải trải qua nhiều công việc để giúp m nuôi em, d cuộc sống gia đình không trọn v n, phải chắp vá khi m đi bước nữa nhưng guyễn Thị ai vẫn sớm ý thức vượt lên chính mình, với đôi vai gầy guộc nhỏ đảm đương và lo toan mọi việc cho những người thân yêu trong gia đình
Hình ảnh đậm nét nhất trong hoài niệm của guyễn Thị ai là hình ảnh người m hiện lên với gánh hàng rong nhọc nhằn trên đôi vai gầy: “Chợ làng xa
m đi sớm về trưa Đ n gánh chốc vai đổi hai chiều chợ” Tu i thơ tôi) gười
m trong n i nhớ của guyễn Thị ai là một phụ nữ hiền từ, chất phác, hay lam hay làm, thuần hậu như bất kì một người m nông thôn nào trên đất nước Việt
am Bóng dáng người sinh thành trở về trong giấc mơ của đứa con vẫn v n nguyên vẻ đ p ngày nào:
Trang 35“ gười về vận áo cánh nâu
Vấn trần mái tóc, ăn trầu đỏ môi Bên hiên thong thả gười ngồi
Hoa cau trắng, hoa cau rơi, nh nhàng”
i mơ g p m )
ột hình ảnh đ p và thân thương biết bao khi người m già ngồi bên hiên nhà, trong bàng bạc hoa cau trắng rơi đầy sân, m mỉm cười nụ cười hiền từ, giang v ng tay chào đón những đứa con gười m trở về đ p v n nguyên trong giấc mơ của guyễn Thị ai, với manh áo cánh nâu, mái tóc bạc phơ vấn gọn gàng, gương mặt đầy những vết chân chim, đôi môi thắm vết trầu
gười m như một bà tiên hiền từ, nhân hậu và tràn ngập yêu thương giống như cảm nhận của nhà thơ ê Thị ây: “Có lẽ xưa m là nàng tiên đ p Phải l ng cha về với việc nhà nông Em tin m thủa làm dâu c n lệ ai em về
lặng lẽ m thương hơn” Ngôi ng m sinh nh - ê Thị ây Thơ viết về m
luôn tạo được sự xúc động trong l ng người đọc, bởi tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất trong trái tim m i con người hà thơ nữ viết về m lại càng hay và lôi cuốn bởi người phụ nữ cũng làm vợ, làm m , viết về m mình trong
sự thấu hiểu, cảm thông và biết ơn vô bờ biến
Hình ảnh người m với “ òn gánh hố v i đ i h i hi u h ” khiến
người đọc hình dung ra dáng người m hanh hao trong bóng chiều, gánh nặng trên vai không chỉ là gánh hàng mà c n là gánh nặng mưu sinh của người m tảo tần hôm sớm Thấu hiểu và cảm thông cho n i khổ riêng của người m , là người phụ nữ tình cảm, bà luôn yêu quý kính trọng người m suốt đời vất vả để nuôi một đàn con nên người: “ hà quê c n chút m già Đêm thâu thức giấc, canh gà
ho khan hà nghèo một bóng ba gian ảnh sân nắng giột mưa chan tháng
ngày Vườn quê c n rặng xoan gầy á rơi xót đất, hoa bay trắng trời” i thơ
vi t trư ng y m m t) Có lẽ, điều trăn trở nhất đối với những đứa con khi xa
nhà, xa quê hương lập nghiệp là cha m già yếu ở quê nhà Thời gian trôi qua, mọi thứ đổi thay, người m cũng già đi theo năm tháng gười già thường khó ngủ, nên hình ảnh m già đêm thâu thức giấc, trở mình kèm theo những tiếng ho khan, là hình ảnh muôn thủa ám ảnh trong tâm khảm của những đứa con àm
Trang 36m rồi mới hiểu m , làm m rồi mới biết thương m , không chỉ guyễn Thị ai
mà tất cả chúng ta đều ao ước thời gian quay trở lại để được là đứa con bé bỏng trong v ng tay m :
“Ước gì về thủa đưa nuôi Con là cái bống m ngồi ầu ơ ”
Ru m )
Với cái tôi đa cảm, tình yêu m vô bờ, guyễn Thị ai không thể quên được hình ảnh căn nhà vắng lạnh, đàn em thơ bơ vơ, cô quạnh trong ngày m mất Đó là hình ảnh ám ảnh nhất trong thơ guyễn Thị ai: “ ột nhà trắng những khăn xô Dải khăn em út bấy giờ chấm chân Bấy giờ đang cuối m a xuân Hoa xoan lã chã từ sân ra vườn hà c n bơ gạo cắm hương Và bơ nữa thổi bát cơm trứng gà Gia tài lúc m đi xa Đôi quang đứt tải, căn nhà dột
mưa ” N i ni m ng y gi m )
gày người m ra đi, khung cảnh ngôi nhà vẫn thiếu thốn, đói nghèo như nó vốn có Không gian như có một chút gì đó lạnh lẽo, đơn côi, trống vắng a vào: đôi quang gánh đã hỏng, căn nhà dột mưa vẫn là không gian ấy, đồ vật ấy, vị trí ấy nhưng giờ nó tủi hờn, côi cút, vơ bơ như những đứa con thơ mồ côi m Thương thay, ngày ấy em út c n quá nhỏ, chưa biết gì đến n i đau, sự chia lìa âm dương, dải khăn tang dài đến chấm chân những hình ảnh thơ giản dị nhưng làm se thắt trái tim người đọc Câu thơ “hoa xoan lã chã từ sân đến vườn” gợi cho ta cảm giác
ám ảnh khôn nguôn Hình như đâu đó ta thấy một cụm từ quen thuộc nước mắt lã chã chứ sao lại là hoa xoan hóa ra ở đây, câu thơ đã mềm hóa, cảnh vật được nhân hóa, hoa xoan trong vườn đang mang n i đau của con người, nó rơi lã chã như giọt nước mắt của những đứa con thơ ngh n ngào khóc m
Chung cảm xúc xót xa, mất mát đến tột c ng khi m ra đi, nhà thơ Đồng Đức Bốn cũng xé l ng người đọc bằng những vẫn thơ đẫm nước mắt: “Giữa khi cát bụi đầy trời Sao m lại bỏ kiếp người lầm than Con vừa vượt núi băng
ngàn/ Về nhà chưa kịp đội tang ra đồng” Trở v v i m t thôi)
Dường như, m i con người đều có một sự nuối tiếc riêng, n i niềm ân hận riêng khi nhớ về m , guyễn Thị ai cũng vậy, m i khi qua hàng trầu vỏ kí ức
Trang 37năm xưa lại hiện lên: “Thơm cay một miếng trầu xưa à con phải bớt tiền mua vì nghèo Bây giờ đã hết gieo neo ại không có m mà chiều Khổ không Từ ngày
đưa m ra đồng Qua hàng trầu vỏ con không dám vào” u h ng tr u vỏ)
Quả cau, miếng trầu là món quà quê yêu thích của người m , nhưng vì cái nghèo, cái đói, mà con phải bớt tiền ch ng dám mua cho m Giờ đây cuộc sống khá hơn, có điều kiện để chiều m , để báo hiếu m thì m đã không c n i ân hận, ám ảnh, xót xa khiến hàng trầu vỏ trở thành n i đau, khiến đứa con xa không dám nhìn vì nhớ m Câu thơ tưởng như nh nhàng, không gào thét, mà trĩu nặng tâm tư như một lời nhắc nhở những người con khi c n m hãy tận tâm thương yêu, chăm sóc, tránh để những lo toan đời thường lấn lướt những phút giây sum họp đầm ấm bên cha m
Trong n i nhớ về m , người con ao ước một phép mầu để một lần nữa m
có thể hiện diện trong c i đời này, để con thỏa n i nhớ mong, để làm cho m những điều mà con chưa kịp làm: “Giá mà c n m ngày xưa Để con gánh sớm, gồng trưa đỡ đần Để giêng hai m i m a xuân đi trảy hội đền gần, ch a xa
Cháu ngoan xách túi giúp bà Khăn nhung, áo gấm hài hoa lên ch a” N i ni m
ng y gi m ) Giá mà, giá như là câu nói mà có lẽ con người ta hay nhắc đến, trớ
trêu thay, thời gian không bao giờ quay trở lại, khoảng cách sinh ly tử biệt là n i đau chia cắt vĩnh viễn không gì b đắp được Giờ đây, khi kinh tế đủ đầy, người con muốn mua cho m những gì nhất chợ, trầu cau, hoa trái, tứ m a thì cũng không c n m để dâng lên nữa Sự ngh n ngào, đau xót ấy tràn ngập câu thơ, gieo vào l ng người đọc biết bao thương cảm
Trong gia tài thơ của mình, guyễn Thị ai đã viết nhiều bài thơ cảm
động về m như: N i ni m ng y gi m , i u on hư i t, u h ng tr u vỏ,
i mơ g p m , Ru m hớ về m là nhớ về những kí ức, hoài niệm thiêng
liêng mà nhà thơ hằng trân trọng, khi viết về m , thơ bà đặc biệt trở nên thiết tha, sâu lắng Có thể kh ng định: những bài thơ viết về m đã kết tinh r nhất vẻ
đ p của tính nữ trong thơ guyễn Thị ai Đó là những tình cảm chân thành nhất, xúc động nhất kính dâng lên người m lam lũ, tảo tần, là l ng hiếu thảo của đứa con thi sĩ dành cho người m kính yêu hững hoài niệm về m của
Trang 38guyễn Thị ai đã góp thêm một phần không nhỏ vào gia tài thơ về m , một đề tài lớn trong văn học Việt am
Tuổi thơ không may mắn của guyễn Thị ai đã khiến bà không có được trọn v n tình yêu thương của cha m , nhưng b lại người bà đã thay m chăm sóc guyễn Thị ai, nâng niu, dạy bảo đứa cháu từ thủa nhỏ Trong hoài niệm
về những năm tháng tuổi thơ dữ dội, bão táp ấy, hình ảnh bà ngoại luôn là một hình ảnh đ p nhất, ấn tượng nhất trong l ng nhà thơ: “ ễ tan trời đã xế chiều Cửa nhà thờ xứ rất nhiều khách xin Bà tôi tươi tắn phúc hiền Cởi bao xởi lởi
cho tiền người ta” (Kí giáng sinh) hững kỉ niệm tuổi thơ của guyễn Thị
ai gắn với kí ức về người bà với bao nhiêu niềm yêu mến: “Con ở với bà, bà địu trên lưng Chợ sớm chợ chiều bà tha vất vưởng ồ hôi ngày ngày lưng
c ng tóc ướt/ Thấm vào con, nuôi con đến giờ” i u on hư i t)
guyễn Thị ai trở về với d ng sông kí ức tuổi thơ, thủa lên ba, lên năm vắt vẻo trên lưng bà, được bà c ng đi chợ, lên ch a Cô cháu gái ngây thơ không nhận ra rằng tóc bà đã bạc, lưng bà đã c ng, mồ hôi thấm ướt áo, bết tóc Cô bé vui đ a ngây thơ ngày xưa giờ ngâm ng i nhận ra, điều ngày xưa con chưa biết thì bây giờ khi đã là vợ, là m , con vô c ng thấm thía: sự vất vả gian lao, giọt mồ hôi mặn đắng của bà mang theo biết bao là che chở, yêu thương, để ngày hôm nay thấm vào con nuôi nấng con nên người
Thời gian khiến con người ta già đi, trưởng thành và thấu hiểu nhiều điều, chiêm nghiệm được biết bao nhiêu vui, buồn, đắng cay, được mất trong cuộc sống hưng đổi lại cho sự trưởng thành ấy là sự ra đi của người thân, sự mất mát ấy không gì b đắp được, để lại n i trống vắng trong l ng người Và giờ đây, m i giáng sinh, người cháu guyễn Thị ai lại nhớ về bà với biết bao niềm yêu thương, thành kính:
“ i giáng sinh đ n nh th
n ng năm tháng tu i thơ ên ”
í giáng sinh)
C ng chung n i niềm và sự nhớ nhung ấy, nhà thơ uân Qu nh cũng viết
về người bà kính yêu của mình với hạnh phúc bên tiếng gà trưa: “Tiếng gà trưa ang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng Cháu chiến đấu hôm nay Vì l ng yêu tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi,
Trang 39cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác trứng hồng tuổi thơ” Ti ng g trư – Xuân
Qu nh Trong bài thơ của uân Qu nh, tình yêu thương của người bà đã trở thành động lực để người cháu sống, chiến đấu và trưởng thành C ng cảm xúc
ấy, khi đã trưởng thành, người cháu guyễn Thị ai vẫn ao ước trở về tuổi thơ
để được bà yêu thương và cưng nựng: “Đưa tôi về tuổi một hai ôi êm m hát
bên tai ơi à Đưa tôi về thuở xa xưa Ch ng tre, quạt cọ tay bà v ru” Ngh hát
ru ở ) Qua những vần thơ trên, có thể thấy bà ngoại và m đã có ảnh
hưởng lớn đến cảm hứng sáng tác của bà Chính vì vậy, hồn thơ guyễn Thị
ai vừa nồng thắm, vừa đôn hậu, mang nét đ p truyền thống đầy nữ tính
Bên cạnh hình ảnh của người bà, người m thì hoài niệm về người chị gái cũng chiếm một phần quan trọng trong trang thơ guyễn Thị ai Vì biến cố gia đình tan tàn xẻ nghé, chị gái lớn ở lại Phú Thọ với cha, c n cô bé guyễn Thị ai c ng với người chị giáp mình về xuôi ở với m D bao năm xa cách, được gặp lại chị gái nhưng tình cảm chị em vẫn đong đầy v n nguyên:
“ hư là em vẫn bé con
Ch m dâu da đỏ chị c n mua cho Dắt đi thăm bác thăm cô Dặn em chào hỏi, gửi thưa từng lời”
i thơ v h gái)
Đâu đó vẫn là hình ảnh hai chị em của tuổi thơ, tung tăng dắt tay nhau trong phiên chợ, cô em gái nhí nhảnh bắt nạt chị đ i đủ thứ, chị gái dịu dàng mua cho em nhỏ ch m dâu da ón quà trẻ thơ lấp lánh trong ánh mắt, trong niềm yêu thương gắn bó của lũ trẻ, Ai ngờ vì số phận, vì nhưng điều xảy ra mà không ai mong muốn khiến cho chị em phải chia xa Tuy nhiên, hình ảnh người chị trong kí ức của guyễn Thị ai vẫn hiền hậu, yêu thương và nhường nhịn
em thơ, kể cả ngày xưa hay bây giờ, chị vẫn dạy d bảo ban em những điều hay
lẽ phải
guyễn Thị ai thương chị bằng tình yêu thương máu mủ ruột già và sự cảm thông, thấu hiểu của người c ng là phụ nữ, người chị trong mắt bà có dáng giống m dáng gầy như m gánh gồng khi xưa, cuộc đời nghèo khó, lại bị bệnh
Trang 40tật dày v : “ gắm trông thân chị yếu gầy ại như thấy m những ngày bệnh đau anh xao, má hóp, mặt rầu Chỉ hai hốc mắt lắng sâu n i niềm ghĩ thương đời chị ở hiền à sao vất vả, ưu phiền không nguôi Buồn đau v i
dưới nụ cười Trái tim nén mãi trong người, hóa đau” h đi n m viện) Thương
chị, chứng kiến sự héo hon, tàn tạ của chị khi bị bệnh tật dày v , guyễn Thị
ai như thấy v n nguyên hình ảnh của m ngày xưa i đau kí ức a về hai lần, nhân lên thành sự xót xa, cảm thương gấp bội hìn vào đôi mắt của chị, thấy ẩn chứa trong đó những n i niềm, tâm sự, những n i đau, nhẫn nhịn, dồn nén, nó không phải là đôi mắt mà là hốc mắt, là hình ảnh đôi mắt trên khuôn mặt gầy, xanh xao, trũng sâu xuống C ng là phụ nữ, c ng trải qua những vất vả, nhọc nhằn trong hành trình mưu sinh để gồng gánh gia đình, guyễn Thị ai hết sức đồng cảm và chia sẻ với những ưu phiền, buồn đau của người chị gái
i đau ấy là n i đau da thịt, n i đau máu mủ khi chứng kiến người thân của mình phải âm thầm chống chọi với bệnh tật
Thương chị, yêu chị, guyễn Thị ai vẫn ao ước thời gian quay lại để trở lên bé nhỏ trong l ng chị gái, được chị gái yêu thương, cưng nựng: “ ớn rồi em
đã làm dâu Vẫn thèm bên chị nghe câu ơi à Ru em xưa m vắng nhà ời ru
ngọt mãi năm xa tháng gần” i thơ v h gái)
Không chỉ thương bà, thương m , thương chị, ngày chia tay em gái, guyễn Thị ai cũng rưng rưng xúc động: “Đất trời quê bạn chưa quen H n là rét lắm khi em nhớ nhà Hôm em đi mưa rất lâu Cơn mưa nói n i thương nhau
đấy mà” i t ho m gái ng y đi ) Vẫn biết chuyện trăm năm: trai khôn
dựng vợ, gái lớn gả chồng, nhưng ngày em gái đi xa, tình cảm chị em khiến cho guyễn Thị ai không khỏi băn khoăn, lưu luyến, bịn rịn Bà lo cho em lạ nước, lạ cái nơi đất khách quê người, lo nhưng ngày rét mướt n i nhớ nhà c n buốt l ng hơn so với cái rét nơi đất lạ Cơn mưa ngày chia tay nói hộ biết bao nhớ thương, lo lắng của người chị dành cho em
Viết về bà, về m , về chị gái, em gái và những người phụ nữ trong gia đình của mình, guyễn Thị ai luôn dành cho họ những vần thơ yêu thương, rất đ i dịu dàng Và trong những ký ức về tuổi thơ, về ngôi nhà xưa không thể